Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con
Người
(An
Enquiry concerning Human Understanding)
David
Hume
E 1. 5, SBN 8
Triết gia thuần
túy là một kiểu nhân vật thường ít được chấp nhận trong xã hội, vì người ta cho
rằng ông không đóng góp gì cho ích lợi hay vui thú của xã hội; trong khi ông sống
tách biệt khỏi giao tiếp với loài người, và chìm đắm trong những nguyên lý và
khái niệm cũng xa lạ với hiểu biết của họ. Mặt khác, người thiếu học thuần túy
còn bị khinh bỉ hơn nữa; và trong một thời đại cùng quốc gia nơi khoa học phát
triển, không dấu hiệu nào chắc chắn hơn cho thấy một trí tuệ hẹp hòi [1]
bằng việc hoàn toàn không có chút hứng thú nào với những việc khơi động trí óc
cao quý ấy. Nhân cách hoàn toàn nhất được cho là nằm giữa hai cực đoan đó: giữ
được khả năng và sở thích cân bằng giữa sách vở, bạn hữu và công việc. Trong
giao tiếp, họ giữ được sự tinh tế và nhạy bén từ văn chương lịch lãm; còn trong
công việc, họ giữ được sự sự chính trực và chuẩn xác – những phẩm chất tự nhiên
phát sinh từ một triết học chân chính. Để truyền bá và vun trồng một nhân cách
hoàn thiện như vậy, không gì hữu ích hơn những tác phẩm được viết theo phong
cách dễ tiếp cận và dễ đọc—những tác phẩm giữ được sự kết nối với đời sống thực
thay vì trở nên quá trừu tượng, không đòi hỏi sự tập trung cao độ hay sự ẩn dật
lánh đời để thấu hiểu, và đưa người học trở về với loài người, tràn đầy tình cảm
cao quý và những lời răn dạy khôn ngoan, ứng dụng được vào tất cả những hoàn cảnh
của đời sống. Nhờ những tác phẩm như thế, đức hạnh trở nên đáng yêu, khoa học
trở nên dễ đón nhận, việc giao tiếp trở nên bổ ích, và những tĩnh tại trở nên
hàm dưỡng.
E 1. 6, SBN 8-9
Con người là một
sinh vật có lý trí; và với tư cách đó, họ nhận từ khoa học nguồn thức ăn và dưỡng
chất thích hợp của họ. Nhưng giới hạn của trí tuệ con người lại quá hẹp, nên ít
hy vọng có thể đạt được sự thỏa mãn từ phạm vi hay độ tin cậy của những tri thức
vốn con người đã tích lũy. Con người cũng là một sinh vật xã hội, không kém phần
so với là sinh vật có lý trí: Tuy nhiên, không phải lúc nào con người cũng có
thể hưởng dược sự giao tiếp dễ chịu và thú vị, hay giữ mãi được sự thích thú
đúng mực với chúng. Còn là một sinh vật năng động; và từ bản tính ấy, cũng như
từ những nhu cầu nhiều loại của đời sống, con người buộc phải tham dự vào công
việc và những hoạt động. Nhưng não thứccần thư giãn, không thể lúc nào cũng duy
trì sự căng thẳng vào những lo toan tinh thần và sự cần cù lao lực. Dường như,
Tự nhiên đã chỉ ra một lối sống pha trộn như phù hợp nhất với loài người, và âm
thầm khuyên bảo họ đừng để bất kỳ khuynh hướng nào trong số đó lấn át quá mức,
đến nỗi mất khả năng tham dự vào những công việc và thú vui khác. Hãy cứ nuông
chiều đam mê khoa học của ngươi, Tự nhiên nói thế, nhưng hãy để khoa học của
ngươi là khoa học nhân văn, và phải có liên hệ trực tiếp với hành động và xã hội.
