Về Tiêu Chuẩn của Thị Hiếu Thẩm Mỹ
(Of the Standard of Taste)
David Hume
Dẫn nhập
Of
the Standard of Taste
(1757) của David Hume (1711-1776) đóng vai
trò như một thăm dò khơi động suy nghĩ trong
những chiều chủ
quan của những phán
đoán thẩm mỹ. Bài tiểu luận của Hume đi sâu vào lĩnh vực tinh tế phức tạp của việc xác định
những gì được coi là Đẹp hay có tính Thẩm Mỹ
trong
những lĩnh
vực nghệ thuật và văn học. Nhận thức được sự đa dạng vốn có trong thị hiếu về cái
Đẹp trong mỗi
cá
nhân và văn hóa, Hume nêu câu
hỏi quan trọng là liệu có tồn tại một tiêu chuẩn phổ quát để thẩm định
giá
trị mỹ thuật
trong những
sáng tạo nghệ thuật hay không.
Điều
tra triết học này thách thức một quan
niệm phổ thông về
một tiêu chuẩn khách quan, như có thể áp dụng phổ quát cho thị hiếu thẩm mỹ, sau khi
thúc
giục người đọc trực diện với
sự tương
đối nằm chìm trong những
phán đoán thẩm mỹ. Hume khéo léo dùng ngôn ngữ dễ tiếp cận và thu hút chú ý của người đọc,
mời gọi người đọc suy ngẫm về tác động hỗ tương phức tạp của những yếu tố hình
thành nhận thức đa dạng của chúng chúng ta về cái Đẹp và giá trị mỹ thuật.
Ý
nghĩa của Of the Standard of Taste trong Triết Học Thẩm Mỹ (the
philosophy of aesthetics – Mỹ học) rất sâu xa. Sự thăm dò của Hume đã có một tác động lâu dài trên
những thảo luận học thuật trong lĩnh vực này, ảnh hưởng đến những triết gia và
học giả về sau,
gồm cả những nhân vật tên tuổi như Immanuel Kant (Kritik der Urteilskraft),
Arthur Schopenhauer (Die Welt als Wille und Vorstellung), John Stuart
Mill (Utilitarianism) và Edmund Burke (A Philosophical Enquiry into
the Sublime and Beautiful). Những nhà tư tưởng này đã tham dự và mở rộng những ý tưởng
của Hume, tiếp tục
góp
phần vào một thảo luận quan trọng,
đi sâu vào bản chất chủ quan của những phán đoán thẩm mỹ và những ảnh hưởng nhiều
mặt của văn hóa và lịch sử với những thị hiếu thẩm mỹ cá nhân. Hume nhấn mạnh trên những quy luật tổng quát
bắt nguồn từ những ý
kiến của đám đông. Hiểu như những phán đoán, ưa thích hoặc đánh
giá tổng quát nảy sinh từ một nhóm người, đặc biệt là những người được trau dồi
hay có được một thẩm khiếu tinh tế. Hiểu như một cảm thức chủ quan về cái đẹp,
cái ngon, và mở rộng đến cái tốt lành (đạo đức), và cái đúng/sai. Nó chỉ một sự
đồng thuận trong phán doán về cái Đẹp được một công chúng ‘sành điệu’
đưa ra. Trong khi Kant
nhấn mạnh trên một sự
đồng thuận phổ quát dựa trên những cảm thức chủ quan trong kinh nghiệm nhận thức của con
người.
Bài luận không chỉ chất vấn ý tưởng về một tiêu chuẩn khách quan, duy
nhất cho thị hiếu thẩm mỹ nhưng còn mở ra những con đường cho một hiểu biết nhiều sắc thái hơn về kinh nghiệm thẩm mỹ. Tác phẩm của
Hume tiếp tục khơi dậy những tranh luận xung quanh tính chủ quan vốn có trong
những phán đoán thẩm mỹ, khuyến khích những học giả nhìn thẳng vào những chiều sâu phức tạp và đa dạng trong nhận thức và việc đánh giá nghệ thuật của con người. Về Tiêu Chuẩn Của Thị Hiếu Thẩm Mỹ vẫn là văn bản nền tảng đóng một vai trò then chốt trong việc định hình hướng
thảo luận trong triết học thẩm mỹ, thúc đẩy tìm hiểu sâu
hơn trong những phức tạp vốn có trong quan hệ của chúng chúng ta với cái Đẹp và cái
trang nhã mang tính mỹ thuật.
