Thursday, January 8, 2026

Hume – Về Tiêu Chuẩn của Thị Hiếu Thẩm Mỹ (03)

Về Tiêu Chuẩn của Thị Hiếu Thẩm Mỹ

(Of the Standard of Taste)

David Hume


( ← ... tiếp theo )

 



 

ST 25, Mil 242

Nhưng nếu chúng chúng ta xem xét vấn đề một cách thấu đáo, đây là những câu hỏi về sự kiện thực tế, chứ không phải về tình cảm. Việc một cá nhân cụ thể có sở hữu cảm quan tốt, một trí tưởng tượng tinh tế, và sự tự do khỏi tiên kiến hay không, có thể thường xuyên gây ra tranh luận, đòi hỏi sự thảo luận và tìm tòi kỹ lưỡng. Thế nhưng, tất cả loài người sẽ đồng ý rằng một mẫu người như vậy là quý giá và đáng trọng. Khi những nghi ngờ này nảy sinh, con người cũng chỉ có thể làm như cách họ đối diện với những vấn đề gây tranh luận khác thuộc về trí năng: họ phải đưa ra những lập luận tốt nhất mà trí sáng tạo của mình gợi mở; họ phải thừa nhận rằng có tồn tại một tiêu chuẩn thực sự và mang tính quyết định ở đâu đó – cụ thể là sự tồn tại thực và những sự kiện thực tế; và họ phải bao dung với những người có quan điểm khác biệt khi cùng viện dẫn tiêu chuẩn này. Đối với mục đích hiện tại của chúng ta, bấy nhiêu đây là đủ: chúng chúng ta đã chứng minh được rằng thị hiếu của mọi cá nhân không hề ngang hàng nhau; và rằng sẽ luôn có một số người – dù việc chỉ đích danh họ là ai có khó khăn đến mức nào – vẫn sẽ được tình cảm phổ quát của loài người thừa nhận là có ưu thế vượt trội hơn những người khác.

 

ST 26, Mil 242-3

Nhưng trong thực tế, việc tìm kiếm tiêu chuẩn của thị hiếu – ngay cả trong những trường hợp cụ thể – không hề khó khăn như người chúng ta vẫn rêu rao. Dẫu về mặt lý thuyết, chúng chúng ta có thể dễ dàng công nhận một tiêu chuẩn nhất định trong khoa học nhưng lại phủ nhận nó trong tình cảm, thì thực tiễn cho thấy việc xác lập tiêu chuẩn trong khoa học lại khó khăn hơn nhiều so với trong nghệ thuật. Những học thuyết triết học trừu tượng hay những hệ thống gót học uyên thâm có thể thống trị trong một thời đại; nhưng đến một thời kỳ kế tiếp, người chúng ta lại đồng loạt bác bỏ chúng. Thế gian vạch trần sự phi lý của chúng; những học thuyết và hệ thống khác đến thay thế, rồi chính chúng lại nhường chỗ cho những kế tục của chúng. Không có gì phải chịu sự xoay vần của may rủi và thời thượng nhiều hơn là những phán quyết vốn được mệnh danh là ‘khoa học’ này. Trường hợp của cái đẹp trong hùng biện và thi ca thì không như vậy. Những diễn đạt đúng đắn về đam mê và bản chất con người chắc chắn sẽ giành được sự tán thưởng của công chúng sau một thời gian ngắn, và họ sẽ duy trì sự tán thưởng đó mãi mãi. Aristotle, Plato, Epicurus và Descartes có thể lần lượt nhường ngôi cho nhau; nhưng Terence và Virgil vẫn duy trì một đế chế phổ quát, không ai tranh cãi, ngự trị trên tâm trí con người. Triết học trừu tượng của Cicero đã mất đi uy tín; nhưng sức mạnh mãnh liệt trong tài hùng biện của ông thì vẫn mãi là đối tượng cho chúng chúng ta ngưỡng mộ.

