(A
Treatise of Human Nature)
David
Hume
QUYỂN
1-PHẨN 4
MỤC II.
Về Thuyết Hoài Nghi Với Những Giác Quan
T 1.4.2.1, SBN 187
Như vậy, người hoài
nghi vẫn tiếp tục suy luận và tin tưởng, ngay cả khi họ khẳng định rằng họ
không thể bảo vệ lý trí của họ bằng chính lý trí; và theo cùng một quy tắc ấy,
họ cũng phải chấp nhận nguyên lý liên quan đến sự hiện hữu của vật thể, mặc dù
họ không thể dùng bất kỳ lập luận triết học nào để bảo vệ tính xác thực của
nguyên lý đó. Tự nhiên không để điều này cho sự lựa chọn của họ, và chắc chắn
đã xem đây là một vấn đề quá quan trọng để có thể giao phó cho những sự suy luận
và suy đoán không chắc chắn của chúng ta.
Chúng ta hoàn toàn có
thể hỏi: Những nguyên nhân nào khiến chúng ta tin vào sự hiện hữu của vật thể?
Nhưng hỏi rằng liệu có vật thể hay không thì là điều vô ích. Đó là một điểm mà
chúng ta phải mặc nhiên chấp nhận trong mọi sự suy luận của mình. [1]
T 1.4.2.2, SBN 187-8
Vậy thì, chủ đề của điều
tra hiện tại của chúng ta là về những nguyên nhân khiến chúng ta tin vào sự hiện
hữu của vật thể. Và những sự suy luận của tôi về vấn đề này sẽ bắt đầu bằng một
sự phân biệt, thoạt nhìn có thể dường như là thừa thãi, nhưng sẽ góp phần rất
nhiều vào việc hiểu hoàn toàn những điều tiếp theo.
Chúng ta nên xem xét
riêng biệt hai câu hỏi vốn thường bị lẫn lộn với nhau, đó là: tại sao chúng ta
gán cho những đối tượng một sự tồn tại liên tục, ngay cả khi chúng không hiện
diện trước những giác quan; và tại sao chúng ta giả định rằng chúng có một sự tồn
tại riêng biệt với não thức và tri giác.
Dưới phạm vi sau cùng
này, tôi bao gồm cả vị trí của chúng cũng như những quan hệ của chúng, vị trí
bên ngoài của chúng cũng như tính độc lập trong sự hiện hữu và hoạt động của
chúng.
Hai câu hỏi này liên
quan đến sự tồn tại liên tục và sự tồn tại riêng biệt của vật thể có mối liên hệ
mật thiết với nhau. Bởi vì nếu những đối tượng của những giác quan chúng ta tiếp
tục tồn tại ngay cả khi chúng không được tri giác, thì sự hiện hữu của chúng dĩ
nhiên là độc lập với tri giác và khác biệt với tri giác; và ngược lại, nếu sự
hiện hữu của chúng độc lập với tri giác và khác biệt với tri giác, thì chúng phải
tiếp tục tồn tại ngay cả khi chúng không được tri giác.
Nhưng mặc dù việc quyết
định một câu hỏi sẽ quyết định câu hỏi kia, tuy nhiên, để chúng ta có thể dễ
dàng hơn nhận ra những nguyên lý của bản tính con người từ đó sự quyết định này
phát sinh, chúng ta sẽ giữ sự phân biệt này trong suốt tiến trinh xem xét, và sẽ
khảo sát xem liệu giác quan, lý trí hay trí tưởng tượng là thứ tạo ra ý kiến về
một sự tồn tại liên tục hay một sự tồn tại riêng biệt.
Đây là những câu hỏi
duy nhất có thể hiểu được về chủ đề hiện tại. Bởi vì với khái niệm về sự tồn tại
bên ngoài, khi nó được hiểu như một gì đó khác biệt về loại với những tri giác
của chúng ta,[34] thì chúng ta đã cho thấy sự phi lý của khái niệm đó.[2]
T 1.4.2.3, SBN 188-9
Trước hết, xét về những
giác quan, rõ ràng rằng những năng lực này không thể tạo ra ý niệm về sự tồn tại
liên tục của những đối tượng của chúng, sau khi những đối tượng ấy không còn xuất
hiện trước những giác quan nữa. Bởi vì đó là một sự mâu thuẫn trong chính cách
diễn đạt, và giả định rằng những giác quan vẫn tiếp tục hoạt động ngay cả sau
khi chúng đã chấm dứt mọi hoạt động.
Do đó, nếu những năng
lực này có bất kỳ ảnh hưởng nào trong trường hợp hiện tại, thì chúng chỉ có thể
tạo ra ý kiến về một sự tồn tại riêng biệt, chứ không phải về một sự tồn tại
liên tục; và để làm được điều đó, chúng phải trình bày những ấn tượng của chúng
hoặc như những hình ảnh và sự biểu hiện, hoặc như chính những sự hiện hữu riêng
biệt và bên ngoài ấy.
T 1.4.2.4, SBN 189
Rằng những giác quan
của chúng ta không trình bày những ấn tượng của chúng như là những hình ảnh của
một gì đó riêng biệt, độc lập và bên ngoài, là điều rõ ràng; bởi vì chúng không
truyền đạt cho chúng ta điều gì ngoài một tri giác duy nhất, và không bao giờ
cho chúng ta một dấu hiệu nhỏ nhất nào về bất kỳ thứ gì vượt ra ngoài chúng.
Một tri giác duy nhất
không bao giờ có thể tự nó tạo ra ý niệm về hai sự hiện hữu khác nhau, ngoại trừ
qua một suy luận nào đó, hoặc của lý trí hoặc của trí tưởng tượng.
Khi não thức nhìn xa
hơn những gì trực tiếp xuất hiện trước nó, thì những kết luận của nó không bao
giờ có thể được quy cho những giác quan; và chắc chắn não thức đã nhìn xa hơn
trong trường hợp nó, từ một tri giác duy nhất, suy ra hai sự hiện hữu khác
nhau, đồng thời giả định rằng có những quan hệ về sự tương tự và nhân quả giữa
chúng.