Những suy nghĩ trừu tượng và những nghiên cứu sâu xa, ta cấm đoán, và sẽ trừng
phạt nghiêm khắc, bằng u sầu trầm mặc vốn chúng mang lại, bằng sự bất định vô tận
vốn chúng chúng bủa vây ngươi, và bằng sự đón nhận lạnh nhạt mà những gì ngươi
gọi là tìm ra sẽ phải gặp phải khi được truyền bá. Hãy là một nhà triết học;
nhưng giữa tất cả những triết lý của ngươi, hãy vẫn cứ là một con người. [2]
E 1. 7, SBN 9
Nếu đa số loài
người bằng lòng ưa thích triết học dễ dàng hơn là triết học trừu tượng và sâu
xa, nhưng không hề chê trách hay miệt thị loại triết học sau, thì có lẽ cũng
không phải là sai trái nếu chúng ta chiều theo dư luận tổng quát này, và không
phản đối, nhưng để mỗi người tự do ưa thích, không bị phản đối, với thẩm khiếu
và tình cảm riêng mỗi người. Nhưng vì vấn đề thường bị đẩy xa hơn, ngay cả đến
mức bác bỏ hoàn toàn tất cả những suy luận sâu xa, hay những gì thường được gọi
là siêu hình học, nên giờ đây chúng ta sẽ tiến hành xem xét những gì có
thể biện hộ hợp lý được nhân danh những suy luận sâu xa ấy.
E 1. 8, SBN 9-10
Chúng ta có thể bắt
đầu bằng việc nhận thấy rằng: một lợi thế đáng kể của triết học trừu tượng và
sâu xa là nó phục vụ cho lối triết học dễ hiểu và nhân bản [3] ; bởi nếu thiếu đi triết học trừu tượng,
thì lối triết học nhân bản kia chẳng bao giờ có thể đạt được mức độ chuẩn xác cần
thiết trong những tình cảm, nguyên tắc hay lý luận của nó. tất cả những tác phẩm
văn chương thanh nhã chẳng qua chỉ là những bức tranh về cuộc sống con người
trong nhiều dáng vẻ và hoàn cảnh khác nhau; những tác phẩm ấy gây hứng khởi những
tình cảm khác biệt cho chúng ta, như ngợi ca hay chỉ trích, thán phục hay chế
giễu, tùy thuộc vào phẩm chất của đối tượng mà chúng mô tả. Một nghệ sĩ sẽ có
khả năng thành công hơn trong công việc này nếu ngoài khiếu thẩm mỹ tinh tế và
sự bén nhạy, họ còn có được kiến thức chuẩn xác về cấu trúc nội tại, về cách thức
hoạt động của trí tuệ, về sự vận hành của đam mê, và về những loại tình cảm
khác nhau giúp phân biệt giữa tà ác và đức hạnh. Dù tìm kiếm hay điều tra nội
tâm có nhọc nhằn đến đâu, nó vẫn là điều cần thiết với những ai muốn mô tả
thành công vẻ bề ngoài rõ rệt cùng những phong thái ứng xử thường ngày. Nhà giải
phẫu học phô bày trước mắt những hình ảnh ghê gớm và khó nhìn nhất; nhưng khoa
học của ông lại hữu ích cho họa sĩ ngay cả khi phác họa một nàng Venus hay một
nàng Helen. Trong khi người họa sĩ dùng những màu sắc phong phú nhất của nghệ
thuật và trau chuốt cho hình ảnh của ông những dáng vẻ duyên dáng và quyến rũ
nhất; ông vẫn phải chú tâm đến cấu trúc bên trong cơ thể con người, vị trí những
bắp thịt, cấu trúc của xương, cũng như chức năng và hình dạng của từng bộ phận
hay cơ quan. Sự chuẩn xác, trong tất cả những trường hợp, đều có lợi cho cái đẹp,
và lý luận đúng đắn sẽ hỗ trợ cho tình cảm tinh tế. Sẽ chỉ hoài công vô ích nếu
chúng ta muốn nâng cao cái này bằng cách hạ thấp cái kia.