 

ST 27, Mil 243

Dẫu những người có thị hiếu tinh tế thật hiếm hoi, nhưng xã hội dễ dàng nhận ra họ nhờ óc phán đoán sáng suốt và những năng lực trí tuệ vượt trội của họ so với phần còn lại của loài người. Ưu thế mà họ có được giúp những lời tán thưởng nồng nhiệt của họ dành cho những tác phẩm thiên tài lan tỏa mạnh mẽ và chiếm ưu thế trong công chúng. Nhiều người, nếu để mặc họ tự cảm nhận, chỉ có những nhận thức mờ nhạt và mơ hồ về cái đẹp; thế nhưng, chính họ lại có khả năng thưởng thức bất kỳ nét vẽ tinh vi nào nếu được người khác chỉ ra. Mỗi người khi được thuyết phục để ngưỡng mộ một nhà thơ hay diễn giả thực thụ sẽ trở thành tác nhân thuyết phục những người khác. Và dù tiên kiến có thể thắng thế trong một thời gian, chúng không bao giờ có thể thống nhất để tôn vinh bất kỳ đối thủ nào ngang hàng với một thiên tài thực thụ; cuối cùng, tiên kiến phải khuất phục trước sức mạnh của tự nhiên và tình cảm đúng đắn. Do đó, một quốc gia văn minh có thể dễ dàng lầm lẫn khi chọn lựa vị triết gia mà họ ngưỡng mộ, nhưng họ chưa bao giờ sai lầm lâu dài trong sự yêu mến dành cho một tác giả sử thi hay bi kịch được ưa chuộng. [1]

 

ST 28, Mil 243-4

Nhưng bất chấp mọi cố gắng của chúng chúng ta nhằm xác lập một tiêu chuẩn cho thị hiếu và hòa giải những nhận thức xung đột giữa người với người, vẫn còn đó hai nguồn gốc gây nên sự khác biệt; chúng thực sự không đủ sức để xóa nhòa mọi ranh giới giữa cái đẹp và cái xấu, nhưng thường xuyên tạo ra sự khác biệt trong mức độ tán thưởng hay chê trách của chúng ta. Một là khuynh hướng tính khí khác nhau của từng cá nhân; hai là những phong tục và quan điểm đặc thù của thời đại và quốc gia chúng chúng ta đang sống. Những nguyên lý tổng quát của thị hiếu vốn thống nhất trong bản chất con người: Khi con người khác biệt trong phán đoán, chúng chúng ta thường có thể nhận thấy một khiếm khuyết hay sự sai lệch nào đó trong những năng lực trí tuệ; chúng nảy sinh từ tiên kiến, từ sự thiếu thực hành, hoặc thiếu sự tinh tế; và chúng chúng ta có lý do chính đáng để tán thành thị hiếu này và phê phán thị hiếu kia. Thế nhưng, khi sự đa dạng nảy sinh từ cấu trúc nội tâm hoặc hoàn cảnh bên ngoài – những thứ hoàn toàn không thể đổ lỗi cho bên nào và không có cơ sở để ưu tiên bên này hơn bên kia – thì trong trường hợp đó, một mức độ khác biệt nhất định trong phán đoán là điều không thể tránh khỏi, và chúng chúng ta sẽ hoài công vô ích khi tìm kiếm một tiêu chuẩn để hòa giải những tình cảm trái ngược nhau ấy.

 

ST 29, Mil 244

Một chàng trai trẻ với những đam mê nồng cháy sẽ cảm động một cách nhạy bén trước những hình tượng đa tình và dịu dàng hơn so với một người đàn ông tuổi cao niên – người tìm thấy thích thú trong những suy ngẫm triết học thông thái về cách hành xử ở đời và sự tiết chế những đam mê. Ở tuổi hai mươi, Ovid có thể là tác giả được yêu thích nhất; Horace ở tuổi bốn mươi; và có lẽ là Tacitus ở tuổi năm mươi. Trong những trường hợp như vậy, chúng chúng ta sẽ hoài công vô ích nếu cố gắng thâm nhập vào tình cảm của người khác và tước bỏ đi những thiên hướng vốn dĩ tự nhiên đối với mình. Chúng chúng ta lựa chọn tác giả yêu thích cũng giống như cách chúng chúng ta chọn bạn bè, dựa trên sự tương đồng về tính khí và khuynh hướng tâm lý. Sự vui vẻ hay đam mê, cảm xúc hay sự suy tư; bất kể yếu tố nào chiếm ưu thế trong tâm tính, nó sẽ tạo cho chúng chúng ta một sự đồng cảm đặc biệt với nhà văn nào có nét tương đồng với chúng ta. [2]

