Tuesday, January 13, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (03)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )




TIẾT II.

Về Nguồn Gốc Của Những Ý Tưởng.

 

E 2. 1, SBN 17

Mọi người đều sẽ dễ dàng nhìn nhận, rằng có một khác biệt đáng kể giữa những tri giác của não thức, khi một người cảm thấy đau đớn vì nhiệt độ quá nóng, hay dễ chịu vì nhiệt độ ấm áp vừa phải, sau đó khi người này nhớ lại cảm giác ấy bằng ký ức, hay hình dung ra nó bằng tưởng tượng. Những khả năng này có thể bắt chước hay sao chép những tri giác của giác quan; nhưng chúng không bao giờ hoàn toàn đạt được sức mạnh và sự sống động của cảm giác gốc. Điều cao nhất chúng ta có thể nói về chúng, ngay cả khi chúng hoạt động với sức mạnh lớn nhất, chỉ là chúng tái hiện đối tượng của chúng một cách sống động đến mức chúng ta gần như có thể nói rằng chúng ta cảm nhận hay nhìn thấy chúng: Nhưng trừ khi não thức bị rối loạn bởi bệnh tật hay điên cuồng, chúng không bao giờ có thể đạt đến mức độ sinh động đến nỗi chúng hoàn toàn không thể phân biệt được với những tri giác thật. Tất cả những màu sắc rực rỡ của thi ca, dù lộng lẫy đến đâu, cũng không bao giờ vẽ nên những vật thể tự nhiên theo cách khiến mô tả được nhầm lẫn với một cảnh quan thực sự. Ý nghĩ sống động nhất vẫn vẫn thua kém cảm giác trơ nhạt nhất

 

E 2. 2, SBN 17-8

Chúng ta có thể quan sát được một sự phân biệt giống thế chạy qua tất cả những tri giác khác của não thức. Một người đang nổi cơn giận sẽ bị thúc đẩy hành động theo một cách cách rất khác so với người chỉ nghĩ về cảm xúc đó. Nếu bạn bảo tôi rằng một người nào đó đang yêu, tôi dễ dàng hiểu ý bạn, và hình thành một khái niệm chính xác về tình trạng của người này; nhưng không bao giờ có thể nhầm lẫn khái niệm ấy với những rối loạn và xao động thực của đam mê. Khi chúng ta tự suy ngẫm về những tình cảm và cảm xúc trong quá khứ của chúng ta, ý nghĩ của chúng ta là một tấm gương trung thực, và sao chép những đối tượng của nó một cách chân thực; nhưng những màu sắc vốn nó dùng đều nhạt nhòa và mờ đục, so với những gì vốn những tri giác ban đầu của chúng ta đã khoác lên. Không cần khả năng phân biệt tinh tế hay đầu óc siêu hình nào để nhận ra sự khác biệt giữa chúng. [1]

 

E 2. 3, SBN 18

Vì vậy, ở đây chúng ta có thể phân chia tất cả những tri giác của não thức thành thành hai lớp hay loại, được phân biệt bởi mức độ sức mạnh và sự sống động khác nhau của chúng. Loại kém mạnh mẽ và ít sống động hơn thường được gọi là những Ý nghĩ hay Ý niệm. Loại kia thì thiếu một tên gọi trong ngôn ngữ của chúng ta, và trong hầu hết những ngôn ngữ khác; tôi cho rằng là vì nó không cần thiết cho bất kỳ mục đích nào ngoài mục đích triết học, nên phải xếp chúng dưới một từ chung hay tên gọi chung. Vì thế, chúng ta hãy tự do một chút, và gọi chúng là Ấn tượng; dùng từ này với một ý nghĩa hơi khác so với cách dùng thông thường. Vậy thì, bằng từ ngữ Ấn tượng, tôi muốn chỉ tất cả những tri giác sống động hơn của chúng ta, khi chúng ta nghe, hay thấy, hay cảm nhận, hay yêu, hay ghét, hay mong muốn, hay quyết định. Và Ấn tượng được phân biệt với Ý niệm, vốn là những tri giác ít sống động hơn, mà chúng ta ý thức được khi chúng ta phản tỉnh về bất kỳ cảm giác hay chuyển động nào đã đề cập ở trên. [2]

 

E 2. 4, SBN 18

Thoạt nhìn, không có gì dường như không bị ràng buộc hơn tư tưởng của con người - vốnkhông chỉ thoát khỏi mọi năng lực cưỡng bức và quyền uy chi phối của loài người, còn không bị cầm giữ trong những giới hạn của tự nhiên và thực tại. Để hình thành những quái vật kỳ dị và ghép nối những hình thù và diện mạo không thuận hợp, chỉ đòi hỏi công sức của trí tưởng tượng không nhiều hơn việc hình dung ra những vật thể tự nhiên và quen thuộc nhất. Và trong khi cơ thể bị giới hạn trong một hành tinh, nơi nó phải lê lết trong đau đớn và khó khăn, thì tư tưởng có thể ngay lập tức đưa chúng ta đến những vùng xa xôi nhất của vũ trụ; hay ngay cả vượt ngoài vũ trụ, vào vùng hỗn mang vô biên, nơi thiên nhiên được cho là chìm trong sự hỗn loạn toàn diện. Những gì chưa từng thấy hay nghe đến, vẫn có thể được hình dung; và chẳng có gì vượt ra ngoài khả năng của tư tưởng, ngoại trừ những gì hàm ngụ một mâu thuẫn tuyệt đối.

