Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con
Người
(An
Enquiry concerning Human Understanding)
David
Hume
TIẾT II.
Về Nguồn Gốc Của Những Ý Tưởng.
E 2. 1, SBN 17
Mọi người đều sẽ dễ dàng nhìn nhận, rằng có một khác biệt
đáng kể giữa những tri giác của não thức, khi một người cảm thấy đau đớn vì nhiệt độ quá nóng,
hay dễ chịu vì nhiệt độ ấm áp vừa phải, và sau đó khi người này nhớ lại cảm giác ấy bằng ký ức, hay hình dung ra nó bằng tưởng tượng.
Những khả năng này có thể bắt chước hay sao chép những tri giác của giác quan;
nhưng chúng không bao giờ hoàn toàn đạt được sức mạnh và sự sống động của cảm
giác gốc. Điều cao nhất chúng ta có thể nói về chúng, ngay cả khi chúng hoạt động
với sức mạnh lớn nhất, chỉ là chúng tái hiện đối tượng của chúng một cách sống động đến
mức chúng ta gần như có thể nói rằng chúng ta cảm nhận hay nhìn thấy chúng:
Nhưng trừ khi não thức bị rối loạn bởi bệnh tật hay điên cuồng, chúng không bao giờ có thể đạt đến mức
độ sinh động đến nỗi chúng hoàn toàn không thể phân biệt được với những tri giác thật. Tất cả
những màu sắc rực rỡ của thi ca, dù lộng lẫy đến đâu, cũng không bao giờ vẽ nên
những vật thể tự nhiên theo cách khiến mô tả được nhầm lẫn với một cảnh quan
thực sự. Ý nghĩ sống động nhất vẫn vẫn thua kém cảm giác trơ nhạt nhất
E 2. 2, SBN 17-8
Chúng ta có
thể quan sát được một sự phân biệt giống thế chạy qua tất cả những tri
giác khác của não thức. Một người đang nổi cơn giận sẽ bị thúc đẩy hành động
theo một cách cách rất khác so với người chỉ nghĩ về cảm xúc đó. Nếu bạn bảo
tôi rằng một người nào đó đang yêu, tôi dễ dàng hiểu ý bạn, và hình thành một
khái niệm chính xác về tình trạng của người này; nhưng không bao giờ có thể nhầm lẫn khái niệm
ấy với những rối loạn và xao động thực của đam mê. Khi chúng ta tự suy ngẫm về những
tình cảm và cảm xúc trong quá khứ của chúng ta, ý nghĩ của chúng ta là một tấm gương trung thực, và sao chép những đối tượng của nó một
cách chân thực; nhưng những màu sắc vốn nó dùng đều nhạt nhòa và mờ đục, so với những gì vốn những tri giác
ban đầu của chúng ta đã khoác lên. Không cần khả năng phân biệt tinh tế hay đầu óc siêu hình
nào để nhận ra sự khác biệt giữa chúng. [1]
E 2. 3, SBN 18
Vì vậy, ở đây chúng ta có thể phân chia tất cả
những tri giác của não thức thành thành hai lớp hay loại, được phân biệt bởi mức độ sức mạnh và sự sống động khác nhau của chúng.
Loại kém mạnh mẽ và ít sống động
hơn thường được gọi là những Ý nghĩ hay Ý niệm. Loại kia thì thiếu một
tên gọi trong
ngôn ngữ của chúng ta, và trong hầu hết những ngôn ngữ khác; tôi cho rằng là vì
nó không
cần thiết cho bất kỳ mục đích nào ngoài mục đích triết học, nên phải xếp chúng
dưới một từ chung hay tên gọi chung. Vì thế, chúng ta hãy tự do một chút, và gọi
chúng là Ấn tượng; dùng từ này với một ý nghĩa hơi khác so với cách dùng
thông thường. Vậy thì, bằng từ ngữ Ấn tượng, tôi muốn chỉ tất cả những
tri giác sống động hơn của chúng ta, khi chúng ta nghe, hay thấy, hay cảm nhận,
hay yêu, hay ghét, hay mong muốn, hay quyết định. Và Ấn tượng được phân biệt với
Ý niệm, vốn là những tri giác ít sống động hơn, mà chúng ta ý thức được khi
chúng ta phản tỉnh về bất kỳ cảm giác hay chuyển động nào đã đề cập ở trên. [2]
E 2. 4, SBN 18
Thoạt nhìn, không có gì dường như không bị
ràng buộc hơn tư tưởng của con người - vốn nó không chỉ thoát khỏi mọi năng lực cưỡng bức và quyền uy chi phối của loài người, còn không bị cầm giữ trong những giới
hạn của tự nhiên và thực tại. Để hình thành những quái vật
kỳ dị và ghép nối những hình thù và diện
mạo không thuận hợp, chỉ đòi hỏi công sức của trí tưởng tượng không nhiều hơn việc hình dung ra những vật thể tự nhiên và quen thuộc nhất. Và trong khi cơ thể bị giới hạn trong một hành tinh, nơi nó phải lê lết trong đau đớn và khó khăn, thì tư tưởng có thể ngay lập tức đưa chúng ta đến những vùng xa xôi
nhất của vũ trụ; hay ngay cả vượt ngoài vũ trụ, vào vùng hỗn mang vô biên, nơi
thiên nhiên được cho là chìm trong sự hỗn loạn toàn diện. Những gì chưa từng
thấy hay nghe đến, vẫn có thể được hình dung; và chẳng có gì vượt ra ngoài khả
năng của tư tưởng, ngoại trừ những gì hàm ngụ một mâu thuẫn tuyệt đối.