T 1.4.2.5, SBN 189
Do đó, nếu những giác
quan của chúng ta gợi ra bất kỳ ý niệm nào về những sự tồn tại riêng biệt, thì
chúng phải truyền đạt những ấn tượng như chính những sự tồn tại ấy, thông qua một
dạng sai lầm và ảo tưởng nào đó.
Về điểm này, chúng ta
có thể nhận xét rằng mọi cảm giác đều được não thức cảm nhận đúng như bản thân
chúng thực sự là; và khi chúng ta nghi ngờ liệu những cảm giác ấy xuất hiện trước
chúng ta như những đối tượng riêng biệt hay chỉ như những ấn tượng đơn thuần,
thì khó khăn không nằm ở bản tính của chúng, nhưng nằm ở những quan hệ và vị
trí của chúng.
Bây giờ, nếu những giác
quan trình bày những ấn tượng của chúng ta như là những thứ bên ngoài chúng ta
và độc lập với chúng ta, thì cả những đối tượng lẫn bản thân chúng ta đều phải
được những giác quan nhận biết một cách rõ ràng; nếu không, chúng không thể được
những năng lực này so sánh với nhau. Vì vậy, khó khăn nằm ở câu hỏi: chính
chúng ta có phải là đối tượng của những giác quan hay không? [3]
T 1.4.2.5, SBN 189
Do đó, nếu những giác
quan của chúng ta gợi ra bất kỳ ý niệm nào về những sự hiện hữu riêng biệt, thì
chúng phải truyền đạt những ấn tượng như chính những sự hiện hữu ấy, thông qua
một dạng sai lầm và ảo tưởng nào đó.
Về điểm này, chúng ta
có thể nhận thấy rằng mọi cảm giác đều được não thức cảm nhận đúng như bản thân
chúng thực sự là; và khi chúng ta nghi ngờ liệu chúng xuất hiện như những đối
tượng riêng biệt hay chỉ như những ấn tượng đơn thuần, thì khó khăn không nằm ở
bản tính của chúng, mà nằm ở những mối quan hệ và vị trí của chúng.
Nếu những giác quan
trình bày những ấn tượng của chúng ta như là những gì ở bên ngoài và độc lập với
chính chúng ta, thì cả những đối tượng ấy lẫn chính chúng ta đều phải hiển hiện
trước những giác quan; nếu không, những giác quan không thể so sánh chúng với
nhau.
Vậy thì, vấn đề đặt
ra là: bản thân chúng ta, đến mức nào, là đối tượng của những giác quan?
T 1.4.2.6, SBN 189–90
Chắc chắn không có câu hỏi nào trong triết học khó hiểu
và sâu xa hơn câu hỏi về đồng nhất tính, cũng như về bản tính của nguyên lý
liên kết tạo thành một con người (person).
Các giác quan, tự chúng, không những không thể quyết định
được vấn đề này, mà chúng ta còn phải viện đến những khảo cứu siêu hình học sâu
sắc nhất mới có thể đưa ra một lời giải đáp thỏa đáng. Ngay cả trong đời sống
thường ngày, rõ ràng rằng những ý niệm về cái tôi (self) và con người (person)
cũng không bao giờ thật sự cố định hay xác định rõ ràng.
Vì vậy, thật phi lý khi tưởng rằng những giác quan có
thể phân biệt giữa chính chúng ta và những đối tượng bên ngoài.[4]
T 1.4.2.7, SBN 190
Thêm vào đó, cần lưu
ý rằng mọi ấn tượng, dù là bên ngoài hay bên trong, những đam mê, tình cảm, cảm
giác, đau đớn và khoái cảm, ban đầu đều ở cùng một vị trí như nhau; và dù chúng
ta có nhận thấy bất kỳ sự khác biệt nào khác giữa chúng, thì tất cả chúng đều
xuất hiện với chúng ta đúng theo bản tính thực của chúng, như những ấn tượng
hay những tri giác.
Quả thật, nếu chúng
ta xem xét vấn đề một cách đúng đắn, thì hầu như không thể có cách nào khác;
cũng không thể hình dung rằng những giác quan của chúng ta lại có khả năng đánh
lừa chúng ta nhiều hơn về vị trí và những mối quan hệ của những ấn tượng so với
về bản tính của chính những ấn tượng ấy.
Bởi vì mọi hành động
và cảm giác của não thức đều được chúng ta nhận biết thông qua ý thức, nên
chúng tất yếu phải xuất hiện trong mọi phương diện đúng như chúng là, và phải
là đúng như cách chúng xuất hiện.
Mọi thứ đi vào não thức,
xét trong thực tế, đều là một tri giác; vì vậy, không thể có điều gì trong kinh
nghiệm cảm giác lại xuất hiện khác đi. Điều này sẽ giả định rằng ngay cả ở nơi
chúng ta có sự nhận biết trực tiếp và sâu sắc nhất, chúng ta vẫn có thể bị sai
lầm.
T 1.4.2.8, SBN 190
Nhưng để không mất thời gian vào việc xem xét liệu những
giác quan của chúng ta có thể đánh lừa chúng ta hay không, và có thể trình bày
những tri giác của chúng ta như là những thứ khác biệt với chính chúng ta, tức
là như những thứ bên ngoài và độc lập với chúng ta hay không, chúng ta hãy xem
xét liệu trên thực tế chúng có làm như vậy hay không, và liệu sai lầm này xuất
phát từ một cảm giác trực tiếp hay từ một nguyên nhân nào khác.[5]
T 1.4.2.9, SBN 190–1
Trước hết, xét đến
câu hỏi về sự hiện hữu bên ngoài (external existence), có lẽ người ta có
thể nói rằng, nếu gạt sang một bên câu hỏi siêu hình học về đồng nhất tính của
một thực thể biết tư duy, thì rõ ràng thân thể của chính chúng ta thuộc về
chúng ta; và vì một số ấn tượng xuất hiện như nằm bên ngoài thân thể, nên chúng
ta cũng cho rằng chúng nằm bên ngoài chính chúng ta.