 

E 2. 5, SBN 19

Nhưng dù ý nghĩ của chúng ta dường như sở hữu sự tự do vô biên này, khi xem xét kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy rằng nó thực sự bị giới hạn trong những giới hạn rất hẹp, và tất cả sức mạnh sáng tạo này của não thức chẳng qua chỉ là khả năng khả năng kết hợp, hoán đổi, phóng đại, hoặc thu nhỏ những chất liệu vốn những giác quan và kinh nghiệm đã cung cấp cho chúng ta. Khi nghĩ đến một ngọn núi bằng vàng, chúng ta chỉ ghép lại hai ý niệm vốn đã quen thuộc và phù hợp với nhau: vàng và núi. Chúng ta có thể hình dung ra một con ngựa đức hạnh; bởi vì từ chính cảm xúc của bản thân, chúng ta có thể hiểu được đức hạnh, rồi liên kết nó với hình dáng và cấu trúc của một con ngựa – một loài vật quen thuộc với chúng ta. Tóm lại, tất cả những chất liệu của suy nghĩ đều bắt nguồn từ từ cảm giác bên ngoài hoặc cảm xúc bên trong của chúng ta: việc pha trộn và tổ hợp những chất liệu ấy chỉ thuộc về tâm lý và ý chí mà thôi. Hay để diễn đạt theo ngôn ngữ triết học: tất cả những ý niệm của chúng ta, tức những tri giác yếu ớt hơn, đều chỉ là bản sao của những ấn tượng, tức những tri giác sống động hơn của chúng ta.

 

E 2. 6, SBN 19-20

Để chứng minh điều này, tôi hy vọng hai biện luận sau đây sẽ đủ thuyết phục. Thứ nhất, khi chúng ta phân tích những tư tưởng hay những ý niệm của chúng ta, dù chúng phức tạp hay cao siêu đến đâu, chúng ta luôn thấy rằng chúng cuối cùng đều phân giải về thành những ý niệm đơn giản được sao chép từ một cảm giác hoặc cảm xúc trước đó. Ngay cả những ý niệm thoạt nhìn dường như xa rời nguồn gốc này nhất, khi xem xét kỹ lưỡng hơn, cũng được tìm thấy là bắt nguồn từ đó. Ý niệm về Gót, với nghĩa là một Hữu thể toàn trí, toàn năng, toàn thiện, phát sinh từ việc tự suy ngãm trên những khả năng hoạt động của chính tâm trí chúng ta, rồi phóng đại, không giới hạn, những phẩm tính của sự tốt lành và sự khôn ngoan. Chúng ta có thể đẩy điều tra này đi xa đến đâu tùy ý; nhưng ở đâu chúng ta cũng sẽ luôn tìm thấy rằng mọi ý niệm được chúng ta xét đến đều là sao chép từ một ấn tượng tương tự. Những ai muốn khẳng định rằng luận điểm này không phổ quát và có ngoại lệ, chỉ có một phương pháp, và còn dễ dàng nữa, để bác bỏ nó: bằng đưa ra một ý niệm mà theo họ, không xuất phát từ nguồn này. Khi đó, trách nhiệm chứng minh sẽ thuộc về chúng ta, nếu muốn giữ vững học thuyết của chúng ta, phải đưa ra ấn tượng hay tri giác sống động tương ứng với nó.

 

E 2. 7, SBN 20

Thứ hai. Nếu do một khuyết tật của cơ thể, khiến một người không cảm nhận được bất kỳ loại cảm giác nào, chúng ta luôn thấy rằng người này cũng không thể có được những ý niệm tương ứng. Một người mù không thể hình thành khái niệm về màu sắc; một người điếc không thể hình thành khái niệm về âm thanh. Khi khôi phục lại giác quan mà người ấy thiếu hụt – bằng cách mở ra một lối vào mới cho những cảm giác – thì đồng thời cũng mở ra một lối vào cho những ý niệm; và người ấy sẽ không gặp khó khăn gì trong việc hình dung những đối tượng ấy. Trường hợp cũng tương tự nếu đối tượng thích hợp để khơi gợi một cảm giác nào đó chưa từng được áp dụng cho cơ quan cảm giác. Một người Laplander hay một người da đen không có khái niệm nào về hương vị của rượu vang. [3] Và mặc dù rất hiếm, hoặc gần như không có trường hợp nào về sự khiếm khuyết tương tự trong tâm trí – tức là một người chưa từng cảm nhận hoặc hoàn toàn không có khả năng cảm nhận một tình cảm hay đam mê nào đó vốn thuộc về loài người – thì chúng ta vẫn thấy hiện tượng tương tự xảy ra ở mức độ nhẹ hơn. Một người có tính tình ôn hòa không thể hình thành ý niệm về sự thù hận dai dẳng hoặc sự tàn nhẫn; một trái tim ích kỷ cũng khó mà hình dung được những đỉnh cao của tình bạn và lòng hào hiệp. Người ta dễ dàng nhìn nhận rằng rằng có thể tồn tại những sinh vật khác sở hữu nhiều giác quan mà chúng ta không thể nào hình dung được; bởi vì những ý niệm về chúng chưa bao giờ được đưa vào tâm trí chúng ta theo cách duy nhất mà một ý niệm có thể tiếp cận được tâm trí, đó là: thông qua cảm giác thực tế và tri giác thực sự.

