Tuesday, January 6, 2026

Hume – Về Tiêu Chuẩn của Thị Hiếu Thẩm Mỹ (02)

Về Tiêu Chuẩn của Thị Hiếu Thẩm Mỹ

(Of the Standard of Taste)

David Hume


( ← ... tiếp theo )

 



ST 9, Mil 231-2

Rõ ràng là không có quy luật nào của sáng tác được xác lập bằng suy luận tiên nghiệm (a priori), hay có thể được coi là những kết luận trừu tượng của trí tuệ hiểu biết, từ việc so sánh những tương quan và những quan hệ giữa những ý niệm vốn vĩnh cửu và bất biến. Nền tảng của những quy luật này cũng giống như nền tảng của mọi ngành khoa học thực hành khác: đó là kinh nghiệm. Chúng chẳng qua là những quan sát tổng quát về những gì đã được tìm thấy phổ quát là làm hài lòng ở mọi quốc gia và mọi thời đại. Nhiều cái đẹp của thi ca và của thuật hùng biện thực chất được xây dựng trên hư cấu và giả tưởng, trên ngoa dụ, ẩn dụ, và lạm dụng hay bóp méo ý nghĩa tự nhiên của những từ ngữ. Việc kìm hãm sự bay bổng của trí tưởng tượng và thu ép mọi diễn đạt phải tuân theo sự thực và chính xác của hình học sẽ là đi ngược lại nhất với những quy luật phê bình; bởi vì nó sẽ tạo ra một tác phẩm mà theo kinh nghiệm phổ quát, là nhạt nhẽo và khó chịu nhất.Tuy nhiên, dù thi ca không bao giờ tuân phục sự thực chính xác, nó vẫn phải chịu sự giới hạn bởi những quy luật nghệ thuật vốn tác giả khám phá nhờ thiên tài hay nhờ quan sát. Nếu một vài tác giả bất cẩn hay phóng túng vẫn làm hài lòng người đọc, thì họ làm hài lòng không phải nhờ những vi phạm quy luật hay trật tự ấy, nhưng là bất chấp chúng: họ sở hữu những cái đẹp khác, vốn phù hợp với những tiêu chuẩn phê bình đúng đắn; sức mạnh của những cái đẹp ấy đủ để vượt qua sự chỉ trích và mang lại cho não thức một sự thỏa mãn vượt trội hơn sự khó chịu do những khuyết điểm gây ra. Ariosto làm chúng ta hài lòng; nhưng không phải bằng những hư cấu quái dị và phi lý, hay bằng sự pha trộn kỳ quái giữa văn phong nghiêm trang và hài hước, bằng sự thiếu mạch lạc trong cốt truyện, hay bằng việc liên tục làm đứt quãng dòng kể. Ông quyến rũ chúng ta bằng sức mạnh và sự trong sáng trong diễn đạt, bằng sự nhạy bén và đa dạng trong sáng tạo, và bằng những mô tả tự nhiên về những cung bậc cảm xúc, đặc biệt là sự vui tươi và tình tứ. Và dù những sai sót của ông có thể làm giảm sự hài lòng của chúng ta, chúng không thể tiêu diệt nó hoàn toàn. Nếu thích thú của chúng ta thực sự nảy sinh từ chính những phần bị coi là lầm lỗi đó, thì đó cũng không phải là lý lẽ để chống lại phê bình tổng quát; nó chỉ là lý lẽ chống lại những quy luật phê bình cụ thể nào đó vốn thiết lập những chi tiết đó là lầm lỗi và coi chúng là đáng chê trách trên mặt rộng lớn hơn. Nếu chúng thực sự mang lại thích thú, chúng không thể là những lầm lỗi; bất kể thích thú chúng tạo ra có bất ngờ và khó giải thích đến đâu. [1]

 