E 2. 5, SBN 19
Nhưng dù ý nghĩ của chúng ta dường như sở hữu sự tự do vô biên này, khi xem xét kỹ hơn, chúng ta
sẽ thấy rằng nó thực sự bị giới hạn trong những giới hạn rất hẹp, và tất cả sức
mạnh sáng tạo này của não thức chẳng qua chỉ là khả năng khả
năng kết hợp, hoán đổi, phóng đại, hoặc thu nhỏ những
chất liệu
vốn những giác
quan và kinh nghiệm đã cung
cấp cho chúng ta. Khi nghĩ đến một ngọn núi bằng vàng,
chúng ta chỉ ghép lại hai ý niệm vốn đã quen thuộc và phù hợp với nhau: vàng và
núi. Chúng ta có thể hình dung ra một “con ngựa đức hạnh”; bởi vì từ chính cảm xúc của
bản thân, chúng ta có thể hiểu được đức hạnh, rồi liên kết nó với hình dáng và
cấu trúc của một con ngựa – một loài vật quen thuộc với chúng ta. Tóm lại, tất cả những chất liệu
của suy nghĩ đều bắt nguồn từ từ cảm giác bên ngoài hoặc cảm
xúc bên trong của chúng ta: việc pha trộn
và tổ hợp những chất liệu ấy chỉ thuộc về tâm lý và ý chí mà thôi. Hay để diễn đạt theo ngôn ngữ triết học: tất cả những ý niệm của chúng ta, tức những tri giác yếu ớt hơn, đều
chỉ là bản sao của những ấn tượng, tức những tri giác sống động hơn của chúng ta.
E 2. 6, SBN 19-20
Để chứng minh điều này, tôi hy vọng hai biện luận sau đây sẽ đủ
thuyết phục. Thứ nhất, khi chúng ta phân tích những tư
tưởng hay những ý niệm của chúng ta, dù chúng phức tạp hay cao siêu đến đâu, chúng ta luôn thấy rằng chúng cuối cùng đều phân giải về thành những ý niệm
đơn giản được sao chép từ một cảm giác hoặc cảm xúc trước đó. Ngay cả những ý
niệm thoạt nhìn dường như xa rời nguồn gốc này nhất, khi xem xét kỹ lưỡng hơn,
cũng được tìm thấy là bắt nguồn từ đó. Ý niệm về Gót, với nghĩa là một Hữu thể
toàn trí, toàn năng, toàn thiện, phát sinh từ việc tự suy ngãm trên những khả
năng hoạt động của chính tâm trí chúng ta, rồi phóng đại, không giới hạn, những
phẩm tính của sự tốt lành và sự khôn ngoan. Chúng ta có thể đẩy điều tra này đi xa đến đâu tùy ý; nhưng ở đâu chúng ta cũng
sẽ luôn tìm thấy rằng mọi ý niệm được chúng ta xét đến đều là sao chép từ một ấn tượng
tương tự. Những ai muốn khẳng định rằng luận điểm này không phổ quát và có ngoại lệ, chỉ có một phương pháp, và còn dễ dàng nữa, để bác bỏ nó: bằng đưa ra một ý niệm mà
theo họ, không xuất phát từ nguồn này. Khi đó, trách nhiệm chứng minh sẽ thuộc
về chúng ta, nếu muốn giữ vững học thuyết của chúng ta, phải đưa ra ấn tượng hay
tri giác sống động tương ứng với nó.
E 2. 7, SBN 20
Thứ hai. Nếu do một
khuyết tật của cơ thể, khiến một người không cảm nhận được bất kỳ loại cảm giác nào, chúng ta luôn thấy rằng
người này cũng không thể có được những ý niệm tương ứng. Một người mù không thể
hình thành khái niệm về màu sắc; một người điếc không thể hình thành khái niệm
về âm thanh. Khi khôi phục lại giác quan mà người ấy thiếu hụt – bằng cách mở
ra một lối vào mới cho những cảm giác – thì đồng thời cũng mở ra một lối vào
cho những ý niệm; và người ấy sẽ không gặp khó khăn gì trong việc hình dung những
đối tượng ấy. Trường hợp cũng tương tự nếu đối tượng thích hợp để khơi gợi một cảm
giác nào đó chưa từng được áp dụng cho cơ quan cảm giác. Một người Laplander
hay một người da đen không có khái niệm nào về hương vị của rượu vang. [3] Và mặc dù rất hiếm,
hoặc gần như không có trường hợp nào về sự khiếm khuyết tương tự trong tâm trí
– tức là một người chưa từng cảm nhận hoặc hoàn toàn không có khả năng cảm nhận
một tình cảm hay đam mê nào đó vốn thuộc về loài người – thì chúng ta vẫn thấy
hiện tượng tương tự xảy ra ở mức độ nhẹ hơn. Một người có tính tình ôn hòa
không thể hình thành ý niệm về sự thù hận dai dẳng hoặc sự tàn nhẫn; một trái
tim ích kỷ cũng khó mà hình dung được những đỉnh cao của tình bạn và lòng hào
hiệp. Người ta dễ dàng nhìn
nhận rằng rằng có thể tồn tại những sinh vật khác sở hữu
nhiều giác quan mà chúng ta không thể nào hình dung được; bởi vì những ý niệm về
chúng chưa bao giờ được đưa vào tâm trí chúng ta theo cách duy nhất mà một ý niệm
có thể tiếp cận được tâm trí, đó là: thông qua cảm giác thực tế và tri giác thực
sự.