E 1. 9, SBN 10
Bên cạnh đó,
chúng ta có thể quan sát thấy trong tất cả những nghệ thuật hay nghề nghiệp,
ngay cả những lĩnh vực liên quan nhất đến đời sống và hành động, rằng một tinh
thần chuẩn xác, dù đạt được bằng cách nào, cũng đều đưa tất cả chúng tiến gần
hơn đến sự hoàn thiện, và khiến chúng phục vụ tốt hơn cho ích lợi của xã hội. Và
mặc dù một nhà triết học có thể sống xa rời công việc thực tế, nhưng tinh thần
triết học, nếu được nhiều người dày công vun xới, chắc chắn sẽ dần lan tỏa ra
khắp xã hội, và mang lại một sự chuẩn xác tương tự cho tất cả những nghệ thuật
và nghề nghiệp. Chính trị gia sẽ có được tầm nhìn xa và sự tinh tế hơn trong việc
phân chia và cân bằng quyền lực; luật gia có nhiều phương pháp và nguyên lý
tinh tế hơn ttrong suy luận; vị tướng lĩnh sẽ có kỷ luật nề nếp hơn, cũng như sự
thận trọng hơn trong những kế hoạch và chiến dịch của ông. Sự ổn định của những
chính quyền thời nay so với thời cổ, cùng với sự chính xác của triết học thời
nay, đã được cải thiện, và rất có thể sẽ còn tiếp tục được cải thiện, theo những
mức độ tương tự như vậy.
E 1. 10, SBN 11
Nếu không có lợi
ích nào thu được từ những nghiên cứu này, ngoài việc thỏa mãn một sự hiếu kỳ
trong sáng, thì ngay cả điều này cũng không nên coi thường; vì nó là một phần bổ
sung vào số ít những thú vui an toàn và vô hại được ban cho loài người. Con đường
sống ngọt ngào và ít gây tổn thương nhất dẫn qua những đại lộ của khoa học và học
vấn; và bất kỳ ai có thể dỡ bỏ bất kỳ chướng ngại nào trên con đường ấy, hoặc mở
ra bất kỳ viễn cảnh mới nào, thì người ấy đáng được coi là ân nhân của loài người.
Và mặc dù những nghiên cứu này có vẻ đau đớn và mệt mỏi,
nhưng đối với một số não thức
cũng giống như với một số cơ thể: khi được phú cho một sức
khỏe cường tráng và dồi dào, chúng đòi hỏi sự tập luyện khắc nghiệt, và gặt hái
được vui thích từ chính những thứ mà đối với đa số nhân loại có vẻ là gánh nặng và nhọc
nhằn. Sự mù mờ, quả thực, gây đau đớn cho tâm trí cũng như cho đôi mắt; nhưng
việc mang ánh sáng ra từ bóng tối mù mờ ấy, dù bằng bất cứ sự lao dịch nào,
cũng hẳn phải là một điều hân hoan và đầy thích thú.
E 1. 11, SBN 11
Thế nhưng, sự mù
mờ trong lối triết học sâu kín và trừu tượng này không chỉ bị chỉ trích vì gây
nhọc nhằn và mệt mỏi, mà còn vì nó tất yếu trở thành nguồn gốc của sự bất định
và sai lầm. Quả thực, đây chính là lời phản đối chính đáng và hợp lý nhất với một
phần đáng kể của siêu hình học, rằng chúng không phải là một khoa học đúng
nghĩa; nhưng xuất phát từ những nỗ lực vô ích của lòng phù phiếm của con người,
vốn sẽ thâm nhập vào những đề tài hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu biết, hay từ sự
tinh vi của những mê tín dị đoan dân gian, vốn không thể tự bảo vệ trên nền tảng
công bằng, đã giăng những bụi gai rậm rạp này để che đậy và bảo vệ yếu kém của
chúng. Bị đuổi khỏi đồng bằng, những tên cướp này chạy trốn vào rừng, rình rập
để đột nhập vào mọi con đường không được bảo vệ của não thức, và áp đảo nó bằng
những sợ hãi và định kiến tôn giáo. Ngay cả kẻ đối địch can trường nhất, nếu
lơ là giây lát, cũng sẽ bị áp đảo. Và nhiều người, vì hèn nhát và ngu muội, còn
mở toang cổng đón kẻ thù vào, và sẵn sàng tiếp nhận chúng với sự kính trọng và
phục tùng, như những bậc chủ tể hợp pháp của họ.
