Sunday, September 15, 2024

Chomsky – Ngôn ngữ và Não thức (03)

Ngôn ngữ và Não Thức

(Language and Mind)

( ← ... tiếp theo )

Noam Chomsky

 

 

 


Chương 2


Những đóng góp của ngữ học cho việc nghiên cứu não thức: Hiện tại

 

Một khó khăn trong những khoa học tâm lý nằm trong sự quen thuộc của những hiện tượng chúng giải quyết. Cần phải có một cố gắng trí thức nhất định để xem – những hiện tượng như vậy có thể gây ra những vấn đề nghịêm trọng hay đòi hỏi những lý thuyết giải thích phức tạp – như thế nào. Người ta có khuynh hướng không suy nghĩ chấp nhận chúng như bình thường, hay một cách nào đó như “tự nhiên”.

 

Những tác động của sự quen thuộc này với những hiện tượng đã thường từng được thảo luận. Thí dụ, Wolfgang Köhler đã nêu lên rằng những nhà tâm lý học không mở ra “những khu vực hoàn toàn mới” trong phương cách của khoa học tự nhiên, “đơn giản vì con người đã quen thuộc với hầu hết tất cả những khu vực của đời sống tâm lý, một thời gian dài trước sự thành lập của khoa học tâm lý . . bởi vì ở ngay khởi đầu công việc của họ, đã không có những sự kiện tâm lý còn lại nào hoàn toàn chưa được biết để họ có thể khám phá”.[1] Những khám phá cơ bản nhất của vật lý cổ điển có một giá trị chấn động nhất định – con người không có trực giác về quỹ đạo hình elip, hay hằng số của lực hấp dẫn. Nhưng “những sự thật tâm lý” thuộc loại ngay cả sâu xa hơn nhiều cũng không thể được nhà tâm lý học “khám phá”, bởi chúng là một vấn đề của sự quen thuộc về trực giác, và một khi được cho thấy, đều hiển nhiên, do đó có vẻ như không cần khám phá mới.

 

Cũng còn có một tác động tế nhị hơn. Những hiện tượng có thể quá quen thuộc đến nỗi chúng ta thực sự không nhìn thấy chúng gì cả, một vấn đề những nhà lý luận văn học và triết học đã thảo luận nhiều. Thí dụ, Viktor Shklovskij ,vào đầu những năm 1920, đã khai triển ý tưởng rằng chức năng của nghệ thuật thi ca là “làm cho đối tượng được mô tả trở nên lạ lùng”. “Những người sinh sống ở vùng bờ biển đã quá quen với tiếng sóng vỗ rì rào đến nỗi họ không bao giờ nghe thấy nó nữa. Tương tự như vậy, chúng ta hiếm khi nghe những lời chính mình thốt ra... chúng ta nhìn nhau, nhưng không còn thấy nhau nữa. Nhận biết của chúng ta về thế giới đã khô héo; những gì còn lại chỉ là sự nhận thức hời hợt” [2]. Do đó, Mục đích của nghệ sĩ là chuyển những gì được mô tả sang “lĩnh vực nhận thức mới”, Shklovskij trích dẫn một câu chuyện của Tolstoy, trong đó những phong tục và thể chế xã hội được “làm cho thành lạ lùng” bằng khéo léo trình bày chúng từ điểm nhìn của một lời kể chuyện, xảy là của một con ngựa. [3]

 

Nhận xét rằng “chúng ta nhìn nhau, nhưng không còn thấy nhau nữa” có lẽ tự thân nó đã đạt đến trạng thái của “những lời chúng ta thốt ra nhưng hiếm khi nghe thấy”. Nhưng sự quen thuộc, cũng như trong trường hợp này, không nên làm lu mờ sự quan trọng của cái nhìn trực giác sâu xa. Wittgenstein đưa ra một quan sát tương tự, cho thấy rằng “những phương diện của những sự vật viêc quan trọng nhất với chúng ta đều bị tính đơn giản và quen thuộc của chúng che dấu (người ta không có khả năng để ghi nhận một gì nữa– vì nó luôn luôn ở ngay trước mắt người ta)”. [4] Người này tự đặt cho mình để “cung cấp. . . những nhận xét về lịch sử tự nhiên của loài người: tuy nhiên, chúng ta không đóng góp vào những tò mò muốn biết nhưng là những quan sát vốn không ai đã nghi ngờ, nhưng lại không được chú ý chỉ vì chúng luôn ở trước mắt chúng ta”.[5]

 

Ít ghi nhận hơn là sự kiện rằng chúng ta cũng bỏ qua, không chú ý đến nhu cầu cho giải thích khi những hiện tượng đều quá quen thuộc và “hiển nhiên”. chúng ta có khuynh hướng quá dễ dãi để giả định rằng những giải thích phải đơn giản và rõ ràng, gần với ngoài mặt không cần phân tích sâu. Với tôi, thiếu xót lớn nhất của triết học cổ điển về não thức, cả duy lý lẫn duy nghiệm, là giả định không hoài nghi của nó rằng những thuộc tính và nội dung của não thức có thể được nghiên cứu bằng tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc của chính mình [6] ; là điều ngạc nhiên khi thấy giả định này hiếm khi bị thách thức, trong chừng mức liên quan với tổ chức và chức năng của những khả năng trí thức, ngay cả với cách mạng của Freud. Tương ứng, những nghiên cứu sâu rộng về ngôn ngữ được thực hiện dưới ảnh hưởng của thuyết duy lý Descartes đã có một thất bại, là không thẩm định được giá trị về tính trừu tượng của những cấu trúc vốn “hiện diện trong não thức”, khi một lời nói được tạo ra hay được hiểu, hay chiều dài và phức tạp của chuỗi những hoạt động liên quan với những cấu trúc tâm lý biểu hiện nội dung ngữ nghĩa của lời nói qua thể hiện vật chất.

 

Một thiếu xót tương tự đã làm hỏng sự nghiên cứu ngôn ngữ và não thức trong thời nay. Với tôi, có vẻ như nhược điểm cơ bản trong những nghiên cứu giải quyết của thuyết cấu trúc và thuyết hành vi với những đề tài này là đặt trọn tin tưởng vào sự nông cạn của những giải thích, tin tưởng rằng cấu trúc của não thức phải là đơn giản hơn trong cấu trúc của nó so với bất kỳ cơ quan sinh lý nào được biết và rằng những giả định nguyên sơ nhất như vậy phải là đủ để giải thích bất kỳ hiện tượng nào có thể được quan sát. Do đó, điều hiển nhiên là không có biện luận hay bằng chứng nào (hay được trình bày là đúng theo định nghĩa) rằng ngôn ngữ là một “cấu trúc do thói quen” [7] hay một mạng lưới của những kết nối, hay kiến thức về ngôn ngữ chỉ đơn thuần là một vấn đề “biết cách thức/biết làm thế nào”, một kỹ năng được thể hiện như một hệ thống của việc tuỳ tiện dùng những phản ứng. Theo đó, kiến thức của ngôn ngữ phải phát triển từ từ, qua lập đi lập lại và rèn luyện, sự phức tạp rõ ràng bên ngoài của nó là kết quả của sự gia tăng của những yếu tố rất đơn giản, nhưng không phải từ những nguyên tắc sâu xa hơn của tổ chức tâm lý vốn có thể không thể nghiên cứu giải quyết được bằng tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc , như những cơ năng tiêu hóa hay phối hợp vận động. Mặc dù không có gì là vô lý về cơ bản trong một cố gắng để giải thích kiến thức và cách dùng ngôn ngữ trong những điều kiện này, nhưng nó cũng không mang tính hợp lý hay một biện minh tiên nghiệm đặc biệt nào. Không có lý do gì để phản ứng với thái độ lo ngại hay hoài nghi nếu việc nghiên cứu kiến thức của ngôn ngữ và cách dùng kiến thức này sẽ dẫn đến một hướng hoàn toàn khác.

 

Tôi nghĩ rằng để đạt được tiến bộ trong nghiên cứu ngôn ngữ và những khả năng nhận thức con người trong tổng quát, trước tiên cần phải thiết lập “khoảng cách tâm lý” với “những sự kiện tâm lý” vốn Köhler đã nhắc đến, sau đó khám phá những khả năng cho việc phát triển những lý thuyết giải thích, bất cứ những gì chúng có thể nêu lên liên quan với sự phức tạp và trừu tượng của những hệ thống phân tích và lựa chọn cơ bản. chúng ta phải nhìn nhận rằng ngay cả những hiện tượng quen thuộc nhất cũng đòi hỏi giải thích, và chúng ta không có ưu tiên hiểu biết sâu xa trực tiếp nào về những hệ thống phân tích và lựa chọn cơ bản, cũng giống như trong sinh lý học hay vật lý. Chỉ những giả thuyết sơ bộ thăm dò, không chắc chắn, tạm thời nhất mới có thể được đưa ra liên quan với bản chất của ngôn ngữ, cách dùng nó và sự tiếp nhận nó. Là người nói tiếng mẹ đẻ, chúng ta có sẵn một lượng dữ liệu rất lớn. Chỉ đúng vì lý do này vốn người ta dễ rơi vào cái bẫy tin rằng không có gì để còn có thể còn lại để giải thích, rằng bất kỳ nguyên tắc tổ chức và hệ thống phân tích và lựa chọn cơ bản nào có thể hiện hữu, đều phải là “có sẵn” như dữ liệu được đem cho. Không gì có thể là xa sự thật hơn, và một cố gắng để mô tả chính xác hệ thống của những quy luật chúng ta đã nắm vững cho phép chúng ta hiểu những câu mới và tạo ra một câu mới vào một cơ hội thích hợp sẽ nhanh chóng xua tan bất kỳ giáo điều nào về vấn đề này. Sự tìm kiếm những lý thuyết giải thích phải bắt đầu bằng một cố gắng để xác định những hệ thống quy luật này và vén mở lên cho thấy những nguyên tắc điều khiển chúng.

 

Một người đã có được kiến thức của một một ngôn ngữ, đã hấp thụ [8] một hệ thống những qui luật liên hệ âm thanh và ý nghĩa trong một cách riêng biệt. Trong thực tế, nhà ngữ học xây dựng một ngữ pháp của một ngôn ngữ là đưa ra một giả thuyết liên quan với hệ thống đã nhập tâm này. Giả thuyết của nhà ngữ học, nếu được trình bày đủ rõ ràng và chính xác, sẽ có những hệ quả thực nghiệm nhất định, liên quan với dạng thức của những gì nói ra lời, và những diễn giải của người nói tiếng mẹ đẻ về ý nghĩa của chúng. Rõ ràng, kiến thức của ngôn ngữ – hệ thống những quy luật đã hấp thụ – chỉ là một trong nhiều yếu tố quyết định một gì nói ra lời sẽ được dùng và hiểu thế nào trong một hoàn cảnh riêng biệt. Nhà ngữ học cố gắng để xác định những gì cấu thành kiến thức của một ngôn ngữ – để xây dựng một ngữ pháp chính xác – là nghiên cứu một yếu tố nền tảng vốn liên quan với thể hiện ngôn ngữ, nhưng không là yếu tố duy nhất. Sự lý tưởng hóa này phải được ghi nhớ khi người ta xem xét vấn đề xác nhận những ngữ pháp trên cơ bản bằng chứng thực nghiệm. Không có lý do gì khiến người ta cũng không nghiên cứu tác động qua lại của nhiều yếu tố gồm trong những hành vi tâm lý phức tạp và thể hiện thực sự cơ bản, nhưng một nghiên cứu như vậy thì không có phần tiến được xa trừ khi bản thân những yếu tố riêng biệt đó đã được hiểu rõ ràng.