E 2. 8, SBN 20-1
Tuy nhiên, có một
hiện tượng trái ngược có thể chứng minh rằng không hoàn toàn không thể có khi
những ý niệm phát sinh độc lập với những ấn tượng tương ứng của chúng. Tôi tin
rằng mọi người sẽ dễ dàng nhìn nhận những ý niệm riêng biệt
về màu sắc đi vào qua mắt, hoặc những ý niệm về âm thanh được truyền qua tai,
thực sự khác biệt với nhau, dù đồng thời chúng có sự tương đồng. Nay nếu điều
này đúng với những màu sắc khác nhau, thì nó cũng phải đúng không kém với những
sắc độ [shades] khác nhau của cùng một màu; và mỗi sắc độ tạo ra một ý niệm
riêng biệt, độc lập với những sắc độ còn lại. Vì nếu điều này bị phủ nhận,
thì bằng cách chuyển tiếp dần dần qua những sắc độ, ta có thể khiến một màu hòa
lẫn một cách không thể nhận ra vào màu xa nhất với nó; và nếu bạn không thừa nhận
bất kỳ sắc độ trung gian nào là khác biệt, thì bạn sẽ rơi vào vô lý khi phủ nhận
rằng hai cực đoan lại giống nhau. Vậy nên, hãy giả sử một người đã được có thị giác trong ba
mươi năm, và đã hoàn toàn quen thuộc với mọi loại màu sắc, ngoại trừ một sắc độ
cụ thể của màu xanh lam [blue], chẳng hạn, mà người này chưa bao giờ có may mắn
gặp phải. Hãy đặt trước mặt người này tất cả những sắc độ khác nhau của màu ấy,
trừ đúng sắc độ duy nhất đó, được sắp xếp dần dần từ đậm nhất xuống nhạt nhất.
Rõ ràng là người này sẽ nhận thấy một khoảng trống [a blank] ở nơi thiếu sắc độ
ấy, và sẽ cảm thấy rằng khoảng cách giữa hai màu liền kề ở chỗ đó lớn hơn so với
bất kỳ chỗ nào khác. Bây giờ tôi hỏi: liệu người ấy có thể, chỉ bằng sức tưởng
tượng của chính mình, bổ sung vào chỗ thiếu hụt này và tự tạo ra cho mình ý niệm
về sắc độ cụ thể ấy, dù nó chưa bao giờ được truyền đến người này qua giác
quan? Tôi tin rằng hầu hết mọi người sẽ đồng ý rằng người này có thể làm được
điều đó. Và trường hợp này có thể dùng làm bằng chứng rằng: những ý niệm đơn giản
không phải lúc nào, trong mọi trường hợp, cũng bắt nguồn từ ấn tượng tương ứng;
dù đây là một trường hợp đặc biệt hiếm hoi đến mức gần như không đáng để chúng
ta lưu ý, và cũng không đáng để chỉ vì nó mà chúng ta thay đổi nguyên tắc tổng
quát của chúng ta. [4]
E 2. 9, SBN 21-2
Vậy nên, ở đây có một
mệnh đề, tự thân nó không chỉ có vẻ đơn giản và dễ hiểu; vốn nếu được dùng đúng
cách, nó còn có thể khiến mọi tranh luận trở nên rõ ràng dễ hiểu như nhau, đồng thời xua tan hoàn toàn thứ
ngôn ngữ mơ hồ đã quá lâu chiếm lĩnh những lập luận siêu hình học và làm chúng
mang tiếng xấu. Tất cả những ý niệm, đặc biệt là những ý niệm trừu tượng, tự
nhiên đều mờ nhạt và mơ hồ tối nghĩa: Não thức chỉ nắm giữ chúng một cách lỏng
lẻo; chúng dễ bị lẫn lộn với những ý niệm tương tự khác; và khi chúng ta thường
xuyên dùng một từ ngữ nào đó mà không có ý nghĩa rõ ràng, ta dễ tưởng rằng nó gắn
liền với một ý niệm xác định. Ngược lại, mọi ấn tượng – tức là mọi cảm giác, dù
từ bên ngoài hay bên trong – đều mạnh mẽ và sống động: Ranh
giới giữa chúng được xác định chính xác hơn nhiều; và không dễ mắc phải bất kỳ sai lầm hay nhầm lẫn nào liên quan đến chúng. Do đó, khi chúng ta nghi ngờ rằng một từ ngữ triết học đang được dùng
mà không mang ý nghĩa hay ý niệm nào (điều này xảy ra quá thường xuyên), chúng
ta chỉ cần đặt câu hỏi: Ý niệm được giả định ấy bắt nguồn từ ấn tượng nào? Và nếu không thể chỉ
ra được ấn tượng tương ứng, điều đó sẽ xác nhận nghi ngờ của chúng ta. Bằng
cách đưa những ý niệm ra dưới ánh sáng rõ ràng như vậy, ta có thể hy vọng hợp
lý rằng sẽ loại bỏ được mọi tranh luận phát sinh liên quan đến bản chất và tính
thực tại của chúng. [1]. [5]
