Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT II.
Về Nguồn Gốc Của Những Ý Niệm.
E 2.1, SBN 17
Mọi người đều sẽ dễ dàng nhìn nhận, rằng có
một khác biệt đáng kể giữa những tri giác của não thức, khi một người cảm thấy đau của sức nóng quá mức
hay dễ chịu của hơi ấm vừa phải, so với người này sau đó nhớ lại cảm giác đó trong trí nhớ hay mường tượng ra nó bằng tưởng tượng. Những khả năng này có thể bắt chước hay sao chép lại tri giác của giác quan;
nhưng chúng không bao giờ có thể đạt tới trọn vẹn sức mạnh và độ sống động của
cảm xúc nguyên gốc. Nhiều nhất chúng ta có thể nói về
chúng, ngay cả khi chúng hoạt động mạnh mẽ nhất, là chúng tái hiện đối tượng
của chúng một cách sinh động đến mức chúng ta gần như có thể nói rằng chúng ta tri giác
hay nhìn thấy nó: Thế nhưng, trừ khi não thức bị rối loạn bởi bệnh tật hay điên
rồ, chúng không bao giờ có thể đạt tới một cao độ sống động khiến những tri giác này trở nên
hoàn toàn không thể phân biệt được. Tất cả những màu sắc của thi ca, dù lộng lẫy đến đâu,
cũng không bao giờ có thể vẽ được những đối tượng tự nhiên theo một cách thức làm cho mô tả được coi là
một cảnh quan thực sự. Ý nghĩ sống động nhất vẫn vẫn thua kém cảm giác trơ nhạt
nhất.
E 2.2, SBN 17-8
Chúng ta có thể quan sát một phân biệt giống
thế chạy qua tất cả những tri giác khác của não thức. Một người đang trong giận dữ sẽ bị thôi thúc theo cách thức hoàn toàn khác biệt so với một người chỉ đang
suy nghĩ về cảm xúc đó. Nếu bạn bảo tôi rằng một ai đó đang yêu, tôi dễ
dàng hiểu ý bạn, và hình thành một khái niệm chính xác về tình trạng của người
này; nhưng không bao giờ có thể nhầm lẫn khái niệm ấy với những rối loạn và xao động thực có của cảm xúc này.
Khi chúng ta tự suy ngẫm về những cảm xúc và tình cảm trong quá khứ, ý
nghĩ của chúng ta là một tấm gương trung thực, và sao chép chân thực những đối
tượng của nó; nhưng những màu sắc vốn nó dùng đều nhạt nhòa và mờ đục, so với
những gì vốn những tri giác ban đầu của chúng ta đã khoác lên. Không đòi hỏi khả năng phân
biệt tinh tế hay một đầu óc siêu hình nào để nhận ra sự khác biệt giữa chúng. [1]
E 2.3, SBN 18
Vì vậy, ở đây chúng ta có thể phân chia tất cả
những tri giác của não thức thành thành hai lớp hay loại, được phân biệt bởi
mức độ sức mạnh và sự sống động khác nhau của chúng. Loại kém mạnh mẽ và ít
sống động hơn thường được gọi là những Ý nghĩ hay Ý niệm. Loại
kia thì thiếu một tên gọi trong ngôn ngữ của chúng ta, cũng như trong hầu hết
những ngôn ngữ khác; tôi cho rằng là vì nó không cần thiết cho bất kỳ mục đích
nào ngoài triết học, nên không phải xếp chúng dưới một từ chung hay tên gọi
riêng. Vì thế, chúng ta hãy tự do một chút, và gọi chúng là Ấn tượng;
dùng từ này với một ý nghĩa hơi khác so với thông thường. Vậy thì, bằng từ ngữ Ấn
tượng, tôi muốn chỉ tất cả những tri giác sống động hơn của chúng ta, khi
chúng ta nghe, nhìn, cảm xúc, yêu, ghét, khao khát, hay muốn làm gì đó. Và những ấn tượng được phân biệt với những
ý niệm, vốn là những tri giác ít sống động hơn, vốn chúng ta nhận thức được
khi suy ngẫm về những cảm giác hay những biến chuyển nội tâm đã nhắc đến ở trên. [2].
E 2.4, SBN 18
Thoạt nhìn, dường như không có gì tự do hơn tư
tưởng của con người – vì nó không những thoát khỏi mọi năng lực cưỡng bức và
quyền uy chi phối của loài người, nhưng còn không bị giam hãm trong những giới
hạn của tự nhiên và thực tại. Để tạo nên những quái vật và chắp vá những hình
thù và diện mạo không ăn nhập với nhau, chỉ đòi hỏi công sức của trí tưởng
tượng không nhiều gì hơn việc hình dung những vật thể tự nhiên và quen thuộc nhất. Và trong
khi cơ thể bị giam giữ trên một hành tinh, nơi nó phải lê bước trong nhọc nhằn và khó khăn, tư
tưởng trong khoảnh khắc có thể đưa chúng ta đến những vùng xa xôi nhất của vũ trụ, hay
ngay cả vượt ngoài vũ trụ, vào hỗn mang vô tận, nơi thiên nhiên được cho là
chìm trong hỗn loạn hoàn toàn. Những gì chưa từng thấy hay nghe nói, vẫn có thể được
hình dung; và chẳng có gì vượt ra ngoài khả năng của tư tưởng, ngoại trừ
những gì hàm ngụ một mâu thuẫn tuyệt đối.
E 2.5, SBN 19
Nhưng dù tư tưởng của chúng ta
có vẻ có được sự tự do vô hạn này, khi xem xét kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy rằng nó
thực sự bị cầm giữ trong những giới hạn rất chật hẹp; và rằng tất cả năng lực sáng
tạo của não thức chẳng qua chỉ là khả năng hợp nhất, hoán đổi, phóng đại, hay thu nhỏ những chất
liệu do giác quan và kinh nghiệm cung cấp do giác quan và kinh
nghiệm cung cấp cho chúng ta. Khi chúng ta nghĩ về một “ngọn núi bằng vàng”, chúng ta chỉ nối hai
ý niệm nhất quán, vàng và núi, mà trước đây chúng ta đã từng biết. Chúng ta có thể
tưởng tượng ra một “con ngựa có đức hạnh”; bởi vì, từ cảm xúc của chính chúng ta, chúng ta có thể hiểu thế nào là đức hạnh, rồi
liên kết nó với hình thù và vóc dáng của một con ngựa, loài vật quen thuộc với chúng ta. Tóm lại,
tất cả những nguyên liệu của tư tưởng đều bắt nguồn hay từ cảm xúc bên ngoài, hay từ cảm
xúc bên trong của chúng ta. Sự pha trộn và kết hợp những vật liệu này chỉ thuộc
về não thức và ý chí. Hay, để diễn đạt bằng ngôn ngữ triết học, tất cả những ý niệm
hay những tri giác yếu hơn của chúng ta đều là những bản sao của những ấn tượng
hay những tri giác sống động hơn.