Tờ giấy mà hiện giờ
tôi đang viết nằm ngoài bàn tay tôi. Cái bàn nằm ngoài tờ giấy. Những bức tường
của căn phòng nằm ngoài cái bàn. Và khi hướng mắt nhìn về phía cửa sổ, tôi nhận
thấy một khoảng rộng lớn gồm những cánh đồng và những tòa nhà nằm ngoài căn
phòng của tôi.
Từ tất cả những điều
này, người ta có thể suy ra rằng không cần đến bất kỳ năng lực nào khác ngoài
những giác quan để làm cho chúng ta tin vào sự hiện hữu bên ngoài của vật thể.
Nhưng để ngăn chặn sự
suy luận này, chúng ta chỉ cần xem xét ba điều sau đây.
Thứ nhất, nói cho
đúng, khi chúng ta chú ý đến những chi và bộ phận của mình, thì chúng ta không
tri giác chính thân thể của mình, mà chỉ tri giác một số ấn tượng đi vào qua những
giác quan; do đó, việc gán cho những ấn tượng này, hoặc cho những đối tượng của
chúng, một sự hiện hữu thực sự và có tính vật thể, là một hành vi của não thức
khó giải thích cũng như hành vi mà hiện nay chúng ta đang khảo sát.
Thứ hai, âm thanh, vị
giác và mùi, mặc dù thường được não thức xem như những thuộc tính liên tục và độc
lập, nhưng dường như không có bất kỳ sự hiện hữu nào trong không gian mở rộng (extension);
vì vậy, chúng không thể xuất hiện trước những giác quan như nằm ở bên ngoài
thân thể.
Lý do tại sao chúng
ta gán cho chúng một vị trí sẽ được xem xét sau.
Thứ ba, ngay cả thị
giác của chúng ta cũng không cho chúng ta biết về khoảng cách hay sự ở ngoài (outness,
nếu có thể nói như vậy) một cách trực tiếp và không cần đến một dạng suy luận
cùng kinh nghiệm nhất định, như những triết gia hợp lý nhất cũng thừa nhận.
T 1.4.2.10, SBN 191
Đối với tính độc lập (independency) của những tri
giác của chúng ta đối với chính chúng ta, thì điều này không bao giờ có thể là
một đối tượng của những giác quan; nhưng bất kỳ ý kiến nào mà chúng ta hình
thành về vấn đề ấy đều phải được rút ra từ kinh nghiệm và sự quan sát.
Và sau này chúng ta sẽ thấy rằng những kết luận của
chúng ta từ kinh nghiệm hoàn toàn không ủng hộ học thuyết về tính độc lập của
những tri giác.
Trong lúc này, chúng ta có thể nhận thấy rằng khi
chúng ta nói về những sự hiện hữu riêng biệt thực sự, điều mà chúng ta thường
chú ý nhiều hơn không phải là vị trí bên ngoài trong không gian, mà là tính độc
lập của chúng; và chúng ta cho rằng một đối tượng có đủ thực tại khi sự hiện hữu
của nó không bị gián đoạn và độc lập với những biến đổi không ngừng mà chúng ta
ý thức được trong chính mình.[6]
T 1.4.2.11, SBN 191–2
Như vậy, để tóm lại
những gì tôi đã nói liên quan đến những giác quan: chúng không đem lại cho
chúng ta ý niệm nào về sự hiện hữu liên tục, bởi vì chúng không thể tác động vượt
quá phạm vi mà trong thực tế chúng đang tác động. Chúng cũng không tạo ra sự
tin tưởng về một sự hiện hữu riêng biệt, bởi vì chúng không thể trình bày nó
cho não thức, dù như một sự biểu hiện hay như một sự hiện hữu nguyên thủy.
Để trình bày nó như một
sự biểu hiện, những giác quan phải trình bày cả một đối tượng lẫn một hình ảnh
của đối tượng ấy. Để làm cho nó xuất hiện như một sự hiện hữu nguyên thủy, những
giác quan phải truyền đạt một điều sai lầm; và sự sai lầm này phải nằm trong những
mối quan hệ và vị trí của sự vật. Nhưng để làm được điều đó, những giác quan phải
có khả năng so sánh đối tượng với chính chúng ta; và ngay cả trong trường hợp ấy,
chúng cũng không, cũng như không thể, đánh lừa chúng ta.
Vì vậy, chúng ta có
thể chắc chắn kết luận rằng ý kiến về sự hiện hữu liên tục và sự hiện hữu riêng
biệt không bao giờ xuất phát từ những giác quan.
T 1.4.2.12, SBN 192
Để xác nhận điều này,
chúng ta có thể nhận thấy rằng có ba loại ấn tượng khác nhau được những giác
quan truyền đạt.
Loại thứ nhất là những
ấn tượng về hình dạng, kích thước, sự chuyển động và tính rắn chắc của những vật
thể.
Loại thứ hai là những ấn tượng về màu sắc, vị giác,
mùi, âm thanh, nóng và lạnh.
Loại thứ ba là những đau đớn và khoái cảm phát sinh từ
việc những đối tượng tác động lên thân thể chúng ta, chẳng hạn như khi thép cắt
vào da thịt chúng ta, và những trường hợp tương tự.
Cả những triết gia lẫn những người bình thường đều cho
rằng loại ấn tượng thứ nhất có một sự hiện hữu liên tục và riêng biệt.
Chỉ những người bình thường mới xem loại thứ hai là có
cùng bản tính như vậy.
Còn cả những triết gia lẫn những người bình thường, một
lần nữa, đều cho rằng loại thứ ba chỉ đơn thuần là những tri giác; và do đó, là
những sự hiện hữu bị gián đoạn và phụ thuộc.
T 1.4.2.13, SBN 192–3
Bây giờ, rõ ràng rằng,
bất kể quan điểm triết học của chúng ta có là gì, thì màu sắc, âm thanh, nóng
và lạnh, xét theo những gì xuất hiện trước các giác quan, đều hiện hữu theo
cùng một cách như chuyển động và tính rắn chắc; và sự khác biệt mà chúng ta tạo
ra giữa chúng về phương diện này không xuất phát từ sự tri giác đơn thuần.