Người dịch
Dẫn Nhập Vào Nội Dung
David Hume và Câu Hỏi về Tiêu
Chuẩn của Cái Đẹp
Trong lịch sử triết học,
bài luận “Of the Standard of Taste” (1757) của David Hume là một trong
những tác phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến cách chúng ta nhìn nhận và đánh giá nghệ
thuật. Hume đặt ra một câu hỏi khó: Làm sao có thể hòa hợp giữa việc mỗi người
có sở thích riêng và tin tưởng rằng vẫn có những tác phẩm nghệ thuật thực sự vĩ
đại, vượt thời gian?
1. Mâu Thuẫn trong Cách Nhìn
Cái Đẹp: Lời Nói và Cảm Nhận Thực Tế
Hume bắt đầu bằng việc
chỉ ra sự khác biệt giữa lời nói và cảm nhận thực tế của con người về cái đẹp:
- Lời Nói Chỉ Là Bề Ngoài: Mọi người thường dùng những từ như “tinh tế”, “đẹp
đẽ”, hay “chân thật” để khen nghệ thuật, nhưng sự đồng tình này chỉ là
hình thức. Thí Dụ, hai người cùng khen một bức tranh là “đẹp”, nhưng một
người thích màu sắc rực rỡ, người kia thích sự đơn giản. Điều này cho thấy
cảm nhận của mỗi người hoàn toàn khác nhau.
- So Sánh với Khoa Học: Trong khoa học, mọi người có thể tranh luận về lý
thuyết nhưng vẫn đồng ý về những định nghĩa cơ bản. Trong nghệ thuật, sự đồng
thuận chỉ có ở lời nói chung, còn tranh luận nảy sinh khi áp dụng vào từng
tác phẩm cụ thể.
Hume cũng so sánh nghệ
thuật với đạo đức, cho rằng cả hai đều dựa trên cảm xúc. Thí Dụ, việc
gọi một hành động là “tốt” hay một bản nhạc là “hay” đều xuất phát từ cảm xúc của
con người, chứ không phải từ lý trí thuần túy.
2. Thách Thức Triết Học: Có
Tiêu Chuẩn Chung Cho Cái Đẹp?
Hume đối mặt với hai
quan điểm trái ngược:
- Quan Điểm Chủ Quan: Cái đẹp chỉ tồn tại trong cảm nhận của mỗi người.
Nếu bạn thấy đẹp, thì nó đẹp với bạn, và không ai có quyền phán xét điều
đó.
- Quan Điểm Chung: Nếu ai đó nói rằng một tác phẩm tầm thường ngang
hàng với những kiệt tác như Thiên đường đã mất của John Milton,
chúng ta sẽ cho rằng đó là một nhận định vô lý.
Cách Giải Quyết của Hume: Cái đẹp không phải là một đặc tính cố định của vật thể,
nhưng tâm trí con người có những quy luật chung. Khi một tác phẩm chạm đúng vào
những “dây cảm xúc” chung của con người, nó sẽ tạo ra sự hài lòng rộng rãi.
3. Người Phê Bình Đích Thực
Nếu cái đẹp phụ thuộc
vào sự hòa hợp giữa tác phẩm và tâm trí, tại sao mỗi người lại cảm nhận khác
nhau? Hume giải thích rằng khả năng cảm nhận của mỗi người có độ nhạy khác
nhau. Tiêu chuẩn của cái đẹp là sự đánh giá chung của những người phê bình lý
tưởng, những người đáp ứng được 5 Tiêu Chuẩn:
|
Tiêu Chuẩn |
Nội Dung Chi Tiết |
Thí Dụ |
|
Khả Năng Nhận Biết Tinh Tế |
Nhận ra những chi tiết nhỏ nhặt nhất. |
Câu chuyện về hai người nếm rượu: một
người cảm nhận mùi sắt, một người cảm nhận mùi da thuộc. Kết quả, dưới đáy
thùng có chiếc chìa khóa sắt buộc vào sợi dây da. |
|
Thực Hành Thường Xuyên |
Tiếp xúc nhiều lần với một
loại hình nghệ thuật. |
Lần đầu xem kịch Shakespeare
có thể khó hiểu, nhưng sau nhiều lần, vẻ đẹp của tác phẩm hiện rõ. |
|
So Sánh |
Đặt tác phẩm cạnh những kiệt
tác của thế giới. |
Nếu chỉ đọc truyện mạng, bạn
có thể thấy nó hay, nhưng khi đọc Dostoevsky, bạn sẽ nhận ra sự khác biệt. |
|
Không Định Kiến |
Thoát khỏi những thành kiến
cá nhân, văn hóa, và thời đại. |
Một người phê bình phải đặt
mình vào bối cảnh Hy Lạp cổ đại để cảm nhận bi kịch của Sophocles. |
|
Lý Trí Sáng Suốt |
Dùng lý trí để kiểm tra tính
nhất quán và mục đích của tác phẩm. |
Lý trí giúp đánh giá liệu
tác giả có đạt được mục đích ban đầu (thuyết phục, gây cười, v.v.). |
4. Nghệ Thuật Trường Tồn,
Triết Học Thay Đổi
Hume nhận xét rằng nghệ thuật
có sức sống lâu bền hơn triết học:
- Triết Học/Khoa Học: Những học thuyết của Descartes hay Aristotle từng
thống trị nhưng nay đã lỗi thời.