 

E 2. 8, SBN 20-1

Tuy nhiên, có một hiện tượng trái ngược có thể chứng minh rằng không hoàn toàn không thể có khi những ý niệm phát sinh độc lập với những ấn tượng tương ứng của chúng. Tôi tin rằng mọi người sẽ dễ dàng nhìn nhận những ý niệm riêng biệt về màu sắc đi vào qua mắt, hoặc những ý niệm về âm thanh được truyền qua tai, thực sự khác biệt với nhau, dù đồng thời chúng có sự tương đồng. Nay nếu điều này đúng với những màu sắc khác nhau, thì nó cũng phải đúng không kém với những sắc độ [shades] khác nhau của cùng một màu; và mỗi sắc độ tạo ra một ý niệm riêng biệt, độc lập với những sắc độ còn lại. Vì nếu điều này bị phủ nhận, thì bằng cách chuyển tiếp dần dần qua những sắc độ, ta có thể khiến một màu hòa lẫn một cách không thể nhận ra vào màu xa nhất với nó; và nếu bạn không thừa nhận bất kỳ sắc độ trung gian nào là khác biệt, thì bạn sẽ rơi vào vô lý khi phủ nhận rằng hai cực đoan lại giống nhau. Vậy nên, hãy giả sử một người đã được có thị giác trong ba mươi năm, và đã hoàn toàn quen thuộc với mọi loại màu sắc, ngoại trừ một sắc độ cụ thể của màu xanh lam [blue], chẳng hạn, mà người này chưa bao giờ có may mắn gặp phải. Hãy đặt trước mặt người này tất cả những sắc độ khác nhau của màu ấy, trừ đúng sắc độ duy nhất đó, được sắp xếp dần dần từ đậm nhất xuống nhạt nhất. Rõ ràng là người này sẽ nhận thấy một khoảng trống [a blank] ở nơi thiếu sắc độ ấy, và sẽ cảm thấy rằng khoảng cách giữa hai màu liền kề ở chỗ đó lớn hơn so với bất kỳ chỗ nào khác. Bây giờ tôi hỏi: liệu người ấy có thể, chỉ bằng sức tưởng tượng của chính mình, bổ sung vào chỗ thiếu hụt này và tự tạo ra cho mình ý niệm về sắc độ cụ thể ấy, dù nó chưa bao giờ được truyền đến người này qua giác quan? Tôi tin rằng hầu hết mọi người sẽ đồng ý rằng người này có thể làm được điều đó. Và trường hợp này có thể dùng làm bằng chứng rằng: những ý niệm đơn giản không phải lúc nào, trong mọi trường hợp, cũng bắt nguồn từ ấn tượng tương ứng; dù đây là một trường hợp đặc biệt hiếm hoi đến mức gần như không đáng để chúng ta lưu ý, và cũng không đáng để chỉ vì nó mà chúng ta thay đổi nguyên tắc tổng quát của chúng ta. [4]

 

E 2. 9, SBN 21-2

Vậy nên, ở đây có một mệnh đề, tự thân nó không chỉ có vẻ đơn giản và dễ hiểu; vốn nếu được dùng đúng cách, nó còn có thể khiến mọi tranh luận trở nên rõ ràng dễ hiểu như nhau, đồng thời xua tan hoàn toàn thứ ngôn ngữ mơ hồ đã quá lâu chiếm lĩnh những lập luận siêu hình học và làm chúng mang tiếng xấu. Tất cả những ý niệm, đặc biệt là những ý niệm trừu tượng, tự nhiên đều mờ nhạt và mơ hồ tối nghĩa: Não thức chỉ nắm giữ chúng một cách lỏng lẻo; chúng dễ bị lẫn lộn với những ý niệm tương tự khác; và khi chúng ta thường xuyên dùng một từ ngữ nào đó mà không có ý nghĩa rõ ràng, ta dễ tưởng rằng nó gắn liền với một ý niệm xác định. Ngược lại, mọi ấn tượng – tức là mọi cảm giác, dù từ bên ngoài hay bên trong – đều mạnh mẽ và sống động: Ranh giới giữa chúng được xác định chính xác hơn nhiều; và không dễ mắc phải bất kỳ sai lầm hay nhầm lẫn nào liên quan đến chúng. Do đó, khi chúng ta nghi ngờ rằng một từ ngữ triết học đang được dùng mà không mang ý nghĩa hay ý niệm nào (điều này xảy ra quá thường xuyên), chúng ta chỉ cần đặt câu hỏi: Ý niệm được giả định ấy bắt nguồn từ ấn tượng nào? Và nếu không thể chỉ ra được ấn tượng tương ứng, điều đó sẽ xác nhận nghi ngờ của chúng ta. Bằng cách đưa những ý niệm ra dưới ánh sáng rõ ràng như vậy, ta có thể hy vọng hợp lý rằng sẽ loại bỏ được mọi tranh luận phát sinh liên quan đến bản chất và tính thực tại của chúng. [1]. [5]