E 2.6, SBN 19-20
Để chứng minh điều này, tôi hy vọng hai lập
luận sau đây sẽ là đủ. Thứ nhất, khi chúng ta phân tích những tư tưởng hay những ý niệm
của chúng ta, dù phức tạp hay cao siêu đến đâu, chúng ta luôn thấy rằng chúng
đều tự phân
giải thành những ý niệm đơn giản như được sao chép từ một cảm giác hay cảm xúc có trước.
Ngay cả những ý niệm thoạt nhìn dường như xa rời nguồn gốc này nhất, khi xem
xét kỹ lưỡng hơn, cũng được tìm thấy là bắt nguồn từ nó. Ý niệm về Gót, với
nghĩa là một hữu thể toàn trí, toàn năng, toàn thiện, phát sinh từ việc tự suy
ngẫm về những khả năng hoạt
động của chính tâm lý chúng ta, rồi phóng đại, đến vô hạn, những phẩm chất của tốt lành và
khôn ngoan. Chúng ta có thể đẩy khảo cứu này đi xa đến đâu tùy thích; nhưng ở
đâu chúng ta cũng sẽ luôn tìm thấy rằng tất cả những ý niệm được chúng ta xem xét đều là sao chép
từ một ấn tượng tương tự. Những ai muốn khẳng định rằng luận điểm này không đúng
phổ quát và có ngoại lệ, thì chỉ có một phương pháp duy nhất, và đó là một
phương pháp dễ dàng để bác bỏ nó; bằng cách đưa ra ý niệm nào mà theo ý kiến
của họ là không bắt nguồn từ nguồn gốc này. Khi đó sẽ là trách nhiệm của chúng ta, nếu chúng ta
muốn duy trì học thuyết của chúng ta, là phải đưa ra ấn tượng hay tri giác sinh
động tương ứng với nó. [3]
E 2.7, SBN 20
Thứ hai: Nếu do một
khiếm khuyết của cơ quan giác quan khiến một người không thể tiếp nhận bất kỳ loại
cảm giác nào, chúng ta luôn thấy rằng người này cũng không thể tiếp nhận những ý
niệm tương ứng. Một người mù không thể hình thành bất kỳ khái niệm nào về màu sắc;
một người điếc không thể hình thành khái niệm nào về âm thanh. Hãy khôi phục giác
quan đang khiếm khuyết đó cho họ; bằng cách mở ra lối vào mới này cho những cảm
giác, bạn cũng đồng thời mở ra một lối vào cho những ý niệm; và người này sẽ không
gặp khó khăn nào trong việc hình dung ra những đối tượng ấy. Trường hợp này cũng tương tự nếu một đối tượng phù hợp để kích động cảm giác chưa từng được
tiếp xúc với cơ quan giác quan. Một người Laplander hay một người châu Phi không có khái niệm
nào về hương vị của rượu vang. [4] Và
mặc dù rất hiếm, hay gần như không có trường hợp nào về sự khiếm khuyết tương
tự trong não thức – tức là một người chưa từng tri giác hay hoàn toàn không có
khả năng tri giác một cảm xúc hay đam mê nào đó vốn thuộc về loài người – thì
chúng ta vẫn thấy hiện tượng tương tự xảy ra ở mức độ nhẹ hơn. Một người có
tính tình ôn hòa không thể hình thành ý niệm về sự thù hận dai dẳng hay sự tàn
nhẫn; một con tim ích kỷ cũng khó mà hình dung được những đỉnh cao của tình bạn
và lòng hào hiệp. Người ta dễ dàng nhìn nhận rằng có thể hiện hữu những hữu thể khác có được nhiều giác quan
vốn chúng
ta không thể có bất kỳ ý niệm nào về chúng; bởi vì những ý niệm về chúng chưa bao giờ
được đưa vào não thức chúng ta theo cách duy nhất vốn một ý niệm có thể đi vào não thức, tức là bằng cảm xúc và
cảm giác thực sự.
E 2.8, SBN 20-1
Tuy nhiên, có một hiện tượng trái ngược, có
thể chứng tỏ rằng không phải tuyệt đối là không thể có để những ý niệm phát sinh
độc lập với những ấn tượng tương ứng của chúng. Tôi tin rằng người ta sẽ dễ
dàng nhìn nhận rằng những ý niệm riêng biệt về màu sắc, vốn đi vào qua mắt, hay
những ý niệm về âm thanh, được truyền qua tai, thực sự khác với nhau, dù đồng
thời chúng vẫn có sự giống nhau. Nay nếu điều này đúng đối với những màu khác nhau,
thì nó cũng phải đúng không kém đối với những sắc độ khác nhau của cùng một
màu; và mỗi sắc độ tạo ra một ý niệm riêng biệt, độc lập với những sắc độ còn
lại. Bởi vì nếu điều này bị phủ nhận, thì bằng sự chuyển tiếp liên tục của
những sắc độ, người ta có thể làm cho một màu hòa dần một cách không nhận thấy
được vào màu xa nhất với nó; và nếu bạn không thừa nhận bất kỳ bậc trung gian
nào là khác nhau, thì bạn không thể, nhưng không rơi vào vô lý, phủ nhận rằng
hai cực lại là giống nhau.Vậy hãy giả sử một người đã có thị giác trong ba mươi
năm, và đã trở nên hoàn toàn quen thuộc với những màu sắc thuộc mọi loại, ngoại
trừ một sắc độ riêng biệt của màu xanh lam, chẳng hạn, mà người này chưa từng
có dịp gặp phải. Hãy đặt trước mặt người này tất cả những sắc độ khác nhau của
màu đó, trừ đúng sắc độ duy nhất đó, được sắp xếp dần dần từ đậm nhất đến nhạt
nhất; rõ ràng người này sẽ nhận thấy một khoảng trống ở nơi thiếu sắc độ ấy, và
sẽ cảm thấy rằng khoảng cách giữa hai màu liền kề ở chỗ đó lớn hơn so với bất
kỳ chỗ nào khác. Bây giờ tôi hỏi: liệu người này có thể, từ chính trí tưởng tượng của
mình, bổ sung sự thiếu hụt này, và tự hình thành cho mình ý niệm về sắc độ
riêng biệt ấy, dù nó chưa bao giờ được truyền đến người này qua những giác
quan? Tôi tin rằng rất ít người sẽ không cho rằng điều đó là có thể được. Và trường hợp
này có thể dùng như một bằng chứng rằng những ý niệm đơn giản không phải lúc
nào, trong tất cả những trường hợp, cũng được rút ra từ những ấn tượng tương ứng; mặc dù
trường hợp này quá cá biệt đến nỗi hầu như không đáng để chúng ta lưu ý, và cũng không đáng
để chỉ vì nó mà chúng ta thay đổi nguyên tắc tổng quát của chúng ta. [5]
E 2.9, SBN 21-2
Vậy nên, ở đây có
một mệnh đề không những tự thân có vẻ đơn giản và dễ hiểu; mà nếu được vận dụng
đúng cách, còn có thể khiến tất cả tranh luận trở nên sáng tỏ như nhau, đồng thời
xua tan toàn bộ thứ thuật ngữ rối rắm đã từ lâu chiếm lĩnh những lập luận siêu hình
và khiến chúng mang tiếng xấu.