 

ST 30, Mil 244

Người này ưa thích cái cao cả (sublime); người kia chuộng vẻ dịu dàng (tender); người thứ ba lại khoái sự châm biếm (raillery). Có người cực kỳ nhạy cảm với những tì vết và đặc biệt theo đuổi sự chuẩn xác; người khác lại có cảm nhận sống động hơn về những vẻ đẹp, sẵn lòng tha thứ cho hai mươi điểm vô lý hay khiếm khuyết để đổi lấy một nét vẽ cao nhã hoặc gây xúc động mãnh liệt. Đôi tai của người này hoàn toàn hướng về sự súc tích và mạnh mẽ; kẻ kia lại say mê lối diễn đạt phong phú, giàu có và hài hòa. Người này theo đuổi sự giản dị; kẻ khác lại thích sự hoa mỹ. Hài kịch, bi kịch, trào phúng, tụng ca, mỗi loại hình đều có những người ủng hộ riêng, những người ưu tiên thể loại viết lách đặc thù đó hơn tất thảy những loại hình khác. Rõ ràng là một sai lầm nếu nhà phê bình chỉ giới hạn sự tán thưởng của mình vào một thể loại hay một phong cách viết nhất định mà phủ nhận tất cả những gì còn lại. Thế nhưng, chúng chúng ta gần như không thể không cảm thấy một sự thiên vị đối với những gì phù hợp với khuynh hướng và tâm tính riêng biệt của mình. Những ưu tiên như vậy là vô hại và không thể tránh khỏi, và không bao giờ có thể trở thành đối tượng tranh chấp một cách hợp lý, bởi lẽ không tồn tại một tiêu chuẩn nào để có thể quyết định chúng.

 

ST 31, Mil 244-5

Cũng vì lý do tương tự, trong quá trình đọc, chúng chúng ta cảm thấy hài lòng hơn với những hình ảnh và nhân vật giống với những đối tượng ở thời đại hay đất nước mình, hơn là những hình ảnh mô tả một tập hợp phong tục khác biệt. Phải cố gắng đôi chút chúng chúng ta mới có thể hòa hợp với sự giản đơn trong lề lối của người xưa, và chứng kiến cảnh những công chúa đi gánh nước từ suối, hay những vị vua và anh hùng tự tay nấu nướng thức ăn cho mình. Ta có thể thừa nhận một cách tổng quát rằng việc khắc họa những phong tục như vậy không phải là lỗi của tác giả, cũng không phải là điểm xấu của tác phẩm; nhưng chúng không thể chạm đến cảm xúc của chúng chúng ta một cách nhạy bén. Vì lý do này, hài kịch không dễ dàng chuyển từ thời đại hay quốc gia này sang quốc gia khác. Một người Pháp hay người Anh sẽ không thấy thích thú với vở Andria của Terence, hay vở Clitia của Machiavel; nơi mà người phụ nữ quý phái – nhân vật trung tâm của cả vở kịch – không bao giờ xuất hiện trước khán giả mà luôn bị giữ kín sau bức màn, phù hợp với tính khí kín đáo của người Hy Lạp cổ đại và người Ý hiện đại. Một người có học thức và có óc suy xét có thể nhân nhượng cho những nét đặc thù về phong tục này; nhưng một khán giả thông thường không bao giờ có thể rũ bỏ những ý niệm và tình cảm quen thuộc của mình đủ xa để thưởng thức những bức tranh chẳng giống họ chút nào.

 