 

--------------------------------------------------------------------

 

E 2. 9n1, SBN 22

1. Xem CHÚ THÍCH [A].

 

E 2. 9n1. 1, SBN 22

Có lẽ những người phủ nhận những ý niệm bẩm sinh (innate ideas) không có ý gì hơn là khẳng định rằng tất cả những ý niệm đều là bản sao của những ấn tượng của chúng ta; dù phải thừa nhận rằng những từ ngữ họ dùng không được chọn lựa cẩn thận, cũng không được định nghĩa chính xác đến mức ngăn ngừa tất cả những hiểu lầm về học thuyết của họ. Vì “bẩm sinh” (innate) nghĩa là gì? Nếu “bẩm sinh” đồng nghĩa với “tự nhiên” (natural), thì tất cả những tri giác và ý niệm của tâm trí đều phải được coi là bẩm sinh hoặc tự nhiên, theo bất kỳ nghĩa nào của từ “tự nhiên” – dù là đối lập với cái hiếm gặp, nhân tạo, hay kỳ diệu. Nếu “bẩm sinh” nghĩa là “đồng thời với lúc sinh ra” (contemporary to our birth), thì cuộc tranh luận này dường như tầm phào; chẳng đáng để tìm hiểu thời điểm suy nghĩ bắt đầu – trước, tại lúc, hay sau khi sinh. Hơn nữa, từ “ý niệm” (idea) dường như thường được Locke và những người khác dùng theo nghĩa rất lỏng lẻo, để chỉ bất kỳ tri giác nào của chúng ta – cảm giác, đam mê, cũng như tư tưởng. Trong nghĩa này, tôi muốn hỏi: khi khẳng định rằng tình yêu bản thân / vị kỷ (self-love), sự oán giận tổn thương (resentment of injuries), hay đam mê giữa hai giới (the passion between the sexes) không phải là bẩm sinh, thì điều đó có nghĩa gì?

 

E 2.9n1.2, SBN 22

Nhưng nếu chấp nhận những từ ngữ “ấn tượng” và “ý niệm” theo nghĩa đã giải thích ở trên, và hiểu “bẩm sinh” (innate) theo nghĩa là cái nguyên thủy, cái không được sao chép từ bất kỳ tri giác nào trước đó, thì chúng ta có thể khẳng định rằng: tất cả những ấn tượng của chúng ta đều là bẩm sinh, còn những ý niệm thì không bẩm sinh.

 

E 2.9n1.3, SBN 22

Để thành thật, tôi phải thừa nhận rằng theo ý kiến của tôi, Locke đã bị cuốn vào vấn đề này bởi những nhà kinh viện (schoolmen), những người sử dụng những từ ngữ không được định nghĩa rõ ràng, kéo dài những tranh luận một cách lê thê nhưng chưa bao giờ chạm đến trọng tâm của vấn đề. Một sự mơ hồ tương tự và lối nói vòng vo dường như xuyên suốt những lập luận của nhà triết học ấy về đề tài này cũng như hầu hết những chủ đề tài khác.


 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Jan/2026)

(Còn tiếp... )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



 



[1] Hume đang giải thích lý do ông phải tự tạo ra từ ngữ “Impressions” (Ấn tượng) để chỉ riêng loại tri giác sống động, mạnh mẽ – tức những kinh nghiệm cảm giác trực tiếp như nghe, thấy, cảm nhận đau, yêu, ghét hay mong muốn. Theo ông, trong tiếng Anh thời thế kỷ 18 cũng như hầu hết những ngôn ngữ châu Âu khác (Pháp, Latin, Hy Lạp cổ – những ngôn ngữ ông quen thuộc), không tồn tại một từ chung sẵn có để chỉ riêng loại tri giác này. Lý do đơn giản là trong đời sống hàng ngày, con người không cần phân biệt rõ ràng giữa kinh nghiệm sống động (impressions) và suy nghĩ mờ nhạt, sao chép (ideas); chỉ khi làm triết học mới cần một tên gọi chung để phân loại chính xác, nên trước đó không ai đặt tên riêng cho chúng.

Điều này hoàn toàn hợp lý trong bối cảnh lịch sử và ngôn ngữ thời Hume. Trước ông, John Locke – người ảnh hưởng lớn nhất đến Hume – đã dùng từ “ideas” để bao quát toàn bộ nội dung não thức, từ cảm giác trực tiếp (simple ideas từ giác quan, gần với impressions) đến suy nghĩ trừu tượng (complex ideas), mà không tách biệt rõ về mức độ “lực lượng” và “sự sống động”. những nhà triết học khác như Descartes (tiếng Pháp) hay Aristotle (Hy Lạp/Latin) cũng không có sự phân biệt chính xác như vậy. Chính vì thiếu tên sẵn có, Hume mới “tự do” mượn từ “impression” (nghĩa thông thường chỉ “ấn tượng bề mặt” hay “cảm giác thoáng qua”) và dùng với ý nghĩa mới – điều này chính là bằng chứng cho nhận xét của ông.