ST 10, Mil 232-3

Tuy nhiên, mặc dù tất cả những quy luật tổng quát của nghệ thuật đều chỉ được xây dựng dựa trên kinh nghiệm và sự quan sát những tình cảm chung của bản chất con người, chúng ta cũng không được lầm tưởng rằng, trong mọi hoàn cảnh, cảm xúc của con người sẽ luôn phù hợp với những quy luật này. Những cảm xúc tinh tế ấy của tâm trí vốn mang bản chất rất mong manh và nhạy cảm, chúng đòi hỏi sự hội tụ của nhiều điều kiện thuận lợi mới có thể vận hành một cách trơn tru và chính xác theo đúng những nguyên tắc tổng quát và đã được thiết lập của chúng. Chỉ một trở ngại nhỏ nhất từ bên ngoài tác động vào những 'lò xo' siêu nhỏ ấy, hay một sự rối loạn nhẹ nhất từ bên trong, cũng đủ để làm xáo trộn chuyển động của chúng và làm nhiễu loạn hoạt động của toàn bộ máy. Khi chúng ta muốn thực hiện một thí nghiệm thuộc loại này, nhằm kiểm chứng sức mạnh của bất kỳ cái đẹp hay sự khiếm khuyết nào, chúng ta phải lựa chọn cẩn thận thời gian và địa điểm thích hợp, đồng cũng phải đưa trí tưởng tượng về một trạng thái và tâm thế phù hợp. Một sự thanh thản tuyệt đối của tâm trí, một sự tập trung của tư duy, một sự chú tâm đúng mức dành cho đối tượng; nếu thiếu bất kỳ điều kiện nào trong số này, thí nghiệm của chúng ta sẽ sai lầm, và chúng ta sẽ không thể phán đoán về cái đẹp phổ quát và vĩnh cửu. Liên hệ mà tự nhiên đã đặt để giữa hình thức [của tác phẩm] và tình cảm [của con người] ít nhất sẽ trở nên mờ mịt hơn; và việc truy dõi cũng như phân biệt liên hệ đó sẽ đòi hỏi một sự chính xác lớn hơn. Chúng ta sẽ có thể xác định ảnh hưởng của nó không phải qua tác động của từng cái đẹp riêng lẻ, cho bằng qua sự ngưỡng mộ bền vững dành cho những tác phẩm đã tồn tại qua mọi thăng trầm của khuynh hướng và thời thượng, qua mọi sai lầm của thiếu hiểu biết và lòng đố kỵ.

 

ST 11, Mil 233

Cùng một Homer, người đã làm hài lòng ở Athens và Rome hai nghìn năm trước, vẫn được ngưỡng mộ ở Paris và ở London. Tất cả những thay đổi về khí hậu, chính phủ, tôn giáo, và ngôn ngữ, đã không thể làm lu mờ vinh quang của ông. Quyền lực hoặc thành kiến có thể mang lại một sự nổi tiếng tạm thời cho một nhà thơ hoặc nhà hùng biện tồi; nhưng danh tiếng của ông sẽ không bao giờ bền vững hoặc phổ biến. Khi những sáng tác của ông được hậu thế hoặc người nước ngoài xem xét, sự mê hoặc sẽ tan biến và những lỗi lầm của ông hiện rõ màu sắc thực sự của chúng. Ngược lại, với một thiên tài thực thụ, tác phẩm của ông càng tồn tại lâu dài và càng được lan tỏa rộng rãi, thì sự ngưỡng mộ ông nhận được lại càng chân thành. Lòng đố kỵ và sự ghen ghét chiếm quá nhiều chỗ trong một phạm vi [giao du] hạn hẹp; và thậm chí ngay cả việc quá quen thuộc với con người cá nhân của tác giả cũng có thể làm giảm bớt những lời tán dương dành cho thành quả của ông ta. Nhưng khi những rào cản này được gỡ bỏ, những cái đẹp vốn được tự nhiên đặt để để khơi gợi những tình cảm dễ chịu sẽ ngay lập tức phô diễn quyền năng của chúng; và chừng nào thế giới này còn tồn tại, chúng sẽ duy trì uy quyền của mình đối với tâm trí con người..

 

ST 12, Mil 233-4

Khi đó, có vẻ như rằng, giữa tất cả sự đa dạng và thất thường của Thị Hiếu Thẩm Mỹ, có một số nguyên tắc tổng quát nhất định về tán thành hay chê trách, vốn một con mắt cẩn trọng có thể theo dõi ảnh hưởng của chúng trong mọi hoạt động của não thức. Một số hình thức hay tính chất đặc biệt, do cấu trúc nguyên thủy của kết cấu ban đầu, được tạo ra để làm hài lòng, còn những hình thức hay tính chất khác để gây khó chịu; và nếu chúng không phát huy tác dụng trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào thì đó là do khiếm khuyết hoặc sự không hoàn hảo rõ ràng nào đó trong cơ quan cảm thụ. Một người đang sốt sẽ không khăng khăng rằng khẩu vị của mình có thể phán quyết về những hương vị; một người mắc bệnh vàng da cũng sẽ không tự phụ đưa ra phán quyết về màu sắc.Trong mỗi sinh vật đều có một trạng thái khỏe mạnh và một trạng thái; và chỉ trạng thái khỏe mạnh mới có thể được coi là mang lại cho chúng ta một tiêu chuẩn thực sự về Thị Hiếu Thẩm Mỹ và tình cảm. Nếu ở trạng thái khỏe mạnh của cơ quan cảm thụ, có một sự thống nhất hoàn toàn hoặc đáng kể về tình cảm giữa con người với nhau, từ đó chúng ta có thể rút ra ý niệm về cái đẹp hoàn hảo; tương tự như cách mà vẻ ngoài của những đối tượng dưới ánh sáng ban ngày, qua con mắt của một người khỏe mạnh, được gọi là màu sắc thực sự và đích thực của chúng, ngay cả khi màu sắc vốn được thừa nhận chỉ là một ảo ảnh của những giác quan.