E 1. 12, SBN
12-13
Nhưng đây có phải
là một lý do đủ thuyết phục để những triết gia từ bỏ những nghiên cứu như vậy
và để mặc sự mê tín vẫn trong chiếm giữ chốn ẩn náu của nó? Chẳng phải là thích
đáng để rút ra một kết luận ngược lại sao, và nhận ra sự cần thiết của việc mạng
cuộc chiến vào trong những nơi ẩn náu sâu kín nhất của kẻ thù? Trong vô vọng có
phải chúng ta hy vọng rằng con người, từ những thất vọng thường xuyên, cuối
cùng sẽ từ bỏ những môn khoa học hão huyền như vậy, và tìm ra lĩnh vực thích
đáng của lý trí con người. Bởi vì, ngoài việc nhiều người cảm thấy quá rõ ràng
lợi ích riêng của họ khi liên tục nhắc lại những đề tài như vậy; ngoài điều đó,
tôi nói, động cơ của sự tuyệt vọng mù quáng không bao giờ có chỗ đứng hợp lý
trong khoa học; bởi lẽ, dù những nỗ lực trước đây có thất bại đến đâu, vẫn luôn
còn chỗ để hy vọng rằng cần mẫn, may mắn hoặc khôn ngoan được cải thiện của những
thế hệ tiếp theo có thể đạt được những tìm ra vốn những thời đại trước chưa từng
biết đến. Mỗi thiên tài mạo hiểm vẫn sẽ lao vào giành lấy phần thưởng khó khăn ấy,
và thấy mình được thúc đẩy, chứ không nản lòng, bởi những thất bại của những
người đi trước; trong khi họ hi vọng rằng vinh quang của việc hoàn thành một
phiêu lưu khó khăn như thế được dành riêng cho một mình họ. Phương pháp duy nhất
để giải phóng học thuật ngay lập tức khỏi những câu hỏi khó hiểu này là điều
tra thực sự vào trong bản chất của khả năng hiểu biết của con người, và chứng
minh, từ một phân tích chính xác về sức mạnh và khả năng của nó, rằng nó tuyệt
đối không được trang bị để phù hợp với những đề tài xa vời và khó hiểu như vậy.
Chúng ta phải chịu đựng sự mệt mỏi này, để được sống thong dong mãi về sau: Và
phải nuôi dưỡng siêu hình học thực thụ với một sự cẩn trọng nào đó, để tiêu diệt
thứ siêu hình học giả tạo và pha tạp. Sự lười biếng, vốn với một số người, mang
lại một tấm khiên bảo vệ chống lại triết học lừa dối này, nhưng với những người
khác, sự hiếu kỳ lại nặng hơn; và sự tuyệt vọng, những gì vốn trong vài khoảnh
khắc sẽ thắng thế, có thể sau đó nhường chỗ cho những hy vọng và mong đợi tràn
đầy tin tưởng. Suy luận chính xác và công bằng là phương thuốc phổ quát duy nhất,
phù hợp với tất cả mọi người và tất cả những tính khí; và chỉ riêng nó mới có
khả năng lật đổ thứ triết học khó hiểu và thứ ngôn ngữ siêu hình rắc rối kia,
những gì vốn khi trộn lẫn với mê tín phổ biến, khiến nó theo một cách gần như
không thể xuyên thủng với những người suy luận hời hợt, và tạo cho nó vẻ ngoài
của khoa học và khôn ngoan.