Mọi ý niệm, đặc biệt
là những ý niệm trừu tượng, tự nhiên đều mờ nhạt và không rõ ràng: não thức chỉ
nắm giữ chúng rất yếu ớt; chúng dễ bị lẫn lộn với những ý niệm khác tương tự; và
khi chúng ta thường xuyên dùng một thuật ngữ nào đó nhưng không có ý nghĩa xác định,
chúng ta dễ tưởng rằng nó gắn với một ý niệm rõ rệt.
Ngược lại, tất cả
ấn tượng – tức là tất cả cảm giác hay cảm xúc, dù bên ngoài hay bên trong – đều
mạnh mẽ và sống động: ranh giới giữa chúng được xác định chính xác hơn nhiều; và
không dễ mắc phải sai lầm hay nhầm lẫn khi xét đến chúng.
Do đó, khi ta nghi
ngờ rằng một thuật ngữ triết học đang được dùng nhưng không có ý nghĩa hay ý niệm
nào tương ứng (điều này xảy ra quá thường xuyên), ta chỉ cần truy vấn: ý niệm được
giả định ấy bắt nguồn từ ấn tượng nào? Nếu không thể chỉ ra được ấn tượng tương
ứng, điều đó sẽ xác nhận nghi ngờ của chúng ta. Bằng cách đưa những ý niệm ra dưới
ánh sáng sáng tỏ như vậy, ta có thể hy vọng một cách hợp lý rằng sẽ loại bỏ được
tất cả tranh luận có thể phát sinh liên quan đến bản tính và thực tại của chúng. [1]. [6]
---------------------------------------------------------------------
E 2.9n1, SBN 22
1. Xem CHÚ THÍCH [A].
E 2.9n1. 1, SBN 22
Có lẽ rất có khả năng
rằng những người phủ nhận những ý niệm bẩm sinh thực ra không có ý gì hơn là nói
rằng mọi ý niệm đều là bản sao của những ấn tượng của chúng ta; mặc dù phải thừa
nhận rằng những thuật ngữ mà họ dùng đã không được lựa chọn với sự thận trọng cần
thiết, cũng không được định nghĩa một cách chính xác đến mức có thể ngăn ngừa mọi
sự hiểu lầm liên quan đến học thuyết của họ. Vì “bẩm sinh” (innate) có nghĩa là
gì? Nếu “bẩm sinh” tương đương với “tự nhiên” (natural), thì tất cả những tri giác
và ý niệm của não thức đều phải được thừa nhận là bẩm sinh hay tự nhiên, theo bất
kỳ nghĩa nào mà ta hiểu từ “tự nhiên” — dù hiểu nó như đối lập với cái hiếm gặp,
nhân tạo, hay kỳ diệu. Nếu “bẩm sinh” được hiểu là đồng thời với lúc chúng ta sinh
ra, thì cuộc tranh luận này dường như hoàn toàn vun vặt vô bổ; và cũng không đáng để truy cứu xem suy
nghĩ bắt đầu vào lúc nào — trước khi sinh, ngay lúc sinh, hay sau khi sinh. Hơn
nữa, từ “ý niệm” (idea) dường như thường được John Locke và những người khác dùng
theo một nghĩa rất lỏng lẻo, như để chỉ bất kỳ tri giác nào của chúng ta — cả
những cảm giác, những đam mê, cũng như những tư tưởng. Vậy thì, theo nghĩa ấy, tôi
muốn biết: người ta có thể có ý gì khi khẳng định rằng tình yêu bản thân (vị kỷ
/ self-love), sự phẫn nộ trước những tổn hại (resentment of injuries), hay đam mê
giữa hai giới (the passion between the sexes) không phải là bẩm sinh? [7]
E 2.9n1. 2, SBN 22
Nhưng nếu chấp nhận những từ ngữ “ấn tượng”
và “ý niệm” theo nghĩa đã giải thích ở trên, và hiểu “bẩm sinh” (innate)
theo nghĩa là cái nguyên thủy, cái không được sao chép từ bất kỳ tri giác nào
trước đó, thì chúng ta có thể khẳng định rằng: tất cả những ấn tượng của chúng
ta đều là bẩm sinh, còn những ý niệm thì không bẩm sinh.
E 2.9n1. 3, SBN 22
Để thành thực, tôi phải nói ra quan điểm của
tôi rằng, Locke đã bị những học giả kinh viện lôi kéo vào vấn đề này; họ là
những người thường dùng những từ ngữ không được định nghĩa rõ ràng, tẻ nhạt kéo
dài những tranh luận của họ, nhưng không bao giờ chạm đến được trọng tâm của
vấn đề. Một sự mơ hồ và lối nói quanh co tương tự dường như cũng bao trùm lên
những lập luận của triết gia này (Locke) về đề tài này cũng như hầu hết những
đề tài khác. [8]
TIẾT III.
Về Sự Liên Kết của những Ý Niệm
E 3.1, SBN 23
Rõ ràng là có một nguyên lý liên kết giữa
những suy nghĩ hay những ý niệm khác nhau của não thức, và khi chúng xuất hiện
trong trí nhớ hay trí tưởng tượng, chúng dẫn dắt lẫn nhau theo một mức độ nhất định về trật tự và quy luật.
Trong những suy nghĩ hay nói viết nghiêm trang
hơn của
chúng ta, điều này dễ thấy đến mức bất kỳ suy nghĩ riêng lẻ nào đột ngột làm đứt
quãng dòng liên tưởng hay chuỗi ý niệm có trật tự, đều lập tức bị nhận ra và
loại bỏ ngay. Và ngay cả trong những mộng tưởng phóng túng nhất và miên man
nhất, hay ngay cả trong chính những giấc mơ của chúng ta, nếu chúng ta suy ngẫm
lại, chúng ta sẽ thấy rằng trí tưởng tượng không hoàn toàn chạy theo ngẫu hứng, nhưng vẫn
giữ một liên kết giữa những ý niệm lần lượt nối tiếp nhau. Ngay cả khi một cuộc
trò chuyện ngẫu hứng và tự do nhất được ghi chép lại nguyên văn, người ta sẽ
nhận ra ngay một gì đó đã liên kết trò chuyện ấy trong suốt tất cả những bước
chuyển tiếp của nó. Hay ở nơi nào thiếu vắng điều này, thì chính người vừa làm
đứt quãng dòng mạch của câu chuyện vẫn có thể cho bạn biết rằng, trong đầu óc
người này đã âm thầm diễn ra một chuỗi suy nghĩ tiếp nối nhau, chính chuỗi suy
nghĩ đó đã dẫn dắt người này dần dần rời xa đề tài của câu chuyện. Giữa những
ngôn ngữ khác nhau, ngay cả ở những nơi mà ta không thể ngờ rằng có một chút
quan hệ hay giao lưu nào, người ta vẫn thấy rằng những từ ngữ dùng để bày tỏ
những ý niệm phức hợp nhất lại gần như tương ứng với nhau. Đây là một bằng
chứng chắc chắn cho thấy rằng: những ý niệm đơn giản, nằm bên trong những ý
niệm phức hợp, đã được một nguyên lý phổ quát nào đó buộc chặt với nhau, một
nguyên lý có sức ảnh hưởng ngang nhau lên toàn bộ loài người. [9]
E 3.2, SBN 24
Mặc dù việc những ý niệm liên kết với nhau là điều
quá hiển nhiên nên không thể không nhận ra, tôi vẫn thấy chưa có triết gia nào thử
liệt kê hay phân loại đầy đủ những nguyên lý của sự liên tưởng này; dẫu vậy, đây
dường như là một đề tài rất đáng để tìm tòi. Theo tôi, chỉ có ba nguyên lý liên kết những ý niệm với
nhau, đó là: Sự Tương đồng, Sự Kế cận (về thời gian hay không gian), và
Quan hệ Nguyên nhân - Kết quả. [10]
E 3.3, SBN 24
Rằng những nguyên
lý này phục vụ để liên kết những ý niệm với nhau, tôi tin rằng sẽ không bị nghi
ngờ nhiều. Một bức tranh tự nhiên dẫn dắt suy nghĩ của chúng ta đến với bản gốc
[2]: Việc nhắc đến một căn phòng trong một tòa nhà tự nhiên khơi gợi sự tìm hiểu
hay thảo luận về những căn phòng khác[3]: Và nếu chúng ta nghĩ đến một vết thương,
chúng ta khó lòng kiềm chế được việc suy ngẫm về sự đau đớn theo sau nó[4]. Nhưng
việc chứng minh rằng liệt kê này là đầy đủ, và rằng không có nguyên lý liên kết
nào khác ngoài những nguyên lý ấy, có thể khó mà làm cho người đọc hài lòng, hay
ngay cả làm cho chính bản thân người ta hài lòng. Trong những trường hợp như vậy,
tất cả những gì chúng ta có thể làm là xem xét qua nhiều thí dụ khác nhau, và cẩn
thận kiểm tra nguyên lý liên kết những tư tưởng khác nhau với nhau, không ngừng
lại cho đến khi chúng ta làm cho nguyên lý ấy trở nên tổng quát nhất có thể[6].