 

Trong một ý hướng xây dựng, ngữ pháp do nhà ngữ học nêu lên là một lý thuyết giải thích; nó đề nghị một giải thích cho sự kiện (theo cách lý tưởng hóa đã nhắc đến) rằng một người nói ngôn ngữ đang giải thích sẽ nhận thức, diễn giải, hình thành hay dùng một phát âm trong những cách nhất định nhưng không trong những cách khác. Người ta cũng có thể tìm những lý thuyết giải thích thuộc loại sâu xa hơn. Người nói tiếng mẹ đẻ đã tiếp nhận một ngữ pháp, học những quy luật ngữ pháp dựa trên những thí dụ ngôn ngữ rất giới hạn và thường không hoàn hảo. Mặc dù vậy, ngữ pháp vốn họ học được có thể được áp dụng cho nhiều câu nói hơn so với những thí dụ riêng biệt vốn họ đã gặp. Nói cách khác, sự hiểu biết về ngữ pháp của người nói vượt xa những bằng chứng hạn chế vốn họ tiếp xúc trong khi học ngôn ngữ. Ở một mức độ, những hiện tượng ngữ pháp nói đến được giải thích bằng những quy luật của chính ngữ pháp và tác động qua lại của những quy luật này. Ở một mức độ sâu hơn, cùng những hiện tượng này được giải thích bằng những nguyên tắc xác định, hướng dẫn cách một người lựa chọn và phát triển ngữ pháp của họ dựa trên những thí dụ giới hạn và không hoàn hảo về ngôn ngữ vốn họ được cung cấp. Về cơ bản, người này đã xây dựng sự hiểu biết của riêng mình về ngữ pháp từ kinh nghiệm giới hạn này. Những nguyên tắc vốn xác định dạng thức của ngữ pháp và vốn lựa chọn một ngữ pháp có dạng thức thích hợp trên cơ bản của dữ liệu nhất định tạo thành một đề tài, tuân theo một cách dùng truyền thống, có thể được gọi là “ngữ pháp phổ quát”. Việc nghiên cứu về ngữ pháp phổ quát, hiểu như vậy, là một nghiên cứu về bản chất của những khả năng trí thức của con người. Nó cố gắng để hình thành những điều kiện cần và đủ vốn một hệ thống phải đáp ứng để đủ tiêu chuẩn trở thành một ngôn ngữ tiềm năng của con người, những điều kiện không phải ngẫu nhiên đúng với những ngôn ngữ hiện có của con người, nhưng đúng hơn đã có gốc trong “khả năng ngôn ngữ” con người, và do đó cấu thành nên cấu trúc bẩm sinh quyết định những gì được coi như kinh nghiệm ngôn ngữ và kiến thức nào về ngôn ngữ phát sinh trên cơ bản kinh nghiệm này. Do đó, ngữ pháp phổ quát tạo thành một lý thuyết giải thích thuộc loại sâu xa hơn nhiều so với ngữ pháp riêng biệt, mặc dù ngữ pháp riêng biệt của một ngôn ngữ cũng có thể được coi như một lý thuyết giải thích. [9]

 

Trong thực hành, nhà ngữ học thì luôn luôn tham dự vào sự nghiên cứu về cả ngữ pháp phổ quát và ngữ pháp riêng biệt. Khi ông xây dựng một ngữ pháp mô tả, riêng biệt trong một cách này nhưng không cách khác, trên cơ sở của những bằng chứng ông có sẵn, ông được hướng dẫn, dù có ý thức hay không, bởi những giả định nhất định về phần dạng thức của ngữ pháp, và những giả định này thuộc về lý thuyết của ngữ pháp phổ quát. Ngược lại, việc hình thành những nguyên tắc ngữ pháp phổ quát của ông phải được biện minh bằng việc nghiên cứu những hệ quả của chúng, khi áp dụng vào những ngữ pháp riêng biệt. Vì vậy, ở một số những mức độ, nhà ngữ học tham dụ vào việc xây dựng những lý thuyết giải thích, và ở mỗi mức độ đều có một diễn giải tâm lý rõ ràng về công trình lý thuyết và mô tả của ông. Ở mức độ ngữ pháp đặc thù, ông cố gắng mô tả kiến thức của một ngôn ngữ, một hệ thống nhận thức nhất định vốn đã được phát triển – dĩ nhiên là vô thức – bởi người nói-người nghe điển hình bình thường. Ở mức độ ngữ pháp phổ quát, trọng tâm chuyển sang cố gắng để thiết lập một số thuộc tính tổng quát nhất định của óc thông minh con người. ngữ học, với đặc điểm như vậy, chỉ đơn giản là một lĩnh vực phụ của tâm lý học vốn giải quyết những phương diện nhận thức này của não thức (khám phá cách thức ngôn ngữ định hình và tác động qua lại với hiểu biết của chúng ta về tư tưởng và óc thông minh).

 

Tôi sẽ cố gắng để đem cho một vài chỉ định về loại công việc hiện đang tiến hành vốn có mục đích, một mặt, xác định những hệ thống quy luật vốn tạo dựng kiến thức của một ngôn ngữ, và mặt khác, vén mở cho thấy những nguyên tắc vốn chi phối những hệ thống này. Rõ ràng, bất kỳ kết luận nào nếu có thể đạt được ngày nay liên quan với ngữ pháp riêng biệt hay phổ quát đều phải mang tính thăm dò tạm thời và giới hạn trong phạm vi bao quát của chúng. Và trong một phác lược ngắn gọn như thế này, chỉ có thể cho thấy những nét phác thảo sơ bộ nhất. Để cố gắng mang lại chút hương vị của những gì đang được thực hiện ngày hôm nay, tôi sẽ tập trung vào những vấn đề hiện tại ở chỗ chúng có thể được trình bày một cách rõ ràng và được nghiên cứu, mặc dù chúng vẫn chưa có giải pháp.

 

Như tôi đã cho biết trong bài giảng đầu tiên, tôi tin rằng khung cấu trúc khái niệm tổng quát thích hợp nhất cho nghiên cứu những vấn đề về ngôn ngữ và não thức là hệ thống của những ý tưởng đã phát triển như phần của tâm lý học duy lý của thế kỷ XVII và XVIII, đã khai triển chi tiết trong những phương diện quan trọng bởi phong trào lãng mạn và sau đó phần lớn bị bỏ quên khi sự chú ý chuyển sang những vấn đề khác. Theo như khái niệm truyền thống này, một hệ thống những mệnh đề thể hiện ý nghĩa của một câu thì được tạo ra trong não thức, khi câu được nhận ra như một tín hiệu vật lý, cả hai được liên kết với nhau bằng những hoạt động dạng thức nhất định nào đó, vốn trong thuật ngữ hiện nay, chúng ta có thể gọi là những phép biến đổi ngữ pháp. Tiếp tục với thuật ngữ hiện tại, chúng ta có thể phân biệt giữa cấu trúc ngoài mặt của câu, và cấu trúc sâu bên dưới của nó. Cấu trúc ngoài mặt đề cập đến tổ chức những phân loại và cụm từ có liên quan trực tiếp đến tín hiệu vật lý – những từ chúng ta nghe hoặc nhìn thấy. Ngược lại, cấu trúc sâu cũng gồm những phân loại và cụm từ, nhưng nó mang tính chất trừu tượng hơn, thể hiện ý nghĩa cơ bản đằng sau câu. Thí dụ, chúng ta hãy phân tích cấu trúc ngoài mặt của câu “a wise man is honest/một người khôn ngoan thì trung thực”. Ở đây, chúng ta có thể chia nhỏ thành hai thành phần chính: chủ ngữ “a wise man/ một người khôn ngoan “ và vị ngữ “is honest/ thì trung thực”. Tuy nhiên, cấu trúc sâu cho thấy một sự sắp xếp khác. Nó lấy ra một mệnh đề cơ bản hơn từ ý tưởng phức tạp được thể hiện trong cấu trúc ngoài mặt. Trong trường hợp này, cấu trúc sâu sẽ thể hiện chủ ngữ là “man/người” và vị ngữ là “be wise/thì khôn ngoan”.Theo quan điểm truyền thống, cấu trúc sâu gồm một hệ thống gồm hai mệnh đề không được khẳng định rõ ràng nhưng có quan hệ với nhau theo cách truyền tải ý nghĩa của câu “a wise man is honest”. chúng ta có thể minh họa sự khác biệt này bằng biểu thị cấu trúc sâu bằng một công thức và cấu trúc ngoài mặt bằng một công thức khác, cấu trúc sâu trong trường hợp thí dụ này bằng công thức 1 và cấu trúc ngoài mặt theo công thức 2, trong đó những cặp dấu ngoặc vuông có nhãn phân loại ngữ pháp để cho thấy phân loại của cụm từ vốn chúng chứa. (Lưu ý rằng nhiều chi tiết đã bị lược bỏ để làm rõ hơn.)

 

1.

 

2

Một ký hiệu thay thế và tương đương, được dùng rộng rãi, biểu thị dấu ngoặc vuông có nhãn phân loại ngữ pháp của 1 và 2 ở dạng cây, tương ứng là 1 và 2:

 

1

2

 

Nếu chúng ta hiểu quan hệ “chủ ngữ của” để là hợp lệ, giữa một cụm từ của phân loại cụm danh từ (NP) và câu (S) chi phối trực tiếp nó, và quan hệ “vị ngữ của” để là hợp lệ giữa một cụm từ của phân loại cụm động từ (VP) và câu trực tiếp chi phối nó, khi đó cấu trúc 1 và 2 (tương đương, 1 và 2) xác định những chức năng ngữ pháp của chủ ngữ và vị ngữ theo cách đã định. Chức năng ngữ pháp của cấu trúc sâu (1) đóng một vai trò trung tâm trong việc xác định nghĩa của câu. Mặt khác, cấu trúc cụm từ được đã chỉ trong 2 , thì có quan hệ chặt chẽ với hình dạng ngữ âm của nó – riêng biệt là nó quyết định đường nét ngữ điệu của lời nói-viết được biểu thị.

 

Kiến thức của một ngôn ngữ gồm khả năng để gán những cấu trúc ngoài mặt và cấu trúc sâu cho một chuỗi vô hạn của những câu, để liên hệ những cấu trúc tương ứng này và gán một diễn giải ngữ nghĩa và một diễn giải ngữ âm cho những cấu trúc ngoài mặt và cấu trúc sâu được ghép đôi. Đại cương này của bản chất về ngữ pháp thì có vẻ khá chính xác như một sự xấp xỉ gần đúng đầu tiên với sự biểu thị đặc điểm của “kiến thức của một ngôn ngữ”.

 

Cấu trúc ngoài mặt và cấu trúc sâu tương quan như thế nào? Rõ ràng, trong thí dụ đơn giản đã cho, chúng ta có thể hình thành cấu trúc ngoài mặt từ cấu trúc sâu, bằng thực hiện những phép biến đổi cú pháp, loại như sau:

 

3            a. Gán dấu hiệu wh – cho NP được nhúng chìm sâu nhất, “man”

b. thay thế NP đã gán dấu hiệu, bằng “who/ai

c. xóa “who is/ ai là”

d. đảo ngược “man/ người” và “khôn ngoan”.

 

Chỉ áp dụng những phép biến đổi cú pháp a và b, chúng ta lấy ra được cấu trúc cơ bản của câu “a man who is wise is honest”, vốn đây là một sự thể hiện có thể có được của cấu trúc chìm cơ bản (1). Ngoài ra, nếu chúng ta áp dụng phép biến đổi cú pháp c (lấy ra “a man wise is honest”), thì trong tiếng Anh, chúng ta cũng phải áp dụng phép biến đổi cú pháp phụ d, lấy ra cấu trúc ngoài mặt (2), sau đó nó có thể được diễn giải theo ngữ âm. [10]

 

Nếu trong tổng quát, phương pháp nghiên cứu giải quyết này là đúng, khi đó một cá nhân là là người biết một ngôn ngữ riêng biệt cụ thể, sự điều khiển của một ngữ pháp vốn phát sinh (hay định nghĩa) tập hợp vô hạn của những cấu trúc sâu có thể có, kết nối chúng với những cấu trúc ngoài mặt tương ứng,xác định, gán cả ngữ nghĩa và ngữ âm những diễn giải của những đối tượng trừu tượng này. [11] Dựa trên thông tin hiện có, có vẻ chính xác để nêu lên rằng cấu trúc ngoài mặt hoàn toàn quyết định việc diễn giải ngữ âm, và cấu trúc sâu biểu lộ những chức năng ngữ pháp vốn đóng một vai trò trong việc quyết định việc diễn giải ngữ nghĩa, mặc dù một số phương diện nhất định của cấu trúc ngoài mặt cũng có thể tham dự vào việc xác định ý nghĩa của câu trong những cách vốn tôi sẽ không thảo luận ở đây. Do đó, một ngữ pháp của loại này sẽ quyết định một tương quan vô hạn nhất định giữa âm thanh và ý nghĩa. Nó tạo dựng một bước đầu tiên hướng tới việc giải thích – tại sao một người có thể hiểu bất kỳ một câu nào trong ngôn ngữ của người này.