--------------------------------------------------------------------
E 2. 9n1, SBN 22
1. Xem CHÚ THÍCH [A].
E 2. 9n1. 1, SBN 22
Có lẽ những người phủ nhận những ý niệm bẩm
sinh (innate ideas) không có ý gì hơn là khẳng định rằng tất cả những ý niệm đều
là bản sao của những ấn tượng của chúng ta; dù phải thừa nhận rằng những từ ngữ
họ dùng không được chọn lựa cẩn thận, cũng không được định nghĩa chính xác đến
mức ngăn ngừa tất cả những hiểu lầm về học thuyết của họ. Vì “bẩm sinh”
(innate) nghĩa là gì? Nếu “bẩm sinh” đồng nghĩa với “tự nhiên” (natural), thì tất
cả những tri giác và ý niệm của tâm trí đều phải được coi là bẩm sinh hoặc tự
nhiên, theo bất kỳ nghĩa nào của từ “tự nhiên” – dù là đối lập với cái hiếm gặp,
nhân tạo, hay kỳ diệu. Nếu “bẩm sinh” nghĩa là “đồng thời với lúc sinh ra”
(contemporary to our birth), thì cuộc tranh luận này dường như tầm phào; chẳng
đáng để tìm hiểu thời điểm suy nghĩ bắt đầu – trước, tại lúc, hay sau khi sinh.
Hơn nữa, từ “ý niệm” (idea) dường như thường được Locke và những người khác
dùng theo nghĩa rất lỏng lẻo, để chỉ bất kỳ tri giác nào của chúng ta – cảm
giác, đam mê, cũng như tư tưởng. Trong nghĩa này, tôi muốn hỏi: khi khẳng định
rằng tình yêu bản thân / vị kỷ
(self-love), sự oán giận tổn thương (resentment of
injuries), hay đam mê giữa hai giới (the passion between the sexes) không phải
là bẩm sinh, thì điều đó có nghĩa gì?
E 2.9n1.2, SBN 22
Nhưng nếu chấp nhận những từ ngữ “ấn tượng” và
“ý niệm” theo nghĩa đã giải thích ở trên, và hiểu “bẩm sinh” (innate) theo
nghĩa là cái nguyên thủy, cái không được sao chép từ bất kỳ tri giác nào trước
đó, thì chúng ta có thể khẳng định rằng: tất cả những ấn tượng của chúng ta đều
là bẩm sinh, còn những ý niệm thì không bẩm sinh.
E 2.9n1.3, SBN 22
Để thành thật, tôi phải thừa nhận rằng theo ý
kiến của tôi, Locke đã bị cuốn vào vấn đề này bởi những nhà kinh viện
(schoolmen), những người sử dụng những từ ngữ không được định nghĩa rõ ràng,
kéo dài những tranh luận một cách lê thê nhưng chưa bao giờ chạm đến trọng tâm của
vấn đề. Một sự mơ hồ tương tự và lối nói vòng vo dường như xuyên suốt những lập
luận của nhà triết học ấy về đề tài này cũng như hầu hết những chủ đề tài khác.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Jan/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Hume đang giải thích lý do ông phải tự tạo ra từ ngữ “Impressions” (Ấn
tượng) để chỉ riêng loại tri giác sống động, mạnh mẽ – tức những kinh nghiệm cảm
giác trực tiếp như nghe, thấy, cảm nhận đau, yêu, ghét hay mong muốn. Theo ông,
trong tiếng Anh thời thế kỷ 18 cũng như hầu hết những ngôn ngữ châu Âu khác
(Pháp, Latin, Hy Lạp cổ – những ngôn ngữ ông quen thuộc), không tồn tại một từ
chung sẵn có để chỉ riêng loại tri giác này. Lý do đơn giản là trong đời sống
hàng ngày, con người không cần phân biệt rõ ràng giữa kinh nghiệm sống động
(impressions) và suy nghĩ mờ nhạt, sao chép (ideas); chỉ khi làm triết học mới
cần một tên gọi chung để phân loại chính xác, nên trước đó không ai đặt tên
riêng cho chúng.
Điều này hoàn toàn hợp lý trong bối cảnh lịch
sử và ngôn ngữ thời Hume. Trước ông, John Locke – người ảnh hưởng lớn nhất đến
Hume – đã dùng từ “ideas” để bao quát toàn bộ nội dung não thức, từ cảm giác trực
tiếp (simple ideas từ giác quan, gần với impressions) đến suy nghĩ trừu tượng
(complex ideas), mà không tách biệt rõ về mức độ “lực lượng” và “sự sống động”.
những nhà triết học khác như Descartes (tiếng Pháp) hay Aristotle (Hy Lạp/Latin)
cũng không có sự phân biệt chính xác như vậy. Chính vì thiếu tên sẵn có, Hume mới
“tự do” mượn từ “impression” (nghĩa thông thường chỉ “ấn tượng bề mặt” hay “cảm
giác thoáng qua”) và dùng với ý nghĩa mới – điều này chính là bằng chứng cho nhận
xét của ông.