Sự thiên lệch mạnh mẽ
đối với sự hiện hữu liên tục và riêng biệt của những phẩm chất trước đó lớn đến
mức, khi các triết gia hiện đại đưa ra quan điểm ngược lại, người ta tưởng rằng
họ gần như có thể bác bỏ quan điểm ấy chỉ dựa vào cảm giác và kinh nghiệm của
mình, và rằng chính các giác quan của họ đang mâu thuẫn với triết học này.
Cũng rõ ràng rằng màu
sắc, âm thanh, v.v. ban đầu cũng ở cùng một vị trí với cảm giác đau do sắt thép
gây ra khi cắt vào da thịt, và sự khác biệt giữa chúng không dựa trên tri giác
hay lý trí, mà dựa trên trí tưởng tượng.
Bởi vì cả hai loại
này đều được thừa nhận là không gì khác ngoài những tri giác phát sinh từ những
cấu hình và chuyển động riêng biệt của các bộ phận cấu thành vật thể, vậy thì sự
khác biệt giữa chúng có thể nằm ở đâu?
Như vậy, xét trên
toàn bộ vấn đề, chúng ta có thể kết luận rằng, trong phạm vi mà các giác quan
có thể phán xét, mọi tri giác đều giống nhau về phương thức hiện hữu của chúng.
T 1.4.2.14, SBN 193
Chúng ta cũng có thể nhận thấy, trong trường hợp của
âm thanh và màu sắc này, rằng chúng ta có thể gán cho các đối tượng một sự hiện
hữu liên tục và riêng biệt mà không bao giờ cần tham khảo đến lý trí, hay cân
nhắc những tin tưởng của mình theo những nguyên lý triết học.
Thật vậy, bất kể những lập luận thuyết phục nào mà các
triết gia có thể nghĩ rằng họ đưa ra để thiết lập sự tin tưởng vào những đối tượng
độc lập với não thức, thì rõ ràng rằng những lập luận ấy chỉ được biết đến bởi
một số rất ít người; và không phải nhờ những lập luận ấy mà trẻ em, người nông
dân và phần lớn nhân loại được khiến cho gán các đối tượng cho một số ấn tượng
và từ chối điều đó đối với những ấn tượng khác.
Do đó, chúng ta nhận thấy rằng tất cả những kết luận
mà người bình thường đưa ra về vấn đề này đều hoàn toàn trái ngược với những kết
luận được triết học xác nhận.
Triết học cho chúng ta biết rằng mọi thứ xuất hiện trước
não thức đều không gì khác ngoài một tri giác, và đều bị gián đoạn cũng như phụ
thuộc vào não thức; trong khi đó, người bình thường lại đồng nhất những tri
giác với các đối tượng, và gán một sự hiện hữu liên tục và riêng biệt cho chính
những thứ mà họ cảm nhận hoặc nhìn thấy.
Vì vậy, cảm thức này, bởi vì hoàn toàn không dựa trên
lý trí, phải xuất phát từ một năng lực khác chứ không phải khả năng nhận thức.
Thêm vào đó, khi chúng ta xem những tri giác và những
đối tượng là cùng một thứ, chúng ta không bao giờ có thể suy ra sự hiện hữu của
cái này từ sự hiện hữu của cái kia, cũng không thể hình thành bất kỳ lập luận
nào dựa trên mối quan hệ nhân quả; bởi vì đó là mối quan hệ duy nhất có thể bảo
đảm cho chúng ta về những sự kiện thực tế.
Ngay cả sau khi chúng ta phân biệt những tri giác của
mình với những đối tượng của chúng, chúng ta sẽ ngay lập tức thấy rằng chúng ta
vẫn không có khả năng suy luận từ sự hiện hữu của cái này đến sự hiện hữu của
cái kia.
Vì vậy, xét toàn bộ vấn đề, lý trí của chúng ta không
đem lại, và cũng không thể trong bất kỳ giả định nào đem lại, cho chúng ta sự bảo
đảm về sự hiện hữu liên tục và riêng biệt của vật thể.
Sự tin tưởng ấy hoàn toàn phải bắt nguồn từ trí tưởng
tượng; và trí tưởng tượng giờ đây sẽ là đối tượng khảo sát của chúng ta.[7]
Lê Dọn Bàn tạm dịch –
bản nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Scepticism (Hy
Lạp: skepsis, “sự khảo sát, xem xét”) là một truyền thống triết học đặt
vấn đề về khả năng của con người trong việc đạt tới tri thức chắc chắn và xác lập
những nền tảng không thể nghi ngờ cho nhận thức. Khởi nguồn từ triết học Hy Lạp
cổ đại, đặc biệt với truyền thống Pyrrhonism, chủ nghĩa hoài nghi nhấn mạnh sự
thận trọng trước những phán đoán vượt quá phạm vi mà kinh nghiệm và lý trí có
thể bảo đảm. Trong triết học cận đại, chủ nghĩa hoài nghi trở thành một vấn đề
trung tâm của nhận thức luận, đặc biệt trong câu hỏi về mối quan hệ giữa kinh
nghiệm, ý thức và thực tại bên ngoài.
Ở đây, Hume không chủ
trương phủ nhận sự hiện hữu của thế giới vật thể hay cho rằng con người không
thể đạt được bất kỳ tri thức nào. “Chủ nghĩa hoài nghi đối với những giác quan”
(scepticism with regard to the senses) mà ông khảo sát nhằm đặt câu hỏi
về cơ sở của sự tin tưởng vào những vật thể tồn tại bên ngoài và độc lập với chủ
thể nhận thức. Vấn đề không phải là liệu chúng ta có tin rằng thế giới bên
ngoài tồn tại hay không, mà là: sự tin tưởng ấy có thể được biện minh bằng giác
quan, lý trí hay một lập luận triết học hay không.