 

Ngay cả thí dụ được đơn giản nhân tạo này cũng dùng để minh họa một số thuộc tính của những ngữ pháp vốn có vẻ là tổng quát. Một lớp vô hạn của những cấu trúc sâu, rất giống như thí dụ 1, đã cho, có thể được tạo ra bằng những quy luật rất đơn giản, biểu thị một ít chức năng ngữ pháp thô sơ, nếu chúng ta gán cho những quy luật này một thuộc tính lập lại cùng quy luật với những kết quả trước: – riêng biệt là một thuộc tính cho phép chúng nhúng chìm vào những cấu trúc có dạng [s . . .] bên trong những cấu trúc khác. Cuối cùng, những biến đổi ngữ pháp sẽ lập lại để tạo thành một cấu trúc ngoài mặt có thể khá xa, tách biệt hoàn toàn với cấu trúc sâu bên dưới. Bản thân cấu trúc sâu có thể rất trừu tượng; nó có thể không có tương quan chặt chẽ, khôngbất kỳ tương quan từng điểm rõ ràng nào với thể hiện ngữ âm của nó. Kiến thức của một ngôn ngữ, – những gì chúng ta gọi là “khả năng ngôn ngữ “, trong nghĩa chuyên môn của từ ngữ này đã thảo luận vắn tắt trong bài giảng đầu tiên – gồm một sự thành thạo của những tiến trình ngữ pháp này.

 

Chỉ với chừng này của một khung cấu trúc khái niệm, chúng ta có thể bắt đầu để hình thành một số vấn đề vốn gọi đến phân tích và giải thích. Một vấn đề lớn được đặt ra bởi sự kiện là cấu trúc ngoài mặt thường đưa ra rất ít chỉ định trong chính nó về ý nghĩa của câu. Thí dụ, có nhiều câu vốnmơ hồ trong một số cách thức, không được cấu trúc ngoài mặt chỉ định rõ.

 

Xét câu 4:

4            I disapprove of John’s drinking.

 

Câu này có thể , hoặc chỉ về việc John uống rượu hoặc về tính nết của John.

Ý nghĩa mơ hồ được giải quyết, theo những cách khác nhau, trong câu 5 và 6:

 

5            I disapprove of John’s drinking the beer..

6            I disapprove of John’s excessive drinking.

 

Rõ ràng là có sự tham dự của những tiến trình ngữ pháp. Lưu ý rằng chúng ta không thể đồng thời mở rộng 4, theo cả hai cách, đã minh họa trong 5 và 6; nếu thế việc đó sẽ cho chúng ta 7:

 

7            * I disapprove of John’s excessive drinking the beer. [12]

 

Ngữ pháp của chúng ta gán hai cấu trúc trừu tượng khác nhau cho 4, một trong chúng liên quan với cấu trúc làm nền tảng cho 5, cấu trúc kia liên quan với cấu trúc làm nền tảng cho 6. Nhưng ở mức độ cấu trúc sâu, sự khác biệt được trình bày; nó bị xóa sạch bởi những phép biến đổi ghép tương ứng những cấu trúc sâu vào cấu trúc ngoài mặt hình thành liên kết với 4.

 

Những tiến trình đã bao gồm trong thí dụ 4, 5 và 6, chúng đều khá phổ biến trong tiếng Anh. Vì vậy, câu “I disapprove of John’s cooking” có thể ám chỉ rằng tôi nghĩ vợ John nên nấu ăn (thay vì John), hay tôi nghĩ John dùng quá nhiều tỏi, chẳng hạn. Một lần nữa, sự mơ hồ sẽ được giải quyết nếu chúng ta mở rộng câu theo cách được cho thấy trong 5 và 6.

 

Sự kiện câu 7 sai lệch ngữ pháp, đòi hỏi giải thích. Giải thích trong trường hợp này, ở mức độ của ngữ pháp riêng biệt, sẽ được đem cho, bằng sự hình thành của những quy luật ngữ pháp vốn gán cho những cấu trúc sâu thay thế và trong mỗi trường hợp cho phép một mở rộng nhưng không những mở rộng khác cho 5 hay 6. Sau đó, chúng ta sẽ giải thích sự sai lệch của 7 và sự mơ hồ của 4 bằng quy hệ thống quy luật này cho người biết ngôn ngữ, như một phương diện của kiến thức của người này. Dĩ nhiên, chúng ta có thể cố gắng chuyển sang một mức độ giải thích sâu hơn, hỏi như thế nào người đó đã nhập tâm những quy luật này thay vì những quy luật khác vốn xác định một tương quan âm thanh-ý nghĩa khác biệt, và một loại cấu trúc ngoài mặt khác biệt được tạo ra khác (gồm, có lẽ, 7). Đây là một vấn đề của ngữ pháp phổ quát, theo nghĩa được mô tả trước đây. Dùng những thuật ngữ của ghi chú 5, thảo luận ở mức độ của ngữ pháp riêng biệt, sẽ là một thảo luận về mức độ đầy đủ về mô tả, và ở mức độ của ngữ pháp phổ quát, nó sẽ là một thảo luận về mức độ đầy đủ về giải thích.

 

Lưu ý rằng những quy luật đã nhập tâm của ngữ pháp tiếng Anh vẫn còn có những hệ quả xa hơn trong một trường hợp như vừa thảo luận. Có những phép biến đổi có tính tổng quát lớn cho phép hay yêu cầu xóa bỏ những phần tử lập lại, toàn bộ hay một phần, trong những điều kiện được xác định rõ ràng. Áp dụng cho cấu trúc 8, những quy luật này suy ra 9, [13]

 

8            I don’t like John’s cooking any more than Bill’s cooking / Tôi không thích cách nấu ăn của John hơn cách nấu ăn của Bill

9            I don’t like John’s cooking any more than Bill’s / Tôi không thích cách nấu ăn của John hơn của Bill

 

Câu 9 thì mơ hồ, khó hiểu. Nó có thể có nghĩa, hoặc là tôi không thích việc John nấu ăn hơn là tôi thích việc Bill nấu ăn, hoặc tôi không thích phẩm chất nấu ăn của John hơn tôi thích phẩm chất nấu ăn của Bill. [14] Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tôi không thích phẩm chất thức ăn của John hơn là tôi thích việc Bill nấu ăn, hay ngược lại, với “sự kiện nấu ăn” và “phẩm chất” thay thế cho nhau. Nghĩa là, trong cấu trúc cơ bản (8), chúng ta phải hiểu những cụm từ mơ hồ “John’s cooking” và “Bill’s cook” theo cùng một cách nếu chúng ta muốn xóa “cách nấu ăn”. Có vẻ hợp lý khi cho rằng những gì liên quan là một điều kiện chung nào đó về khả năng áp dụng của những phép biến đổi cú pháp xóa, chẳng hạn như điều kiện cho 9 từ 8, một điều kiện khá trừu tượng không chỉ tính đến cấu trúc vốn phép biến đổi cú pháp áp dụng nhưng còn cả lịch sử. nguồn gốc của cấu trúc này.

 

Những thí dụ khác co thẻ tìm thấy, ở đó một nguyên tắc tương tự có vẻ cũng hoạt động. Vì vậy, hãy xem xét câu 10, vốn được giả định-trước là lấy ra từ 11 hay 12, và do đó không rõ ràng: [15]

 

10          I know a taller man than Bill /Tôi biết một người cao hơn Bill.

11          I know a taller man than Bill does

12          I know a taller man than Bill is

 

Có vẻ rõ ràng là sự mơ hồ của câu 10 thì không bày ra trong cấu trúc ngoài mặt; Việc xóa “does” ở câu 11 đẻ lại cấu trúc giống hệt như việc xóa “is” ở câu 12. Nhưng bây giờ hãy xem xét câu 13.

 

13          I know a taller man than Bill, and so does John /Tôi biết một người cao hơn Bill và John cũng vậy.

 

Câu này, giống như câu 9, mơ hồ trong hai-cách hơn là mơ hồ trong bốn-cách.

Nó có thể có nghĩa là 14 hay 15, nhưng không là 16 hay 17: [16]

 

14          I know a taller man than Bill does and John knows a taller man than Bill does./Tôi biết một người cao hơn Bill (biết) và John biết một người cao hơn Bill biết.

15          I know a taller man than Bill is and John knows a taller man than Bill is

16          I know a taller man than Bill is and John knows a taller man than Bill does / Tôi biết một người cao (thì) hơn Bill và John biết một người (thì) cao hơn Bill.

17          I know a taller man than Bill does and John knows a taller man than Bill is

 

Nhưng bây giờ có một vấn đề nảy sinh, như chúng ta có thể thấy bằng xem xét kỹ lưỡng hơn sự lêch lạc ngữ pháp của 13. Chúng ta hãy gọi hoạt động xóa, đem cho 10 từ 11 như T1, và hoạt động xóa đem cho 10 từ 12 như T2 . Nếu áp dụng T1 cho mỗi liên kết của 14, chúng ta sẽ lấy ra được 18:

 

18          I know a taller man than Bill and John knows a taller man than Bill.

              / Tôi biết một người cao hơn Bill và John biết một người cao hơn Bill.

 

Áp dụng T2 cho mỗi liên từ của 15 cũng sẽ cho kết quả 18. Nhưng áp dụng T1 cho một liên từ và T2 cho liên từ kia trong 16 cũng sẽ cho kết quả 18, cũng như cùng tiến trình tương tự (theo thứ tự ngược lại) khi áp dụng hai liên từ của 17. Do đó, 18 có thể được suy ra bằng áp dụng T1 và T2 cho bất kỳ dạng nào trong bốn dạng cơ bản là 14, 15, 16 hay 17. Cấu trúc của 18 tự nó không chỉ định dạng nào trong những dạng này là dạng cơ bản; sự phân biệt đã được loại bỏ bằng những phép biến đổi cú pháp xóa T1 và T2. Những bây giờ xem hoạt động T3, hoạt động này suy ra “I saw Bill and so did John” từ “I saw Bill and John saw Bill.” Áp dụng T3 vào 18, chúng ta suy ra 13. Tuy nhiên, chúng ta đã Lưu ý rằng 13 có thể có cách hiểu, diễn giải của 14 hay 15, nhưng không của 16 hay 17. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng T3 chỉ có thể áp dụng cho 18, nếu 14 hay 15, nhưng không 16 hay 17, là cấu trúc cơ bản của 18 trong những lấy ra đã cho của 18. Tuy nhiên, thông tin này không được trình bày trong chính 18, như chúng ta vừa nhận xét. Do đó, để áp dụng T3 vào 18, ta phải biết đôi chút về lịch sử của việc suy ra 18 – ta phải có thông tin vốn không có trong dấu ngoặc vuông có nhãn phân loại ngữ pháp của chính 18 – chúng ta phải có thông tin không chứa trong dấu ngoặc vuông được dán nhãn của chính 18. Trong thực tế, những gì chúng ta phải biết là hai liên từ của 18 xuất phát từ những cấu trúc cơ bản trong đó cùng một yếu tố đã bị xóa. [17] Một lần nữa, có vẻ như phải có một số điều kiện tổng quát về áp dụng những phép biến đổi xóa, một nguyên tắc rằng bằng cách nào đó đưa vào xem xét lịch sử nguồn gốc của những chuỗi bị xóa, có lẽ là một số thuộc tính nhất định của cấu trúc sâu vốn cuối cùng chúng bắt nguồn

 

Để xem vấn đề phức tạp thế nào, hãy xem xét những câu loại như “John’s intelligence, which is his most remarkable quality, exceeds his prudence Óc thông minh của John, là phẩm chất đáng chú ý nhất của ông, vượt quá sự thận trọng của ông hay “The book, which weighs five pounds, was written by John /Quyển sách, nặng năm pound, được viết bởi John. Có lẽ, đại từ quan hệ trong mệnh đề bổ ngữ được nhúng thay thế cho cụm danh từ đã xóa và điều kiện xóa mà chúng ta đang thảo luận ngụ ý rằng cụm danh từ này phải giống hệt với cụm danh từ tiền tố “John’s intelligence” hay “the book” trong cấu trúc cơ bản của mệnh đề bổ ngữ. Tuy nhiên, trong mỗi trường hợp, có thể lập luận rằng có sự khác biệt giữa tiền tố và cụm danh từ của mệnh đề bổ ngữ. Vì vậy, trong trường hợp đầu tiên, chúng ta đang nhắc đến mức độ thông minh của John trong mệnh đề chính nhưng nhắc đến chất lượng thông minh của người này trong mệnh đề được nhúng chìm; và trong trường hợp thứ hai, chúng ta coi quyển sách như một đối tượng trừu tượng trong mệnh đề chính nhưng là một đối tượng vật lý riêng biệt trong mệnh đề được nhúng chìm; người ta có thể mong đợi những khác biệt này được thể hiện trong cấu trúc sâu, do đó mâu thuẫn với nguyên tắc mà chúng ta dường như bị thúc đẩy bởi những thí dụ trước đó. Tôi sẽ không tiếp tục thảo luận này ở đây, nhưng nếu người đọc tiếp tục tìm hiểu, sẽ thấy rằng vấn đề trở nên dày nặng hơn khi xem xét một lớp phong phú gồm nhiều trường hợp hơn.