Sự sáng tạo này là một phần quan trọng của
thuyết duy nghiệm triệt để mà Hume theo đuổi: ông xây dựng công cụ ngôn ngữ mới để
phân tích nguồn gốc tri thức, khẳng định mọi ý niệm đều bắt nguồn từ ấn tượng
trực tiếp, và sự phân biệt này là đóng góp độc đáo của ông trong triết học Tây
phương thời bấy giờ.
Tuy nhiên, một số học giả hiện đại cho rằng
Hume có phần “quá tự tin” khi nói “hầu hết những ngôn ngữ khác”, vì trong một số
ngôn ngữ cổ ngoài châu Âu – chẳng hạn Sanskrit trong triết học India – đã tồn tại
phân biệt tương tự: pratyaksha (cảm giác trực tiếp, kinh nghiệm giác
quan) đối lập với anumana (suy luận, tri thức gián tiếp). Còn trong triết
học nước Tàu cổ đại (tiếng Hán), không có sự phân biệt rõ ràng, chặt chẽ và có
hệ thống như Hume. những nhà tư tưởng như Tuân Tử, Trang Tử, Lão Tử hay Mạnh Tử
thường nhấn mạnh sự thống nhất giữa cảm giác, tâm trí, hành vi và Đạo, thay vì
tách riêng “những gì kinh nghiệm trực tiếp” và “những gì suy nghĩ trừu tượng”.
Nhận thức ở đây mang tính trực giác, toàn diện và thực tiễn hơn là phân tích nhị
nguyên logic. Do đó, nhận xét của Hume vẫn hợp lý và chính xác trong ngữ cảnh
triết học Tây phương và những ngôn ngữ châu Âu cổ điển mà ông dựa vào.
[2] Trong nhận thức học
của David Hume, cặp khái niệm Ấn tượng (impressions) và Ý niệm
(ideas) giữ vai trò nền tảng. Hume trình bày sự phân biệt này một cách hệ thống trong A Treatise of
Human Nature và, với văn phong chặt chẽ hơn, trong An Enquiry Concerning
Human Understanding. Toàn bộ dự án thực nghiệm và hoài nghi của Hume – từ
nhận thức luận đến phê phán siêu hình học – đều dựa trên sự phân biệt cơ bản
này.
Hume cho rằng mọi tri
giác của não thức (perceptions of the mind) đều có thể quy về hai loại
duy nhất, khác nhau không phải về bản chất mà về mức độ lực lượng và sự sống động
(force and vivacity). Thứ nhất là Ấn tượng (impressions): những
tri giác trực tiếp, mạnh mẽ và sống động nhất mà não thức tiếp nhận. Chúng bao
gồm hai nhóm chính. Ấn tượng của giác quan phát sinh từ tiếp xúc trực tiếp
với thế giới – như cảm giác đau, màu sắc, âm thanh, hay nhiệt độ. Ấn tượng của
phản tỉnh nảy sinh từ hoạt động nội tâm – như cảm xúc, đam mê, ham muốn, sợ
hãi, yêu ghét, và những hành vi ý chí. Dù thuộc loại nào, ấn tượng đều có tính
hiện diện tức thời và sức tác động mạnh, đến mức chúng không thể bị nhầm lẫn với
tưởng tượng thông thường.
Đối lập với ấn tượng
là Ý niệm (ideas), mà Hume mô tả như những bản sao mờ nhạt của ấn tượng.
Ý niệm xuất hiện khi ta nhớ lại, suy nghĩ, hay tưởng tượng về một kinh nghiệm
đã có: nhớ lại cơn đau khác với việc đang bị đau; tưởng tượng một “ngọn núi
vàng” là kết quả của việc ghép những ý niệm rút ra từ những ấn tượng khác nhau
(núi và vàng). Ý niệm kém sống động hơn ấn tượng và hoàn toàn phụ thuộc vào
chúng. Từ đây, Hume đưa ra nguyên tắc sao chép (Copy Principle): mọi
ý niệm đơn giản đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng đơn giản tương ứng. Não
thức con người không sáng tạo ex nihilo; nó chỉ có thể kết hợp, hoán đổi,
phóng đại hay thu nhỏ những gì đã được cung cấp bởi kinh nghiệm.
Chính nguyên tắc này
làm nên tính triệt để của thuyết duy nghiệm của Hume. Bất kỳ khái niệm nào
không thể truy ngược về một ấn tượng tương ứng đều bị xem là rỗng nghĩa hoặc giả
tạo. Hệ quả là nhiều khái niệm trung tâm của siêu hình học truyền thống – như bản
ngã, tất yếu nhân quả, hay thực thể siêu nghiệm – bị đặt vào vòng nghi vấn.