Càng xem xét nhiều thí dụ hơn, và càng dùng sự cẩn trọng nhiều hơn, chúng ta sẽ
càng có được sự đảm bảo lớn hơn rằng sự liệt kê mà chúng ta xây dựng từ toàn bộ
sẽ là đầy đủ và hoàn chỉnh.
---------------------------------------------------------------------
E 3.3n2, SBN 24
2. Sự Giống Nhau.
E 3.3n3, SBN 24
3. Sự Kế Cận.
E3. 3n4
4. Nguyên nhân và Hậu quả.
E 3.3n6, SBN 24
6. Thí dụ, Tương phản hay Đối lập (Contrast or
Contrariety) cũng là một sự liên kết giữa những ý niệm: Nhưng có lẽ người ta có
thể coi nó như một sự pha trộn giữa Nhân quả (Causation) và Sự Giống Nhau.
(Resemblance). Khi hai đối tượng đối lập nhau, một này hủy diệt một kia; nghĩa
là, một này là nguyên nhân khiến một kia bị tiêu vong, và ý niệm về sự tiêu
vong của một đối tượng lại bao hàm ý niệm về sự hiện hữu trước đó của nó.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Hume đang giải thích lý do ông phải tự tạo ra từ ngữ “Impressions”
(Ấn tượng) để chỉ riêng loại tri giác sống động, mạnh mẽ – tức những
kinh nghiệm cảm giác trực tiếp như nghe, thấy, cảm xúc đau, yêu, ghét hay mong
muốn. Theo ông, trong tiếng Anh thời thế kỷ 18 cũng như hầu hết những ngôn ngữ
châu Âu khác (Pháp, Latin, Hy Lạp cổ – những ngôn ngữ ông quen thuộc), không
hiện hữu một từ chung sẵn có để chỉ riêng loại tri giác này. Lý do đơn giản là
trong đời sống hàng ngày, con người không cần phân biệt rõ ràng giữa kinh
nghiệm sống động (impressions) và suy nghĩ mờ nhạt, sao chép (ideas); chỉ khi
làm triết học mới cần một tên gọi chung để phân loại chính xác, nên trước đó
không ai đặt tên riêng cho chúng.
Điều này hoàn toàn hợp lý trong bối cảnh lịch
sử và ngôn ngữ thời Hume. Trước ông, John Locke – người ảnh hưởng lớn nhất đến
Hume – đã dùng từ “ideas” để bao quát toàn bộ nội dung não thức, từ cảm giác
trực tiếp (simple ideas từ giác quan, gần với impressions) đến suy nghĩ trừu
tượng (complex ideas), mà không tách biệt rõ về mức độ “lực lượng” và “sự sống
động”. những triết gia khác như Descartes (tiếng Pháp) hay Aristotle (Hy
Lạp/Latin) cũng không có sự phân biệt chính xác như vậy. Chính vì thiếu tên sẵn
có, Hume mới “tự do” mượn từ “impression” (nghĩa thông thường chỉ “ấn tượng bề
mặt” hay “cảm giác thoáng qua”) và dùng với ý nghĩa mới – điều này chính là
bằng chứng cho nhận xét của ông.
Sự sáng tạo này là một phần quan trọng của
thuyết duy nghiệm triệt để mà Hume theo đuổi: ông xây dựng dụng cụ ngôn ngữ mới
để phân tích nguồn gốc tri thức, khẳng định tất cả những ý niệm đều bắt nguồn
từ ấn tượng trực tiếp, và sự phân biệt này là đóng góp độc đáo của ông trong
triết học Tây phương thời bấy giờ.
Tuy nhiên, một số học giả hiện đại cho rằng
Hume có phần “quá tự tin” khi nói “hầu hết những ngôn ngữ khác”, vì trong một
số ngôn ngữ cổ ngoài châu Âu – chẳng hạn Sanskrit trong triết học India – đã
hiện hữu phân biệt tương tự: pratyaksha (cảm giác trực tiếp, kinh nghiệm
giác quan) đối lập với anumana (suy luận, tri thức gián tiếp). Còn trong
triết học nước Tàu thời cổ (tiếng Hán), không có sự phân biệt rõ ràng, chặt chẽ
và có hệ thống như Hume. những nhà tư tưởng như Tuân Tử, Trang Tử, Lão Tử hay
Mạnh Tử thường nhấn mạnh sự thống nhất giữa cảm giác, não thức, hành vi và Đạo,
thay vì tách riêng “những gì kinh nghiệm trực tiếp” và “những gì suy nghĩ trừu
tượng”. Nhận thức ở đây mang tính trực giác, toàn diện và thực tiễn hơn là phân
tích nhị nguyên logic. Do đó, nhận xét của Hume vẫn hợp lý và chính xác trong
ngữ cảnh triết học Tây phương và những ngôn ngữ châu Âu cổ điển mà ông dựa vào.
[2] Trong nhận thức học của David Hume, cặp khái niệm Ấn tượng (impressions)
và Ý niệm (ideas) giữ vai trò nền tảng. Hume trình bày sự phân
biệt này một cách hệ thống trong A Treatise of Human Nature và, với văn
phong chặt chẽ hơn, trong An Enquiry Concerning Human Understanding.