- Nghệ Thuật: Những tác phẩm như Iliad của Homer hay
bi kịch của Virgil vẫn làm say mê con người sau hàng ngàn năm.
Kết Luận: Những gì tác động đến lý trí dễ bị thay thế bởi kiến
thức mới, nhưng những gì chạm đến cảm xúc của con người thì trường tồn.
5. Giới Hạn của Sự Bao Dung:
Khi Nghệ Thuật Trở Thành Sai Lầm
Hume phân biệt giữa sở
thích khác nhau vô hại và sai lầm thực sự:
- Sở Thích Khác Nhau: Do tuổi tác, tính cách, hoặc phong tục. Thí Dụ,
người trẻ thích sự sôi nổi của Ovid, người già thích sự sâu sắc của
Tacitus.
- Sai Lầm Thực Sự: Nghệ thuật ca ngợi sự tàn bạo, cuồng tín tôn
giáo, hoặc thù hằn mà không có sự phê phán. Đây là “lỗi thực sự” vì nó tấn
công vào lương tâm con người, phá hủy khả năng cảm nhận cái đẹp.
Tóm Lược
Bài luận của Hume là một lời
ca ngợi sự tinh tế và công bằng. Ông nhấn mạnh rằng, dù mỗi người có sở
thích riêng, những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại đòi hỏi một tâm hồn được rèn
giũa, một trái tim rộng mở, và một tầm nhìn vượt thời gian. Cái đẹp đích thực
không bao giờ cũ; nó chỉ chờ đợi những người đủ “nhạy cảm” để nhận ra.
Về Tiêu Chuẩn Của Thị Hiếu Thẩm Mỹ [1]
ST 1, Mil 226-7
Sự khác biệt to lớn
trong thị hiếu thẩm mỹ cũng như trong ý kiến, vốn đang phổ biến trên
thế giới, thì quá hiển nhiên khiến không thể rơi ngoài sự quan sát của mỗi người. Những người có kiến thức hạn hẹp
nhất cũng có khả năng nhận thấy một sự khác biệt của thị hiếu thẩm mỹ [2] trong vòng quen biết nhỏ hẹp của họ, ngay cả ở những cá nhân đã được giáo dục trong
cùng một hệ thống chính trị xã hội [3], và đã sớm thấm
nhuần những tiên kiến như nhau. Nhưng những ai là người có thể mở rộng tầm nhìn của họ để suy ngẫm về những đất nước xa xôi và những
thời đại cổ xưa, lại còn ngạc nhiên hơn trước sự không
nhất quán và mâu thuẫn lớn. Chúng chúng ta có thiên hướng gọi bất cứ gì quá khác biệt
với thẩm
khiếu và nhận
hiểu của chúng chúng ta là man rợ [4]. Nhưng nhanh chóng thấy rằng những người
khác ném cũng cái nhãn miệt thị đó ngược về lại chúng ta. Và ngay cả sự kiêu ngạo và tự phụ tột độ cũng cuối cùng cũng giật mình khi nhận
thấy sự chắc chắn ngang nhau từ mọi phía, và ngần ngại, giữa một tranh chấp về tình cảm như
vậy, để tích cực tuyên bố về sự ưa thích riêng tư. [5]
ST 2, Mil 227
Sự đa dạng của thị
hiếu thẩm mỹ là điều hiển nhiên ngay cả với những người quan sát hời hợt
nhất; thế nhưng, khi xem xét kỹ lưỡng, chúng chúng ta sẽ thấy sự khác biệt này trong
thực tế còn lớn hơn cả trong xuất hiện dạng ngoài. Những tình cảm của con người
thường khác nhau đối với cái đẹp và cái xấu thuộc mọi loại hình, ngay cả khi
ngôn từ chung của họ có vẻ giống nhau. Trong mọi ngôn ngữ, luôn có những thuật
ngữ mang hàm ý chê bai và những thuật ngữ khác mang hàm ý khen ngợi; và tất cả
những ai dùng chung một ngôn ngữ đều phải đồng thuận khi dùng chúng. Mọi tiếng
nói đều đồng thanh tán dương sự thanh nhã, đúng mực, giản dị, tinh thần trong
văn chương; và cùng chê trách sự khoe khoang, giả tạo, lạnh lẽo và thứ rực rỡ
giả tạo. Nhưng khi những nhà phê bình đi vào chi tiết, sự đồng thuận
dạng ngoài này biến mất, và chúng chúng ta thấy rằng họ đã gán những ý nghĩa rất khác nhau cho những diễn đạt của họ. Tuy
nhiên, trong mọi vấn đề về quan điểm và khoa học thì ngược lại: Sự khác biệt giữa