E 1. 13, SBN 13
Bên cạnh lợi thế
này của việc gạt bỏ, sau khi điều tra kỹ lưỡng, những phần bất định và khó chịu
nhất của tri thức học thuật, còn có rất nhiều lợi ích tích cực khác, vốn là kết
quả của sự xem xét kỹ lưỡng chính xác về những năng lực và khả năng của bản chất
con người. Có một điều đáng chú ý liên quan đến tất cả những hoạt động của não
thức, đó là, dù chúng hiện diện mật thiết nhất với chúng ta, nhưng bất cứ khi
nào chúng trở thành đối tượng của suy ngẫm, chúng dường như bị bao trùm trong sự
tối tăm; và con mắt cũng không thể dễ dàng tìm ra những đường nét và ranh giới
vốn phân biệt và phân loại chúng. . Những đối tượng này
quá tinh vi để có thể giữ nguyên một dạng hoặc tình trạng lâu dài; và phải được
nắm bắt trong khoảnh khắc, bằng một sự thấu hiểu vượt trội, vốn có từ bản tính,
và được hoàn thiện qua thói quen và suy ngẫm. Vì vậy, việc chỉ đơn thuần biết được những hoạt động
khác nhau của não thức, tách biệt chúng ra khỏi nhau, phân loại chúng vào đúng
nhóm của chúng, và sửa chữa tất cả sự lộn xộn dường như có trong đó, khi chúng
trở thành đối tượng của suy ngẫm và tìm hiểu, trở thành một phần không nhỏ của
khoa học. Nhiệm vụ sắp xếp và phân biệt này, vốn không có giá trị gì đáng kể
khi thực hiện đối với những vật thể bên ngoài, là những đối tượng của giác quan
chúng ta, lại tăng giá trị của nó khi hướng tới những hoạt động của tâm trí,
theo đúng tỷ lệ với mức độ khó khăn và công sức vốn chúng ta gặp phải khi thực
hiện nó. Và nếu chúng ta không thể đi xa hơn mức độ địa lý tinh thần
này, hay sự phân định và năng
lực riêng biệt của não thức, thì ít nhất chúng ta cũng hài lòng khi đi được đến mức ấy; và khoa học này càng tỏ ra rõ ràng (và nó không hề hiển nhiên) đến đâu thì sự thiếu hiểu
biết về nó càng đáng khinh thường hơn nữa, với tất cả những người tự xưng là có học vấn và triết học.
E 1. 14, SBN 13-4
Và cũng không thể còn bất kỳ nghi ngờ nào rằng
khoa học này mơ hồ và hão huyền; trừ phi chúng ta chấp nhận một một thái độ
hoài nghi triệt để, thứ phá hủy hoàn toàn mọi suy đoán, và ngay cả hành động. Không thể nào phủ
nhận rằng não thức được ban cho nhiều năng lực và khả năng khác nhau, rằng những năng
lực này phân biệt rõ ràng với nhau, rằng những gì thực sự phân biệt ngay trong
nhận thức trực tiếp có thể được phân biệt rõ ràng qua suy ngẫm; và do đó, rằng
trong tất cả những mệnh đề về chủ đề này đều có sự thật và sai lầm, và sự thật
với sai lầm ấy nằm trong phạm vi hiểu biết của con người. Có nhiều những phân biệt hiển nhiên thuộc loại
này, như giữa ý chí và hiểu biết, tưởng tượng và đam mê, vốn nằm trong phạm vi
hiểu biết của con người; và những phân biệt tế nhị hơn và triết học hơn cũng đều
không kém thực và chắc chắn, dù khó khăn hơn để thấu hiểu được. Một số những trường hợp, đặc biệt là gần đây, thành công trong những điều tra này có thể cho chúng ta một ý niệm chính xác hơn về sự chắc chắn và bền vững của
ngành học này. [4] Và liệu
chúng ta có coi đó là xứng đáng với công sức của một triết gia khi người này