ST 32, Mil 245-6

Nhưng tại đây nảy sinh một suy ngẫm có lẽ sẽ hữu ích khi chúng chúng ta xem xét cuộc tranh luận nổi tiếng về học thuật cổ đại và hiện đại; nơi mà chúng chúng ta thường thấy một bên bào chữa cho bất kỳ điểm phi lý nào ở người xưa dựa trên phong tục thời đại, còn bên kia thì từ chối chấp nhận lời bào chữa này, hoặc cùng lắm chỉ chấp nhận nó như một lời xin lỗi cho tác giả chứ không phải cho tác phẩm. Theo quan điểm của tôi, những bên tranh chấp hiếm khi xác lập được ranh giới đúng đắn trong vấn đề này. Khi tác giả khắc họa những nét đặc thù vô hại trong phong tục, như những điều đã nêu trên, chúng chúng ta chắc chắn phải chấp nhận chúng; và kẻ nào cảm thấy bị xúc phạm bởi những điều đó thì rõ ràng đang trưng ra một bằng chứng về sự tinh tế giả tạo và sự lịch lãm kệch cỡm. Đài tưởng niệm của nhà thơ – vốn ‘bền vững hơn đồng’ – hẳn sẽ sụp đổ xuống đất như gạch bùn tầm thường, nếu con người không chịu nhân nhượng cho những cuộc cách mạng liên tục về phong tục tập quán, và không chấp nhận bất cứ điều gì ngoài những gì phù hợp với thời thượng đang thịnh hành. Chẳng lẽ chúng chúng ta phải vứt bỏ những bức chân dung của tổ tiên chỉ vì họ mặc áo cổ xếp và váy phồng (ruffs and fardingales)? Nhưng khi những quan niệm về đạo đức và sự đứng đắn thay đổi từ thời đại này sang thời đại khác, và khi những hành vi đồi bại được mô tả mà không đi kèm những dấu hiệu phê phán hay phản đối thích đáng; thì điều này phải được coi là một khiếm khuyết làm biến dạng bài thơ và là một điểm xấu thực sự. Tôi không thể, và cũng không nên, thâm nhập vào những tình cảm như thế; và dù tôi có thể bào chữa cho nhà thơ vì phong tục thời đại của ông ta, tôi không bao giờ có thể thưởng thức tác phẩm đó. Sự thiếu nhân tính và thiếu đứng đắn lộ rõ trong những nhân vật được xây dựng bởi nhiều nhà thơ cổ đại, đôi khi ngay cả ở Homer và những nhà soạn bi kịch Hy Lạp, đã làm giảm đi đáng kể giá trị những tác phẩm cao quý của họ, đồng thời mang lại cho những tác giả hiện đại một ưu thế vượt trội. Chúng chúng ta không quan tâm đến vận mệnh và tình cảm của những anh hùng thô lỗ như vậy: Chúng chúng ta khó chịu khi thấy ranh giới giữa đức hạnh và thói xấu bị xóa nhòa; và bất kể chúng chúng ta có khoan dung thế nào cho nhà văn vì những tiên kiến của ông ta, chúng chúng ta cũng không thể ép mình thâm nhập vào tình cảm của ông ta, hay dành tình cảm cho những nhân vật mà chúng ta thấy rõ ràng là đáng chê trách.

 

ST 33, Mil 246-7

Trường hợp của những nguyên tắc đạo đức không giống với những quan điểm suy luận (speculative opinions) thuộc bất kỳ loại hình nào. Những quan điểm suy luận này luôn nằm trong trạng thái biến chuyển và cách mạng không ngừng. Người con có thể chấp nhận một hệ thống tư duy khác hẳn với người cha. Thậm chí, hiếm có người nào có thể tự hào về sự kiên định và thống nhất tuyệt đối trong phương diện này. Bất kể những sai lầm mang tính suy luận nào được tìm thấy trong những tác phẩm văn chương lịch thiệp của bất kỳ thời đại hay quốc gia nào, chúng cũng rất ít khi làm giảm giá trị của những sáng tác đó. Ta chỉ cần một sự xoay chuyển nhất định trong tư duy hay trí tưởng tượng là có thể thâm nhập vào tất cả những quan điểm từng thịnh hành thời bấy giờ, và thưởng thức những tình cảm hay kết luận rút ra từ chúng. Thế nhưng, chúng ta cần một nỗ lực cực kỳ cưỡng bách mới có thể thay đổi phán đoán của mình về lề lối đạo đức, và để kích phát những tình cảm tán thành hay chê trách, yêu thương hay căm ghét khác biệt với những gì mà tâm trí đã trở nên quen thuộc từ thói quen lâu đời. Và khi một người đã tự tin vào sự đúng đắn của tiêu chuẩn đạo đức mà mình dùng để phán xét, anh chúng ta sẽ bảo vệ tiêu chuẩn đó một cách chính đáng và đầy cảnh giác; anh chúng ta sẽ không làm sai lệch những tình cảm trong trái tim mình dù chỉ trong chốc lát để chiều lòng bất kỳ nhà văn nào, cho dù đó là ai đi chăng nữa.