Theo Hume, con người
không thể từ những tri giác trực tiếp của mình suy ra bằng lý trí rằng có những
vật thể tồn tại độc lập bên ngoài não thức. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể từ
bỏ sự tin tưởng tự nhiên vào thế giới vật thể. Vì vậy, mục tiêu của Hume không
phải là phá hủy sự tin tưởng thông thường ấy, mà là truy tìm nguồn gốc của nó
trong những nguyên lý vận hành của bản tính con người.
[2] Hai
đoạn văn này của Hume đặt ra một câu hỏi căn bản: vì sao chúng ta tin rằng có một
thế giới vật thể bên ngoài chủ thể nhận thức, tức là bên ngoài chính chúng ta với
tư cách những kẻ đang tri giác?
Hume không bắt đầu bằng
câu hỏi truyền thống của siêu hình học: “Có thực sự tồn tại những vật thể
bên ngoài hay không?” Bởi theo ông, đây không phải là một câu hỏi mà lý trí
có thể giải quyết bằng lập luận. Trong đời sống tự nhiên, chúng ta không chờ một
sự chứng minh triết học rồi mới tin rằng có bàn ghế, cây cối, thân thể và những
sự vật chung quanh mình. Chúng ta luôn mặc nhiên tin rằng chúng tồn tại, ngay cả
khi chúng không còn hiện diện trước giác quan. Vấn đề mà Hume muốn khảo sát
không phải là bản thân sự tồn tại của thế giới vật thể, mà là nguồn gốc của tin
tưởng rằng thế giới ấy tồn tại độc lập với chúng ta. Nói cách khác, ông chuyển
câu hỏi từ:
“Thế giới vật thể bên
ngoài có tồn tại hay không?” sang:
“Điều gì trong bản tính con người khiến chúng ta tin rằng có một thế giới vật
thể tồn tại bên ngoài và độc lập với những tri giác của chúng ta?”
Để làm rõ vấn đề này,
Hume phân biệt hai tin tưởng thường bị gộp chung với nhau.
Trước hết là tin tưởng
vào sự tồn tại liên tục của vật thể. Khi một sự vật không còn xuất hiện trước
giác quan — chẳng hạn khi chúng ta rời khỏi căn phòng và không còn nhìn thấy
chiếc bàn — chúng ta vẫn tin rằng chiếc bàn ấy tiếp tục tồn tại. Chúng ta không
cho rằng nó biến mất cùng với việc chúng ta không còn nhận biết nó. Tin tưởng
này giả định rằng vật thể có một sự tồn tại kéo dài trong thời gian, vượt ra
ngoài những khoảnh khắc mà nó xuất hiện trong kinh nghiệm của chúng ta.
Nhưng bên cạnh đó còn
có một tin tưởng sâu hơn: tin tưởng vào sự tồn tại riêng biệt của vật thể. Điều
này có nghĩa là chúng ta không chỉ tin rằng vật thể vẫn tồn tại khi không được
nhận biết, mà còn tin rằng nó là một cái gì đó khác biệt với chính tri giác của
chúng ta về nó. Cái bàn không chỉ là những màu sắc, hình dạng, cảm giác và những
ấn tượng đang xuất hiện trong não thức của chúng ta; chúng ta tin rằng có một vật
thể thực sự tồn tại bên ngoài não thức ấy, độc lập với hoạt động nhận thức của
chúng ta.
Hai tin tưởng này có
quan hệ mật thiết với nhau. Nếu vật thể tiếp tục tồn tại ngay cả khi chúng ta
không tri giác nó, thì sự tồn tại của vật thể rõ ràng không phụ thuộc vào tri
giác của chúng ta. Ngược lại, nếu vật thể tồn tại độc lập với tri giác, thì nó
phải tiếp tục tồn tại ngay cả khi chúng ta không nhận biết nó.
Tuy nhiên, Hume vẫn
phân biệt hai vấn đề này, bởi mục tiêu của ông không chỉ là xác định một kết luận
về thế giới vật thể, mà là tìm hiểu nguyên lý nào trong bản tính con người tạo
ra tin tưởng ấy. Vì vậy, câu hỏi trung tâm của ông là: tin tưởng vào sự tồn tại
liên tục và sự tồn tại riêng biệt của vật thể đến từ đâu?
Có ba khả năng cần được
xem xét.
Thứ nhất, liệu giác
quan có tạo ra tin tưởng này hay không? Có phải chính kinh nghiệm cảm giác cho
chúng ta biết rằng những gì chúng ta nhận thức là những vật thể tồn tại độc lập
bên ngoài chúng ta? Nhưng giác quan dường như chỉ đem lại những tri giác hiện tại;
chúng cho chúng ta thấy hoặc cảm nhận một sự vật khi nó đang xuất hiện, chứ
không trực tiếp cho thấy rằng nó tiếp tục tồn tại khi không còn được nhận biết.
Thứ hai, liệu lý trí
có tạo ra tin tưởng này hay không? Có phải bằng những suy luận, chúng ta đi từ
những tri giác của mình đến kết luận rằng có một thế giới vật thể độc lập bên
ngoài chủ thể nhận thức? Hume muốn khảo sát liệu có một lập luận lý trí nào thực
sự có thể thực hiện bước chuyển này hay không.
Thứ ba, liệu trí tưởng
tượng có phải là nguồn gốc của tin tưởng ấy hay không? Có phải chính những hoạt
động tự nhiên của trí tưởng tượng, cùng với thói quen liên kết những tri giác,
đã khiến chúng ta hình thành ý niệm về những vật thể ổn định, liên tục và độc lập
với chúng ta?
Như vậy, Hume không
phủ nhận thế giới vật thể bên ngoài chủ thể nhận thức. Điều ông đặt vấn đề là
cơ sở của tin tưởng vào thế giới ấy. Ông muốn tìm hiểu tại sao con người, từ những
tri giác vốn chỉ xuất hiện trong não thức, lại đi đến tin tưởng rằng có những vật
thể tồn tại bên ngoài và độc lập với chính những tri giác đó.
Đây là bước chuyển
quan trọng của Hume trong lịch sử triết học: ông đưa vấn đề từ việc tìm kiếm bản
chất của thế giới bên ngoài sang việc nghiên cứu cách thức mà bản tính con người
hình thành tin tưởng về thế giới ấy. Câu hỏi của ông không còn chỉ là: “Thực tại
bên ngoài là gì?”, mà trước hết là: “Bằng cách nào chúng ta có được ý niệm và tin
tưởng rằng có một thực tại bên ngoài?”.