Toàn bộ dự án thực nghiệm và hoài nghi của Hume – từ nhận thức luận đến phê
phán siêu hình học – đều dựa trên sự phân biệt cơ bản này.
Hume cho rằng tất cả những tri giác của não
thức (perceptions of the mind) đều có thể quy về hai loại duy nhất, khác
nhau không phải về bản chất mà về mức độ lực lượng và sự sống động (force
and vivacity). Thứ nhất là Ấn tượng (impressions): những tri giác
trực tiếp, mạnh mẽ và sống động nhất mà não thức tiếp nhận. Chúng bao gồm hai
nhóm chính. Ấn tượng của giác quan phát sinh từ tiếp xúc trực tiếp với
thế giới – như cảm giác đau, màu sắc, âm thanh, hay nhiệt độ. Ấn tượng của
phản tỉnh nảy sinh từ hoạt động nội tâm – như cảm xúc, đam mê, ham muốn, sợ
hãi, yêu ghét, và những hành vi ý chí. Dù thuộc loại nào, ấn tượng đều có tính
hiện diện tức thời và sức tác động mạnh, đến mức chúng không thể bị nhầm lẫn
với tưởng tượng thông thường.
Đối lập với ấn tượng là Ý niệm (ideas),
mà Hume mô tả như những bản sao mờ nhạt của ấn tượng. Ý niệm xuất hiện khi ta
nhớ lại, suy nghĩ, hay tưởng tượng về một kinh nghiệm đã có: nhớ lại cơn đau
khác với việc đang bị đau; tưởng tượng một “ngọn núi vàng” là kết quả của việc
ghép những ý niệm rút ra từ những ấn tượng khác nhau (núi và vàng). Ý niệm kém
sống động hơn ấn tượng và hoàn toàn phụ thuộc vào chúng. Từ đây, Hume đưa ra
nguyên tắc sao chép (Copy Principle): tất cả những ý niệm đơn giản
đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng đơn giản tương ứng. Não thức con người
không sáng tạo ex nihilo; nó chỉ có thể kết hợp, hoán đổi, phóng đại hay
thu nhỏ những gì đã được cung cấp bởi kinh nghiệm.
Chính nguyên tắc này làm nên tính triệt để của
thuyết duy nghiệm của Hume. Bất kỳ khái niệm nào không thể truy ngược về một ấn
tượng tương ứng đều bị xem là rỗng nghĩa hay giả tạo. Hệ quả là nhiều khái niệm
trung tâm của siêu hình học truyền thống – như bản ngã, tất yếu nhân quả, hay
thực thể siêu nghiệm – bị đặt vào vòng nghi vấn.
So với John Locke, người thường được xem là
cha đẻ của thuyết duy nghiệm Anh, Hume tiến xa hơn và triệt để hơn. Locke cũng
cho rằng tất cả những nội dung của não thức đều là ideas, bắt nguồn từ
cảm giác (sensation) và phản tỉnh (reflection), nhưng ông không
phân biệt rạch ròi giữa cảm giác trực tiếp và trí nhớ hay tưởng tượng về cảm
giác đó. Hơn nữa, Locke vẫn cho phép rằng một số ý niệm phức hợp – chẳng hạn ý
niệm về Gót – có thể được xây dựng mà không cần một ấn tượng trực tiếp rõ ràng.
Hume, trái lại, áp dụng nguyên tắc sao chép một cách nghiêm ngặt và bác bỏ tất
cả những “ngoại lệ thuận tiện” như vậy. Đồng thời, Hume cũng từ bỏ thuyết hiện
thực ngây thơ còn sót lại nơi Locke: ấn tượng không bảo đảm phản ảnh trung thực
bản chất của thế giới bên ngoài; chúng chỉ là dữ liệu của ý thức.
Ảnh hưởng của học thuyết ấn tượng–ý niệm đạt
đến cao trào trong phản ứng của Immanuel Kant. Kant thừa nhận rằng chính Hume
đã “đánh thức ông khỏi giấc ngủ giáo điều”, đặc biệt qua sự hoài nghi về nhân
quả. Tuy nhiên, Kant cho rằng Hume đã đi quá xa khi xem não thức như một tấm
bảng thụ động. Theo Kant, dữ liệu giác quan (gần với ấn tượng của Hume) chỉ trở
thành kinh nghiệm khi đã được tổ chức bởi những hình thức tiên nghiệm của trực
quan (không gian và thời gian) và những phạm trù của giác tính (như nhân quả,
thực thể, tất yếu). Nhờ đó, Kant vừa chấp nhận phê phán của Hume với siêu hình
học giáo điều, vừa “cứu” được tính tất yếu của khoa học tự nhiên ở cấp độ hiện
tượng.
Tóm lại, học thuyết Ấn tượng và Ý niệm của
Hume đặt nền móng cho một thuyết duy nghiệm triệt để: tất cả những nội dung của
tư duy đều bắt nguồn từ kinh nghiệm sống động, và não thức không có cấu trúc
tiên nghiệm độc lập. Chính lập trường này dẫn Hume đến hoài nghi sâu xa về nhân
quả, bản ngã và siêu hình học. Kant, trong khi chấp nhận thách thức của Hume,
đã xây dựng một con đường trung gian: giới hạn tri thức vào hiện tượng, nhưng
trao cho não thức vai trò chủ động trong việc cấu trúc kinh nghiệm.
[3] David Hume (duy nghiệm) giải thích ý niệm về Gót như một tiến trình suy luận lý
trí: con người lấy những phẩm chất tốt đẹp nhất của mình (như trí tuệ, năng lực, lòng nhân từ…),
rồi tăng chúng lên vô hạn (augmenting without limit) để hình thành khái niệm về một
Đấng tối cao. Theo cách nhìn này, ý niệm Gót là sản phẩm của tư duy logic cộng
dồn. Ngược lại, Sigmund Freud tiếp cận tôn giáo từ góc độ tâm lý học chiều sâu.
Trong Tương lai của một ảo tưởng (The Future of an Illusion), Freud cho
rằng Gót không phải là kết quả của suy luận lý trí, mà là một ảo tưởng bảo vệ
(protective illusion) do chính não thức con người tạo ra. Cụ thể, con người cảm
thấy bất lực và sợ hãi trước những thế lực tự nhiên (thiên tai, bệnh tật, cái
chết…). Để đối phó với nỗi sợ hãi hiện sinh này, họ chuyển dịch (transference)
hình ảnh người cha bảo bọc, che chở thời thơ ấu lên một bình diện vũ trụ, biến
thành một đấng toàn năng, toàn trí, toàn thiện. Như vậy: Hume xem ý niệm Gót là
kết quả của một phép tính lý trí (cộng dồn những phẩm chất đến mức vô
hạn).Freud xem đó là một cơ chế phòng vệ tâm lý, một “liều thuốc giảm đau” giúp
con người chịu đựng được nỗi lo âu trước sự mong manh và vô nghĩa của kiếp
người. Tóm lại, nếu Hume nhìn tôn giáo như một sản phẩm của lý trí, thì Freud
nhìn nó như một giải pháp cảm xúc cho nỗi sợ hãi sâu thẳm của con người.