 

ST 34, Mil 247

 

Trong số tất cả những sai lầm mang tính suy luận, những sai lầm liên quan đến tôn giáo là đáng được tha thứ nhất trong những sáng tác của bậc thiên tài; chúng ta cũng không bao giờ được phép phán xét sự văn minh hay trí tuệ của bất kỳ dân tộc nào, hay thậm chí của một cá nhân nào, thông qua sự thô thiển hay tinh vi trong những nguyên lý thần học của họ. Cùng một cảm quan tốt vốn dẫn dắt con người trong những sự việc đời thường lại không được lắng nghe trong những vấn đề tôn giáo – vốn được coi là nằm hoàn toàn bên ngoài phạm vi nhận thức của lý trí con người. Vì lẽ đó, mọi sự phi lý của hệ thống thần học ngoại giáo đều phải được bỏ qua bởi bất kỳ nhà phê bình nào muốn hình thành một quan niệm đúng đắn về thi ca cổ đại; và hậu thế của chúng ta, đến lượt mình, cũng phải dành sự nhân nhượng tương tự cho tổ tiên của họ. Không một nguyên lý tôn giáo nào có thể bị coi là lỗi của nhà thơ, chừng nào chúng vẫn chỉ đơn thuần là những nguyên lý và không chiếm hữu trái tim ông chúng ta mạnh mẽ đến mức khiến ông chúng ta bị buộc tội là kẻ cuồng tín hay mê tín. Khi điều đó xảy ra, chúng sẽ làm đảo lộn những tình cảm đạo đức và thay đổi những ranh giới tự nhiên giữa thói hư và đức hạnh. Do đó, chúng trở thành những vết nhơ vĩnh cửu theo nguyên lý đã nêu ở trên; và ngay cả những tiên kiến hay quan điểm sai lầm của thời đại cũng không đủ để biện minh cho chúng. [3]

 

ST 35, Mil 247-8

Bản chất của hội nhà thờ Catô Rôma là khơi dậy lòng thù hận mãnh liệt đối với mọi hình thức thờ phụng khác, đồng thời mô tả tất cả những người ngoại giáo, người Muslim và những kẻ dị giáo là đối tượng của sự phẫn nộ và báo thù từ thần linh. Những tình cảm như vậy, dù trong thực tế là rất đáng chê trách, lại được những kẻ cuồng tín trong cộng đoàn đó coi là đức hạnh, và được khắc họa trong những vở bi kịch cũng như sử thi của họ như một loại chủ nghĩa anh hùng thần thánh. Sự cuồng tín này đã làm biến dạng hai vở bi kịch rất hay của sân khấu Pháp là Polieucte và Athalia; nơi mà sự nhiệt thành thái quá đối với những hình thức thờ phụng riêng biệt được tô điểm bằng tất cả sự phô trương có thể tưởng tượng được, và tạo nên tính cách chủ đạo của những anh hùng. ‘Cái gì thế này’, Joad cao thượng nói với Josabet khi thấy bà đang trò chuyện với Mathan, tư tế của thần Baal, ‘Liệu con gái của David có đang nói chuyện với kẻ phản bội này không? Ngươi không sợ đất sẽ nứt ra và phun lửa thiêu cháy cả hai sao? Hay không sợ những bức tường thánh này sẽ sụp đổ và đè nát những ngươi cùng lúc? Mục đích của hắn là gì? Tại sao kẻ thù của Chúa lại đến đây để đầu độc bầu không khí chúng chúng ta đang hít thở bằng sự hiện diện kinh tởm của hắn?’ Những tình cảm như thế được đón nhận bằng những tràng pháo tay lớn trên sân khấu Paris; nhưng tại London, khán giả sẽ thấy hài lòng hơn nhiều khi nghe Achilles mắng Agamemnon rằng hắn có bộ mặt của loài chó và trái tim của loài hươu, hoặc nghe Jupiter đe dọa sẽ cho Juno một trận đòn nên thân nếu bà không chịu giữ yên lặng. [4]

 