 

ST 13, Mil 234

Rất nhiều và thường xuyên có những khiếm khuyết trong những cấu trúc nội tại của trí óc con người; chính những khiếm khuyết này làm cản trở hoặc làm suy yếu tác động của những nguyên lý tổng quát đó, vốn là cảm nhận của chúng ta về cái đẹp hay cái xấu tùy thuộc trên chúng. Mặc dù, xét theo cấu tạo tự nhiên của não thức, một số đối tượng được định sẵn là sẽ đem lại khoái cảm, nhưng không thể mong đợi rằng khoái cảm ấy sẽ được mọi cá nhân cảm nhận ngang nhau. Có những sự việc và hoàn cảnh cụ thể xảy ra, khiến con người hoặc nhìn những đối tượng dưới một ánh sáng sai lệch, hoặc làm cho ánh sáng đúng thực không thể truyền đạt đến trí tưởng tượng, qua đó ngăn cản việc hình thành cảm xúc và nhận thức thích hợp.

 

ST 14, Mil 234

Một nguyên nhân hiển nhiên khiến nhiều người không cảm nhận được đúng cảm thức về cái đẹp là do họ thiếu sự tinh tế của trí tưởng tượng, vốn cần thiết để truyền đạt và tiếp nhận những xúc cảm tinh vi hơn. Ai cũng tự nhận là mình có sự tinh tế ấy; ai cũng nói đến nó, và thậm chí còn muốn lấy nó làm thước đo cho mọi loại Thị Hiếu Thẩm Mỹ hay cảm xúc.Tuy nhiên, vì mục đích của bài luận này là kết hợp một phần ánh sáng của lý trí với những rung động của cảm xúc, nên cần phải đưa ra một định nghĩa chính xác hơn về “sự tinh tế” — điều mà trước đây chưa được làm một cách thỏa đáng. Và để không rút triết học của mình từ những nguồn quá sâu xa hay trừu tượng, chúng ta sẽ nhờ đến một câu chuyện nổi tiếng trong Don Quixote.

 

ST 15, Mil 234-5

Sancho nói với người giám mã mũi to rằng: Tôi có lý do chính đáng để tự nhận mình có khả năng phán đoán rượu vang; đó là một phẩm tính di truyền trong gia đình tôi. Ngày trước, hai người bà con của tôi từng được mời đến cho ý kiến về một thùng rượu lớn, vốn được cho là hảo hạng vì đã để lâu năm và thuộc một vụ nho tốt. Một người nếm thử, suy ngẫm cẩn thận, rồi sau khi cân nhắc kỹ lưỡng thì kết luận rằng rượu rất ngon — chỉ có điều ông nhận ra trong đó phảng phất một vị da thuộc. Người kia, cũng thận trọng không kém, đưa ra phán quyết tương tự, nhưng kèm theo nhận xét rằng ông dễ dàng nhận ra một vị kim loại, như mùi sắt. Không thể tưởng tượng được hai người ấy đã bị chế giễu nhiều đến mức nào vì những nhận xét đó. Nhưng rốt cuộc, ai là người cười sau cùng? Khi người ta đổ cạn thùng rượu, ở đáy thùng xuất hiện một chiếc chìa khóa cũ, buộc vào đó là một sợi dây da.

 