[3] Ba
đoạn văn này tiếp tục triển khai câu hỏi trung tâm mà Hume đã đặt ra ở đầu mục:
tin tưởng của chúng ta vào sự tồn tại của vật thể bên ngoài chủ thể nhận thức đến
từ đâu? Sau khi phân biệt giữa sự tồn tại liên tục và sự tồn tại riêng biệt của
vật thể, Hume bắt đầu khảo sát khả năng thứ nhất: liệu những giác quan có phải
là nguồn gốc của tin tưởng ấy hay không.
Lập luận của Hume bắt
đầu từ một điểm tưởng như hiển nhiên: giác quan chỉ có thể hoạt động khi đối tượng
đang hiện diện trước giác quan. Mắt nhìn thấy một cái bàn khi cái bàn xuất hiện
trong trường nhìn; tai nghe một âm thanh khi âm thanh đang tác động đến nó.
Nhưng ngay khi đối tượng không còn xuất hiện, hoạt động của giác quan cũng chấm
dứt. Vì vậy, giác quan không thể tự mình tạo ra ý niệm rằng một vật thể vẫn tiếp
tục tồn tại khi nó không còn được tri giác.
Nếu nói rằng giác
quan cho chúng ta biết một vật vẫn tồn tại ngay cả khi không còn nhìn thấy nó,
thì điều đó có nghĩa là chúng ta đang giả định rằng giác quan vẫn tiếp tục hoạt
động trong lúc nó đã ngừng hoạt động. Với Hume, đây là một mâu thuẫn. Giác quan
chỉ có thể cho chúng ta biết những gì đang hiện diện trong kinh nghiệm hiện tại;
nó không thể cung cấp một bằng chứng về sự tồn tại của một vật thể khi vật thể ấy
vượt ra ngoài kinh nghiệm hiện tại.
Từ đó, Hume chuyển
sang xem xét một khả năng khác: có thể giác quan không tạo ra tin tưởng về sự tồn
tại liên tục, nhưng vẫn có thể tạo ra tin tưởng về sự tồn tại riêng biệt của vật
thể. Nghĩa là, có thể giác quan không nói rằng vật thể tiếp tục tồn tại khi
chúng ta không nhìn thấy nó, nhưng chúng có thể cho chúng ta biết rằng ngay
trong lúc đang nhìn thấy một vật, chúng ta đang nhận thức một cái gì đó tồn tại
bên ngoài và độc lập với não thức của mình.
Tuy nhiên, Hume bác bỏ
khả năng này. Ông cho rằng giác quan chỉ cung cấp cho chúng ta một tri giác duy
nhất. Khi chúng ta nhìn thấy màu sắc, hình dạng hoặc cảm nhận sự cứng chắc của
một vật, giác quan chỉ đem lại chính những tri giác ấy. Chúng không đồng thời
đưa đến một tri giác thứ hai về một “vật thể bên ngoài” đứng sau những tri giác
đó.
Đây là điểm quan trọng
trong lập luận của Hume. Một kinh nghiệm cảm giác đơn nhất không thể tự nó tạo
ra ý niệm rằng có hai sự hiện hữu khác nhau: một bên là tri giác đang xuất hiện
trong não thức; và một bên là một vật thể được giả định tồn tại độc lập bên
ngoài não thức.
Muốn đi từ cái thứ nhất
đến cái thứ hai, chúng ta phải thực hiện thêm một bước: một suy luận. Nhưng một
khi đã có suy luận, thì nguồn gốc của tin tưởng ấy không còn nằm ở giác quan nữa,
mà thuộc về hoạt động của lý trí hoặc trí tưởng tượng.
Nói cách khác, giác
quan chỉ cho chúng ta biết: có một tri giác đang hiện diện. Chúng không
tự nói thêm rằng: tri giác này là hình ảnh của một vật thể bên ngoài, tồn tại
độc lập với chúng ta. Ý niệm về một thế giới bên ngoài không nằm trực tiếp
trong kinh nghiệm cảm giác; nó là một kết luận được hình thành sau đó.
Đoạn T 1.4.2.5 đi sâu
hơn vào vấn đề này. Hume thừa nhận rằng những cảm giác của chúng ta xuất hiện
đúng như chúng đang là. Khi chúng ta cảm thấy nóng, lạnh, màu sắc, âm thanh hay
hình dạng, bản thân những cảm giác ấy không phải là giả dối. Sai lầm chỉ xuất
hiện khi chúng ta đặt chúng vào một mối quan hệ nhất định và cho rằng chúng là
những vật thể tồn tại độc lập bên ngoài não thức.
Vì vậy, khó khăn thực
sự không nằm ở bản thân những cảm giác, mà nằm ở câu hỏi: chúng ta hiểu mối
quan hệ giữa cảm giác và thế giới bên ngoài như thế nào?
Nếu giác quan thực sự
trình bày những ấn tượng như những vật thể bên ngoài và độc lập với chúng ta,
thì giác quan phải có khả năng nhận biết đồng thời hai thứ:
- chính chúng ta, tức chủ thể đang nhận thức;
- vật thể bên ngoài, tức những gì được cho là tồn tại
độc lập với chủ thể.
Chỉ khi nhận biết được
cả hai, giác quan mới có thể so sánh chúng và cho thấy rằng cái này nằm bên
ngoài cái kia. Nhưng Hume đặt câu hỏi: liệu chính bản thân chúng ta có phải là
một đối tượng của những giác quan hay không? Đây là điểm then chốt. Hume muốn cho
thấy rằng giác quan không thể tự mình thiết lập sự phân biệt giữa chủ thể nhận
thức và đối tượng được nhận thức, bởi giác quan chỉ cung cấp những tri giác xuất
hiện trong não thức. Còn ý niệm rằng có một thế giới vật thể tồn
tại độc lập bên ngoài những tri giác ấy phải đến từ một hoạt động khác của não
thức.