Sự sáng tạo này là một phần quan trọng của thuyết duy nghiệm triệt để mà Hume theo đuổi: ông xây dựng công cụ ngôn ngữ mới để phân tích nguồn gốc tri thức, khẳng định mọi ý niệm đều bắt nguồn từ ấn tượng trực tiếp, và sự phân biệt này là đóng góp độc đáo của ông trong triết học Tây phương thời bấy giờ.

Tuy nhiên, một số học giả hiện đại cho rằng Hume có phần “quá tự tin” khi nói “hầu hết những ngôn ngữ khác”, vì trong một số ngôn ngữ cổ ngoài châu Âu – chẳng hạn Sanskrit trong triết học India – đã tồn tại phân biệt tương tự: pratyaksha (cảm giác trực tiếp, kinh nghiệm giác quan) đối lập với anumana (suy luận, tri thức gián tiếp). Còn trong triết học nước Tàu cổ đại (tiếng Hán), không có sự phân biệt rõ ràng, chặt chẽ và có hệ thống như Hume. những nhà tư tưởng như Tuân Tử, Trang Tử, Lão Tử hay Mạnh Tử thường nhấn mạnh sự thống nhất giữa cảm giác, tâm trí, hành vi và Đạo, thay vì tách riêng “những gì kinh nghiệm trực tiếp” và “những gì suy nghĩ trừu tượng”. Nhận thức ở đây mang tính trực giác, toàn diện và thực tiễn hơn là phân tích nhị nguyên logic. Do đó, nhận xét của Hume vẫn hợp lý và chính xác trong ngữ cảnh triết học Tây phương và những ngôn ngữ châu Âu cổ điển mà ông dựa vào.

[2] Trong nhận thức học của David Hume, cặp khái niệm Ấn tượng (impressions) và Ý niệm (ideas) giữ vai trò nền tảng. Hume trình bày sự phân biệt này một cách hệ thống trong A Treatise of Human Nature và, với văn phong chặt chẽ hơn, trong An Enquiry Concerning Human Understanding. Toàn bộ dự án thực nghiệm và hoài nghi của Hume – từ nhận thức luận đến phê phán siêu hình học – đều dựa trên sự phân biệt cơ bản này.

Hume cho rằng mọi tri giác của não thức (perceptions of the mind) đều có thể quy về hai loại duy nhất, khác nhau không phải về bản chất mà về mức độ lực lượng và sự sống động (force and vivacity). Thứ nhất là Ấn tượng (impressions): những tri giác trực tiếp, mạnh mẽ và sống động nhất mà não thức tiếp nhận. Chúng bao gồm hai nhóm chính. Ấn tượng của giác quan phát sinh từ tiếp xúc trực tiếp với thế giới – như cảm giác đau, màu sắc, âm thanh, hay nhiệt độ. Ấn tượng của phản tỉnh nảy sinh từ hoạt động nội tâm – như cảm xúc, đam mê, ham muốn, sợ hãi, yêu ghét, và những hành vi ý chí. Dù thuộc loại nào, ấn tượng đều có tính hiện diện tức thời và sức tác động mạnh, đến mức chúng không thể bị nhầm lẫn với tưởng tượng thông thường.

Đối lập với ấn tượng là Ý niệm (ideas), mà Hume mô tả như những bản sao mờ nhạt của ấn tượng. Ý niệm xuất hiện khi ta nhớ lại, suy nghĩ, hay tưởng tượng về một kinh nghiệm đã có: nhớ lại cơn đau khác với việc đang bị đau; tưởng tượng một “ngọn núi vàng” là kết quả của việc ghép những ý niệm rút ra từ những ấn tượng khác nhau (núi và vàng). Ý niệm kém sống động hơn ấn tượng và hoàn toàn phụ thuộc vào chúng. Từ đây, Hume đưa ra nguyên tắc sao chép (Copy Principle): mọi ý niệm đơn giản đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng đơn giản tương ứng. Não thức con người không sáng tạo ex nihilo; nó chỉ có thể kết hợp, hoán đổi, phóng đại hay thu nhỏ những gì đã được cung cấp bởi kinh nghiệm.

Chính nguyên tắc này làm nên tính triệt để của thuyết duy nghiệm của Hume. Bất kỳ khái niệm nào không thể truy ngược về một ấn tượng tương ứng đều bị xem là rỗng nghĩa hoặc giả tạo. Hệ quả là nhiều khái niệm trung tâm của siêu hình học truyền thống – như bản ngã, tất yếu nhân quả, hay thực thể siêu nghiệm – bị đặt vào vòng nghi vấn.