 

Trong thực tế, nguyên tắc chính xác thì không được biết trong những trường hợp như thế này, mặc dù một số điều kiện vốn nó phải đáp ứng thì rõ ràng. Vấn đề những thí dụ này đặt ra là một vấn đề khá điển hình. Chú ý đến sự kiện ngôn ngữ vén lên cho thấy những thuộc tính nhất định của những câu, liên quan với âm thanh, ý nghĩa, lệch lạc (ý nghĩa) của chúng, v.v. Rõ ràng là sẽ không có giải thích nào cho những sự kiện này được đưa ra, chừng nào chúng ta còn tự giới hạn trong việc thảo luận những khái niệm mơ hồ như “tập quán/thói quen”, “kỹ ​​năng” và “khuynh hướng phản ứng” hay về sự hình thành câu “bằng loại suy”. Chúng ta không có “thói quen” hiểu những câu 4, 9 và 13 theo một cách nhất định: có nhiều phần xảy ra là người đọc chưa từng gặp những câu gần giống như thế này, nhưng lại hiểu chúng theo một cách rất cụ thể. Gọi những tiến trình liên quan như “tương tự” chỉ đơn giản là đặt một tên cho những gì vẫn còn là một bí ẩn. Để giải thích những hiện tượng như vậy, chúng ta phải khám phá những quy luật vốn liên kết với âm thanh và ý nghĩa của ngôn ngữ đang được nhắc đến – ngữ pháp đã được người biết ngôn ngữ tiếp nhận nhập tâm – và những nguyên tắc tổng quát xác định tổ chức và chức năng của những quy luật này.

 

Tính chất gây lầm lẫn và không đầy đủ của cấu trúc ngoài mặt trở nên rõ ràng, ngay khi nghiên cứu ngay cả những mô hình đơn giản nhất. Thí dụ, hãy xem câu 19 – một lần nữa, một thí dụ đơn giản nhân tạo:

 

19          John was persuaded to leave. / John được thuyết phục để rời đi.

 

cấu trúc sâu nền tảng bên dưới câu này phải cho thấy rằng quan hệ chủ ngữ-vị ngữ giữ đúng trong một mệnh đề cơ bản thuộc dạng 20 (Giả định những chức năng ngữ pháp được biểu hiện theo cùng cách đã nêu trước đó) và rằng quan hệ động từ-tân ngữ giữ đúng trong một mệnh đề cơ bản, có dạng 21:

 

20          [S [NP John] NP] VP leave ] VP] S

21          [S [NP ...... ] NP [VP persuade] NP John ] NP] VP] S

 

Do đó, “John” được hiểu là chủ ngữ của “leave” và tân ngữ của “persuade” trong 19, và những sự kiện này được diễn đạt đúng trong cấu trúc sâu bên dưới 19, nếu cấu trúc sâu này thể hiện những mệnh đề được trình bày không chính thức như 20 và 21. Mặc dù cấu trúc sâu phải được cấu thành từ những mệnh đề như vậy, nhưng nếu phương pháp nghiên cứu giải quyết được phác thảo một cách lỏng lẻo trước đó là đúng thì sẽ không có dấu vết nào của chúng trong cấu trúc ngoài mặt của lời nói-viết . Những phép biến đổi khác nhau tạo ra số 19 đã xóa sạch hoàn toàn hệ thống của những quan hệ ngữ pháp và những chức năng xác định ý nghĩa của câu.

 

Vấn đề còn trở nên rõ ràng hơn nếu chúng ta ghi nhận sự đa dạng của những câu, vốn nhìn bề ngoài có vẻ giống câu 19, nhưng lại khác biệt rất nhiều trong những cách chúng được hiểu, và những phép biến đổi cú pháp áp dụng cho chúng. Giả định rằng “persuaded /thuyết phục” ở câu 19 được thay thế bằng một trong những từ sau: [18]

 

22 expected, hired, tired, pleased, happy, lucky, eager, certain, easy / (mong đợi, được thuê, mệt mỏi, vui lòng, hạnh phúc, may mắn, háo hức, chắc chắn, dễ dàng

 

Với “expected” thay thế “persuaded”, câu có thể có nghĩa đại khái là sự kiện John rời đi đã được mong đợi; nhưng không thể nói về sự kiện John rời đi là được thuyết phục. Với “hired”, câu có nghĩa hoàn toàn khác, đại khái là mục đích thuê John là để người này rời đi – một cách diễn giải trở nên tự nhiên hơn nếu chúng ta thay “leave” bằng một cụm từ như “fix the roof”. Khi “tired” được thay thế, chúng ta sẽ có một câu không hợp lệ; nó trở thành một câu nếu “too tired” thay thế “persuaded”, câu này bây giờ ngụ ý rằng John đã không rời đi. Từ “pleased” vẫn khác. Trong trường hợp này, chúng ta có thể có “too pleased”, ngụ ý rằng John đã không rời đi, nhưng chúng ta cũng có thể mở rộng câu thành “John was too pleased to leave to suit me”, điều này là không thể trong những trường hợp trước đó. “Happy” khá giống với “pleased”, mặc dù người ta có thể lập luận rằng quan hệ động từ-tân ngữ là đúng giữa “please” và “John”.

 

Câu “John was lucky to leave” được diễn giải theo một cách khác nữa. Nói một cách đại khái, nó có nghĩa là John may mắn vì anh ấy đã rời đi, một cách diễn giải không thể có trong những trường hợp trước đó; hơn nữa, chúng ta có thể xây dựng những câu như “John was a lucky fellow to leave (so early),” nhưng không có thí dụ nào trước đó có thể thay thế “lucky” trong những câu như vậy. “John was eager to leave” khác với những trường hợp trước đó ở chỗ nó được liên kết chính thức với những cách diễn đạt như “John was eager for Bill to leave” và “John’s eagerness (for Bill) to leave.” “John was certain to leave” có thể được diễn giải lại là “it was certain that John would leave”; trong những thí dụ khác, chỉ có “expected” là tuân theo cách diễn giải này, nhưng “expected” rõ ràng khác với “certain” ở nhiều phương diện khác – thí dụ, nó xuất hiện trong một câu như “They expected John to leave.” Dĩ nhiên, từ “easy” hoàn toàn khác; trong trường hợp này và chỉ trường hợp này, quan hệ động từ-tân ngữ giữ nguyên giữa “leave” và “John”.

 

Nói vắn tắt, rõ ràng là cấu trúc ngoài mặt thường gây hiểu lầm và thiếu thông tin, và kiến thức về ngôn ngữ của chúng ta liên quan với những thuộc tính thuộc một tính chất trừu tượng hơn nhiều, không được biểu thị trực tiếp trong cấu trúc ngoài mặt. Hơn nữa, ngay cả những thí dụ đơn giản, nhân tạo như thế này cũng cho thấy sẽ vô vọng như thế nào khi cố gắng giải thích năng lực ngôn ngữ theo những từ ngữ “thói quen”, “khuynh hướng”, “biết cách” và những khái niệm khác liên quan với nghiên cứu về hành vi, như thí dụ này. nghiên cứu đã bị giới hạn, hoàn toàn không có sự bảo đảm, trong những năm gần đây.

 

Ngay cả ở mức độ của cấu trúc âm thanh, có bằng chứng rằng những biểu thị trừu tượng [19] được hình thành và vận dụng trong những hoạt động tâm lý liên quan với việc dùng ngôn ngữ. Chúng ta có một hiểu biết chi tiết hơn về bản chất của những biểu thị ngôn ngữ và những điều kiện phức tạp khi áp dụng quy luật trong lĩnh vực này hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác. Theo quan điểm của tôi, nghiên cứu gần đây về cấu trúc âm thanh đưa ra sự hỗ trợ mạnh mẽ cho ý tưởng rằng cấu trúc của những ngữ pháp cụ thể được định hình theo những cách sâu xa bởi những gì có thể được gọi là một lược đồ hạn chế. Về cơ bản, lược đồ này quyết định những thuộc tính ngữ âm nào (tức là những đặc điểm của âm thanh) có liên quan, cách những quy luật có thể kết nối những cấu trúc ngoài mặt (cách câu hoặc cụm từ xuất hiện) với những biểu thị ngữ âm của chúng (cách chúng phát ra âm thanh) và những điều kiện mà những quy luật này được tổ chức và áp dụng. Do đó, khuôn khổ hạn chế này có liên quan chặt chẽ đến những chủ đề rộng hơn, bao gồm cả những chủ đề tôi đã thảo luận trong bài giảng đầu tiên và sẽ xem xét lại sau trong nội dung tiếp thu ngôn ngữ – cách trẻ em hoặc người học tiếp thu và dùng những quy luật này. [20]

 

Hơn nữa, những nghiên cứu về cấu trúc âm thanh này, trong chừng mức chúng hỗ trợ kết luận rằng những cấu trúc âm vị học trừu tượng được những hệ thống quy luật phức tạp và được tổ chức chặt chẽ vận dụng, đều liên quan với vấn đề đáng chú ý rất đáng chú ý của việc phát triển những mô hình thích ứng thực nghiệm về hiệu năng. Chúng đề nghị rằng tất cả những phương pháp nghiên cứu giải quyết hiện tại của những vấn đề về nhận thức và tổ chức của hành vi đều chịu một thất bại của không thể quy đủ sâu xa và phức tạp cho những tiến trình tâm lý vốn phải được thể hiện trong bất kỳ mô hình nào vốn cố gắng để nắm bắt những hiện tượng thực nghiệm. Không gian không cho phép một phát triển chi tiết những đề tài này, cả về vấn đề cấu trúc âm vị hay về ý nghĩa nằm chìm bên dưới của nó với tâm lý học nhận thức. [21] Tuy nhiên, một thí dụ minh họa đơn giản, vốn nó khá điển hình, có thể đem cho một số ý tưởng về bản chất của bằng chứng vốn sẵn có và kết luận vốn nó cho thấy.

 

Nhớ lại rằng những quy luật cú pháp của ngôn ngữ tạo ra một tập hợp vô hạn của những cấu trúc ngoài mặt, mỗi cấu trúc đó là một khung dấu ngoặc vuông có nhãn phân loại ngữ pháp của một chuỗi những phần tử tối thiểu, chẳng hạn như 2, trong đó chúng ta có thể coi những phần tử tối thiểu là những đơn vị “a, wise, man, is, honest / a, khôn ngoan, người, là, trung thực”. Mỗi của những đơn vị [22] này có thể được biểu thị như một chuỗi của những phân đoạn, thí dụ “man/người” như chuỗi của những phân đoạn /m/, /æ/, /n/. Lần lượt từng phân đoạn này có thể được coi như một tập hợp của những đặc điểm được chỉ định; do đó, /m/ là viết tắt của cụm tính năng phức hợp [+ phụ âm], [– vocalic], [+ mũi], v.v. Tạo dựng phân đoạn của một đơn vị sẽ được đưa ra bởi một đơn vị thông tin từ vựng – một thuộc tính của những thuộc tính ngữ âm, ngữ nghĩa và cú pháp vốn có của những đơn vị được nhắc đến. Từ vựng của ngôn ngữ là tập hợp của những đơn vị thông tin từ vựng như vậy, có lẽ, với cấu trúc bổ sung vốn chúng ta không cần quan tâm ở đây. Bây giờ chúng ta chỉ quan tâm đến những thuộc tính ngữ âm của đơn vị thông tin từ vựng. [23]

 

Đơn vị thông tin từ vựng của một đơn vị chỉ phải xác định những thuộc tính vốn mang phong cách riêng, không được xác định bởi quy luật ngôn ngữ. Thí dụ, đơn vị thông tin từ vựng dành cho “man/người” phải cho thấy rằng đoạn thứ hai của nó là một nguyên âm đầu thấp, nhưng mức độ căng, nhị âm hóa, mũi hóa, v.v. của nguyên âm này không cần phải được chỉ định trong đơn vị thông tin từ vựng, vì đây là một vấn đề quy luật chung, một phần đặc biệt với những phương ngữ tiếng Anh khác nhau, một phần chung với tất cả những phương ngữ tiếng Anh, một phần là vấn đề âm vị học phổ quát. Tương tự, đơn vị thông tin từ vựng dành cho “man/người” phải cho thấy rằng nó có số nhiều bất quy luật, với nguyên âm chuyển từ thấp đến trung bình. Những phân đoạn của đơn vị thông tin từ vựng mang tính trừu tượng theo nghĩa là những quy luật âm vị học của ngôn ngữ sẽ thường xuyên sửa đổi và xây dựng chúng theo nhiều cách khác nhau; do đó, trong tổng quát, không cần phải có sự tương ứng đơn giản từng điểm một giữa đơn vị thông tin từ vựng và cách biểu thị ngữ âm thực tế. Khi thảo luận về những thí dụ, tôi sẽ dùng những ký hiệu ngữ âm theo cách thông thường, mỗi ký hiệu được coi như một phức hợp của một tập hợp những đặc điểm nhất định. Tôi sẽ dùng ký hiệu / / để bao quanh những biểu thị từ vựng và ký hiệu [//] để bao quanh tất cả những biểu thị bắt nguồn từ những biểu thị từ vựng bằng áp dụng những quy luật âm vị học, gồm, đặc biệt, biểu thị ngữ âm cuối cùng bắt nguồn từ việc áp dụng tập hợp đầy đủ của những quy luật âm vị học.