con người thường thấy trong những tổng quát
hơn là trong những đặc thù; và ít hơn trong thực tại so với trong xuất hiện dạng
ngoài. Một
giải thích rõ những thuật ngữ thường chấm dứt sự bất đồng; và những người
tranh luận ngạc nhiên thấy rằng họ đã cãi vã,
trong khi về cơ bản, họ đã đồng ý với nhau trong phán đoán của họ. [6]
ST 3, Mil 227-8
Những ai là người đã thấy đạo đức dựa
trên tình cảm, hơn là trên lý trí, đều
nghiêng sang để hiểu luân lý [7] theo quan sát kể trước và để chủ trương rằng trong tất cả những vấn
đề, vốn nhìn
về hướng ứng xử và hành vi, sự
khác biệt giữa con người thì thực sự lớn hơn so với như
nó hiện ra lúc đầu. Quả thực là điều hiển nhiên rằng những nhà văn của tất
cả quốc
gia và tất cả thời đại đều đồng tình trong việc ca ngợi công lý,
nhân đạo, cao thượng, thận trọng, chân thật; và trong việc chê trách những phẩm tính trái ngược. Ngay cả
những nhà thơ và những tác giả khác, những người có những sáng tác chủ yếu
được tính toán để làm hài lòng óc tưởng tượng, đã được thấy, từ Homer xuống
đến Fenelon
[8], để khắc sâu cùng những giới luật đạo đức giống nhau, và để ban phát tán thưởng và chê trách của họ trên cùng những đức hạnh và thói hư tật xấu đó. Sự nhất trí lớn lao này thường được gán cho ảnh
hưởng của lý trí đơn giản; vốn được cho là trong mọi trường hợp đều duy trì
những cảm thức tương đồng ở mọi người, giúp ngăn chặn những bất đồng vốn những
ngành khoa học trừu tượng rất thường gặp phải[9]. Chừng nào sự nhất trí đó là thực chất, thì giải
thích này có thể coi là thỏa đáng. Nhưng chúng chúng ta cũng phải thừa nhận
rằng, một phần của sự hòa hợp bề ngoài trong đạo đức có thể được giải thích từ
chính bản chất của ngôn ngữ. Từ ‘đức hạnh’ (virtue), cùng với những từ
tương đương trong mọi ngôn ngữ, luôn hàm ý sự khen ngợi; cũng như từ ‘thói hư tật xấu (vice)
hàm ý chê trách, đổ lỗi: [10]. Không ai có thể gán sự chỉ trích cho một thuật
ngữ vốn được hiểu theo nghĩa tốt, hoặc dành lời khen cho một từ vốn quy ước
ngôn ngữ đòi hỏi sự phản đối, nhưng không phạm vào sự bất hợp lý thô thiển và
lộ liễu nhất. Không ai phản bác những cách ngôn tổng quát
của Homer; nhưng rõ ràng khi ông vẽ
những bức tranh cụ thể về nhân cách —như xây dựng hình
tượng anh hùng Achilles hay sự khôn ngoan của Ulysses—ông đã pha trộn vào đó sự
hung bạo của Achilles và sự xảo trá của Ulysses nhiều hơn mức vốn Fenelon sau này sẽ có thể chấp nhận. Ulysses
khôn ngoan trong thơ Hy Lạp dường như thích thú với những dối trá và hư cấu, và thường dùng chúng ngay cả khi không
cần hay không có lợi gì. Ngược lại, Telemachus,
người con đầy nguyên tắc của ông,
trong tác phẩm của nhà văn sử thi Pháp, lại thà lao mình
vào hiểm nguy tột cùng nhưng
nhất quyết không rời bỏ chuẩn mực khắt khe của sự chân thực. [11]
ST 4, Mil 229
Những người ngưỡng
mộ và sùng bái kinh Qu’ran luôn nhấn mạnh vào những châm ngôn đạo đức ưu việt
nằm rải rác trong tác phẩm hoang đường
và phi lý đó. Thế nhưng, có thể giả định rằng những từ Ả Rập
tương ứng với những từ tiếng Anh như công bằng, công lý, tiết độ, khiêm ngường, nhân ái, do thường xuyên dùng
trong ngôn ngữ đó, luôn phải được hiểu theo nghĩa tốt; và sẽ là biểu
hiện của sự ngu dốt tột cùng,
không phải về đạo đức, nhưng
về ngôn ngữ, nếu nhắc
đến chúng nhưng lại không kèm theo những mỹ từ tán dương và ca tụng.