So với John Locke, người thường được xem là cha đẻ của thuyết duy nghiệm Anh, Hume tiến xa hơn và triệt để hơn. Locke cũng cho rằng mọi nội dung của não thức đều là ideas, bắt nguồn từ cảm giác (sensation) và phản tỉnh (reflection), nhưng ông không phân biệt rạch ròi giữa cảm giác trực tiếp và ký ức hay tưởng tượng về cảm giác đó. Hơn nữa, Locke vẫn cho phép rằng một số ý niệm phức tạp – chẳng hạn ý niệm về Gót – có thể được xây dựng mà không cần một ấn tượng trực tiếp rõ ràng. Hume, trái lại, áp dụng nguyên tắc sao chép một cách nghiêm ngặt và bác bỏ mọi “ngoại lệ thuận tiện” như vậy. Đồng thời, Hume cũng từ bỏ thuyết hiện thực ngây thơ còn sót lại nơi Locke: ấn tượng không bảo đảm phản ảnh trung thực bản chất của thế giới bên ngoài; chúng chỉ là dữ liệu của ý thức.

Ảnh hưởng của học thuyết ấn tượng–ý niệm đạt đến cao trào trong phản ứng của Immanuel Kant. Kant thừa nhận rằng chính Hume đã “đánh thức ông khỏi giấc ngủ giáo điều”, đặc biệt qua sự hoài nghi về nhân quả. Tuy nhiên, Kant cho rằng Hume đã đi quá xa khi xem não thức như một tấm bảng thụ động. Theo Kant, dữ liệu giác quan (gần với ấn tượng của Hume) chỉ trở thành kinh nghiệm khi đã được tổ chức bởi những hình thức tiên nghiệm của trực quan (không gian và thời gian) và những phạm trù của giác tính (như nhân quả, thực thể, tất yếu). Nhờ đó, Kant vừa chấp nhận phê phán của Hume đối với siêu hình học giáo điều, vừa “cứu” được tính tất yếu của khoa học tự nhiên ở cấp độ hiện tượng.

Tóm lại, học thuyết Ấn tượng và Ý niệm của Hume đặt nền móng cho một thuyết duy nghiệm triệt để: mọi nội dung của tư duy đều bắt nguồn từ kinh nghiệm sống động, và não thức không có cấu trúc tiên nghiệm độc lập. Chính lập trường này dẫn Hume đến hoài nghi sâu xa về nhân quả, bản ngã và siêu hình học. Kant, trong khi chấp nhận thách thức của Hume, đã xây dựng một con đường trung gian: giới hạn tri thức vào hiện tượng, nhưng trao cho não thức vai trò chủ động trong việc cấu trúc kinh nghiệm.

[3] Trong thời đại của David Hume (thế kỷ 18), rượu vang là thức uống chưa được biết đến với hầu hết cư dân vùng cực Bắc (Laplander – tức người Sámi ở Lapland, Bắc Scandinavia) và với nhiều dân tộc châu Phi vùng cận Sahara (ở đây Hume dùng từ "Negroe" theo cách gọi thông dụng thời bấy giờ). Những cộng đồng này không có truyền thống trồng nho, sản xuất hay tiêu thụ rượu vang, do đó họ chưa từng trải nghiệm cảm giác vị giác đặc trưng của nó. Hume dùng ví dụ này để minh họa rằng: nếu một đối tượng cảm giác chưa từng tác động lên giác quan của ta, thì ta không thể có được ý niệm chân thực về nó. Mặc dù ví dụ phản ánh góc nhìn Âu-châu trung tâm của thời đại, nguyên tắc triết học vẫn có giá trị

[4] Hume đưa ra một thí nghiệm tư tưởng giản dị nhưng cực kỳ sâu xa, được gọi là “màu xanh bị thiếu”. Điều đặc biệt là chính Hume – người xây dựng nguyên tắc cốt lõi – lại tự mình chỉ ra một ngoại lệ dường như làm lung lay toàn bộ học thuyết của ông. Đây là một trong những khoảnh khắc trung thực trí thức hiếm có nhất trong lịch sử triết học. Nguyên tắc cốt lõi: Mọi ý niệm đều là bản sao của ấn tượng, Hume khẳng định:Mọi ý niệm đơn giản đều bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng (Copy Principle).Ấn tượng là những kinh nghiệm sống động, trực tiếp qua giác quan: màu đỏ chói của hoa hồng, tiếng sấm vang trời, cảm giác nóng bỏng của lửa. Ý niệm là những bản sao mờ nhạt hơn, xuất hiện khi ta nhớ lại hoặc tưởng tượng.

Theo Hume, không có ấn tượng thì không thể có ý niệm chân thực. Người mù bẩm sinh không thể hình dung màu sắc, người điếc không thể tưởng tượng âm thanh, người chưa từng nếm rượu vang không thể biết vị của nó. Đây là nền tảng của chủ nghĩa kinh nghiệm luận triệt để.