 

Đầu tiên hãy xem xét những từ như sign-signify, paradigm-paradigmatic / ký hiệu-biểu thị, mô hình-mô hình , v.v. Vì những lý do sẽ trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta tiến hành, trong trường hợp này, nó là dạng lấy ra có liên quan chặt chẽ nhất với cách biểu thị từ vựng trừu tượng cơ bản. Sau đó, Giả định rằng chúng ta tạm gán cho gốc từ trong những dạng này biểu thị từ vựng /sign/ và /pærædigm/ trong đó những ký hiệu có cách diễn giải ngữ âm thông thường của chúng. Do đó, phần tử cơ bản /sign/ được nhận dạng là [dấu hiệu] ngữ âm trước -ify. Tuy nhiên, nó được nhận ra dưới dạng ngữ âm [sayn] một cách biệt lập. Một nhận xét tương tự cũng đúng với mô hình.

 

Những dạng của ký hiệu và mô hình trong tách biệt được những quy luật âm vị nhất định xác định, hoạt động cùng nhau, vốn có tác dụng chuyển đổi biểu thị /ig/ thành [ay] khi theo sau là âm mũi cuối từ [24]. Một phân tích cẩn thận về âm vị học tiếng Anh cho thấy rằng tiến trình này có thể được chia thành một chuỗi của những bước, gồm những bước sau (trong thực tế, bước thứ hai và thứ ba đòi hỏi phải phân tích thêm).

 

23

a. Một phụ âm ngạc mềm (như /k/, /g/ hoặc /ŋ/) chuyển thành âm tiếp diễn (một âm có thể kéo dài, như /k/ trở thành /g/) khi nó xuất hiện trước một âm mũi ở cuối một từ.

b. Khi một nguyên âm được theo sau bởi một nguyên âm ngạc mềm, nó chuyển thành một nguyên âm căng, được tạo ra với độ căng lớn hơn và thường dài hơn một nguyên âm lỏng.

c. Nguyên âm căng /ī/ chuyển thành nguyên âm đôi [ay], trong đó /ī/ biểu thị phiên bản căng của nguyên âm [i].

 

Áp dụng những quy luật này cho /sign/ cơ bản trong cô lập, chúng ta lấy ra [sign] đầu tiên (trong đó [si_n ] (trong đó [_] là liên tục vòm) theo 23a; sau đó [sīn] bằng 23b; và cuối cùng là [sayn] theo 24c.

 

Quy luật 23a và 23b đều ít được quan tâm, nhưng 23c là một phần của một hệ thống quy luật rất tổng quát về “chuyển đổi nguyên âm” khá quan trọng trong âm vị học tiếng Anh. Thí dụ, có những lý do chắc chắn để giả định rằng gốc nằm bên dưới những dạng divine-divinity is là /divīn/, trong đó đoạn /ī/ bị yếu đi thành [i] trước -ity và trở thành [ay] theo quy luật 23c trong biệt lập. Tương tự, reptile bắt nguồn từ /reptīl/ cơ bản, trở thành [reptayl theo 23c khi tách biệt và [reptil] trước -ian, với cùng một sự rút ngắn nguyên âm diễn ra trong divinity; vân vân, trong nhiều trường hợp khác.

 

Tiếp theo hãy xem xét những từ như ignite-ignition, expedite-expeditious, and contrite-contrition / đốt cháy, khẩn trương, và ăn năn. Giống như reptile and divine, bằng dịch chuyển nguyên âm, từ /reptīl/ và /divīn/, chúng ta có thể lấy thành viên đầu tiên của mỗi cặp này từ /ignīt/, /expedīt/, và /contrīt/, tương ứng. Quy luật áp dụng để thể hiện ngữ âm là 23c, một trường hợp đặc biệt của tiến trình chuyển đổi nguyên âm chung. Rõ ràng, thành viên thứ hai của mỗi cặp được lấy ra từ những tiến trình như 24 và 25:

 

24          Những nguyên âm trở nên không căng trước -ion, -ious, -ian, -ity, v.v.

25          Đoạn /t/ theo sau là nguyên âm cao phía trước được nhận dạng là [š].

 

Qui luật đầu tiên trong số những qui luật này là qui luật đưa ra [divin] từ /divīn/ trong divinity và [reptil] từ /reptīl/ trong reptilian. Tương tự như vậy, nó đưa ra [ignit] từ /ignīt/ trong ignition, [expedit] từ /expedīt/ trong expeditious, và [contrit] từ /contīt/ trong contrition. Có một khái quát cơ bản rõ ràng, cụ thể là một nguyên âm trở thành không-căng [25] trước một nguyên âm không nhấn mạnh không nằm trong âm tiết cuối của từ; khi được xây dựng đúng cách, qui luật này, cùng với sự thay đổi nguyên âm và một số qui luật khác, tạo nên phần trung tâm của hệ thống ngữ âm tiếng Anh.

 

Qui luật thứ hai, 25, áp dụng cho thành phần /ti/ trong /ignition/, /expeditious/ và /contrition/, thay thế nó bằng [š] và cuối cùng đưa ra những hiện thực hóa ngữ âm [ignišə n], [ekspə dišə s], [kə ntrišə n], sau khi áp dụng qui luật giảm nguyên âm không nhấn mạnh thành [ə ]. Tóm lại, những phân đoạn hiện thực hóa là [ayt] trong ignite, expedite và contrite được hiện thực hóa là [iš] trong ignition, expeditious và contrition.

 

Nhưng bây giờ hãy xem xét những từ right-righteous, về phương diện ngữ âm là [rayt]-[rayčə s]. Dạng sau có vẻ lệch khỏi mẫu thức thông thường trong hai phương diện, cụ thể là về chất lượng nguyên âm (chúng ta mong đợi [i] thay vì [ay], theo qui luật 24) và ở phụ âm cuối của gốc (chúng ta mong đợi [š] thay vì [č], theo qui luật 25). Nếu right phải tuân theo cùng những tiến trình như expedite, chúng ta sẽ có [rišə s] thay vì [rayčə s] như sự hiện thực hóa ngữ âm, tương tự như [ekspə dišə s]. Giải thích cho sai lệch đôi này là gì?

 

Trước tiên, hãy lưu ý rằng qui luật 25 không hoàn toàn chính xác; trong thực tế, có những trường hợp khác trong đó /ti/ được hiện thực hóa thành [č] thay vì [š], thí dụ như question [kwesčə n], trái ngược với direction [də rekšə n]. Một công thức chính xác hơn của 25 sẽ là 26:

 

26          /t/ theo sau là nguyên âm cao phía trước được nhận dạng là [č] sau một âm tiếp diễn và như [š] ở nơi khác.

 

Trở lại dạng “right”, chúng ta thấy rằng phụ âm cuối cùng sẽ được xác định chính xác là [č] thay vì [š] nếu trong cách biểu thị cơ bản có một tiếp nối trước nó – nghĩa là, nếu cách biểu thị cơ bản là /rit/, trong đó là một số liên tục. Hơn nữa, tiếp diễn phải khác biệt với bất kỳ tiếp diễn nào thực sự xuất hiện về phương diện ngữ âm ở vị trí này, riêng biệt là những tiếp tiếp răng, môi hay vòm miệng trong phần đơn vị hóa của cổ tay, vết nứt hay mong muốn. Khi đó, chúng ta có thể Giả định rằng đó là âm lật mềm /x/ tiếp diễn, dĩ nhiên nó không xuất hiện về phương diện ngữ âm trong tiếng Anh. Khi đó, dạng cơ bản sẽ là /rixt/.

 

Hãy xem xét nguồn gốc của right. Theo quy luật 23b, dạng cơ bản /rixt/ trở thành [rīt]. Sau đó, theo quy luật 23c, /rīt/ trở thành [rayt], đây là dạng ngữ âm của right.

 

Tiếp theo hãy xem xét nguồn gốc của “righteous”. Giả sử rằng nó có cùng tiền tố với expeditious và repetitious, chúng ta có thể biểu thị nó theo từ điển là /rixtious/ (tôi không quan tâm đến cách biểu thị thích hợp cho -ous ở đây). Giả sử thứ tự của những quy luật đã thảo luận cho đến nay là như sau: 23a, 24, 26, 23b, 23c, một thứ tự nhất quán với những sự kiện liên quan khác của tiếng Anh, với một số đơn giản hóa nhất định để thuận tiện cho việc trình bày. Quy luật 23a không áp dụng được và quy luật 24 là vô nghĩa khi áp dụng cho dạng cơ bản /rixtious/. Quay lại quy luật 26, chúng ta thấy rằng nó đưa ra dạng [rixčous]. Quy luật 23b hiện áp dụng, đưa ra [rīčous], và quy luật 23c đưa ra [rayčous], trở thành [rayčə s] bằng rút gọn những nguyên âm không nhấn mạnh. Do đó, theo quy luật 26 và 23, được thúc đẩy độc lập, cách biểu thị cơ bản /rixt/ sẽ được nhận ra về phương diện ngữ âm là [rayt] khi tách biệt và là [rayč] khi chính đáng, chính xác như đòi hỏi.

 

Những sự kiện này đề nghị rõ ràng rằng cách biểu thị âm vị cơ bản phải là /rixt/ (phù hợp với chính tả và, dĩ nhiên, phù hợp với lịch sử). Một chuỗi những quy luật phải có trong ngữ pháp vì những lý do khác mang lại sự thay thế đúng đắn. Vì vậy, sự luân phiên này không hề ngoại lệ vốn hoàn toàn đều đặn. Dĩ nhiên, cách biểu thị cơ bản khá trừu tượng; nó chỉ được kết nối với hình dạng ngữ âm bề ngoài của tín hiệu bằng một chuỗi những quy luật diễn giải.

 

Nói cách khác, giả định một người biết tiếng Anh nhưng không có đơn vị từ vựng righteous/ ngay thẳng. Khi nghe dạng thức này lần đầu tiên, người này phải hòa nhập nó với hệ thống vốn người này đã học. Nếu người này được trình bày với dạng lấy ra [rišə s], dĩ nhiên, người này sẽ hiểu cách biểu thị cơ bản giống hệt như dạng của expedite, contrite, v.v. Nhưng nghe [rayčə s], người này biết rằng cách thể hiện này là không thể có được; mặc dù sự phân biệt phụ âm [š]-[č] có thể dễ dàng bị bỏ qua trong điều kiện dùng ngôn ngữ thông thường, nhưng sự phân biệt phát âm [i]-[ay] chắc chắn sẽ rất rõ ràng. Biết những quy luật của tiếng Anh và nghe được yếu tố phát âm [ay] thay vì [i], người này biết rằng dạng thức này là một ngoại lệ duy nhất hay nó chứa một chuỗi /i/ theo sau là âm ngạc và phải tuân theo quy luật 26. Âm ngạc mềm phải là một tiếp diễn, [26] tức là /x/. Nhưng vì âm vòm mềm là một âm tiếp diễn, nên, nếu dạng chính quy (luôn luôn là giả thuyết không), thì phụ âm đó phải là [č], không phải [š], theo quy luật 26. Do đó, người nghe sẽ cảm nhận được [ rayčə s] nhưng không [rayšə s], ngay cả khi thông tin về phụ âm giữa bị thiếu trong tín hiệu nhận được. Hơn nữa, áp lực duy trì tính đều đặn của những lần thay thế sẽ có tác dụng ngăn chặn sự tương đồng hời hợt với tốc độ-nhanh chóng và đánh lửa-đánh lửa, đồng thời bảo toàn [č] như cách thể hiện ngữ âm của /t/ cơ bản, miễn là [ay] xuất hiện đúng chỗ. dự kiến [i], chính xác như chúng ta nhận xét thấy đã xảy ra.

 

Dĩ nhiên, tôi không có ý nói đây là một giải thích từng bước theo nghĩa đen về dạng thức này đã được học thế nào, nhưng đúng hơn là một giải thích có thể có được về lý do tại sao dạng thức này chống lại một phép loại suy giả tạo hời hợt (và trong thực tế là không chính xác) và duy trì được trạng thái của nó. Chúng ta có thể giải thích nhận thức và sự duy trì trong ngữ pháp của sự tương phản [č]-[š] trong righteous/ expeditious trên cơ sở sự phân biệt được nhận thức giữa [ay] và [i] và kiến ​​thức về một hệ thống quy luật nhất định. Giải thích dựa trên giả định rằng những biểu thị cơ bản đều hoàn toàn trừu tượng và bằng chứng đã dẫn cho thấy rằng trong thực tế, giả định này là đúng.