So với John Locke, người
thường được xem là cha đẻ của thuyết duy nghiệm Anh, Hume tiến xa hơn và triệt
để hơn. Locke cũng cho rằng mọi nội dung của não thức đều là ideas, bắt
nguồn từ cảm giác (sensation) và phản tỉnh (reflection), nhưng
ông không phân biệt rạch ròi giữa cảm giác trực tiếp và ký ức hay tưởng tượng về
cảm giác đó. Hơn nữa, Locke vẫn cho phép rằng một số ý niệm phức tạp – chẳng hạn
ý niệm về Gót – có thể được xây dựng mà không cần một ấn tượng trực tiếp rõ
ràng. Hume, trái lại, áp dụng nguyên tắc sao chép một cách nghiêm ngặt và bác bỏ
mọi “ngoại lệ thuận tiện” như vậy. Đồng thời, Hume cũng từ bỏ thuyết hiện thực
ngây thơ còn sót lại nơi Locke: ấn tượng không bảo đảm phản ảnh trung thực bản
chất của thế giới bên ngoài; chúng chỉ là dữ liệu của ý thức.
Ảnh hưởng của học thuyết
ấn tượng–ý niệm đạt đến cao trào trong phản ứng của Immanuel Kant. Kant thừa nhận
rằng chính Hume đã “đánh thức ông khỏi giấc ngủ giáo điều”, đặc biệt qua sự
hoài nghi về nhân quả. Tuy nhiên, Kant cho rằng Hume đã đi quá xa khi xem não
thức như một tấm bảng thụ động. Theo Kant, dữ liệu giác quan (gần với ấn tượng
của Hume) chỉ trở thành kinh nghiệm khi đã được tổ chức bởi những hình thức
tiên nghiệm của trực quan (không gian và thời gian) và những phạm trù của giác
tính (như nhân quả, thực thể, tất yếu). Nhờ đó, Kant vừa chấp nhận phê phán của
Hume đối với siêu hình học giáo điều, vừa “cứu” được tính tất yếu của khoa học
tự nhiên ở cấp độ hiện tượng.
Tóm lại, học thuyết Ấn
tượng và Ý niệm của Hume đặt nền móng cho một thuyết duy nghiệm triệt để: mọi nội
dung của tư duy đều bắt nguồn từ kinh nghiệm sống động, và não thức không có cấu
trúc tiên nghiệm độc lập. Chính lập trường này dẫn Hume đến hoài nghi sâu xa về
nhân quả, bản ngã và siêu hình học. Kant, trong khi chấp nhận thách thức của
Hume, đã xây dựng một con đường trung gian: giới hạn tri thức vào hiện tượng,
nhưng trao cho não thức vai trò chủ động trong việc cấu trúc kinh nghiệm.
[3] Trong thời đại của David Hume (thế kỷ 18), rượu vang là thức uống chưa
được biết đến với hầu hết cư dân vùng cực Bắc (Laplander – tức người Sámi ở
Lapland, Bắc Scandinavia) và với nhiều dân tộc châu Phi vùng cận Sahara (ở đây
Hume dùng từ "Negroe" theo cách gọi thông dụng thời bấy giờ). Những cộng
đồng này không có truyền thống trồng nho, sản xuất hay tiêu thụ rượu vang, do
đó họ chưa từng trải nghiệm cảm giác vị giác đặc trưng của nó. Hume dùng ví dụ
này để minh họa rằng: nếu một đối tượng cảm giác chưa từng tác động lên giác
quan của ta, thì ta không thể có được ý niệm chân thực về nó. Mặc dù ví dụ
phản ánh góc nhìn Âu-châu trung tâm của thời đại, nguyên tắc triết học vẫn có
giá trị
[4] Hume đưa ra một thí nghiệm tư tưởng giản dị nhưng cực kỳ sâu xa, được
gọi là “màu xanh bị thiếu”. Điều đặc biệt là chính Hume – người xây dựng nguyên
tắc cốt lõi – lại tự mình chỉ ra một ngoại lệ dường như làm lung lay toàn bộ học
thuyết của ông. Đây là một trong những khoảnh khắc trung thực trí thức hiếm có
nhất trong lịch sử triết học. Nguyên tắc cốt lõi: Mọi ý niệm đều là bản sao của ấn
tượng, Hume
khẳng định:“Mọi ý niệm đơn giản đều bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng (Copy Principle).” Ấn tượng là những kinh nghiệm sống động, trực tiếp qua giác quan: màu đỏ
chói của hoa hồng, tiếng sấm vang trời, cảm giác nóng bỏng của lửa. Ý niệm là những bản
sao mờ nhạt hơn, xuất hiện khi ta nhớ lại hoặc tưởng tượng.
Theo Hume, không có ấn tượng thì không thể có
ý niệm chân thực. Người mù bẩm sinh không thể hình dung màu sắc, người điếc
không thể tưởng tượng âm thanh, người chưa từng nếm rượu vang không thể biết vị
của nó. Đây là nền tảng của chủ nghĩa kinh nghiệm luận triệt để.