Thí nghiệm tư tưởng: Người chưa từng thấy một màu xanh cụ thể

Hume mời chúng ta tưởng tượng một người đã sống 30 năm với thị giác hoàn hảo, đã quen thuộc với mọi màu sắc trên đời… trừ đúng một sắc độ xanh lam cụ thể (gọi tạm là xanh #47). Bây giờ, ta trải ra trước mặt người này một dải màu xanh lam liên tục, từ đậm nhất đến nhạt nhất, nhưng thiếu đúng màu xanh #47. Kết quả mà Hume dự đoán: Người này lập tức nhận ra một khoảng trống rõ ràng. Người này cảm thấy khoảng cách giữa hai sắc độ liền kề chỗ thiếu lớn hơn bình thường. Người này biết chắc chắn rằng “phải có một sắc độ nào đó nằm giữa hai màu này”. Câu hỏi quyết định: Liệu người này có thể, chỉ bằng trí tưởng tượng, tự “vẽ” ra trong tâm trí chính xác màu xanh #47 mà người này chưa từng thấy bao giờ? Hume trả lời thẳng thắn: Có. Hầu hết mọi người sẽ đồng ý rằng người này có thể làm được.

Tâm trí có thể nội suy (interpolate), dựa vào những sắc độ xung quanh để “lấp đầy” chỗ trống, giống như ta có thể tưởng tượng một nốt nhạc nằm giữa hai nốt đã biết.

Tại sao đây là ngoại lệ nghiêm trọng? Vì nó vi phạm trực tiếp nguyên tắc Copy: Không có ấn tượng về xanh #47.

Nhưng vẫn có thể hình thành ý niệm về xanh #47. → Đây là một ý niệm đơn giản không bắt nguồn từ ấn tượng tương ứng. Hume thừa nhận đây là ngoại lệ thực sự, nhưng ông lập tức cố gắng “giảm nhiệt”: Trường hợp này quá đặc biệt, quá hiếm hoi. Gần như không đáng để chúng ta chú ý. Một ngoại lệ đơn lẻ không đủ để thay đổi nguyên tắc tổng quát đúng trong hàng ngàn trường hợp khác. Tại sao Hume lại tự “tố cáo” học thuyết của mình? Có nhiều giải thích: Ông muốn thể hiện sự trung thực tuyệt đối của một nhà triết học nghiêm túc. Ông tin rằng học thuyết của mình đủ mạnh để chịu được một vết nứt nhỏ. Ông cố tình để lại một “bài toán mở” cho hậu thế. Hoặc đơn giản là ông chưa nhận ra hết mức độ nguy hiểm của ngoại lệ này.

Các phản ứng qua lịch sử triết học

Bảo vệ Hume: Khả năng nội suy vẫn dựa trên kinh nghiệm với những sắc độ khác → không phải sáng tạo từ hư vô.

Sắc xanh #47 không thực sự là ý niệm đơn giản hoàn toàn độc lập, mà là một điểm trong “không gian màu sắc” đã được học từ kinh nghiệm. Đây là ngoại lệ cực đoan, không đại diện cho hoạt động tâm trí thông thường.

Phê phán Hume; Một mệnh đề phổ quát (“mọi ý niệm đều…”) chỉ cần một phản ví dụ là đã bị bác bỏ. Ngoại lệ này chứng tỏ tâm trí không chỉ sao chép thụ động, mà có khả năng sáng tạo chủ động – tiền đề cho triết học Kant sau này. Nếu có ngoại lệ ở màu sắc, rất có thể có ở âm thanh, mùi vị, cảm xúc… Cánh cửa đã mở.

Góc nhìn khoa học nhận thức hiện đại: Não bộ thực sự nội suy màu sắc liên tục (màn hình chỉ phát 3 màu cơ bản RGB nhưng ta thấy hàng triệu màu). Đây là cơ chế tiến hóa giúp nhận biết môi trường hiệu quả. Khả năng “lấp chỗ trống” vẫn là kết quả của kinh nghiệm tích lũy, không phải tri thức bẩm sinh.

Ý nghĩa sâu xa: “Sắc xanh bị thiếu” không chỉ là một ngoại lệ nhỏ. Nó khơi dậy những câu hỏi lớn: Tâm trí chỉ tiếp nhận thụ động hay cũng chủ động kiến tạo? Ý niệm màu sắc là những “nguyên tử” đơn giản hay là những điểm trong một cấu trúc quan hệ? Giới hạn thực sự của kinh nghiệm cảm giác nằm ở đâu? Một ngoại lệ có đủ để lật đổ một quy luật phổ quát hay không?

Kết luận: “Missing shade of blue” là một trong những đoạn văn bí ẩn và đẹp đẽ nhất của Hume. Nó thể hiện sự khiêm nhường trí thức của một triết gia sẵn sàng chỉ ra điểm yếu trong chính học thuyết của mình. Dù Hume cố gắng coi nó là “không đáng kể”, ngoại lệ này vẫn để lại một vết nứt nhỏ nhưng dai dẳng – một vết nứt đủ để khiến chúng ta, 300 năm sau, vẫn phải dừng lại và tự hỏi:Tâm trí con người thực sự có thể tưởng tượng ra điều gì mà nó chưa từng kinh nghiệm? Và nếu có thể, điều đó nói gì về bản chất của sự hiểu biết? Có lẽ giá trị lớn nhất của “màu xanh bị thiếu” không nằm ở câu trả lời, mà ở những câu hỏi nó khơi dậy – và đó chính là dấu ấn của triết học đích thực.