Nhưng liệu chúng chúng ta có thể biết được rằng, người tự xưng là tiên tri ấy
đã thực sự thấu đạt một cảm quan đúng về đạo đức hay không? Hãy theo dõi những
thuật kể của ông, và chúng chúng ta sẽ sớm nhận thấy
rằng ông ban tặng lời ca
ngợi cho những trường hợp của phản trắc, vô nhân đạo, ác độc, trả thù và
cuồng tín, đều là hoàn toàn không phù hợp với một xã hội văn minh. Ở đó, dường như chẳng có
chuẩn mực nhất quán nào về cái đúng được tuân thủ; và mỗi hành động bị phê phán
hay được ca ngợi, chỉ đơn thuần dựa trên việc nó gây hại hay mang lại lợi ích
cho những tín đồ chân chính
ST 5, Mil 229
Công
trạng của việc đưa ra các giáo huấn đạo đức tổng quát thực ra rất nhỏ bé. Bất
kỳ ai khuyên nhủ nên thực hành các đức hạnh, thì thực tế họ cũng chẳng làm gì
nhiều hơn những gì vốn đã nằm sẵn trong chính các thuật ngữ đó. Những người đã
sáng tạo ra từ ‘từ thiện’ và dùng nó với một nghĩa tích cực, đã dạy cho chúng
chúng ta bài học ‘hãy làm điều từ thiện’ một cách rõ ràng và hiệu quả
hơn bất kỳ nhà lập pháp hay vị tiên tri tự phong nào ghi chép châm ngôn đó vào
sách vở. Trong mọi cách diễn đạt, những từ ngữ nào vừa mang nghĩa mô tả, vừa
hàm chứa mức độ khen ngợi hay chê trách, chính là những từ ít bị hiểu sai hay
bị bóp méo nhất.
ST 6, Mil 229
Điều tự nhiên là
chúng chúng ta tìm kiếm một
Tiêu chuẩn của Thị hiếu Thẩm Mỹ; một quy luật qua đó những tình cảm khác nhau của con người có thể được
hòa giải; ít nhất, một quyết định được đưa ra, xác nhận một tình cảm và bác bỏ một tình cảm khác.
ST 7, Mil 229-30
Có một trường phái
triết học cắt đứt mọi hy vọng thành công trong cố gắng như vậy, và khẳng định
rằng không bao giờ có thể đạt được bất kỳ tiêu chuẩn nào của thị hiếu thẩm mỹ. Người chúng ta nói
rằng sự khác biệt giữa phán đoán và tình cảm là rất lớn. Mọi tình cảm đều đúng;
vì tình cảm không liên hệ với bất cứ gì ngoài chính nó, và luôn luôn có thực, bất cứ khi nào một người ý thức được
nó. Nhưng không phải mọi quyết định của trí tuệ đều đúng; vì chúng liên hệ với
một gì đó ngoài chính chúng – tức là sự kiện thực tế thực tại; và không phải
lúc nào cũng phù hợp với tiêu chuẩn ấy. Trong số hàng nghìn ý kiến khác nhau mà
những người khác nhau có thể có về cùng một chủ thể, chỉ có một và chỉ một ý kiến là chính đáng và
chân thực; khó khăn duy nhất là xác định và khẳng định nó. Ngược lại, hàng
nghìn tình cảm khác nhau do cùng một đối tượng khơi dậy đều đúng cả: vì không
tình cảm nào diễn đạt những
gì đang thực sự có trong đối tượng. Tình cảm chỉ đánh
dấu một sự tương hợp hay quan hệ nhất định giữa đối tượng và những cơ quan hay năng
lực của não thức; và nếu sự tương hợp ấy không thực sự tồn tại thì tình cảm không thể
nào xuất hiện. Cái Đẹp không phải là một tính chất trong chính sự vật việc: nó chỉ tồn tại
thuần túy trong não thức vốn chiêm ngưỡng nó; và mỗi não
thức nhận thức một cái đẹp khác nhau. Một người ngay cả
có thể nhận thấy sự xấu xí ở nơi vốn
người khác cảm nhận có
cái đẹp; và mỗi cá nhân nên hài lòng với cảm quan của chính mình, mà
không nên tự phụ muốn điều chỉnh cảm quan của những người khác. Tìm kiếm cái Đẹp thực sự, hay sự dị dạng xấu xí thực sự, là một tìm
kiếm vô ích, giống như tự phụ xác định được đâu là ngọt ngào thực sự hay là cay đắng thực sự. Tùy theo
trạng thái của những cơ quan, cùng một đối tượng có thể vừa ngọt vừa đắng; và tục ngữ đã đúng
khi khẳng định rằng tranh luận
về thị hiếu là vô ích. [12] Việc mở rộng châm
ngôn này sang thị hiếu tinh thần cũng như thị hiếu thể xác là rất tự nhiên, ngay
cả hoàn toàn cần thiết; và như vậy, phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức
thông thường [13]
– vốn thường mâu thuẫn với triết học, đặc biệt là với loại triết học hoài nghi,
được cho là, ít nhất trong một trường hợp, để đồng ý khi đưa ra
cùng một quyết định. [14]
ST 8, Mil 230-1
Nhưng châm ngôn
này, mặc dù khi đã trở thành một tục ngữ, dường như đã đạt được sự đồng ý của phán
đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường; thì chắc chắn vẫn tồn tại một
loại phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường khác đối nghịch với
nó, hoặc ít nhất là giúp điều chỉnh và kìm hãm nó. Bất kỳ ai khẳng định có một
sự bình đẳng về thiên tài và sự tao nhã giữa Ogilby và Milton, hay giữa Bunyan
và Addison, sẽ bị coi là đang bảo vệ cho một sự ngông cuồng không kém gì việc
quả quyết rằng một gò mối cao bằng đỉnh núi Teneriffe, hay một cái ao rộng lớn
bằng đại dương. Mặc dù có thể tìm thấy những người dành ưu tiên cho những tác giả kể trước; không ai chú
ý đến thị hiếu thẩm mỹ như vậy; và chúng chúng ta không chút ngần ngại mà tuyên
bố rằng cảm quan của những kẻ tự xưng là nhà phê bình đó là phi lý và lố bịch. Khi
đó, nguyên tắc về sự bình đẳng tự nhiên của những thị hiếu thẩm mỹ hoàn toàn bị bỏ quên; và trong khi
chúng chúng ta chấp nhận nó ở một số trường hợp vốn những đối tượng có vẻ gần
như tương đồng, thì nó lại trở thành một nghịch lý ngông cuồng, hay đúng hơn là
một sự phi lý rõ rành rành, khi chúng chúng ta đem so sánh những đối tượng quá
chênh lệch nhau. [15]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Dec/2023 – Jan/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Dịch theo bản phổ biến trên Hume Texts Online (https://davidhume.
org) – hai giáo sư triết gia ở Đại học Oxford là Amyas Merivale
và Peter Millican biên tập.
Of the Standard of Taste trong “Four
Dissertations (1757, 1777)
https://davidhume. org/texts/empl1/st
Những chú thích
để trong [ …] lấy từ nguyên bản
Những chú thích khác (với sai lầm nếu có) là của
tôi. Mục đích là mong giúp những người đọc, không chuyên môn, hiểu được ý ‘nôm
na’ của tác giả.
[2]
Trong nội dung bài này, ‘Taste’ –
tôi tạm dịch là Thị Hiếu Thẩm Mỹ, liên quan với phạm vi rộng lớn của phán đoán và sở thích về thẩm mỹ. Thị Hiếu Thẩm Mỹ - hay thẩm khiếu - liên quan
với những phản ứng và phán đoán chủ quan
của mỗi cá nhân với những yếu tố văn hóa đa dạng, gồm mỹ thuật, văn học, thời trang cũng như những vấn đề về
phong cách và cái đẹp.
[3] “educated under the
same government”
[4]
Từ barbarous – man rợ, gốc tiếng Greek (barbarous / βάρβαρος). Ban đầu dùng
để chỉ những người không nói tiếng Greek. Người Greek, coi ngôn ngữ và văn hóa
của họ vượt trội hơn, coi những người không phải người Greek là những người nói
những âm thanh không rõ ràng hoặc khó hiểu, mà họ gọi là “bar-bar”.
[5] (a) Sự tự tin tương đương
(Equal assurance on all sides): Hume quan sát thấy rằng người ở nền văn hóa A
tin họ đúng 100%, thì người ở nền văn hóa B cũng tin họ đúng 100%. Không có bên
nào tỏ ra nghi ngờ bản thân hơn bên nào. (b) Sự ngần ngại (Scruples): Từ “scruples”
ở đây không chỉ là ngại ngùng thông thường, mà là một sự do dự mang tính đạo đức
và lý trí. Khi thấy ai cũng khăng khăng mình đúng, một người có trí tuệ sẽ bắt
đầu tự hỏi: “Nếu ai cũng chắc chắn như vậy, liệu có khả năng mình cũng đang sai
như họ không?” (c) Khẳng
định phần thắng (Pronounce positively in its own favour): Đây là hành động tự
tuyên bố mình là người nắm giữ tiêu chuẩn đúng đắn về cái đẹp hoặc đạo đức. Hume
muốn nói rằng sự va chạm văn hóa khiến chúng ta mất đi cái quyền tự phong làm “thẩm
phán” cho mọi giá trị.