[4] Trong thời đại của David Hume (thế kỷ 18), rượu
vang là thức uống chưa được biết đến với hầu hết cư dân vùng cực Bắc (Laplander
– tức người Sámi ở Lapland, Bắc Scandinavia) và với nhiều dân tộc châu Phi vùng
cận Sahara (ở đây Hume dùng từ “Negroe” theo cách gọi thông dụng thời bấy giờ).
Những cộng đồng này không có truyền thống trồng nho, sản xuất hay tiêu thụ rượu
vang, do đó họ chưa từng kinh nghiệm cảm giác vị giác đặc trưng của nó. Hume
dùng ví dụ này để minh họa rằng: nếu một đối tượng cảm giác chưa từng tác động
lên giác quan của ta, thì ta không thể có được ý niệm chân thực về nó. Mặc
dù ví dụ phản ánh góc nhìn Âu-châu trung tâm của thời đại, nguyên tắc triết học
vẫn có giá trị
[5] Hume đưa ra một thí nghiệm tư tưởng giản dị nhưng cực kỳ sâu xa, được
gọi là “màu xanh bị thiếu”. Điều đặc biệt là chính Hume – người xây dựng nguyên
tắc cốt lõi – lại tự mình chỉ ra một ngoại lệ dường như làm lung lay toàn bộ
học thuyết của ông. Đây là một trong những khoảnh khắc trung thực trí thức hiếm
có nhất trong lịch sử triết học. Nguyên tắc cốt lõi: Tất cả những ý niệm đều là
bản sao của ấn tượng, Hume khẳng định:”Tất cả những ý niệm đơn giản đều bắt
nguồn từ một ấn tượng tương ứng (Copy Principle). “ Ấn tượng là những kinh
nghiệm sống động, trực tiếp qua giác quan: màu đỏ chói của hoa hồng, tiếng sấm
vang trời, cảm giác nóng bỏng của lửa. Ý niệm là những bản sao mờ nhạt hơn,
xuất hiện khi ta nhớ lại hay tưởng tượng.
Theo Hume, không có ấn tượng thì không thể có
ý niệm chân thực. Người mù bẩm sinh không thể hình dung màu sắc, người điếc
không thể tưởng tượng âm thanh, người chưa từng nếm rượu vang không thể biết vị
của nó. Đây là nền tảng của chủ nghĩa kinh nghiệm luận triệt để.
Thí nghiệm tư tưởng: Người chưa từng thấy một
màu xanh cụ thể
Hume mời chúng ta tưởng tượng một người đã
sống 30 năm với thị giác hoàn hảo, đã quen thuộc với tất cả những màu sắc trên
đời… trừ đúng một sắc độ xanh lam cụ thể (gọi tạm là xanh #47). Bây giờ, ta
trải ra trước mặt người này một dải màu xanh lam liên tục, từ đậm nhất đến nhạt
nhất, nhưng thiếu đúng màu xanh #47. Kết quả mà Hume dự đoán: Người này lập tức
nhận ra một khoảng trống rõ ràng. Người này cảm thấy khoảng cách giữa hai sắc
độ liền kề chỗ thiếu lớn hơn bình thường. Người này biết chắc chắn rằng “phải
có một sắc độ nào đó nằm giữa hai màu này”. Câu hỏi quyết định: Liệu người này
có thể, chỉ bằng trí tưởng tượng, tự “vẽ” ra trong não thức chính xác màu xanh
#47 mà người này chưa từng thấy bao giờ? Hume trả lời thẳng thắn: Có. Hầu hết
tất cả những người sẽ đồng ý rằng người này có thể làm được.
Não thức có thể nội suy (interpolate), dựa vào
những sắc độ xung quanh để “lấp đầy” chỗ trống, giống như ta có thể tưởng tượng
một nốt nhạc nằm giữa hai nốt đã biết.
Tại sao đây là ngoại lệ nghiêm trọng? Vì nó vi
phạm trực tiếp nguyên tắc Copy: Không có ấn tượng về xanh #47.
Nhưng vẫn có thể hình thành ý niệm về xanh
#47. → Đây là một ý niệm đơn giản không bắt nguồn từ ấn tượng tương ứng. Hume
thừa nhận đây là ngoại lệ thực sự, nhưng ông lập tức cố gắng “giảm nhiệt”:
Trường hợp này quá đặc biệt, quá hiếm hoi. Gần như không đáng để chúng ta chú
ý. Một ngoại lệ đơn lẻ không đủ để thay đổi nguyên tắc tổng quát đúng trong
hàng ngàn trường hợp khác. Tại sao Hume lại tự “tố cáo” học thuyết của mình? Có
nhiều giải thích: Ông muốn thể hiện sự trung thực tuyệt đối của một triết gia nghiêm
túc. Ông tin rằng học thuyết của mình đủ mạnh để chịu được một vết nứt nhỏ. Ông
cố tình để lại một “bài toán mở” cho hậu thế. Hay đơn giản là ông chưa nhận ra
hết mức độ nguy hiểm của ngoại lệ này.
Những phản ứng qua lịch sử triết học
Bảo vệ Hume: Khả năng nội suy vẫn dựa trên
kinh nghiệm với những sắc độ khác → không phải sáng tạo từ hư vô.
Sắc xanh #47 không thực sự là ý niệm đơn giản
hoàn toàn độc lập, mà là một điểm trong “không gian màu sắc” đã được học từ
kinh nghiệm. Đây là ngoại lệ cực đoan, không đại diện cho hoạt động não thức
thông thường.
Phê phán Hume; Một mệnh đề phổ quát (“tất cả
những ý niệm đều…”) chỉ cần một phản ví dụ là đã bị bác bỏ. Ngoại lệ này chứng
tỏ não thức không chỉ sao chép thụ động, mà có khả năng sáng tạo chủ động –
tiền đề cho triết học Kant sau này. Nếu có ngoại lệ ở màu sắc, rất có thể có ở
âm thanh, mùi vị, cảm xúc… Cánh cửa đã mở.
Góc nhìn khoa học nhận thức hiện đại: Não bộ
thực sự nội suy màu sắc liên tục (màn hình chỉ phát 3 màu cơ bản RGB nhưng ta
thấy hàng triệu màu). Đây là cơ chế tiến hóa giúp nhận biết môi trường hiệu
quả. Khả năng “lấp chỗ trống” vẫn là kết quả của kinh nghiệm tích lũy, không
phải tri thức bẩm sinh.
Ý nghĩa sâu xa: “Sắc xanh bị thiếu” không chỉ
là một ngoại lệ nhỏ. Nó khơi dậy những câu hỏi lớn: Não thức chỉ tiếp nhận thụ
động hay cũng chủ động kiến tạo? Ý niệm màu sắc là những “nguyên tử” đơn giản
hay là những điểm trong một cấu trúc liên hệ? Giới hạn thực sự của kinh nghiệm
cảm giác nằm ở đâu? Một ngoại lệ có đủ để lật đổ một quy luật phổ quát hay
không?