ST 36, Mil 248-9

Những nguyên lý tôn giáo cũng trở thành một vết nhơ trong bất kỳ tác phẩm văn chương lịch thiệp nào khi chúng biến tướng thành sự mê tín và tự ý xâm nhập vào mọi tình cảm, bất kể tình cảm đó có xa rời tôn giáo đến đâu. Việc phong tục của đất nước nhà thơ đã chất chồng lên đời sống quá nhiều nghi lễ và giáo điều tôn giáo – đến mức không một phần nào của cuộc sống thoát khỏi cái ách đó – cũng không thể là lời bào chữa cho ông ta. Sẽ mãi luôn là nực cười khi Petrarch so sánh người tình của mình, Laura, với Chúa Giê-su. Và cũng không kém phần nực cười khi kẻ phóng đãng dễ mến đó, Boccace, lại hết sức nghiêm túc dâng lời tạ ơn Gót Toàn năng và những quý bà vì đã hỗ trợ ông chúng ta chống lại kẻ thù. [5]



[1] Aristoteles vs. Homer:

(a) Về Triết học (Sự sai lầm): Trong suốt gần 2.000 năm, cả châu Âu tin vào vật lý học và triết học tự nhiên của Aristoteles (rằng Trái Đất là trung tâm vũ trụ, vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ). Nhưng khi khoa học thực nghiệm ra đời, toàn bộ hệ thống này bị bác bỏ hoàn toàn. Một quốc gia văn minh ngày nay sẽ coi triết học tự nhiên của ông là một “sai lầm”.

(b) Về Văn chương (Sự bền vững): Thế nhưng, chính quốc gia đó chưa bao giờ thôi ngưỡng mộ Homer với hai bộ sử thi Iliad và Odyssey. Dù tư duy khoa học thay đổi, nhưng nỗi đau của Achilles hay hành trình của Odysseus vẫn chạm đến trái tim con người một cách mãnh liệt như ngày đầu. Hume muốn nói: Chúng ta có thể bỏ rơi triết học của Aristoteles, nhưng không bao giờ bỏ rơi thi ca của Homer.

Triết học dựa trên Suy luận (Reason): Suy luận của con người thường bị giới hạn bởi tri thức của từng thời đại. Khi có tri thức mới, hệ thống cũ sụp đổ. Văn chương dựa trên Tình cảm (Sentiment): Những tác giả sử thi hay bi kịch vĩ đại đánh vào bản chất cốt lõi của con người (đam mê, yêu thương, thù hận, nỗi sợ cái chết). Vì bản chất con người không thay đổi qua hàng ngàn năm, nên sự yêu mến dành cho những tác phẩm này là vĩnh cửu.

[2] (a) Ovid (43 TCN – 17/18 SCN): Nhà thơ La Mã nổi tiếng với những tác phẩm về tình yêu và sự biến hình (Metamorphoses). Ông đại diện cho sự nồng nhiệt, lãng mạn và đam mê của tuổi trẻ. (b) Horace (65 TCN – 8 TCN): Nhà thơ trữ tình La Mã, nổi tiếng với những bản tụng ca (Odes) và những bài thơ trào phúng, mang tính chất trung dung, đạo đức và sự tinh tế của tuổi trung niên. (c) Tacitus (khoảng 56 – 120 SCN): Nhà sử học và chính trị gia La Mã, người có ngòi bút sắc sảo, nghiêm cẩn và đầy những suy ngẫm triết học sâu sắc về quyền lực và bản chất con người, phù hợp với sự chiêm nghiệm của tuổi già.

[3] Hume phân định tinh vi: (a) Thần thoại là “Vô hại” (Speculative Absurdities): Hume cho rằng chúng ta không nên chê trách Homer vì ông tin vào những vị thần trên đỉnh Olympus. Thần học thường nằm ngoài lý trí, nên việc tác giả sử dụng những hệ thống niềm tin kỳ quái của thời đại họ là điều chấp nhận được. Nhà phê bình phải biết “lờ đi” (overlooked) những điều này để thưởng thức nghệ thuật. (b) Ranh giới của Sự Cuồng tín (Bigotry and Superstition): Tuy nhiên, tôn giáo trở thành lỗi thẩm mỹ khi nó xâm lấn vào đạo đức. Nếu niềm tin tôn giáo của nhà thơ khiến ông ta ca ngợi việc sát hại người ngoại đạo hoặc cổ xúy sự tàn độc, thì đó không còn là “sai lầm suy luận” nữa mà đã trở thành “vết nhơ vĩnh cửu” (eternal blemish). (c) Tính Phổ quát của Đạo đức: Hume tái khẳng định rằng trong khi tôn giáo có thể thay đổi và kỳ quái, thì ranh giới tự nhiên giữa đức hạnh và thói xấu là bất biến. Nghệ thuật vĩ đại phải tôn trọng ranh giới đạo đức này để có thể chạm đến trái tim của mọi thế hệ.