 

Một thí dụ đơn lẻ khó có thể mang lại nhiều thuyết phục. Tuy nhiên, một khảo sát cẩn thận về cấu trúc âm thanh cho thấy rằng có một số thí dụ thuộc loại này, và trong tổng quát, những cấu trúc cơ bản có tính trừu tượng cao có liên quan với những biểu thị ngữ âm bằng một chuỗi dài của những quy luật, cũng giống như ở mức độ cú pháp, những cấu trúc sâu trừu tượng trong tổng quát có liên quan với những cấu trúc ngoài mặt bằng một chuỗi dài những biến đổi ngữ pháp. Sau khi giả định sự hiện hữu của những biểu hiện tâm lý trừu tượng và những biến đổi ngữ pháp diễn giải thuộc loại này, chúng ta có thể tìm thấy một mức độ tổ chức đáng ngạc nhiên nằm bên dưới những gì có vẻ bề ngoài là sự sắp xếp hỗn loạn của dữ liệu, và trong một số trường hợp nhất định, chúng ta cũng có thể giải thích tại sao những biểu thức ngôn ngữ được nghe, được dùng, và được hiểu theo những cách nhất định. Người ta không thể hy vọng xác định được những dạng thức trừu tượng cơ bản hay những tiến trình liên hệ chúng với những tín hiệu bằng tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc; hơn nữa, không có lý do gì khiến người ta thấy hệ quả này đáng ngạc nhiên theo bất kỳ cách nào.

 

Giải thích đã phác thảo ở trên nằm ở mức độ của ngữ pháp riêng biệt hơn là của ngữ pháp phổ quát, như sự phân biệt này đã được hình thành trước đó. Nghĩa là, chúng ta đã giải thích một hiện tượng nhất định trên cơ bản của giả định rằng những quy luật nhất định xuất hiện trong ngữ pháp đã hấp thụ vô thức, Lưu ý rằng những quy luật này, phần lớn có động cơ độc lập. Dĩ nhiên, những cân nhắc về ngữ pháp phổ quát được đưa vào giải thích này trong chừng mức chúng ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngữ pháp trên cơ bản của dữ liệu. Sự thâm nhập lẫn nhau này thì không thể tránh khỏi, như đã ghi nhận trước đó. Tuy nhiên, có những trường hợp trong đó những nguyên tắc của ngữ pháp phổ quát hiển nhiên đi vào một mô hình giải thích một cách trực tiếp và rõ ràng hơn. Do đó, việc nghiên cứu những hệ thống âm thanh cho thấy một số nguyên tắc tổ chức rất tổng quát, một số quy luật âm vị chi phối khá đáng chú ý (xem tài liệu tham khảo ở ghi chú 14). Thí dụ, người ta đã nhận xét thấy rằng một số quy luật âm vị nhất định vận hành theo một chu kỳ, trong một cách thức được cấu trúc ngoài mặt xác định. Hãy nhớ lại rằng cấu trúc ngoài mặt có thể được biểu thị dưới dạng một dấu ngoặc vuông có nhãn phân loại ngữ pháp của cách phát âm, chẳng hạn như 2. Trong tiếng Anh, những quy luật âm vị học rất phức tạp xác định những đường nét trọng âm và giảm nguyên âm áp dụng cho những cụm từ được giới hạn bởi cặp những dấu ngoặc vuông, trong cấu trúc ngoài mặt, áp dụng trước đến cụm từ tối thiểu thuộc loại này, sau đó đến cụm từ lớn hơn tiếp theo, v.v., cho đến khi đạt được miền tối đa của tiến trình âm vị học (trong trường hợp đơn giản là chính câu đó). Do đó, trong trường hợp 2, những quy luật áp dụng cho những từ riêng lẻ (trong phần mô tả đầy đủ, sẽ được gán cho những phân loại và do đó được đặt trong ngoặc), sau đó là những cụm từ một người khôn ngoan thì trung thực, và cuối cùng là cho toàn bộ câu. Một ít quy luật đơn giản sẽ cho những kết quả khá khác nhau, như những cấu trúc ngoài mặt quyết định chu kỳ áp dụng thay đổi của chúng.

 

Một số tác dụng đơn giản của nguyên tắc áp dụng theo chu kỳ được minh họa bằng những từ hình thành như của 27:

27

a. relaxation, emendation, elasticity, connectivity / thư giãn, điều chỉnh, đàn hồi, kết nối

b. illustration, demonstration, devastation, anecdotal / hình minh họa, trình diễn, tàn phá, giai thoại

 

Những nguyên âm đơn vị hóa được giảm xuống [ə ] trong 27b, nhưng chúng vẫn giữ nguyên chất lượng ban đầu ở 27a. Trong một số trường hợp, chúng ta có thể xác định chất lượng ban đầu của nguyên âm rút gọn 27b từ những dạng lấy ra khác (thí dụ: minh họa, minh họa). Những thí dụ của 27a khác với những thí dụ của 27b về phương diện hình thái ở chỗ những thí dụ trước có nguồn gốc từ những dạng cơ bản (riêng biệt là, thư giãn, sửa đổi, đàn hồi, liên kết) có trọng âm chính trên nguyên âm đơn nhất khi những dạng cơ bản này xuất hiện tách biệt; những người trong số 27b không có tính chất này. Không khó để cho thấy rằng việc giảm nguyên âm trong tiếng Anh, việc thay thế nguyên âm bằng [ə ], là do thiếu trọng âm. Do đó, chúng ta có thể giải thích sự khác biệt giữa 27a và 27b bằng Giả định nguyên lý tuần hoàn vừa được phát biểu. Trong trường hợp 27a, ở chu kỳ đầu tiên, trong cùng, trọng âm sẽ được gán theo quy luật chung cho những nguyên âm đơn nhất. Ở chu kỳ tiếp theo, trọng âm được dịch chuyển, [27]nhưng trọng âm trừu tượng được ấn định ở chu kỳ đầu tiên đủ để bảo vệ nguyên âm khỏi bị giảm bớt. Trong những thí dụ của 27b, những chu kỳ trước đó không bao giờ gán trọng âm trừu tượng cho nguyên âm đơn nhất, do đó làm giảm trọng âm. Lưu ý rằng đó là một trọng âm trừu tượng giúp bảo vệ nguyên âm khỏi bị rút gọn. Trọng âm thực tế của những nguyên âm đơn giản hóa không rút gọn là rất yếu; nó sẽ là căng thẳng 4, theo quy ước thông thường. Trong tổng quát, những nguyên âm có trọng âm yếu này sẽ giảm đi, nhưng trong trường hợp này, trọng âm trừu tượng được ấn định trong chu kỳ trước đó sẽ ngăn cản việc giảm bớt. Vì vậy, chính cách biểu thị trừu tượng cơ bản sẽ xác định dạng thức ngữ âm, vai trò chính của trọng âm trừu tượng hầu như bị loại bỏ trong dạng thức ngữ âm.

 

Trong trường hợp này, chúng ta có thể đưa ra giải thích cho một phương diện nhất định của nhận thức và cách diễn đạt theo một nguyên tắc trừu tượng rất tổng quát, đó là nguyên tắc áp dụng những quy luật theo chu kỳ (xem trang 38). Thật khó để tưởng tượng làm thế nào người học ngôn ngữ có thể lấy ra được nguyên tắc này bằng “quy nạp” từ dữ liệu được trình bày cho người này. Trong thực tế, nhiều tác động của nguyên tắc này liên quan với nhận thức và có rất ít hay không có sự tương tự trong bản thân tín hiệu vật lý, trong điều kiện dùng ngôn ngữ bình thường, do đó những hiện tượng dựa trên cảm ứng không thể là phần của kinh nghiệm. của một người chưa dùng nguyên tắc này. Trong thực tế, không có tiến trình quy nạp hay liên kết nào mang lại bất kỳ hy vọng dẫn đến dữ liệu nào có sẵn cho nguyên tắc thuộc loại này (trừ khi, đặt ra câu hỏi, chúng ta đưa nguyên tắc áp dụng tuần hoàn vào “tiến trình quy nạp” trong cách nào đó). Do đó, kết luận dường như được bảo đảm rằng nguyên tắc áp dụng theo chu kỳ những quy luật âm vị là một nguyên tắc tổ chức bẩm sinh của ngữ pháp phổ quát được dùng để xác định đặc điểm của kinh nghiệm ngôn ngữ và trong việc xây dựng một ngữ pháp cấu thành nên kiến thức ngôn ngữ thu được. Đồng thời, nguyên tắc ngữ pháp phổ quát này đưa ra giải thích cho những hiện tượng như đã được nêu ở phần 27.

 

Có một số bằng chứng cho thấy nguyên tắc áp dụng tuần hoàn tương tự cũng được áp dụng ở mức độ cú pháp. John Ross đã trình bày một phân tích tài tình về một số phương diện của việc phát âm bằng tiếng Anh minh họa cho điều này. [28] chúng ta hãy Giả định rằng việc phát âm bằng cụm danh từgồm một tiến trình “xóa” tương tự như những tiến trình được thảo luận trước đó liên quan với những thí dụ 8–18. Tiến trình này, với phép tính gần đúng đầu tiên, thay thế một trong hai cụm danh từ giống hệt nhau bằng một đại từ thích hợp. Do đó, cấu trúc cơ bản 28 sẽ được chuyển đổi thành 29, bằng phát âm.

 

28          John learned that John had won / John biết được rằng John đã thắng.

29          John learned that he had won.  / John biết được rằng ông đã thắng.

 

Trừu tượng hóa những thuộc tính của 28 không cần thiết cho thảo luận này, chúng ta có thể trình bày nó dưới dạng 30, trong đó x và y là những cụm danh từ giống hệt nhau và y là cụm từ được đại từ hóa và trong đó những dấu ngoặc vuông bao quanh những biểu thức câu.

 

30          [. . . x. . . [. . . y . . .]

Lưu ý rằng chúng ta không thể tạo thành 31 từ 28 bằng phát âm: [29]

 

31          He learned that John had won..

 

Nghĩa là, chúng ta không thể có sự tối ưu hóa trong trường hợp được biểu thị bằng 32, dùng quy ước 30:

 

32          [. . . y . . . [. . . x . . .]

 

Xét tiếp câu 33:

33

a. That John won the race surprised him.

[. . . x . . .] . . . y . . .

b. John’s winning the race surprised him..

[. . . x . . .] . . . y . . .

c. That he won the race surprised John.

[. . . y . . .] . . . x . . .

d. His winning the race surprised John.

[. . . y . . .] . . . x. . .

 

Tiếp tục với những quy ước tương tự, những biểu mẫu được trình bày bên dưới, trong từng trường hợp. Tóm tắt lại, chúng ta thấy rằng trong số những loại 30, 32, 33a, b và 33c, d, tất cả đều cho phép phát âm ngoại trừ 32. Những nhận xét này thuộc về ngữ pháp đặc biệt của tiếng Anh.

 

Lưu ý rằng bên cạnh 33d chúng ta còn có câu 34:

 

34          Winning the race surprised John.

 

Với khung cấu trúc khái niệm vốn chúng ta đã giả định xuyên suốt, số 34 phải bắt nguồn từ cấu trúc “Việc John thắng cuộc đua khiến John ngạc nhiên”. Do đó, trong trường hợp này, cách gọi tên có thể là việc xóa hoàn toàn.