[6] So sánh giữa Nghệ thuật
(Thị hiếu) và Khoa học (Ý kiến): (a) Trong
Nghệ thuật: Chúng ta có vẻ “đồng lòng” ở bề nổi. Ai cũng khen một tác phẩm là “thanh
nhã” (elegance), nhưng “thanh nhã” đối với người này là sự tối giản, còn đối với
người kia lại là sự cầu kỳ. Sự khác biệt thực chất ẩn sau lớp vỏ ngôn từ. (b) Trong Khoa học: Chúng ta có
vẻ “tranh luận” ở bề nổi về những nguyên lý tổng quát. Nhưng khi đi vào chi tiết
và định nghĩa lại từ ngữ cho rõ ràng, chúng ta thường nhận ra mình đang nói về
cùng một thứ. Sự đồng thuận thực chất ẩn sau lớp vỏ tranh luận.
[7] Ethics ở đây
hiểu như đạo đức thực hành, luân lý
[8] Homer – tương truyền
là tác giả Iliad và Odyssey – sống khoảng
800 BCE thời cổ Greece. Fenelon (François de Salignac de la
Mothe-Fénelon (1651-1715). Tác giả
Les
Aventures de Télémaque
[9] abstract sciences: khoa học trừu tượng – chỉ
những lĩnh vực
nghiên cứu hay kiến
thức liên quan đến những khái
niệm, nguyên tắc hoặc lý thuyết trừu tượng, như toán học, logich hoặc vật lý lý
thuyết. Hume nhận xét rằng
những bộ môn này dễ gây tranh luận và
bất đồng hơn so với đạo đức hay luân lý, vốn dựa nhiều vào tình cảm và lý luận
thực tiễn.
[10] Từ “vice/thói
hư tật xấu”, gốc từ Latin “vitium”,
ban đầu có nghĩa là “lầm lỗi”
hoặc “khiếm khuyết”. Theo thời gian, nghĩa của nó phát triển để gồm những khái
niệm rộng hơn về sự băng hoại đạo đức hoặc hành vi sai trái. Trong tiếng Anh, “vice”
mang ý nghĩa sa đọa hoặc xấu xa về mặt đạo đức, ám chỉ những thói quen, hành vi
hoặc đặc điểm được coi là vô đạo đức hoặc có hại. Từ “ virtue/đức hạnh” cũng
có gốc từ Latin “virtus” , ban đầu được dùng để chỉ những phẩm chất như
sức mạnh, can đảm hay dũng cảm. Theo thời gian, “đức hạnh” phát triển để bao gồm
nhiều phẩm chất đạo đức tích cực hơn, chẳng hạn như sự công bình, lòng tốt và sự
xuất sắc về mặt đạo đức. Trong tiếng Anh, “virtue” mang ý nghĩa tốt đẹp hay xuất
sắc về mặt đạo đức, đề cập đến những phẩm chất hoặc hành vi được coi là tốt,
đáng khen ngợi hoặc đáng mong muốn về mặt đạo đức.
[11] Hume đối chiếu hai hệ giá
trị khác biệt qua hai tác giả lớn: (a) Homer (Hy Lạp cổ đại) trong sử thi
Odyssey đã khắc họa người cha Ulysses là một anh hùng mưu mẹo, thực dụng, đôi
khi dùng sự dối trá như một bản năng ngay cả khi không cần thiết; (b) ngược lại,
Fénelon (Pháp thế kỷ 17) trong sử thi Cuộc phiêu lưu của Telemachus đã
xây dựng nhân vật Telemachus, con
của Ulysses như một khuôn mẫu đạo đức lý tưởng của đạo Kitô và chuẩn mực dân Pháp đương thời, một người
chính trực tuyệt đối, thà đối mặt với hiểm nguy chết người chứ nhất quyết không
nói dối.