ST 16, Mil 235-6

Sự tương đồng lớn giữa thị hiếu tinh thần và vị giác của thân thể sẽ giúp chúng ta dễ dàng hiểu được cách áp dụng câu chuyện ấy. Mặc dù rõ ràng rằng cái đẹp và cái xấu — thậm chí còn hơn cả vị ngọt hay vị đắng — không phải là những phẩm chất tự thân của sự vật, nhưng hoàn toàn thuộc về cảm nhận, dù là nội tâm hay ngoại giới; tuy vậy, vẫn phải nhìn nhận rằng trong những đối tượng có những đặc tính nhất định, vốn theo tự nhiên được cấu tạo để khơi gợi những cảm xúc cụ thể đó. Vì những phẩm chất ấy có thể chỉ tồn tại ở mức độ rất nhỏ, hoặc có thể bị pha trộn và lẫn lộn với nhau, nên thường xảy ra tình trạng thị hiếu không bị tác động bởi những đặc tính hết sức tinh vi đó, hoặc không đủ khả năng phân biệt từng hương vị riêng lẻ giữa sự hỗn độn mà chúng được trình bày. Khi những “cơ quan” ấy tinh tế đến mức không để lọt bất cứ chi tiết nào, đồng thời lại chính xác đến mức nhận ra từng thành phần trong toàn bộ cấu hợp, thì chúng ta gọi đó là sự tinh tế của thị hiếu — dù chúng ta dùng cách nói này theo nghĩa đen hay theo nghĩa ẩn dụ. Ở đây khi đó, những quy luật tổng quát về cái Đẹp sẽ được dùng; được rút ra từ những mô hình đã được thiết lập và từ việc quan sát những gì làm hài lòng hoặc không hài lòng, khi được trình bày riêng lẻ và ở một mức độ cao: Và nếu những phẩm chất tương tự, trong một bố cục liên tục và ở mức độ nhỏ hơn, không thể gây ra cho những cơ quan cảm thụ một sự thích thú hay khó chịu rõ rệt, thì chúng ta có quyền tước bỏ mọi sự tự nhận về tính tinh tế của người đó. Chính lúc này, những quy luật tổng quát về cái đẹp mới phát huy tác dụng; chúng được rút ra từ những mô hình đã được thừa nhận và từ việc quan sát những gì gây nên sự hài lòng hay khó chịu khi chúng đứng riêng lẻ ở một mức độ cao. Và nếu chính những phẩm chất đó, khi nằm trong một cấu trúc phức hợp và ở mức độ nhỏ hơn, không thể gây ra cho những cơ quan cảm thụ một sự thích thú hay khó chịu rõ rệt, thì chúng ta có quyền tước bỏ mọi sự tự nhận về tính tinh tế của người đó. Việc đưa ra những quy luật tổng quát hay những khuôn mẫu sáng tác đã được công nhận này cũng giống như việc tìm thấy chiếc chìa khóa có buộc sợi dây da; nó minh chứng cho phán quyết của hai người bà con của Sancho, và làm bẽ mặt những kẻ tự xưng là thẩm phán đã từng chỉ trích họ. Ngay cả khi thùng rượu chưa bao giờ được đổ cạn, thì vị giác của người này vẫn tinh tế và của người kia vẫn mờ nhạt, uể oải như cũ. Tuy nhiên, nếu không có bằng chứng đó, sẽ khó lòng chứng minh được sự ưu việt của người trước để thuyết phục những người đứng xem. Tương tự như vậy, ngay cả khi những cái đẹp của văn chương chưa bao giờ được hệ thống hóa hay đúc kết thành những nguyên tắc tổng quát; ngay cả khi chưa có mô hình xuất sắc nào được công nhận; thì những cấp độ thị hiếu thẩm mỹ khác nhau vẫn tồn tại, và phán quyết của người này vẫn đáng giá hơn người kia. Thế nhưng, nếu thiếu quy luật, ta sẽ không dễ dàng dập tắt được sự ngoan cố của một nhà phê bình tồi — kẻ luôn khăng khăng vào cảm tính cá nhân và từ chối khuất phục đối thủ. Nhưng khi chúng ta chỉ ra cho người này một nguyên tắc nghệ thuật đã được thừa nhận; khi chúng ta minh họa nguyên tắc này bằng những ví dụ mà chính người này, từ thị hiếu thẩm mỹ cá nhân của mình, cũng phải thừa nhận là khớp với nguyên tắc đó; và khi chúng ta chứng minh rằng chính nguyên tắc ấy cũng có thể áp dụng vào trường hợp hiện tại (nơi mà hắn đã không nhận ra hay cảm nhận được sức ảnh hưởng của nó): thì rốt cuộc người này phải kết luận rằng lỗi nằm ở chính bản thân người này, và rằng hắn thiếu đi sự tinh tế cần thiết để cảm nhận được mọi cái đẹp cũng như mọi khiếm khuyết trong bất kỳ tác phẩm hay bài diễn thuyết nào

 

ST 17, Mil 236-7

Điều được nhìn nhận là sự hoàn hảo của mọi giác quan hoặc khả năng, để có thể nhận thức với sự chính xác những đối tượng nhỏ nhất của nó và không để bất cứ gì thoát khỏi sự chú ý và quan sát của nó. Những đối tượng càng nhỏ thì mắt càng cảm nhận được, cơ quan đó càng tinh tế và cấu tạo cũng như thành phần của nó càng phức tạp. Một khẩu vị tốt không thể thử bằng những Thị Hiếu Thẩm Mỹ đậm đà; mà bằng sự kết hợp của những thành phần nhỏ, trong đó chúng ta vẫn có thể cảm nhận được từng phần, bất chấp sự nhỏ nhặt và sự nhầm lẫn của nó với phần còn lại. Tương tự như vậy, nhận thức nhanh chóng và nhạy bén về cái Đẹp và sự dị dạng phải là sự hoàn hảo trong thị hiếu tinh thần của chúng ta; một người con người cũng không thể hài lòng với bản thân khi ông nghi ngờ rằng bất kỳ sự xuất sắc hay khuyết điểm nào trong một bài diễn thuyết đều khiến ông không thể nhận ra. Trong trường hợp này, sự hoàn hảo của con người và sự hoàn hảo của giác quan hay cảm giác được coi là thống nhất. Trong nhiều trường hợp, một khẩu vị rất tinh tế có thể là một sự bất tiện lớn cho cả bản thân một người con người và bạn bè của ông: Nhưng Thị Hiếu Thẩm Mỹ tinh tế của trí thông minh hay cái Đẹp phải luôn là một phẩm chất đáng mơ ước; bởi vì nó là nguồn gốc của mọi thú vui hồn nhiên và trong sáng nhất mà bản chất con người dễ bị ảnh hưởng. Trong quyết định này, tình cảm của toàn nhân loại đều được đồng tình. Bất cứ ở đâu bạn có thể xác định được Thị Hiếu Thẩm Mỹ tinh tế của nó, chắc chắn nơi đó sẽ nhận được sự tán thành; và cách tốt nhất để xác định điều đó là dựa vào những mô hình và nguyên tắc đã được thiết lập bởi sự đồng thuận và kinh nghiệm thống nhất của những quốc gia và thời đại.