Do đó, kết luận tạm
thời của Hume trong ba Ở đây là:
Các giác quan không thể là nguồn gốc của tin tưởng vào
sự tồn tại của thế giới vật thể bên ngoài chủ thể nhận thức. Chúng chỉ cung cấp
những tri giác; còn việc từ những tri giác ấy suy ra những vật thể tồn tại liên
tục và độc lập là một bước vượt quá những gì giác quan trực tiếp đem lại.
Đây là bước đầu trong khảo sát của Hume. Sau khi loại
trừ giác quan, ông sẽ tiếp tục xem xét liệu lý trí hay trí tưởng tượng mới là
nguyên lý tạo ra tin tưởng tự nhiên của con người vào thế giới vật thể bên
ngoài.
[4] Self
và person tuy thường được dùng gần nghĩa, nhưng trong triết học cận đại
chúng không hoàn toàn đồng nhất. Nói chung, self chỉ cái tôi, tức chủ thể
của kinh nghiệm, ý thức và tư duy; còn person chỉ con người được xem như
một chủ thể có sự đồng nhất qua thời gian, có thể được quy trách nhiệm về những
hành động và kinh nghiệm của mình. Kể từ John Locke, sự phân biệt này trở thành
một vấn đề trung tâm của triết học về con người và nhận thức.
Hume tiếp nhận vấn đề ấy nhưng đi đến một kết luận triệt
để hơn: ông cho rằng chúng ta không có một ý niệm rõ ràng và xác định về một
cái tôi tồn tại như một thực thể đơn nhất và bất biến. Điều mà chúng ta gọi là
cái tôi hay con người thực ra chỉ là cách chúng ta quy chiếu vào dòng chảy luôn
biến đổi của những tri giác. Hume sẽ tiếp tục khảo sát vấn đề này trong mục “Về
đồng nhất tính cá nhân” (Of Personal Identity).
Ở đây, cần lưu ý rằng personal identity không
chỉ có nghĩa là “bản sắc” theo nghĩa tâm lý học hay xã hội học hiện đại, mà chỉ
một vấn đề triết học căn bản: điều gì khiến một con người vẫn được xem là chính
cùng một người qua sự thay đổi của thời gian và kinh nghiệm? Nói cách khác, vấn
đề mà Hume khảo sát không phải là con người tự hiểu mình như thế nào, mà là cơ
sở nào cho sự đồng nhất của một con người qua dòng biến đổi liên tục của những tri
giác, ký ức và kinh nghiệm.
[5] Ở
đây, Hume hoàn tất bước đầu của khảo sát về nguồn gốc của sự tin tưởng vào thế
giới vật thể bên ngoài chủ thể nhận thức. Ông cho thấy rằng những giác quan tự
chúng không trình bày cho chúng ta những vật thể tồn tại độc lập bên ngoài não
thức. Điều mà giác quan trực tiếp đem lại chỉ là những ấn tượng hay tri giác xuất
hiện trong kinh nghiệm của chúng ta.
Khi chúng ta cho rằng
những tri giác ấy là hình ảnh của những vật thể bên ngoài, hoặc cho rằng đằng
sau chúng có những sự vật tồn tại riêng biệt và độc lập với chúng ta, thì chúng
ta đã thực hiện thêm một bước vượt quá nội dung trực tiếp của kinh nghiệm giác
quan.
Vì vậy, vấn đề đối với
Hume không nằm ở việc những giác quan có phản ánh đúng những gì chúng đem lại
hay không. Những cảm giác, xét như những tri giác, xuất hiện đúng như chúng là.
Khó khăn chỉ nảy sinh khi chúng ta chuyển từ những gì được tri giác sang những
gì được cho là tồn tại độc lập bên ngoài tri giác. Chính sự chuyển dịch này cần
được giải thích, và Hume sẽ tiếp tục khảo sát liệu nó xuất phát từ lý trí hay từ
trí tưởng tượng của con người.
[6] Ở
đây, Hume tiếp tục khảo sát liệu những giác quan có phải là nguồn gốc của sự
tin tưởng vào sự hiện hữu bên ngoài của vật thể hay không. Ông bắt đầu bằng
cách xem xét một lập luận có vẻ rất tự nhiên: chúng ta dường như trực tiếp nhận
thấy rằng những sự vật nằm bên ngoài thân thể của mình. Tờ giấy nằm ngoài bàn
tay, cái bàn nằm ngoài tờ giấy, những bức tường nằm ngoài cái bàn, và cảnh vật
bên ngoài căn phòng hiện ra trước mắt chúng ta. Từ kinh nghiệm thông thường
này, người ta có thể cho rằng chỉ cần những giác quan là đủ để làm cho chúng ta
tin vào sự hiện hữu bên ngoài của vật thể.
Tuy nhiên, Hume cho rằng
kết luận này vượt quá những gì giác quan thực sự đem lại. Ông phân biệt hai vấn
đề thường bị gộp chung: sự hiện hữu bên ngoài (external existence) và
tính độc lập (independency).
Ở đây, external không
chỉ đơn giản có nghĩa là "ở bên ngoài" theo vị trí không gian. Vấn đề
mà Hume quan tâm là liệu những gì chúng ta tri giác có phải là những vật thể tồn
tại bên ngoài và độc lập với chủ thể nhận thức hay không. Một vật được gọi là
"bên ngoài" không chỉ vì nó nằm ở một vị trí khác với thân thể chúng
ta, mà còn vì nó được cho là có một sự hiện hữu riêng biệt với những tri giác của
chúng ta.
Tương tự,
independency không chỉ nói đến sự tách biệt về không gian, mà nói đến việc một
vật thể có tồn tại mà không phụ thuộc vào chúng ta hay không. Hume nhận thấy rằng
khi chúng ta nói về những vật thể "thực sự tồn tại riêng biệt", điều
chúng ta thường quan tâm không phải chỉ là chúng nằm ở đâu, mà là chúng có tiếp
tục tồn tại độc lập với những biến đổi liên tục của kinh nghiệm trong chính
chúng ta hay không.