mang đến cho chúng ta một hệ thống chính xác về những hành tinh, và sắp xếp vị
trí cùng trật tự của những thiên thể xa xôi ấy; trong khi chúng ta lại cố tình
làm ngơ trước những người, với bao thành công lớn lao, đã phác họa rõ ràng những
phần của não thức, vốn chúng ta chúng ta gắn bó mật thiết? [5]
E 1. 15, SBN 14-5
Nhưng liệu chúng
ta không thể hy vọng rằng, triết học, nếu được nuôi dưỡng một cách cẩn thận và
được khuyến khích bởi sự chú ý của công chúng, có thể mang những nghiên cứu của
nó đi xa hơn nữa, và tìm ra, ít nhất ở một mức độ nào đó, những nguyên lý bí mật
và những động cơ ẩn giấu, bởi chúng mà não thức con người được thúc đẩy trong
những hoạt động của nó? Những nhà thiên văn học đã lâu nay tự mãn với việc chứng
minh, từ những hiện tượng, những chuyển động chân thực, trật tự và kích thước của
những thiên thể trên trời: Cho đến khi một triết gia cuối cùng xuất hiện, người
dường như, nhờ lý luận may mắn nhất, đã xác định cả những định luật và những lực,
bởi chúng mà những vòng quay của những hành tinh được điều khiển và hướng dẫn. Điều
tương tự đã được thực hiện đối với những phần khác của tự nhiên. [6]
Và không có lý do gì để tuyệt vọng về một thành công tương đương trong những điều
tra của chúng ta về những năng lực não thức và cấu trúc vận hành của nó, nếu
chúng ta theo đuổi với khả năng và sự thận trọng tương đương. Có lẽ một hoạt động
và nguyên tắc của não thức phụ thuộc vào một nguyên tắc khác; nguyên tắc ấy lại
có thể được quy về một nguyên tắc tổng quát và phổ quát hơn: Và chúng ta có thể
mang những điều tra này đi xa đến mức nào, sẽ khó mà chúng ta xác định chính
xác, trước hoặc thậm chí sau khi thử nghiệm cẩn thận.
Điều chắc chắn
là, những nỗ lực kiểu này vẫn được thực hiện mỗi ngày, ngay cả bởi những người
triết lý một cách cẩu thả nhất: Và không gì cần thiết hơn là bắt tay vào công
việc với sự cẩn trọng và chú ý kỹ lưỡng; để nếu nó nằm trong khả năng hiểu biết
của con người, cuối cùng nó có thể được hoàn thành một cách tốt đẹp; nếu không,
ít nhất cũng có thể bác bỏ nó với một sự tự tin và an tâm nhất định.
Kết luận cuối cùng này chắc chắn là không đáng
mong muốn; và chúng ta cũng không nên vội vàng chấp nhận nó. Bởi vì chúng ta sẽ
làm giảm đi bao nhiêu vẻ đẹp và giá trị của loại triết học này chỉ vì một giả định
như vậy? Từ trước đến nay, những nhà đạo đức học thường tìm kiếm một nguyên tắc
chung nào đó, khi xem xét vô số và sự đa dạng của những hành động vốn khơi dậy
sự tán thành hoặc ghét bỏ của chúng ta, để làm cơ sở cho sự đa dạng của những
tình cảm này. Và mặc dù đôi khi họ đã đi quá xa vì lòng ham thích đối với một
nguyên tắc chung duy nhất; tuy nhiên, phải thú nhận rằng người ta có thể tha thứ
cho họ khi họ mong đợi tìm thấy một vài nguyên tắc chung để quy nạp một cách
công bằng tất cả những thói hư và đức hạnh vào đó. Những nhà phê bình, những
nhà luận lý, và thậm chí cả những nhà chính trị cũng đã nỗ lực tương tự: Và những
nỗ lực của họ không phải là hoàn toàn thất bại; dù có lẽ thời gian dài hơn, độ
chính xác cao hơn và sự chuyên tâm nồng nhiệt hơn có thể đưa những môn khoa học