 

ST 18, Mil 237

Nhưng mặc dù về bản chất luôn có một sự khác biệt lớn về mức độ tinh tế giữa người này với người khác, không có gì giúp gia tăng và cải thiện tài năng này hiệu quả hơn là việc thực hành một ngành nghệ thuật cụ thể, và việc thường xuyên khảo sát hoặc chiêm ngưỡng một loại hình của cái đẹp cụ thể. Khi những đối tượng thuộc bất kỳ loại nào mới được trình bày lần đầu trước mắt hay trí tưởng tượng, tình cảm đi kèm với chúng thường mờ nhạt và hỗn độn; và tâm trí, ở một mức độ lớn, chưa có khả năng đưa ra phán quyết về những ưu điểm hay khuyết điểm của chúng. Thị hiếu lúc ấy chưa thể nhận ra những điểm xuất sắc khác nhau của thành quả nghệ thuật; lại càng không thể phân biệt được đặc tính riêng của từng điểm xuất sắc đó, cũng như xác định chất lượng và mức độ của chúng. Nếu một người chưa thực hành như vậy có tuyên bố một cách tổng quát rằng toàn bộ tác phẩm là đẹp hay xấu, thì đó đã là điều tối đa có thể kỳ vọng; và ngay cả phán quyết này, họ cũng sẽ đưa ra với sự ngần ngại và dè dặt lớn. Nhưng hãy để người này tích lũy kinh nghiệm về những đối tượng đó, cảm giác của người này sẽ trở nên chính xác và tinh tế hơn: Người này không chỉ nhận ra những cái đẹp và khiếm khuyết của từng phần, mà còn đánh dấu được loại biệt riêng biệt của từng phẩm chất, và dành cho nó lời khen ngợi hay chê trách thích đáng. Một tình cảm rõ ràng và tách biệt sẽ đồng hành cùng người này trong suốt quá trình khảo sát những đối tượng; và người này nhận ra chính xác mức độ cũng như loại hình tán thành hay khó chịu mà mỗi phần của tác phẩm, theo lẽ tự nhiên, được tạo ra để khơi gợi. Lớp sương mù vốn trước đây dường như bao phủ lấy đối tượng nay tan biến dần: Cơ quan cảm thụ đạt đến sự hoàn thiện lớn hơn trong những hoạt động của nó; và có thể đưa ra phán quyết về giá trị của mọi thành quả nghệ thuật mà không sợ sai lầm. Nói tóm lại, sự khéo léo và thuần thục mà thực hành mang lại cho việc thực hiện bất kỳ công việc nào, thì cũng có thể đạt được bằng chính phương cách đó trong việc đánh giá công việc ấy

 

ST 19, Mil 237-8

Việc rèn luyện thực hành có lợi cho khả năng phân định cái đẹp đến mức, trước khi có thể đưa ra phán quyết về bất kỳ tác phẩm quan trọng nào, chúng ta thậm chí cần phải nghiền ngẫm chính tác phẩm cụ thể đó hơn một lần, và khảo sát nó dưới những góc độ khác nhau với sự chú tâm và cân nhắc kỹ lưỡng. Luôn có một sự xao động hay vội vã trong suy nghĩ đi kèm với lần thưởng thức đầu tiên một tác phẩm, và chính điều này làm rối loạn tình cảm chân thực về cái đẹp. Mối liên hệ giữa những phần không được nhận ra; những đặc điểm thực sự của phong cách ít được phân biệt; những ưu điểm và khuyết điểm khác nhau dường như bị bao phủ trong một mớ hỗn độn, và hiện ra một cách mờ nhạt trước trí tưởng tượng. Đó là chưa kể đến việc có một loại cái đẹp sặc sỡ và hời hợt, ban đầu thì làm ta hài lòng; nhưng khi bị nhận ra là không tương thích với sự biểu đạt đúng đắn của lý trí hay cảm xúc, nó sẽ sớm trở nên nhàm chán đối với thị hiếu, rồi bị gạt bỏ với vẻ khinh miệt, hoặc ít nhất là bị đánh giá với một giá trị thấp hơn nhiều.