[5] Lưỡi Dao của Hume: Phương Pháp Thanh Lọc Triết Học

David Hume bước vào triết học không với một hệ thống đồ sộ, mà với một công cụ duy nhất: một tiêu chuẩn nghiêm khắc để phân biệt giữa ý niệm có nội dung và từ ngữ rỗng. Trước bất kỳ khái niệm triết học nào—bản thể, tất yếu, tự do tuyệt đối, linh hồn, hay Gót—Hume chỉ đặt một câu hỏi: Ý niệm này bắt nguồn từ ấn tượng cảm giác nào? Nếu không thể chỉ ra nguồn gốc ấy, khái niệm không đơn giản là “chưa được chứng minh”, nhưng là vô nghĩa: nó không quy chiếu đến bất kỳ nội dung nào trong kinh nghiệm con người. Đó không phải là sai lầm lý thuyết, nhưng là sự trống rỗng ngôn ngữ. Nền tảng của phương pháp này là nguyên tắc nổi tiếng của Hume: mọi ý niệm đều là bản sao mờ nhạt của ấn tượng. Ấn tượng là những trải nghiệm trực tiếp—màu sắc, âm thanh, khoái lạc, đau đớn, sợ hãi, ham muốn. Ý niệm chỉ là sự hồi tưởng, kết hợp, hay làm mờ những gì đã từng được cảm nhận. Không có ấn tượng gốc, không thể có ý niệm thực sự; chỉ còn lại từ ngữ không có nội dung.

Khi áp dụng “lưỡi dao” này, nhiều khái niệm trung tâm của siêu hình học truyền thống bị cắt bỏ. Ta không có ấn tượng nào về “bản thể” nằm dưới những thuộc tính; ta chỉ cảm nhận những thuộc tính. Ta không tri giác “liên kết tất yếu” trong quan hệ nhân quả; ta chỉ thấy sự kế tiếp thường xuyên và hình thành thói quen kỳ vọng. Khi nhìn vào chính mình, ta không bắt gặp một “linh hồn” đơn nhất, bất biến, mà chỉ thấy một dòng chảy liên tục của tri giác. Ngay cả ý niệm về Gót, theo Hume, cũng được hình thành bằng cách phóng đại những năng lực hữu hạn của con người, chứ không phải từ một tri giác trực tiếp về một hữu thể siêu việt. Tuy nhiên, Hume không phủ nhận tư duy trừu tượng. Ông chỉ yêu cầu trách nhiệm nhận thức. Những khái niệm như công lý, đạo đức, hay thậm chí toán học vẫn hợp pháp, miễn là ta có thể truy nguyên chúng về kinh nghiệm—về cảm xúc đạo đức, về thực hành đếm và so sánh, hay về những quan hệ ý niệm. Điều Hume bác bỏ không phải là trừu tượng, nhưng là trừu tượng tách rời hoàn toàn khỏi đời sống cảm nghiệm.

Mục tiêu của phương pháp này không phải phá hủy triết học, nhưng là thanh lọc nó. Trong nhiều thế kỷ, triết học đã tiêu tốn năng lượng khổng lồ để tranh luận về những khái niệm không bao giờ xuất hiện trong kinh nghiệm. Khi mọi ý niệm buộc phải “xuất trình giấy khai sinh”, những tranh cãi ngôn từ rỗng tuếch tan biến, và triết học quay lại với những gì con người thực sự sống qua: cảm xúc, tin tưởng, thói quen, sợ hãi, và hy vọng. Hệ quả của Hume là sâu rộng. Hình nhi thượng học mất đi tham vọng tiếp cận “thực tại tối hậu” nằm ngoài kinh nghiệm. Nhận thức luận chuyển trọng tâm từ bản chất thế giới sang giới hạn của hiểu biết con người. Đạo đức được đặt nền trên cảm xúc và sự đồng cảm, không phải lý tính thuần túy. Và khoa học thực nghiệm trở thành mô hình cho tri thức nghiêm túc: không quan sát, không giả thuyết kiểm chứng, không có chân lý.

Ba thế kỷ sau, lưỡi dao của Hume vẫn chưa cùn. Trước những diễn ngôn hiện đại về “ý thức cao hơn”, “bản ngã chân thật”, hay “thực tại tối hậu”, câu hỏi của ông vẫn vang lên với sự lạnh lùng không khoan nhượng: bạn đang nói về điều gì, và nó thực sự bắt nguồn từ đâu? Nếu không chỉ ra được kinh nghiệm gốc, đó có thể là thơ, là tin tưởng, hay là hy vọng—nhưng không phải là tri thức. Lưỡi dao của Hume không giải quyết mọi vấn đề. Nó không trao cho ta ý nghĩa cuộc sống hay một hệ thống siêu hình hoàn chỉnh. Nhưng nó buộc ta phải trung thực: trung thực về những gì ta biết, những gì ta chỉ tin, và những gì ta hoàn toàn không có cơ sở để nói đến.