Bây giờ hãy xem xét câu 35 và 36:

 

35          Our learning that John had won the race surprised him

36          Learning that John had won the race surprised him.

 

Câu 35 có thể hiểu là “him” ám chỉ John, nhưng câu 36 thì không. Do đó, 35 có thể được suy ra bằng phát âm từ 37, nhưng 36 không được suy ra từ 28:

 

37          [ [ Our learning    [that John had won the race]  surprised John. ]

38          [ [John’s learning [that John had won the race] surprised John. ]

 

Những gì có thể là giải thích cho hiện tượng này? Như Ross nhận xét, nó có thể được giải thích theo ngữ pháp riêng biệt của tiếng Anh nếu chúng ta giả định rằng, ngoài ra, những biến đổi nhất định áp dụng trong một chu kỳ, đầu tiên là với những cụm từ trong cùng, sau đó là những cụm từ lớn hơn, v.v. – nghĩa là, nếu chúng ta Giả định rằng những biến đổi này áp dụng cho cấu trúc sâu bằng một tiến trình tương tự như tiến trình vốn những quy luật âm vị học áp dụng cho cấu trúc ngoài mặt. [30] Đưa ra giả định này, hãy để . chúng ta xem xét cấu trúc cơ bản 38. Trong chu kỳ trong cùng, cách phát âm hoàn toàn không áp dụng, vì không có cụm danh từ thứ hai nào giống với “John” trong mệnh đề được nhúng chìm vào sâu nhất. Ở chu kỳ thứ hai, chúng ta xem xét cụm từ “ John’s learning [rằng John đã thắng cuộc đua] “. Đây có thể được coi như một cấu trúc có dạng 30, cho 39 bằng phát âm; nó không thể được coi như thuộc dạng 32, cho 40 bằng phát âm, bởi vì ngữ pháp riêng biệt của tiếng Anh không cho phép phát âm trong trường hợp 32, như chúng ta đã ghi nhận:

 

39          John’s learning [that he had won the race]

40          his learning [that John had won the race]

 

Nhưng 40 sẽ phải là dạng cơ bản của 36. Do đó, 36 không thể được suy ra bằng phát âm từ 38, mặc dù 35 có thể được suy ra từ 37.

 

Trong trường hợp này, một nguyên tắc ngữ pháp phổ quát kết hợp với một quy luật được thiết lập độc lập của ngữ pháp tiếng Anh riêng biệt để mang lại một hệ quả thực nghiệm khá đáng ngạc nhiên, đó là 35 và 36 phải khác nhau trong cách giải thích viện dẫn của đại từ “ông”. Một lần nữa, như trong trường hợp rút gọn nguyên âm có phần tương tự về phương diện dạng thức đã thảo luận trước đó liên quan với những thí dụ 27a và 27b, hoàn toàn không thể đưa ra giải thích về phương diện “thói quen” và “khả năng” và “sự tương tự”. Đúng hơn, có vẻ như một số nguyên tắc trừu tượng và một phần phổ quát chi phối những khả năng tâm lý của con người phải được nhìn nhận để giải thích những hiện tượng đang được nhắc đến. Nếu nguyên tắc áp dụng theo chu kỳ thực sự là một nguyên tắc quy định xác định dạng thức hiểu biết ngôn ngữ của con người, thì một người đã học được những quy luật riêng biệt chi phối cách phát âm trong tiếng Anh sẽ biết, bằng trực giác và không cần hướng dẫn hay bằng chứng bổ sung, rằng 35 và 36 khác nhau về sự tôn trọng vừa được ghi nhận.

 

Vấn đề lý thuyết thách thức nhất trong ngữ học là việc khám phá những nguyên tắc ngữ pháp phổ quát đan xen với những quy luật ngữ pháp riêng biệt để đưa ra giải thích cho những hiện tượng có vẻ tùy tiện và hỗn loạn. Có lẽ những thí dụ thuyết phục nhất vào thời điểm này (và cũng là những thí dụ quan trọng nhất, trong đó những nguyên tắc liên quan rất trừu tượng và hoạt động của chúng khá phức tạp) thuộc lĩnh vực âm vị học, nhưng chúng quá phức tạp để trình bày trong phạm vi của bài giảng này. [31] Một thí dụ cú pháp khác Một phần, nó xuất phát từ thực tế là ngữ âm học phổ quát, vốn đem cho một loại “điều khiển theo kinh nghiệm” cho lý thuyết âm vị học, có cơ bản vững chắc hơn nhiều so với ngữ nghĩa học phổ quát, trên nguyên tắc, sẽ đem cho một sự điều khiển tương tự một phần. cho lý thuyết cú pháp. Trong ngữ học thời nay, ngữ âm học (và một phần là âm vị học) đã được nghiên cứu sâu đáng kể và đạt được nhiều thành công, nhưng điều tương tự vẫn chưa thể nói được với ngữ nghĩa học, mặc dù có nhiều nghiên cứu đáng chú ý. minh họa vấn đề tổng quát một cách khá đơn giản được đem cho bởi những quy luật hình thành câu hỏi bắt đầu với wh trong tiếng Anh. [32]

 

Hãy xem xét những câu như sau:

 

41          a. Who expected Bill to meet Tom?

b. Who(m) did John expect to meet Tom?

c. Who(m) did John expect Bill to meet?

d. What (books) did you order John to ask Bill to persuade his friends to stop reading?

 

Như những thí dụ a, b và c cho thấy, một cụm danh từ ở bất kỳ vị trí nào trong ba vị trí in nghiêng trong câu chẳng hạn như “John mong đợi Bill để gặp Tom” có thể bị nghi vấn.

 

Tiến trình này về cơ bản là thế này:

 

42          a. vị trí-wh: gán dấu wh – cho một cụm danh từ.

b. wh-inversion: đặt cụm danh từ được đánh dấu ở đầu của một câu.

c. auxiliary attraction: chuyển một phần trợ động từ hay liên từ đến vị trí thứ hai trong câu.

d. phonological interpretation: / giải thích âm vị học: thay thế cụm danh từ được đánh dấu bằng một dạng thức nghi vấn thích hợp. [33]

 

Cả bốn tiến trình này đều áp dụng không trống rỗng [34] trong trường hợp 41b và 41c. Ví dụ, câu 41b được hình thành bằng cách áp dụng vị trí wh cho cụm danh từ “someone” trong “John expected someone to meet Tom.” Áp dụng tiến trình đảo ngữ wh (42b) sẽ cho ra “wh- someone John expected to meet Tom.” Tiến trình hấp dẫn phụ trợ (42c) sẽ cho ra “wh- someone did John expect to meet Tom.” Cuối cùng, tiến trình diễn giải ngữ âm (42d) sẽ cho ra 41b. Câu 41d minh họa cho thực tế là những tiến trình này có thể trích xuất một cụm danh từ được nhúng sâu trong câu – thực tế là không giới hạn.

 

Trong số những tiến trình được liệt kê trong 42, tất cả trừ hấp dẫn phụ trợ đều áp dụng trong việc hình thành mệnh đề quan hệ, đưa ra những cụm từ như “the man who(m) John expected to meet Tom,” v.v.

 

Tuy nhiên, lưu ý rằng có một số hạn chế nhất định đối với việc hình thành những câu hỏi và những quan hệ theo cách này. Ví dụ, hãy xem xét các câu của 43:. Thí dụ, hãy xem xét những câu của 43:

 

43          a. For him to understand this lecture is difficult.

b. It is difficult for him to understand this lecture.

c. He read the book that interested the boy.

d. He believed the claim that John tricked the boy.

e. He believed the claim that John made about the boy.

f. They intercepted John’s message to the boy.

 

Giả định chúng ta thử áp dụng những tiến trình hình thành nghi vấn và quan hệ cho những cụm danh từ in nghiêng trong 43. chúng ta sẽ lần lượt lấy ra những câu nghi vấn và quan hệ sau đây từ 43a–43f:

 

44          aI. *What is for him to understand difficult?

aR. *a lecture that for him to understand is difficult

bI. What is it difficult for him to understand?

bR. a lecture that it is difficult for him to understand

cI. *Who did he read the book that interested?

cR. *the boy who he read the book that interested

dI. *Who did he believe the claim that John tricked?

dR. *the boy who he believed the claim that John tricked

eI. *Who did he believe the claim that John made about?

eR. *the boy who he believed the claim that John made about

fI. *Who did they intercept John’s message to?

fR. *the boy who they intercepted John’s message to

 

Trong số này, chỉ bI và bR là hoàn toàn được chấp nhận, còn những trường hợp a, c, d và e là hoàn toàn không thể xảy ra, mặc dù ý nghĩa của chúng khá rõ ràng nếu chúng được chấp nhận về phương diện ngữ pháp. Không rõ ràng là người nói tiếng Anh biết được điều này như thế nào. Do đó, câu 43a và 43b là đồng nghĩa, tuy nhiên chỉ có câu 43b là tuân theo những tiến trình được nhắc đến. Và mặc dù những tiến trình này không áp dụng cho 43d và 43f, nhưng chúng có thể được áp dụng, với kết quả dễ chấp nhận hơn nhiều, cho những câu 45a và 45b rất giống nhau:

 

45          a. He believed that John tricked the boy. (Who did he believe that John tricked? – the boy who he believed that John tricked)

b. They intercepted a message to the boy. (Who did they intercept a message to? – the boy who they intercepted a message to)

 

Bằng một cách nào đó chưa rõ, người nói tiếng Anh nghĩ ra những nguyên tắc của số 42 trên cơ bản dữ liệu có sẵn cho người này; Tuy nhiên, điều bí ẩn hơn nữa là việc người này biết những nguyên tắc này có thể áp dụng được trong những điều kiện dạng thức nào. Khó có thể khẳng định một cách nghiêm chỉnh rằng mọi người nói tiếng Anh bình thường đều đã “định hình” hành vi của mình theo những cách đã cho thấy bằng làm vững mạnh thêm thích hợp. Những câu 43, 44 và 45 cũng “xa lạ” như số đông lớn những câu chúng ta gặp trong đời sống hàng ngày, thế nhưng chúng ta vẫn biết bằng trực giác, không cần sự hướng dẫn hay nhận thức, chúng phải được tiến hành giải quyết như thế nào bởi hệ thống những quy luật ngữ pháp vốn đã có sẵn. chúng ta đã làm chủ được.

 

Có vẻ như, một lần nữa, có một nguyên tắc chung giải thích cho nhiều sự kiện như vậy. Lưu ý rằng trong 43a, cụm danh từ in nghiêng được chứa trong một cụm danh từ khác, cụ thể là “for he to understand this lecture,” là chủ ngữ của câu. Tuy nhiên, trong 43b, một quy luật về đặt ra ngoài cùng [35] đã đặt cụm từ “for he to understand this lecture” bên ngoài cụm danh từ chủ ngữ, và trong cấu trúc kết quả, cụm từ này hoàn toàn không phải là cụm danh từ, do đó cụm từ in nghiêng trong 43b không còn nằm trong cụm danh từ nữa. Giả sử chúng ta áp đặt cho những phép biến đổi ngữ pháp điều kiện là không có cụm danh từ nào có thể được trích xuất từ ​​bên trong cụm danh từ khác – nói chung hơn, nếu một phép biến đổi áp dụng cho cấu trúc có dạng:

 

S. . . [A. . .] A. . . ] S

 

với bất kỳ phân loại A nào, thì nó phải được hiểu sao cho phù hợp với cụm từ tối đa của loại A. [36] Sau đó, những tiến trình của 42 sẽ bị chặn, theo yêu cầu, trong những trường hợp 43a, c, d, e và f, nhưng không phải ở 43b. chúng ta sẽ sớm quay lại vấn đề 45. Có những thí dụ khác hỗ trợ nguyên tắc thuộc loại này vốn chúng ta sẽ gọi là nguyên tắc A-over-A. Xét câu 46:

 

46          a. John kept the car in the garage.

b. Mary saw the man walking toward the railroad station.

 

Mỗi điều này đều mơ hồ. Vì vậy, 46a có thể có nghĩa là chiếc xe trong gara được John giữ, hay chiếc xe được John giữ trong gara. Trong trường hợp đầu tiên, cụm từ in nghiêng là phần của cụm danh từ, “the car in gara”; trong trường hợp sau thì không. Tương tự, 46b có thể có nghĩa là người đang đi về phía ga xe lửa đã được Mary nhìn thấy, hay Mary đã nhìn thấy người đang đi về phía ga xe lửa (hay, không liên quan với thảo luận này, rằng Mary, khi đang đi về phía ga xe lửa, đã nhìn thấy người). Một lần nữa, trong trường hợp đầu tiên, cụm từ in nghiêng là phần của cụm danh từ, “the man walking toward the railroad station”; trong trường hợp sau thì không. Nhưng bây giờ hãy xem xét hai câu hỏi của câu 47:

47          a. What (garage) did John keep the car in?

b. What did Mary see the man walking toward?

 

Mỗi điều này đều rõ ràng và chỉ có thể diễn giải câu cơ bản trong đó cụm từ in nghiêng không là phần của cụm danh từ khác. Điều tương tự cũng đúng với những họ hàng được hình thành từ 46, và những sự thật này cũng sẽ được giải thích bằng nguyên lý A-over-A. Có rất nhiều thí dụ tương tự.