Kết luận: “Missing shade of blue” là một trong
những đoạn văn bí ẩn và đẹp đẽ nhất của Hume. Nó thể hiện sự khiêm nhường trí
thức của một triết gia sẵn sàng chỉ ra điểm yếu trong chính học thuyết của
mình. Dù Hume cố gắng coi nó là “không đáng kể”, ngoại lệ này vẫn để lại một
vết nứt nhỏ nhưng dai dẳng – một vết nứt đủ để khiến chúng ta, 300 năm sau, vẫn
phải dừng lại và tự hỏi:Não thức con người thực sự có thể tưởng tượng ra điều
gì mà nó chưa từng kinh nghiệm? Và nếu có thể, điều đó nói gì về bản chất của
sự hiểu biết? Có lẽ giá trị lớn nhất của “màu xanh bị thiếu” không nằm ở câu
trả lời, mà ở những câu hỏi nó khơi dậy – và đó chính là dấu ấn của triết học
đích thực.
[6] Lưỡi Dao của Hume: Phương Pháp Thanh Lọc Triết Học
David Hume bước vào triết học không với một hệ
thống đồ sộ, mà với một dụng cụ duy nhất: một tiêu chuẩn nghiêm khắc để phân
biệt giữa ý niệm có nội dung và từ ngữ rỗng. Trước bất kỳ khái niệm triết học
nào—bản thể, tất yếu, tự do tuyệt đối, hồn người, hay Gót—Hume chỉ đặt một câu
hỏi: Ý niệm này bắt nguồn từ ấn tượng cảm giác nào? Nếu không thể chỉ ra nguồn
gốc ấy, khái niệm không đơn giản là “chưa được chứng minh”, nhưng là vô nghĩa:
nó không quy chiếu đến bất kỳ nội dung nào trong kinh nghiệm con người. Đó
không phải là sai lầm lý thuyết, nhưng là sự trống rỗng ngôn ngữ. Nền tảng của
phương pháp này là nguyên tắc nổi tiếng của Hume: tất cả những ý niệm đều là
bản sao mờ nhạt của ấn tượng. Ấn tượng là những kinh nghiệm trực tiếp—màu sắc,
âm thanh, khoái lạc, đau đớn, sợ hãi, ham muốn. Ý niệm chỉ là sự hồi tưởng, kết
hợp, hay làm mờ những gì đã từng được cảm xúc. Không có ấn tượng gốc, không thể
có ý niệm thực sự; chỉ còn lại từ ngữ không có nội dung.
Khi áp dụng “lưỡi dao” này, nhiều khái niệm
trung tâm của siêu hình học truyền thống bị cắt bỏ. Ta không có ấn tượng nào về
“bản thể” nằm dưới những thuộc tính; ta chỉ cảm xúc những thuộc tính. Ta không
tri giác “liên kết tất yếu” trong quan hệ nhân quả; ta chỉ thấy sự kế tiếp
thường xuyên và hình thành thói quen mong đợi. Khi nhìn vào chính mình, ta
không bắt gặp một “hồn người” đơn nhất, bất biến, mà chỉ thấy một dòng chảy
liên tục của tri giác. Ngay cả ý niệm về Gót, theo Hume, cũng được hình thành bằng
cách phóng đại những năng lực hữu hạn của con người, chứ không phải từ một tri
giác trực tiếp về một hữu thể siêu việt. Tuy nhiên, Hume không phủ nhận tư duy
trừu tượng. Ông chỉ yêu cầu trách nhiệm nhận thức. Những khái niệm như công lý,
đạo đức, hay thậm chí toán học vẫn hợp pháp, miễn là ta có thể truy nguyên
chúng về kinh nghiệm—về cảm xúc đạo đức, về thực hành đếm và so sánh, hay về
những liên hệ ý niệm. Điều Hume bác bỏ không phải là trừu tượng, nhưng là trừu
tượng tách rời hoàn toàn khỏi đời sống cảm nghiệm.
Mục tiêu của phương pháp này không phải phá
hủy triết học, nhưng là thanh lọc nó. Trong nhiều thế kỷ, triết học đã tiêu tốn
năng lượng khổng lồ để tranh luận về những khái niệm không bao giờ xuất hiện
trong kinh nghiệm. Khi tất cả những ý niệm buộc phải “xuất trình giấy khai
sinh”, những tranh cãi ngôn từ rỗng tuếch tan biến, và triết học quay lại với
những gì con người thực sự sống qua: cảm xúc, tin tưởng, thói quen, sợ hãi, và
hy vọng. Hệ quả của Hume là sâu rộng. Siêu hình học mất đi tham vọng tiếp cận “thực
tại tối hậu” nằm ngoài kinh nghiệm. Nhận thức luận chuyển trọng tâm từ bản chất
thế giới sang giới hạn của hiểu biết con người. Đạo đức được đặt nền trên cảm
xúc và sự đồng cảm, không phải lý tính thuần túy. Và khoa học thực nghiệm trở
thành mô hình cho tri thức nghiêm túc: không quan sát, không giả thuyết kiểm
chứng, không có chân lý.
Ba thế kỷ sau, lưỡi dao của Hume vẫn chưa cùn.
Trước những diễn ngôn hiện đại về “ý thức cao hơn”, “bản ngã chân thật”, hay
“thực tại tối hậu”, câu hỏi của ông vẫn vang lên với sự lạnh lùng không khoan
nhượng: bạn đang nói về điều gì, và nó thực sự bắt nguồn từ đâu? Nếu không chỉ
ra được kinh nghiệm gốc, đó có thể là thơ, là tin tưởng, hay là hy vọng—nhưng
không phải là tri thức. Lưỡi dao của Hume không giải quyết tất cả những vấn đề.
Nó không trao cho ta ý nghĩa cuộc sống hay một hệ thống siêu hình hoàn chỉnh.
Nhưng nó buộc ta phải trung thực: trung thực về những gì ta biết, những gì ta
chỉ tin, và những gì ta hoàn toàn không có cơ sở để nói đến.
[7] Ở đây David Hume cũng ngầm phê bình cách dùng thuật ngữ của John
Locke. Trong tác phẩm Essay Concerning Human Understanding, Locke thường dùng
từ “idea” theo một nghĩa rất rộng, để chỉ bất kỳ nội dung nào của não thức: từ
những cảm giác (sensations), những đam mê hay xúc động (passions), cho đến
những tư tưởng (thoughts). Vì vậy, “idea” trong Locke gần như đồng nghĩa với
tất cả những tri giác của não thức.
Hume cho rằng cách dùng này quá lỏng lẻo, vì
nó gom những hiện tượng tâm lý rất khác nhau vào cùng một loại. Do đó ông đề
nghị một sự phân biệt chặt chẽ hơn: tất cả những tri giác (perceptions) của não
thức phải được chia thành hai loại cơ bản, impressions (ấn tượng) và ideas (ý
niệm). Impressions là những tri giác mạnh mẽ và sống động – như cảm giác, xúc
cảm, hay những đam mê trực tiếp; còn ideas chỉ là những bản sao yếu hơn của
những impressions trong tư tưởng và trí nhớ. Nhờ sự phân biệt này, Hume có thể
phát biểu nguyên lý trung tâm của mình rằng tất cả những ý niệm đều bắt nguồn
từ những ấn tượng tương ứng.