 

ST 20, Mil 238

Việc duy trì thói quen chiêm ngưỡng bất kỳ thứ bậc hay mức độ nào của cái đẹp mà không nảy sinh nhu cầu thường xuyên phải thực hiện những sự so sánh giữa những chủng loại và cấp độ xuất sắc khác nhau, cũng như ước lượng tỷ lệ giữa chúng, là điều không thể tránh khỏi. Một người không có cơ hội so sánh những loại hình khác nhau của cái đẹp thì quả thực hoàn toàn không đủ tư cách để đưa ra một ý kiến về bất kỳ đối tượng nào được trình bày trước người này. Chỉ bằng cách so sánh, chúng ta mới xác lập được những từ ngữ khen ngợi hay chê trách, và học được cách ấn định mức độ tương xứng cho mỗi loại. Ngay cả một bức vẽ thô thiển nhất cũng chứa đựng một độ rạng rỡ nhất định của màu sắc và sự chính xác trong việc mô phỏng, vốn ở chừng mực nào đó là những cái đẹp, và chúng có thể khiến tâm trí của một người nông dân hay một người bản địa (Indian) phải vô cùng ngưỡng mộ [2]. Những bản ballad tầm thường nhất không hẳn là hoàn toàn thiếu đi sự hài hòa hay tính tự nhiên; và không ai trừ một người đã quen thuộc với những cái đẹp thượng đẳng mới có thể tuyên bố rằng nhịp điệu của chúng thật chói tai, hay cách kể chuyện thật tẻ nhạt. Một cái đẹp kém cỏi trầm trọng sẽ gây ra sự khó chịu cho một người vốn đã quen thuộc với những giá trị xuất sắc nhất trong loại hình đó, và vì lý do ấy, nó bị tuyên bố là một sự khiếm khuyết: Bởi lẽ đối tượng hoàn mỹ nhất mà chúng ta từng biết đương nhiên sẽ được coi là đã đạt đến đỉnh cao của sự hoàn hảo và xứng đáng với những lời tán thưởng nồng nhiệt nhất. Chỉ một người đã quen với việc xem xét, kiểm chứng và cân nhắc những thành quả nghệ thuật khác nhau, vốn được ngưỡng mộ qua những thời đại và quốc gia khác nhau, mới có thể đánh giá đúng giá trị của một tác phẩm được trưng bày trước mắt mình, và ấn định cho nó một vị trí xứng đáng trong số những sản phẩm của thiên tài.

 

ST 21, Mil 239-40

Để một nhà phê bình có thể thực hiện nhiệm vụ này một cách trọn vẹn nhất, ông phải giữ não thức thoát khỏi mọi thành kiến, và không để bất cứ gì lọt vào sự xem xét ngoài chính đối tượng được đưa ra thẩm định. Chúng ta có thể quan sát rằng, để mọi tác phẩm nghệ thuật nhằm tạo ra tác động thích hợp trên tâm trí người thưởng ngoạn, người thưởng ngoạn phải quan sát nó từ một góc nhìn nhất định; những người có hoàn cảnh (dù thực hay tưởng tượng) không phù hợp với yêu cầu của tác phẩm, sẽ không thể thưởng thức nó trọn vẹn. Một diễn giả khi diễn thuyết trước một nhóm khán giả cụ thể phải quan tâm đến tư chất, lợi ích, quan điểm, đam mê và cả những thành kiến riêng biệt của họ; nếu không, ông sẽ hoài công vô ích khi hy vọng chi phối quyết định và khơi dậy tình cảm của họ. Ngay cả khi khán giả có sẵn những ác cảm vô lý đối với ông, diễn giả cũng không được làm ngơ bất lợi đó; nhưng trước khi đi vào đề tài, ông phải cố gắng để hòa giải tình cảm và tranh thủ thiện cảm của họ. Một nhà phê bình thuộc thời đại hay dân tộc khác, khi đọc diễn văn ấy, phải lưu ý tất cả những hoàn cảnh này, và phải tự đặt vào cùng vị trí như thính giả để đưa ra phán đoán đúng về bài diễn thuyết. Cũng vậy, khi bất kỳ tác phẩm nào hướng tới công chúng, dù tôi có tình thân hay thù địch với tác giả, tôi vẫn phải rời khỏi vị trí ấy; tự coi mình như một thành viên của nhân loại nói chung và quên đi – nếu có thể – bản thể cá nhân cùng những hoàn cảnh đặc thù của tôi. Một người bị thành kiến chi phối sẽ không tuân theo điều kiện này; người này cố chấp giữ vị thế tự nhiên của mình nhưng không chịu đặt mình vào góc nhìn mà tác phẩm giả định. Nếu tác phẩm dành cho những người ở thời đại hay quốc gia khác, người này không hề nhân nhượng cho những quan điểm và thành kiến riêng biệt của họ; trái lại, vì não thức đã lấp đầy những phong tục của thời đại và đất nước của mình, người này vội vàng kết tội những gì vốn được coi đáng ngưỡng mộ. Nếu tác phẩm được thực hiện cho công chúng, người này không bao giờ mở rộng sự hiểu biết đủ mức, hoặc quên đi lợi ích của mình với tư cách bạn bè hay kẻ thù, đối thủ hay bình luận viên. Do đó, tình cảm của người này bị bóp méo; những vẻ đẹp và khuyết điểm không còn ảnh hưởng giống như khi người này áp đặt một sự ép buộc thích hợp lên tưởng tượng và quên mình trong chốc lát. Đến mức ấy, thị hiếu của người này rõ ràng lệch khỏi tiêu chuẩn đúng thực; và do đó mất hết uy tín cũng như thẩm quyền.