Để bác bỏ quan điểm
cho rằng giác quan trực tiếp đem lại cho chúng ta ý niệm về một thế giới vật thể
bên ngoài, Hume đưa ra ba điểm chính.
Thứ nhất, khi chúng
ta nhìn vào tay, chân hay những bộ phận của thân thể mình, chúng ta không thực
sự tri giác trực tiếp một "thân thể vật chất" tồn tại độc lập. Điều
mà giác quan đem lại chỉ là những ấn tượng xuất hiện trong kinh nghiệm của
chúng ta. Việc từ những ấn tượng ấy đi đến kết luận rằng có một thân thể vật chất
thực sự tồn tại, hoặc rằng những ấn tượng ấy là biểu hiện của những vật thể bên
ngoài, đã là một hành động của não thức. Vì vậy, việc gán cho những ấn tượng một
sự hiện hữu vật thể không phải là một điều do giác quan tự nó cung cấp.
Thứ hai, những kinh
nghiệm như âm thanh, vị giác và mùi thường được chúng ta xem như những thuộc
tính tồn tại liên tục và độc lập, nhưng chúng lại không có vị trí trong không
gian (extension). Một âm thanh, một vị hay một mùi không xuất hiện trước
giác quan như một vật thể nằm ở bên ngoài thân thể. Do đó, nếu chỉ dựa vào giác
quan, chúng ta không thể giải thích tại sao lại gán cho những kinh nghiệm ấy một
vị trí bên ngoài. Hume sẽ khảo sát vấn đề này ở phần sau.
Thứ ba, ngay cả thị
giác — giác quan dường như cho chúng ta cảm giác mạnh nhất về thế giới bên
ngoài — cũng không trực tiếp cho chúng ta biết khoảng cách hay sự ở ngoài (outness).
Khi nhìn một vật, chúng ta không đơn giản nhận được từ thị giác một ý niệm hoàn
chỉnh về khoảng cách và vị trí bên ngoài; việc nhận biết những điều này còn cần
đến kinh nghiệm và một quá trình suy luận. Vì vậy, ngay cả thị giác cũng không
tự nó chứng minh rằng có những vật thể tồn tại bên ngoài chủ thể nhận thức.
Thuật ngữ outness là
một cách diễn đạt đặc biệt của Hume. Ông thêm cụm "nếu có thể nói như vậy"
(so to speak) vì đây không phải là một thuật ngữ kỹ thuật thông thường.
Nó không chỉ có nghĩa là khoảng cách không gian, mà chỉ cảm giác rằng một vật nằm
"ở ngoài" chúng ta, tức không thuộc về dòng kinh nghiệm nội tại của
chủ thể.
Qua ba lập luận này,
Hume cho thấy rằng giác quan chỉ đem lại cho chúng ta những tri giác, chứ không
trực tiếp trình bày những vật thể tồn tại độc lập bên ngoài não thức. Bước chuyển
từ những gì được tri giác sang những gì được cho là tồn tại độc lập bên ngoài
tri giác không phải là một dữ kiện giác quan, mà là một kết luận do não thức
hình thành thêm. Vì vậy, phần tiếp theo của lập luận sẽ không còn hỏi liệu giác
quan có cho chúng ta thế giới bên ngoài hay không, mà sẽ đặt câu hỏi sâu hơn: nếu
không phải giác quan, thì nguyên lý nào trong bản tính con người khiến chúng ta
hình thành sự tin tưởng vào sự tồn tại liên tục và độc lập của những vật thể? Đây
chính là hướng Hume sẽ tiếp tục khảo sát qua vai trò của lý trí và trí tưởng tượng.
[7] Ở
đây hoàn tất lập luận của Hume về giới hạn của giác quan và lý trí trong việc
giải thích sự tin tưởng vào thế giới vật thể bên ngoài. Sau khi cho thấy giác
quan không trực tiếp đem lại cho chúng ta ý niệm về những vật thể tồn tại độc lập,
Hume tiếp tục cho thấy rằng sự phân biệt giữa những phẩm chất được xem là thuộc
về bản thân vật thể và những cảm giác được xem là chỉ thuộc về chủ thể nhận thức
không xuất phát từ chính kinh nghiệm giác quan.
Trong tri giác trực
tiếp, màu sắc, âm thanh, nóng, lạnh cũng xuất hiện với chúng ta theo cùng cách
như hình dạng, chuyển động và tính rắn chắc. Bản thân giác quan không cho thấy
rằng một số phẩm chất là những thuộc tính tồn tại độc lập bên ngoài, còn những
phẩm chất khác chỉ là những tri giác trong não thức. Hume nhấn mạnh rằng cần
phân biệt giữa những gì xuất hiện trong tri giác và cách chúng ta giải thích những
tri giác ấy. Việc người bình thường đồng nhất những gì họ cảm nhận với những vật
thể thực sự tồn tại không phải là kết quả của một suy luận lý trí, mà là một hoạt
động tự nhiên của trí tưởng tượng. Vì vậy, Hume bác bỏ cả giác quan lẫn lý trí
như những nền tảng có thể bảo đảm cho sự tin tưởng vào một thế giới vật thể tồn
tại độc lập. Nếu chưa phân biệt giữa tri giác và đối tượng, chúng ta không thể
suy luận từ cái này đến cái kia; còn nếu đã phân biệt chúng, chúng ta cũng
không thể dùng quan hệ nhân quả để chứng minh rằng sự hiện hữu của tri giác bảo
đảm cho sự hiện hữu của một thế giới vật thể bên ngoài tri giác.
Do đó, sự tin tưởng
vào sự hiện hữu liên tục và riêng biệt của vật thể không phải là một kết luận của
lý trí, mà bắt nguồn từ hoạt động của trí tưởng tượng. Đây là bước chuyển quan
trọng trong lập luận của Hume: sau khi loại bỏ giác quan và lý trí, ông sẽ tiếp
tục khảo sát cách trí tưởng tượng hình thành sự tin tưởng tự nhiên của con người
vào một thế giới vật thể tồn tại độc lập với những tri giác của mình.