[4] Polieucte & Athalia: Hai vở bi kịch kinh điển của những tác giả Pháp (Pierre Corneille và Jean Racine). Hume sử dụng chúng để minh chứng cho việc sự cuồng tín tôn giáo (bigotry) có thể xâm chiếm nghệ thuật cao quý như thế nào. Joad & Mathan: những nhân vật trong vở Athalia. Joad đại diện cho đức tin cuồng nhiệt, coi việc đối thoại với tư tế thần Baal (Mathan) là một tội ác kinh hoàng. Achilles & Agamemnon: Tham chiếu đến sử thi Iliad của Homer. Hume ngụ ý rằng khán giả Anh (theo truyền thống Tin lành và thực dụng hơn) thà chấp nhận sự thô lỗ mang tính con người của những anh hùng Hy Lạp còn hơn là sự cuồng tín tôn giáo cực đoan.

Thái độ của Hume đối với sự cuồng tín. Ông lập luận rằng: (a) Nghệ thuật bị bóp méo bởi ý thức hệ: Khi tôn giáo biến thành lòng căm thù, nó không còn là một “sai lầm suy luận” vô hại nữa. Nó trở thành một khiếm khuyết đạo đức làm hỏng đi vẻ đẹp của tác phẩm. (b) Sự khác biệt mang tính địa phương (Paris vs. London): Hume mỉa mai rằng cùng một hành vi cuồng tín có thể được Paris tán thưởng nhưng lại bị London ghẻ lạnh. Điều này cho thấy định kiến tôn giáo của một thời đại hay một quốc gia có thể làm sai lệch thị hiếu của cả một dân tộc. (c) Ưu tiên bản tính tự nhiên: Hume thà chấp nhận những “lỗi” như sự nóng nảy của Achilles hay lời đe dọa của Jupiter (vốn thuộc về bản tính con người tự nhiên) hơn là sự “đức hạnh giả tạo” nảy sinh từ lòng cuồng tín tôn giáo.

[5]

(a)

Hume chỉ trích sự “thiếu tiết độ” (lack of decorum) khi tôn giáo bị sử dụng sai chỗ: (a) Sự xâm lấn của Mê tín (Intrusion of Superstition): Hume cho rằng một tác phẩm nghệ thuật mất đi tính “lịch thiệp” (polite) khi tôn giáo xuất hiện ở những nơi không liên quan. Ông coi việc biến mọi khía cạnh cuộc sống thành một phần của tôn giáo là một “cái ách” (yoke) kìm hãm tự do thẩm mỹ. (b) Petrarch và Laura: Francesco Petrarch là nhà thơ lớn thời Phục hưng Ý, nổi tiếng với những bản sonnet tặng Laura. Hume chế giễu việc Petrarch thánh hóa tình yêu nam nữ bằng những phép so sánh tôn giáo nặng nề, coi đó là sự lệch lạc về thị hiếu. (c) Boccaccio (Boccace) và sự mâu thuẫn: Giovanni Boccaccio là tác giả của Decameron. Hume chỉ ra sự nực cười khi một người viết về những chuyện phong tình, phóng đãng (libertine) lại đặt lời tạ ơn Chúa ngang hàng với những quý bà. Sự pha trộn giữa cái thiêng liêng và cái trần tục một cách thiếu tinh tế làm hỏng giá trị của tác phẩm.

(b)

Trong thế giới nghệ thuật, chúng ta thường bảo nhau rằng “đẹp hay xấu là tùy mắt người nhìn”. Thế nhưng, David Hume lại có một góc nhìn sắc sảo hơn: dù cái đẹp bắt nguồn từ cảm nhận cá nhân, nhưng không phải mọi đánh giá đều có sức nặng như nhau. Để chạm tới giá trị đích thực của một tác phẩm, ông cho rằng mỗi người cần rèn luyện năm năng lực cốt lõi để đưa “chiếc cân” thẩm mỹ về trạng thái chuẩn xác nhất.