Thí nghiệm tư tưởng: Người chưa từng thấy một
màu xanh cụ thể
Hume mời chúng ta tưởng tượng một người đã sống
30 năm với thị giác hoàn hảo, đã quen thuộc với mọi màu sắc trên đời… trừ đúng
một sắc độ xanh lam cụ thể (gọi tạm là xanh #47). Bây giờ, ta trải ra trước mặt
người này một dải màu xanh lam liên tục, từ đậm nhất đến nhạt nhất, nhưng thiếu
đúng màu xanh #47. Kết quả mà Hume dự đoán: Người này lập tức nhận ra một khoảng trống rõ ràng. Người này cảm thấy
khoảng cách giữa hai sắc độ liền kề chỗ thiếu lớn hơn bình thường. Người này biết chắc
chắn rằng “phải có một sắc độ nào đó nằm giữa hai màu này”. Câu hỏi quyết định: Liệu người này có thể,
chỉ bằng trí tưởng tượng, tự “vẽ” ra trong tâm trí chính xác màu xanh #47 mà
người này chưa từng thấy bao giờ? Hume trả lời thẳng thắn: Có. Hầu hết mọi người sẽ đồng
ý rằng người này có thể làm được.
Tâm trí có thể nội suy (interpolate), dựa vào
những sắc độ xung quanh để “lấp đầy” chỗ trống, giống như ta có thể tưởng tượng
một nốt nhạc nằm giữa hai nốt đã biết.
Tại sao đây là ngoại lệ nghiêm trọng? Vì nó vi phạm trực
tiếp nguyên tắc Copy: Không có ấn tượng về xanh #47.
Nhưng vẫn có thể hình thành ý niệm về xanh
#47. →
Đây là một ý niệm đơn giản không bắt nguồn từ ấn tượng tương ứng. Hume thừa nhận đây
là ngoại lệ thực sự, nhưng ông lập tức cố gắng “giảm nhiệt”: Trường hợp này quá đặc
biệt, quá hiếm hoi. Gần như không đáng để chúng ta chú ý. Một ngoại lệ đơn lẻ không đủ
để thay đổi nguyên tắc tổng quát đúng trong hàng ngàn trường hợp khác. Tại sao Hume lại tự
“tố cáo” học thuyết của mình? Có nhiều giải thích: Ông muốn thể hiện sự trung
thực tuyệt đối của một nhà triết học nghiêm túc. Ông tin rằng học thuyết của
mình đủ mạnh để chịu được một vết nứt nhỏ. Ông cố tình để lại một “bài
toán mở” cho hậu thế. Hoặc đơn giản là ông chưa nhận ra hết mức độ nguy hiểm của ngoại lệ
này.
Các phản ứng qua lịch sử triết học
Bảo vệ Hume: Khả năng nội suy vẫn dựa
trên kinh nghiệm với những sắc độ khác → không phải sáng tạo từ hư vô.
Sắc xanh #47 không thực sự là ý niệm đơn giản
hoàn toàn độc lập, mà là một điểm trong “không gian màu sắc” đã được học từ
kinh nghiệm. Đây là ngoại lệ cực đoan, không đại diện cho hoạt động tâm trí thông
thường.
Phê phán Hume; Một mệnh đề phổ quát (“mọi
ý niệm đều…”) chỉ cần một phản ví dụ là đã bị bác bỏ. Ngoại lệ này chứng tỏ tâm
trí không chỉ sao chép thụ động, mà có khả năng sáng tạo chủ động – tiền đề cho
triết học Kant sau này. Nếu có ngoại lệ ở màu sắc, rất có thể có ở âm thanh, mùi vị, cảm xúc…
Cánh cửa đã mở.
Góc nhìn khoa học nhận thức hiện đại: Não bộ thực sự nội
suy màu sắc liên tục (màn hình chỉ phát 3 màu cơ bản RGB nhưng ta thấy hàng triệu
màu). Đây
là cơ chế tiến hóa giúp nhận biết môi trường hiệu quả. Khả năng “lấp chỗ trống” vẫn
là kết quả của kinh nghiệm tích lũy, không phải tri thức bẩm sinh.
Ý nghĩa sâu xa: “Sắc xanh bị thiếu” không
chỉ là một ngoại lệ nhỏ. Nó khơi dậy những câu hỏi lớn: Tâm trí chỉ tiếp nhận thụ động
hay cũng chủ động kiến tạo? Ý niệm màu sắc là những “nguyên tử” đơn giản hay là những điểm trong một
cấu trúc quan hệ? Giới hạn thực sự của kinh nghiệm cảm giác nằm ở đâu? Một ngoại lệ có đủ để
lật đổ một quy luật phổ quát hay không?
Kết luận: “Missing shade of blue” là một trong những đoạn văn
bí ẩn và đẹp đẽ nhất của Hume. Nó thể hiện sự khiêm nhường trí thức của một triết
gia sẵn sàng chỉ ra điểm yếu trong chính học thuyết của mình. Dù Hume cố gắng coi
nó là “không đáng kể”, ngoại lệ này vẫn để lại một vết nứt nhỏ nhưng dai dẳng –
một vết nứt đủ để khiến chúng ta, 300 năm sau, vẫn phải dừng lại và tự hỏi:Tâm
trí con người thực sự có thể tưởng tượng ra điều gì mà nó chưa từng kinh nghiệm? Và nếu có thể, điều
đó nói gì về bản chất của sự hiểu biết? Có lẽ giá trị lớn nhất của “màu xanh bị thiếu” không
nằm ở câu trả lời, mà ở những câu hỏi nó khơi dậy – và đó chính là dấu ấn của
triết học đích thực.