 

ST 22, Mil 240-1

Ai cũng biết rằng trong mọi vấn đề thuộc về trí năng, thành kiến sẽ hủy hoại sự phán đoán sáng suốt và làm lệch lạc mọi hoạt động của các năng lực trí tuệ. Đối với thị hiếu tốt, thành kiến cũng gây hại không kém; nó có sức mạnh tương đương trong việc làm băng hoại tình cảm của chúng ta về cái đẹp. Chính cảm quan tốt [3] đóng vai trò kiểm soát ảnh hưởng của thành kiến trong cả hai trường hợp; và về phương diện này cũng như nhiều phương diện khác, lý trí—nếu không phải là một phần thiết yếu của thị hiếu—thì ít nhất cũng là điều kiện kiên quyết cho các hoạt động của năng lực này.Trong tất cả các sản phẩm cao quý của thiên tài, luôn tồn tại một mối liên hệ và sự tương ứng lẫn nhau giữa các phần; kẻ nào không có tư duy đủ rộng mở để bao quát toàn bộ các phần đó, và không đủ khả năng so sánh chúng với nhau nhằm nhận ra sự nhất quán và tính thống nhất của chỉnh thể, thì kẻ đó không bao giờ có thể cảm thụ được vẻ đẹp hay nhận ra những khiếm khuyết.Tất cả những tác phẩm nghệ thuật đều có một mục đích hay tôn chỉ nhất định mà nó hướng tới; và ta sẽ đánh giá tác phẩm đó hoàn hảo đến đâu dựa trên việc nó đạt được mục đích này hiệu quả như thế nào. Mục tiêu của hùng biện là để thuyết phục, của lịch sử là để răn dạy, của thi ca là để mang lại xúc cảm qua đam mê và trí tưởng tượng. Chúng ta phải luôn giữ vững những mục đích này trong tâm trí khi thưởng thức bất kỳ thành quả nào; và phải có khả năng phán đoán xem những phương tiện được dùng đã thích ứng ra sao với mục đích tương ứng của chúng. Bên cạnh đó, tất cả những thể loại sáng tác ngay cả những bài thơ giàu nhạc tính nhất, thực chất chẳng qua cũng chỉ là một chuỗi những mệnh đề và lập luận; dù chúng không phải lúc nào cũng chuẩn xác nhất hay đúng đắn nhất, nhưng chúng vẫn phải có vẻ hợp lý và thuyết phục, dẫu đã được ngụy trang bằng sắc màu của trí tưởng tượng. những nhân vật trong bi kịch và sử thi phải được khắc họa sao cho cách họ lập luận, suy nghĩ, kết luận và hành động đều phù hợp với tính cách và hoàn cảnh của họ. Nếu thiếu đi sự phán đoán (judgment), cũng như thị hiếu thẩm mỹ và sự sáng tạo, một nhà thơ không bao giờ có thể hy vọng thành công trong trong một công việc tế nhị như vậy. Đó là chưa kể đến việc chính những năng lực xuất sắc góp phần cải thiện lý trí—như sự sáng suốt trong quan niệm, sự chính xác trong phân biệt và khả năng lĩnh hội nhạy bén, cũng chính là những yếu tố thiết yếu cho những hoạt động của một thị hiếu thẩm mỹ đích thực và luôn song hành cùng nó như những hệ quả tất yếu. Hiếm khi, hoặc không bao giờ, chúng ta thấy một người có óc phán đoán sáng suốt và có kinh nghiệm trong bất kỳ thể loại nghệ thuật nào mà lại không thể đánh giá được vẻ đẹp của nó; và cũng hiếm hoi không kém khi gặp một người có thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn mà lại thiếu đi một trí năng lành mạnh. [4]

 

ST 23, Mil 241

Như vậy, mặc dù những nguyên lý của thị hiếu thẩm mỹ là phổ quát và gần như giống nhau ở mọi người; nhưng thực tế ít ai đủ tư cách để đưa ra phán quyết về một tác phẩm nghệ thuật, hoặc xác lập cảm nhận riêng của mình thành tiêu chuẩn của cái đẹp. Những cơ quan cảm thụ nội tại hiếm khi đạt đến độ hoàn hảo để cho phép những nguyên lý tổng quát vận hành hết công năng và tạo ra một cảm xúc tương ứng với những nguyên lý đó. Những cơ quan này thường mắc phải khuyết điểm nào đó, hoặc bị làm hư hại bởi sự rối loạn; và do đó, chúng khơi dậy một tình cảm có thể bị coi là sai lầm. Khi nhà phê bình thiếu sự tinh tế, người này phán đoán mà không có sự phân biệt, chỉ bị tác động bởi những đặc điểm thô thiển và hiển nhiên của đối tượng; còn những nét chạm trổ tinh vi hơn thì người này bỏ qua và không đếm xỉa tới. Khi thiếu sự thực hành, phán quyết của người này sẽ đi kèm với sự bối rối và ngần ngại. Khi không áp dụng sự so sánh, người này sẽ ngưỡng mộ cả những vẻ đẹp phù phiếm nhất – những thứ đáng ra phải gọi là khiếm khuyết. Khi nằm dưới tầm ảnh hưởng của định kiến, mọi tình cảm tự nhiên của người này đều bị bóp méo. Khi thiếu cảm quan tốt, người này không đủ tư cách để nhận ra những vẻ đẹp của cấu trúc và lập luận – vốn là những giá trị cao quý nhất. Đa số mọi người đều mắc phải một hoặc vài khiếm khuyết này; và đó là lý do tại sao một nhà phê bình thực thụ trong những ngành nghệ thuật tinh vi lại hiếm hoi đến vậy, ngay cả trong những thời đại văn minh nhất. Chỉ khi óc phán đoán mạnh mẽ kết hợp với tình cảm tinh tế, được trau dồi bởi thực hành, hoàn thiện bằng so sánh, và gột sạch mọi định kiến, thì nhà phê bình mới có được tư cách quý giá này; và phán quyết chung của những người như thế, bất kể họ ở đâu, chính là tiêu chuẩn thực sự của Thị Hiếu Thẩm Mỹ và cái Đẹp.