Năm chiếc chìa khóa mở cửa nghệ thuật:

Trước hết là Sự nhạy bén. Đây là khả năng nắm bắt những chi tiết siêu vi mà mắt thường hay bỏ qua. Thiếu đi nó, chúng ta chỉ thấy một tác phẩm “hay” hoặc “dở” một cách mơ hồ. Nhưng khi đã tinh tường, chúng ta sẽ chỉ ra được chính xác nốt nhạc nào bị phô, câu văn nào chưa mượt, hay vệt màu nào còn dư thừa trên bức tranh.

Tiếp đến là Sự quen tay, quen mắt. Nghệ thuật đòi hỏi sự kiên nhẫn. Khi chúng ta dành thời gian để xem, đọc và nghe đủ nhiều, cảm giác bối rối trước những thứ mới lạ sẽ tan biến. Cấu trúc và ý đồ của tác giả vốn mờ mịt ở lần đầu tiếp xúc sẽ dần hiện rõ sau lần thứ mười. Càng trải nghiệm sâu, cái nhìn của chúng ta càng thêm sắc sảo.

Năng lực thứ ba là Khả năng so sánh. Một người thưởng thức giỏi không bao giờ đánh giá một tác phẩm trong sự cô lập. Họ luôn đặt nó cạnh những đỉnh cao của nhân loại để soi chiếu. Nhờ có hệ quy chiếu này, chúng ta không dễ dàng tâng bốc một thứ tầm thường chỉ vì chưa thấy điều gì tốt hơn. Khi đã hiểu thế nào là “vàng thật”, chúng ta sẽ nhận ra ngay những thứ chỉ lấp lánh vẻ bên ngoài.

Thứ tư là việc Gạt bỏ định kiến. Đây là bản lĩnh bước ra khỏi cái tôi, sở thích cá nhân hay lòng tự tôn dân tộc. Một người công tâm vẫn có thể thán phục cái hay của một cuốn sách dù không ưa tính cách tác giả, hoặc thẳng thắn chỉ ra điểm yếu của một bộ phim dù nó đang ca ngợi đúng đức tin hay đất nước của mình.

Cuối cùng là một Đầu óc sáng suốt. Nghệ thuật không chỉ có cảm xúc mà còn cần lý trí để kiểm chứng tính hợp lý. Một tư duy tỉnh táo giúp chúng ta nhận ra những thành phần trong tác phẩm có ăn khớp với nhau không, và liệu tác giả có thực sự chạm tới đích đến mà họ đã vạch ra ban đầu hay không.

Ranh giới của sự bao dung

Bên cạnh việc rèn luyện năng lực, Hume cũng vạch ra ranh giới giữa sự bao dung và khắt khe. Có những khác biệt chấp nhận được vì đó là bản tính tự nhiên: người trẻ thường yêu sự nồng nhiệt, người già lại chuộng vẻ sâu lắng; thời xưa gánh nước bằng vai, thời nay dùng máy móc hiện đại. Với những điều thuộc về tính cách hay phong tục này, không có đúng hay sai, chúng ta cần tôn trọng sở thích riêng của nhau.

Tuy nhiên, có những lỗi không thể tha thứ. Đó là khi tác phẩm ca ngợi sự tàn bạo, gieo rắc lòng thù hận hay cổ xúy những hành vi vô nhân tính. Với Hume, đây là những “vết nhơ” làm hỏng giá trị nghệ thuật từ bên trong, và chúng ta không bao giờ nên nhân nhượng cho chúng dưới bất kỳ danh nghĩa nào.

Giá trị thật nằm ở thời gian

Sau cùng, một tác phẩm thực sự đẹp không dựa vào những tiếng vang rầm rộ nhất thời. Vẻ đẹp đích thực là kết tinh từ tiếng nói chung của những người am hiểu, tinh tế và công bằng, đã được sàng lọc qua hàng trăm năm lịch sử. Vì vậy, đừng vội cuốn theo những gì đang “hot” trên mạng hôm nay; hãy xem thứ gì còn trụ lại được sau dòng chảy khắc nghiệt của thời gian, bởi đó mới chính là giá trị thật. 

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Jan/2026)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com