[5] Lưỡi Dao của Hume: Phương Pháp Thanh Lọc Triết Học
David Hume bước vào triết học không với một hệ
thống đồ sộ, mà với một công cụ duy nhất: một tiêu chuẩn nghiêm khắc để phân biệt
giữa ý niệm có nội dung và từ ngữ rỗng. Trước bất kỳ khái niệm triết học nào—bản
thể, tất yếu, tự do tuyệt đối, linh hồn, hay Gót—Hume chỉ đặt một câu hỏi: Ý niệm này bắt nguồn
từ ấn tượng cảm giác nào? Nếu không thể chỉ ra nguồn gốc ấy, khái niệm không đơn giản là “chưa được
chứng minh”, nhưng là vô nghĩa: nó không quy chiếu đến bất kỳ nội dung nào
trong kinh nghiệm con người. Đó không phải là sai lầm lý thuyết, nhưng là sự trống
rỗng ngôn ngữ. Nền tảng của phương pháp này là nguyên tắc nổi tiếng của Hume: mọi ý niệm
đều là bản sao mờ nhạt của ấn tượng. Ấn tượng là những trải nghiệm trực tiếp—màu
sắc, âm thanh, khoái lạc, đau đớn, sợ hãi, ham muốn. Ý niệm chỉ là sự hồi tưởng,
kết hợp, hay làm mờ những gì đã từng được cảm nhận. Không có ấn tượng gốc,
không thể có ý niệm thực sự; chỉ còn lại từ ngữ không có nội dung.
Khi áp dụng “lưỡi dao” này, nhiều khái niệm
trung tâm của siêu hình học truyền thống bị cắt bỏ. Ta không có ấn tượng nào về
“bản thể” nằm dưới những thuộc tính; ta chỉ cảm nhận những thuộc tính. Ta không
tri giác “liên kết tất yếu” trong quan hệ nhân quả; ta chỉ thấy sự kế tiếp thường
xuyên và hình thành thói quen kỳ vọng. Khi nhìn vào chính mình, ta không bắt gặp
một “linh hồn” đơn nhất, bất biến, mà chỉ thấy một dòng chảy liên tục của tri
giác. Ngay cả ý niệm về Gót, theo Hume, cũng được hình thành bằng cách phóng đại
những năng lực hữu hạn của con người, chứ không phải từ một tri giác trực tiếp
về một hữu thể siêu việt. Tuy nhiên, Hume không phủ nhận tư duy trừu tượng. Ông chỉ yêu cầu trách
nhiệm nhận thức. Những khái niệm như công lý, đạo đức, hay thậm chí toán học vẫn
hợp pháp, miễn là ta có thể truy nguyên chúng về kinh nghiệm—về cảm xúc đạo đức,
về thực hành đếm và so sánh, hay về những quan hệ ý niệm. Điều Hume bác bỏ
không phải là trừu tượng, nhưng là trừu tượng tách rời hoàn toàn khỏi đời sống
cảm nghiệm.
Mục tiêu của phương pháp này không phải phá hủy
triết học, nhưng là thanh lọc nó. Trong nhiều thế kỷ, triết học đã tiêu tốn
năng lượng khổng lồ để tranh luận về những khái niệm không bao giờ xuất hiện
trong kinh nghiệm. Khi mọi ý niệm buộc phải “xuất trình giấy khai sinh”, những
tranh cãi ngôn từ rỗng tuếch tan biến, và triết học quay lại với những gì con
người thực sự sống qua: cảm xúc, tin tưởng, thói quen, sợ hãi, và hy vọng. Hệ quả của Hume là
sâu rộng. Hình nhi thượng học mất đi tham vọng tiếp cận “thực tại tối hậu” nằm
ngoài kinh nghiệm. Nhận thức luận chuyển trọng tâm từ bản chất thế giới sang giới
hạn của hiểu biết con người. Đạo đức được đặt nền trên cảm xúc và sự đồng cảm,
không phải lý tính thuần túy. Và khoa học thực nghiệm trở thành mô hình cho tri
thức nghiêm túc: không quan sát, không giả thuyết kiểm chứng, không có chân lý.
Ba thế kỷ sau, lưỡi dao của Hume vẫn chưa cùn.
Trước những diễn ngôn hiện đại về “ý thức cao hơn”, “bản ngã chân thật”, hay
“thực tại tối hậu”, câu hỏi của ông vẫn vang lên với sự lạnh lùng không khoan
nhượng: bạn đang nói về điều gì, và nó thực sự bắt nguồn từ đâu? Nếu không chỉ
ra được kinh nghiệm gốc, đó có thể là thơ, là tin tưởng, hay là hy vọng—nhưng
không phải là tri thức. Lưỡi dao của Hume không giải quyết mọi vấn đề. Nó không trao cho ta ý
nghĩa cuộc sống hay một hệ thống siêu hình hoàn chỉnh. Nhưng nó buộc ta phải
trung thực: trung thực về những gì ta biết, những gì ta chỉ tin, và những gì ta
hoàn toàn không có cơ sở để nói đến.