[8] David Hume đang hướng sự phê phán trực tiếp đến John Locke – tác giả An
Essay Concerning Human Understanding (1690). Locke là người đã đặt nền móng
cho thuyết Duy nghiệm hiện đại bằng bác bỏ thuyết “ý niệm bẩm sinh” (innate
ideas) của Descartes, khẳng định rằng khi sinh ra, não thức con người giống như
một “tấm bảng trắng” (tabula rasa), và tất cả những hiểu biết của chúng ta đều
được lấp đầy qua kinh nghiệm. Mặc dù Hume hoàn toàn đồng tình với Locke về mặt
nội dung – tức là thừa nhận tất cả những kiến thức đều bắt nguồn từ kinh nghiệm
– nhưng ông lại tỏ ra không hài lòng với phương pháp luận và cách dùng ngôn ngữ
của Locke. Hume cho rằng Locke vẫn còn vướng bận quá nhiều ảnh hưởng từ những
“nhà kinh viện” (Schoolmen). Đây là những học giả thời Trung cổ (như Thomas
Aquinas hay Duns Scotus) vốn nổi tiếng với lối tranh luận dài dòng, dùng những
thuật ngữ trừu tượng nhưng mơ hồ như “thực thể” (substance), “hình thức” (form)
hay “bản chất” mà không đưa ra được định nghĩa chặt chẽ hay bằng chứng thực
nghiệm. Theo Hume, chính lối dùng từ lỏng lẻo được kế thừa từ truyền thống kinh
viện đã “lừa” Locke sa vào những cuộc tranh luận vô ích, khiến lập luận của ông
trở nên vòng vo và mơ hồ (ambiguity and circumlocution). Hume tự coi mình là
người thực hiện cuộc “thanh lọc” ngôn ngữ triết học. Ông muốn lược bỏ những sự
nhạt nhẽo, dài dòng để xây dựng một hệ thống tri thức sắc bén và minh bạch hơn,
nơi tất cả những ý niệm phải được truy xuất về từ những ấn tượng cảm giác cụ
thể. Qua phê phán lịch sự nhưng thẳng thắn này, Hume không chỉ bảo vệ học
thuyết của mình mà còn thiết lập một tiêu chuẩn mới cho triết học hiện đại:
Triết học không được là những lời nói suông, mà phải là một khoa học chính xác
về bản chất con người, dùng ngôn ngữ rõ ràng và luôn bám sát vào thực tế kinh
nghiệm.
Dù cùng khởi nguồn từ kinh nghiệm, Hume đã đẩy
tư tưởng của Locke đi xa hơn và triệt để hơn: Về ngôn ngữ: Locke dùng từ “Ý
niệm” (Idea) một cách tổng quát cho tất cả những hoạt động não thức. Hume phân
tách rạch ròi thành Ấn tượng (Impressions - cảm giác trực tiếp, mạnh mẽ)
và Ý niệm (Ideas - trí nhớ yếu ớt về ấn tượng). Với Hume, cái gì không
thể truy xuất về “Ấn tượng” thì cái đó vô nghĩa. Về bản chất sự vật: Locke vẫn
tin rằng có một “thực thể” (substance) ẩn giấu đằng sau những thuộc tính của
vật chất. Hume thẳng tay bác bỏ điều này, cho rằng đó là sản phẩm của trí tưởng
tượng; chúng ta chỉ biết được những thuộc tính (màu sắc, hình dáng, mùi vị) chứ
không bao giờ biết được “thực thể” đó là gì. Về phương pháp: Locke thiên về
quan sát và mô tả, đôi khi còn nặng tính giáo điều kinh viện. Hume hướng tới
việc xây dựng những định luật vận hành của não thức (như 3 nguyên lý liên
tưởng) với tham vọng trở thành “Newton của ngành khoa học tâm lý”. Tóm lại: Nếu
Locke là người mở cánh cửa vào thế giới kinh nghiệm, thì Hume là người đã quét
sạch những “lớp bụi” mơ hồ còn sót lại để biến nó thành một hệ thống logic khắt
khe.
[9] Những từ ngữ diễn tả những ý niệm phức hợp nhất” (words expressive of
ideas, the most compounded) là những từ biểu đạt khái niệm phức tạp được tạo
thành từ nhiều ý niệm đơn giản, không phải ý niệm cơ bản (như màu sắc, cảm
giác). Hume quan sát rằng ngay cả giữa những ngôn ngữ hoàn toàn không liên hệ,
những từ này vẫn gần như tương ứng về ý nghĩa và cấu trúc—chứng tỏ não thức con
người liên kết ý niệm theo cùng ba nguyên tắc phổ quát: tương đồng
(resemblance), gần gũi (contiguity), và nhân quả (cause/effect).
Ví dụ điển hình: “mẹ/mother/mama/māma” (người
nữ + sinh sản + nuôi dưỡng + xúc cảm); “thần/God/deity” (sáng tạo + toàn năng +
toàn tri); “nhà/house” (tổng hợp những phòng). Sự tương đồng xuyên văn hóa này
là “bằng chứng chắc chắn” cho quy luật liên tưởng phổ quát của loài người,
không phụ thuộc lịch sử hay địa lý.
[10] Hume nhận ra một sự thật hiển nhiên mà ai cũng thấy: những ý niệm
trong đầu ta không xuất hiện ngẫu nhiên mà luôn “kéo theo” nhau theo một cách
có trật tự. Tuy nhiên, trước Hume, chưa ai hệ thống hóa vấn đề này một cách
nghiêm túc. Ông là người đầu tiên dám tuyên bố: chỉ có ba nguyên lý cơ bản chi
phối tất cả những sự liên tưởng ý niệm trong não thức con người: Tương đồng
→ thấy cái giống → nghĩ đến cái giống (ví dụ: thấy ảnh chó → nhớ đến con chó
thật). Gần gũi (thời gian hay không gian) → một này thường đi liền một
kia (ví dụ: nghĩ đến nhà bếp → nghĩ đến tủ lạnh). Nguyên nhân – Kết quả
→ nghĩ đến nguyên nhân → nghĩ đến hậu quả, hay ngược lại (ví dụ: nghĩ đến lửa →
nghĩ đến bỏng). Hume khiêm tốn thừa nhận: “Tôi thấy chỉ có ba”, nhưng ông mời
gọi người đọc tự kiểm chứng qua tất cả những ví dụ trong đời sống. Nếu không
tìm ra nguyên lý thứ tư nào khác sau khi xem xét kỹ lưỡng, thì ba một này chính
là cơ chế phổ quát của não thức con người. Đây là một trong những đóng góp vĩ
đại nhất của Hume: ông biến sự liên tưởng ý niệm – một hiện tượng tâm lý thông
thường – thành ba quy luật nền tảng, đặt nền móng cho tâm lý học hiện đại,
triết học ngôn ngữ, và cả khoa học nhận thức sau này. Ba trăm năm sau, khi
chúng ta nói về “associative thinking”, “neural networks”, hay “pattern
recognition” trong não bộ, chúng ta vẫn đang đi trên con đường Hume đã vạch ra.