 

ST 24, Mil 241

Thế nhưng, có thể tìm thấy những nhà phê bình như vậy ở đâu? Dựa vào những dấu hiệu nào để nhận biết họ? Làm sao phân biệt được họ với những kẻ mạo danh? Những câu hỏi này thật gây bối rối; và dường như chúng đang đẩy chúng ta quay trở lại chính sự bất định mà chúng ta đã cố gắng thoát ra trong suốt bài luận này.


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Dec/2023 – Jan/2026)

(Còn tiếp... )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 

 



[1] Chống lại suy luận Tiên nghiệm (A priori): Hume khẳng định bạn không thể ngồi trong phòng kín, dùng logic thuần túy để suy ra cái gì là đẹp. Cái đẹp không phải là định lý Pythagore. Nó là một sự kiện của tâm lý con người. - Chân lý hình học (Geometrical truth): Nếu một bài thơ mô tả mọi thứ chính xác như thực tế (ví dụ: mô tả một trận chiến với số lượng quân lính chính xác và sơ đồ chiến thuật khô khan), nó sẽ trở nên “insipid” (nhạt nhẽo). Nghệ thuật cần “falsehood and fiction” (sự hư cấu) để chạm đến cảm xúc. Một tác phẩm vĩ đại có thể chứa đầy lỗi, nhưng nếu những vẻ đẹp của nó quá mạnh mẽ, chúng sẽ “đè bẹp” (overpower) cảm giác khó chịu từ những lỗi đó.

Ludovico Ariosto (1474–1533) là một nhà thơ người Ý vĩ đại, nổi tiếng nhất với sử thi Orlando Furioso (Orlando cuồng điên).Hume chọn Ariosto làm ví dụ vì tác phẩm của ông cực kỳ gây tranh cãi trong giới phê bình thời bấy giờ:

Các “lỗi” theo quan điểm cổ điển: Ariosto viết theo lối phóng túng, những câu chuyện của ông vô lý, quái dị (monstrous), trộn lẫn giữa bi và hài, và thường xuyên bị ngắt quãng giữa chừng để chuyển sang nhân vật khác.Tại sao ông vẫn vĩ đại?: Hume giải thích rằng dù Ariosto vi phạm nhiều “qui luật” về cấu trúc, ông vẫn làm say lòng độc giả bằng: (a) Sức mạnh biểu đạt: Ngôn từ rõ ràng, sống động. (b) Sự sáng tạo: Những phát minh tình tiết đa dạng, phong phú. (c) Sự thấu hiểu đam mê: Những bức tranh tâm lý tự nhiên về tình yêu và niềm vui. Kết luận của Hume thông qua Ariosto: Nếu một qui luật phê bình nói rằng Ariosto “dở”, nhưng thực tế cả thế giới đều thấy ông “hay”, thì cái sai nằm ở qui luật đó chứ không phải ở cảm xúc của độc giả. Qui luật phải phục vụ mỹ cảm của con người, chứ con người không sinh ra để phục vụ qui luật.

[2] Indian: người bản địa (thường là người bản địa châu Mỹ - Native Americans). Vào thời điểm đó, trong mắt những nhà triết học châu Âu, những cộng đồng này đại diện cho trạng thái “tự nhiên” hoặc “nguyên thủy” của con người, chưa tiếp xúc với giáo dục nghệ thuật hàn lâm hay những tiêu chuẩn thẩm mỹ phức tạp của châu Âu.

[3] good sense

[4] quan hệ giữa Lý trí (Reason/Good Sense) và Thị hiếu (Taste). Hume  đập tan quan niệm cho rằng nghệ thuật chỉ là chuyện của cảm xúc vu vơ bằng cách khẳng định: Nếu thiếu đi sự tỉnh táo của lý trí, ta không bao giờ chạm tới được vẻ đẹp thực sự.