này đến gần hơn với sự hoàn thiện. Việc từ bỏ ngay lập tức tất cả những tham vọng
loại này có thể bị coi là liều lĩnh, vội vàng và độc đoán hơn cả nền triết học
táo bạo và quả quyết nhất từng tìm cách áp đặt những mệnh lệnh và nguyên tắc
thô thiển của mình lên nhân loại. Kết luận cuối cùng này chắc chắn không phải là điều đáng mong muốn; và cũng
không nên vội vàng chấp nhận nó. Bởi vì, dựa trên một giả định như vậy, chúng
ta sẽ làm giảm đi bao nhiêu vẻ đẹp và giá trị của loại triết học này? Những nhà
đạo đức học cho đến nay đã quen với việc, khi xem xét vô số và đa dạng những
hành động khơi dậy sự tán thành hay ghét bỏ của chúng ta, tìm kiếm một nguyên
lý tổng quát nào đó vốn sự đa dạng của những tình cảm ấy có thể tùy thuộc vào. Dù
đôi khi họ đã đi quá xa, vì đam mê một nguyên lý tổng quát nào đó; thì vẫn phải
thừa nhận rằng họ có lý khi kỳ vọng tìm thấy một số nguyên lý tổng quát mà tất
cả những thói xấu và đức hạnh đều có thể được quy về một cách chính đáng. Những
nỗ lực tương tự cũng đã được những nhà phê bình, nhà lôgích học, và ngay cả cả
nhà chính trị thực hiện: Và những nỗ lực của họ không hoàn toàn vô ích; dù có lẽ
cần thêm thời gian, sự chính xác lớn hơn, và sự tận tụy nhiệt thành hơn để đưa
những khoa học này tiến gần hơn đến sự hoàn hảo. Việc từ bỏ ngay lập tức tất cả
những tham vọng loại này có thể bị coi là vội vã, hấp tấp và độc đoán hơn cả nền
triết học táo bạo và quả quyết nhất đã từng cố gắng áp đặt những mệnh lệnh và
nguyên lý thô thiển của nó lên loài người.
E 1. 16, SBN 15-6
Dù những lý luận
về bản chất con người này có vẻ trừu tượng và khó hiểu đến thế nào? Điều này
không hề cho phép chúng ta suy diễn rằng chúng là giả trá sai lầm. Ngược lại,
dường như không thể nào những điều vốn cho đến nay nhiều triết gia khôn ngoan
và uyên bác chưa hiểu lại có thể rất hiển nhiên và dễ dàng. Và dù những nghiên
cứu này có tốn kém bao nhiêu công sức, chúng ta cũng có thể tự cho là đã được đền
đáp xứng đáng, không chỉ về mặt ích lợi nhưng còn về mặt thích thú, nếu nhờ đó,
chúng ta có thể bổ sung thêm kiến thức vào những đề tài quan trọng đến mức
không thể diễn tả bằng lời như vậy.
E 1. 17, SBN 16
Nhưng xét cho
cùng, tính trừu tượng của những suy diễn này không phải là một ưu điểm nhưng
đúng hơn là một bất lợi với chúng; và vì khó khăn ấy có lẽ có thể vượt qua bằng
sự cẩn trọng và khéo léo, cùng với việc tránh tất cả những chi tiết không cần
thiết, nên trong điều tra sau đây, chúng ta đã cố gắng soi sáng phần nào những
đề tài mà cho đến nay, sự bất định đã khiến người khôn ngoan phải chùn bước,
còn sự tối nghĩa làm nản lòng người thiếu hiểu biết. Thật may mắn nếu chúng ta
có thể thống nhất những ranh giới giữa những loại triết học khác nhau, bằng
dung hòa sự tìm tòi sâu xa với sự rõ ràng, và sự thật với sự mới lạ! Và còn may
mắn hơn nữa, nếu bằng cách lập luận theo lối dễ hiểu này, chúng ta có thể làm
lung lay nền tảng của một thứ triết học huyền áo, vốn dường như cho đến nay chỉ
phục vụ như nơi ẩn náu cho mê tín, và như màn che đậy cho sự phi lý và sai lầm!