[12] Câu tục ngữ mà Hume đề cập
ở đây là châm ngôn nổi tiếng gốc Latin: “De gustibus non est disputandum” (hoặc
dạng đầy đủ: “De gustibus non disputandum est”), dịch sát là “Về thị hiếu (gu
thẩm mỹ hay khẩu vị) thì không nên tranh luận”. Trong tiếng Anh, nó thường được
diễn đạt dưới dạng: “There is no disputing about tastes” hoặc “It is fruitless
to dispute concerning tastes” – chính xác như Hume đã viết. Ý nghĩa cốt lõi là
thị hiếu cá nhân mang tính chủ quan tuyệt đối, nên tranh luận đúng-sai về nó chỉ
vô ích. Tục ngữ này Hume dùng để minh họa lập luận chủ quan chủ nghĩa: giống
như cùng một vật có thể ngọt với người này mà đắng với người kia (do trạng thái
cơ quan cảm giác khác nhau), cái đẹp cũng chỉ tồn tại trong tâm trí người chiêm
ngưỡng, nên không có tiêu chuẩn khách quan để tranh luận.
Trong tiếng Việt, câu tương đương gần
nhất là “Cửu nhân cửu vị” (chín người chín gu) hoặc “Bá nhân bá tánh” (trăm người
trăm tính), đều nhấn mạnh sự khác biệt chủ quan không thể tranh biện.
[13] common sense
: phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường
[14] Trong David Hume, quan điểm Hoài nghi trong Thẩm mỹ (Aesthetic Scepticism)
đóng vai trò là điểm khởi đầu để xem xét bản chất của cái đẹp. Theo khuynh hướng
này—vốn được đại diện bởi những tư tưởng lớn như Francis Hutcheson hay sau này
là Immanuel Kant và George Santayana—cái Đẹp không phải là một đặc tính khách
quan nằm trong bản thân sự vật, mà là một cảm quan (sentiment) nảy sinh thuần
túy trong tâm trí người chiêm ngưỡng. Vì cảm quan không tham chiếu đến bất kỳ
thực thể nào bên ngoài, nó luôn “đúng” với chính người cảm nhận.
Để minh chứng cho điều này, Hume dùng
phép loại suy giữa Thị hiếu thể xác (Bodily taste) và Thị hiếu tinh thần
(Mental taste). Ông chỉ ra rằng, cũng giống như việc một người bệnh thấy vị đắng
ở nơi người khỏe thấy ngọt, “Phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường”
(Common sense) của chúng ta dễ dàng chấp nhận rằng mọi tranh luận về khẩu vị
giác quan là vô ích. Tuy nhiên, Hume đã khéo léo chỉ ra một nghịch lý: dù về mặt
lý thuyết hoài nghi, một người có quyền thấy tập thơ của kẻ nghiệp dư hay hơn sử
thi của John Milton (tác giả vĩ đại của Thiên đường đã mất), nhưng trong đời sống thực tại, “Phán đoán thực
tiễn dựa trên kiến thức thông thường” lại coi sự đánh giá đó là lố bịch. Chính
sự mâu thuẫn này giữa tính chủ quan của cảm xúc và nhu cầu phân định giá trị
nghệ thuật đã dẫn dắt Hume đi tìm kiếm một “Tiêu chuẩn cho Thị hiếu thẩm mỹ”—một
thước đo nhằm hòa giải những cảm quan khác biệt của con người.
[15]
Để minh họa cho sự chênh lệch “sâu thẳm”
về giá trị nghệ thuật, Hume đã đặt những tác giả bị coi là kém cỏi bên cạnh những
tượng đài lẫy lừng của văn chương Anh thế kỷ 18. Điển hình là việc ông so sánh
John Milton, đại thi hào với sử thi bất hủ Paradise Lost—vốn được xem là
đỉnh cao của thiên tài ngôn ngữ—với John Ogilby, một thợ in và người dịch thơ
thường bị giới trí thức đương thời châm biếm là có văn phong thô kệch, tầm thường.
Tương tự, ông đối chiếu Joseph Addison, bậc thầy về tản văn và là người thiết lập
chuẩn mực cho thị hiếu tao nhã qua tạp chí The Spectator, với John Bunyan, tác
giả cuốn The Pilgrim’s Progress Dù ngày nay Bunyan được tôn vinh, nhưng
trong bối cảnh của Hume, ông bị coi là người viết cho tầng lớp bình dân, thiếu
đi sự trau chuốt và học thuật mà giới tinh hoa yêu cầu. Qua những đối lập này,
Hume khẳng định rằng dù trên lý thuyết mọi thị hiếu có vẻ bình đẳng, nhưng thực
tế sẽ là lố bịch nếu ai đó đánh giá một người viết vụng về ngang hàng với một bậc
thầy. Sự khác biệt này rõ rệt đến mức ông ví von nó như nỗ lực tuyệt vọng khi
muốn coi một gò mối nhỏ bé cũng cao lớn và hùng vĩ như đỉnh núi Teneriffe.