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Jan/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] an illiberal
genius: Nguyên văn chỉ một
tinh thần thô lậu hoặc trí tuệ hẹp hòi. Trong bối cảnh của Hume, đây là kiểu
người thiếu giáo dục khai phóng, hoàn toàn không có khả năng thưởng thức cái đẹp
hay tri thức, bị giới hạn trong những suy nghĩ thực dụng và tầm thường.
[2] Trong Hume, Tự nhiên không là môi
trường sinh thái, nhưng là bản chất con người và những quy luật tất yếu
điều khiển sự sống. Hume nhân hóa Tự nhiên như một người mẹ hiền nhưng nghiêm
khắc, người thiết lập sự cân bằng giữa lý trí và bản năng. Sở dĩ tác giả để “Tự
nhiên” lên tiếng răn dạy là vì ông tin rằng: Dù lý trí có thể bay bổng đến đâu
trong những học thuyết trừu tượng, nó vẫn phải chịu khuất phục trước những nhu
cầu căn bản (ăn, ngủ, giao tiếp, hành động). Sự “trừng phạt” của Tự nhiên đối với
những triết gia quá tách biệt với đời thường chính là sự u sầu và sự cô độc—những
dấu hiệu cho thấy cuộc sống đang mất đi sự hài hòa vốn có.
[3] The easy and humane philosophy chỉ loại triết học dễ tiếp nhận, gần
với đời sống con người, hướng vào tình cảm, đạo đức và cách ứng xử hằng ngày. Nó
không nhắm đến phân tích trừu tượng hay lập luận quá chặt chẽ, mà nhằm uốn nắn
trái tim và hành vi, làm cho con người sống tốt hơn trong sinh hoạt chung của
xã hội.
[4] khoa học về não thức/ triết học tâm lý/ siêu hình học chân chính về sự hiểu biết con người (đối lập với siêu
hình học giả tạo phê phán ở
trên)
[5] Hume nói về Isaac Newton, người đã xây dựng
hệ thống thiên văn học giải thích chuyển động của những hành tinh. Trong thời
Hume, thuật ngữ “philosopher” (triết gia) gồm cả những nhà khoa học tự nhiên
như Newton. Ông lập luận rằng nếu chúng ta tôn vinh Newton vì đã làm sáng tỏ vị
trí và trật tự của những thiên thể cách xa hàng triệu dặm, thì thật phi lý khi
lại xem nhẹ những người nghiên cứu về tâm lý con người—những người phác họa
cách thức chúng ta tư duy, cảm nhận và hành động, tức những phương diện về bản
chất gần gũi và thiết yếu nhất với chúng ta.
[6] Isaac Newton : người đã không chỉ chứng minh chuyển động của những hành tinh từ hiện
tượng (như những nhà thiên văn trước đó), mà còn xác định những định luật và lực
(laws and forces) chi phối sự quay của những hành tinh, tức là định luật vạn vật
hấp dẫn (law of universal gravitation) và những nguyên tắc trong Principia
Mathematica (1687).
Hume ca ngợi Newton không chỉ dừng lại ở mô tả
chuyển động của những hành tinh, mà còn tìm ra tất cả những quy luật và sức mạnh
(laws and forces) cai quản chúng—như luật vạn vật hấp dẫn. Đây là minh chứng
cho việc triết học tự nhiên đã chuyển từ "ghi chép hiện tượng" sang
"giải thích nguyên nhân sâu xa". Hume khẳng định "điều tương tự" cũng
đã diễn ra ở những phần khác của tự nhiên, tiêu biểu như: Quang học: Giải thích
bản chất ánh sáng và màu sắc bằng những nguyên tắc cơ học. Cơ học mặt đất: Áp dụng quy luật chuyển động
cho vật thể rơi hoặc bị ném. Những ngành
mới: Thủy lực, nhiệt học và hóa học sơ khai, nơi người ta bắt đầu săn tìm những
"nguồn mạch thầm kín" thay vì chỉ nhìn vẻ bề ngoài. Qua đó, Hume muốn áp dụng chính phương pháp
thành công này để xây dựng một "bản đồ" giải thích toàn bộ cách vận
hành của tâm trí con người.