 

Một trường hợp tế nhị hơn một chút có lẽ có thể được giải thích theo cách tương tự được đem cho bởi những câu như 48 và 49:

 

48          John has the best proof of that theorem.

49          What theorem does John have the best proof of?

 

Theo cách giải thích tự nhiên nhất, câu 48 mô tả một hoàn cảnh trong đó một số người có cách chứng minh định lý đó và John là người chứng minh tốt nhất. Do đó, ý nghĩa đề nghị rằng “best” sửa đổi cụm cụm danh từ  “proof of

that theorem”, trong đó có một cụm danh từ khác, “t theorem.”. [37] Do đó, nguyên tắc A-over-A sẽ ngụ ý rằng cụm từ “định lý đó” không là tùy thuộc vào những tiến trình của 42. Do đó, 49 sẽ không được suy ra từ những tiến trình này từ 48. Và trong thực tế, câu 49 có cách giải thích khá khác với câu 48. Câu 49 phù hợp với hoàn cảnh vốn John có bằng chứng về một số định lý, và người hỏi sẽ hỏi cách chứng minh nào trong số những định lý này là tốt nhất. Cấu trúc cơ bản, bất kể nó có thể là gì, sẽ liên kết “best” với “proof” nhưng không với “proof of that theorem”, do đó “that theorem”” không được nhúng chìm vào trong một cụm từ cùng loại và do đó có thể bị nghi ngờ (và tương tự như thuyết tương đối hóa).

 

Nguyên tắc tổng quát vừa được nêu lên có sức thuyết phục nhất định, như những thí dụ minh họa. Nếu được công nhận như một nguyên tắc của ngữ pháp phổ quát, nó có thể giải thích tại sao những quy luật riêng biệt của tiếng Anh vận hành để tạo ra một số câu nhất định trong khi bác bỏ những câu khác và gán những quan hệ âm-nghĩa theo những cách có vẻ như vi phạm những phép loại suy thông thường một cách bề ngoài. Đặt vấn đề theo những từ ngữ khác nhau, nếu chúng ta Giả định rằng nguyên tắc A-over-A là phần của lược đồ bẩm sinh xác định dạng thức kiến thức về ngôn ngữ, thì chúng ta có thể giải thích một số phương diện nhất định của kiến thức tiếng Anh vốn những người nói rõ ràng sở hữu. chưa được đào tạo và ngay cả chưa được đem cho dữ liệu liên quan với hiện tượng được nhắc đến theo bất kỳ cách nào có liên quan, trong chừng mức có thể xác định được.

 

Phân tích sâu hơn về dữ liệu tiếng Anh cho thấy, không có gì đáng ngạc nhiên, rằng tài khoản này bị đơn giản hóa quá mức và gặp phải nhiều khó khăn. Thí dụ, hãy xem xét câu 50 và 51:

 

50          John thought (that) Bill had read the book.

51          John wondered why Bill had read the book.

 

Trong trường hợp 50, cụm từ in nghiêng có thể bị thẩm vấn và tương đối hóa, nhưng trong trường hợp 51 thì không. Không rõ liệu cụm từ “that Bill had read the book” và “why Bill had read the book” có phải là những cụm danh từ hay không . Giả định chúng không là thế. Khi đó câu 50 được tiến hành giải quyết theo nguyên tắc A-over-A nhưng không 51. Để giải thích việc chặn những tiến trình của 42 trong trường hợp 51, chúng ta sẽ phải gán cụm từ “why Bill had read the book cùng phân loại với “the book“. Trong thực tế, có một đề nghị tự nhiên theo hướng này. Câu 51 điển hình ở chỗ cụm từ vốn cụm danh từ được trích ra chính nó là cụm từ wh-, nhưng không cụm từ that-. Giả định rằng tiến trình đặt wh – (42a) gán phần tử wh – không chỉ cho “quyển sách “ trong 51 nhưng còn cho mệnh đề chứa nó. Do đó, cả “wh – quyển sách “ và “tại sao Bill lại đọc quyển sách “ đều thuộc loại wh-, vốn bây giờ được coi như một đặc điểm cú pháp thuộc loại được thảo luận trong Aspects of the Theory of Syntax, Chương 2 ( xem ghi chú 6). Theo những giả định này, nguyên tắc A-trên-A sẽ dùng để giải thích sự khác biệt giữa 50 và 51.

 

Giả định những cụm từ được nhắc đến là cụm danh từ. Bây giờ là 50 nhưng không 51 mới đặt ra vấn đề. Giả định rằng phân tích của chúng ta cho đến nay là đúng thì phải có quy luật nào đó gán cho mệnh đề “that Bill had read the book một thuộc tính “sáng sủa”  [38] cho phép những cụm danh từ được lấy ra từ nó mặc dù nó là một cụm danh từ. Trong thực tế, có những thí dụ khác cho thấy sự cần thiết của một quy luật như vậy, có lẽ là một quy luật về ngữ pháp riêng biệt của tiếng Anh. Vì vậy, hãy xem xét những câu 52, 53 và 54:

 

52          Who would you approve of my seeing?

53          What would you approve of John’s drinking?

54          *What would you approve of John’s excessive drinking of?

 

Những câu 52 và 53 được hình thành bằng áp dụng những tiến trình thẩm vấn cho một cụm danh từ có trong những cụm từ lớn hơn “my doing –”, “John’s Drink –”. Do đó, những cụm danh từ lớn hơn này sáng sủa với hoạt động trích xuất. Tuy nhiên, như 54 cho thấy, cụm danh từ in nghiêng ở 55 không sáng sủa với phép biến đổi cú pháp này:

 

55          You would approve of John’s excessive drinking of the beer..

 

Những thí dụ này là điển hình trong số nhiều thí dụ đề nghị quy luật nào có thể ấn định tính sáng sủa. Trước đó chúng ta đã thảo luận về câu 56 (câu 4), cho thấy rằng nó mơ hồ:

 

56          I disapprove of John’s drinking.

 

Theo một cách diễn giải, cụm từ “John’s drinking” có cấu trúc bên trong của một cụm danh từ. Do đó, quy luật chèn tính từ (3d) giữa một từ hạn định và một danh từ được áp dụng, tạo ra “John’s overdose drinking”; và trên thực tế, những từ hạn định khác có thể thay thế “John’s” – “the,” “that,” “much of that,” v.v. Theo cách diễn giải này, cụm từ “John’s drinking” có cấu trúc giống hệt như “John’s rejection to leave,” “John’s rejection of the offer,” v.v. Theo cách diễn giải khác, “John’s drinking (the beer)” không có cấu trúc bên trong của một cụm danh từ và được giải quyết tương tự như “John’s having read the book,” “John’s refuse to leave,” “John’s rejecting the offer,” v.v., không có từ nào trong số đó cho phép chèn tính từ hoặc thay thế “John’s” bằng những từ hạn định khác. Giả sử chúng ta đưa ra một quy luật ngữ pháp tiếng Anh gán tính sáng sủa, theo nghĩa vừa định nghĩa, cho những cụm danh từ cũng là mệnh đề thiếu cấu trúc bên trong của cụm danh từ. Do đó, những cụm từ “that Bill had read the book” trong 50, “my seeing –” trong cấu trúc cơ sở 52 và “John’s drinking –” trong cấu trúc cơ sở 53 sẽ được gán tính sáng sủa; chính xác hơn, cụm danh từ chủ đạo trong những ví dụ này sẽ không dùng để chặn việc lấy ra theo nguyên tắc A-trên-A. Trong câu 51, việc lấy ra vẫn sẽ bị chặn bởi phân loại wh-, theo những dòng đã chỉ ra trước đó. Và câu 54 bị loại trừ vì cụm danh từ có liên quan của cấu trúc cơ sở, “John’s excessive drinking of –,” có cấu trúc bên trong của cụm danh từ, như vừa lưu ý, và do đó không tuân theo quy luật ngữ pháp tiếng Anh đặc biệt gán tính sáng sủa cho phân loại NP khi phân loại này chi phối một mệnh đề thiếu cấu trúc bên trong của NP.

 

Có một số trường hợp khác cho thấy sự cần thiết của những quy luật của ngữ pháp riêng biệt để gán tính sáng sủa theo nghĩa này. Xét câu 57 và 58:

 

57          a. They intercepted John’s message to the boy. (Sentence 43f)

b. He saw John’s picture of Bill.

c. He saw the picture of Bill.

58          a. They intercepted a message to the boy. (Sentence 45b)

b. He saw a picture of Bill.

c. He has a belief in justice.

d. He has faith in Bill’s integrity.

 

Những cụm danh từ in nghiêng trong 57 không phải chịu tiến trình thẩm vấn và tương đối hóa, theo nguyên tắc A-over-A, như chúng ta đã ghi nhận. Trong trường hợp của 58, việc thẩm vấn và thuyết tương đối hóa có vẻ tự nhiên hơn nhiều ở những vị trí này, ít nhất là trong tiếng Anh nói thân mật. Như vậy, những cụm danh từ chứa cụm từ in nghiêng phải được gán độ trong sángCó vẻ như điều liên quan là tính không xác định của cụm danh từ chiếm ưu thế; nếu vậy thì với một số phương ngữ nhất định sẽ có quy luật gán tính sáng sủa cho cụm danh từ có dạng:

 

59          [NP indefinite. . . NP] NP

 

Vẫn còn một số vấn đề rất nghiêm trọng dường như cản trở việc giải quyết bằng mở rộng và sửa đổi nguyên tắc A-over-A như vậy. Lưu ý rằng nguyên tắc này được xây dựng theo cách không thực sự được hỗ trợ tốt bởi những thí dụ đã đưa ra cho đến nay. Nếu nguyên tắc A-trên-A trong tổng quát là đúng, thì chúng ta sẽ mong tìm thấy những trường hợp trong đó một cụm từ thuộc loại A không thể được trích ra từ một cụm từ lớn hơn thuộc loại A, với nhiều lựa chọn khác nhau của A. Trong thực tế, những thí dụ được đưa ra như vậy đến nay chỉ liên quan với A = cụm danh từ (hay, có lẽ, A = [+ wh-], như trong phần thảo luận ở 51). Do đó, một cách trình bày nguyên tắc thay thế phù hợp với những sự kiện vừa ghi nhận sẽ gán tính không sáng sủa như một thuộc tính đặc biệt của một số loại cụm danh từ nhất định (và có lẽ cả những cấu trúc khác), chứ không là thuộc tính của loại A thống trị một loại khác của loại đó. A. Với những sự kiện đã được trình bày cho đến nay, sẽ là đúng đắn khi đưa ra nguyên tắc A-over-A thay vì phương án thay thế này một cách chính xác bởi vì nguyên tắc A-over-A có một tính chất tự nhiên nhất định, trong khi phương án thay thế hoàn toàn mang tính đặc biệt, một danh sách những cấu trúc không sáng sủa. Nhưng có bằng chứng quan trọng được John Ross cho thấy (xem tài liệu tham khảo ở ghi chú 21), cho thấy nguyên tắc A-over-A là không đúng. Ross cho thấy rằng trong những cấu trúc không thể lấy ra cụm danh từ thì tính từ cũng không thể lấy ra được. Vì vậy, hãy xem xét những ngữ cảnh : “I believe that John saw –,” “I believe the claim that John saw –,”và “I wonder whether John saw –.” Từ câu đầu tiên, nhưng không câu thứ hai hay thứ ba, chúng ta có thể lấy ra một cụm danh từ trong câu hỏi hay thuyết tương đối hóa, một thực tế vốn chúng ta đã cố gắng giải thích bằng sửa đổi nguyên tắc A-over-A. Nhưng điều tương tự cũng đúng với việc lấy ra những tính từ. Do đó, chúng ta có thể hình thành  “handsome though I believe that John is,” nhưng không *“handsome though I believe the claim that John is,” *“handsome though I wonder whether John is”, v.v. Liệu người ta có thể mở rộng phương pháp nghiên cứu giải quyết vừa thảo luận hay không giải thích vấn đề này theo cách tự nhiên nào đó thì tôi không biết; Hiện tại, tôi thấy không có phương pháp nghiên cứu giải quyết nào không gồm một bước đặc biệt hoàn hảo. Có lẽ điều này cho thấy rằng phương pháp nghiên cứu giải quyết qua nguyên tắc A-over-A là không chính xác, khiến chúng ta tạm thời chỉ có một tập hợp những cấu trúc trong đó việc trích xuất, vì lý do nào đó, không thể thực hiện được.

 

Dù trả lời có thể là gì đi nữa thì sự phức tạp của những vấn đề vừa được thảo luận là một minh họa điển hình và quan trọng cho loại đề tài đang ở ranh giới của nghiên cứu ngày nay, theo nghĩa đã nhắc đến ở phần đầu của bài giảng này: đó là, một số vấn đề nhất định. có thể được trình bày rõ ràng trong khung cấu trúc khái niệm những ý tưởng khá rõ ràng và được hiểu rõ; một số giải pháp từng phần có thể được nâng cao; và một loạt những thí dụ có thể được tìm ra khi những giải pháp này thất bại, bỏ ngỏ câu hỏi liệu điều cần thiết là xây dựng và mài giũa thêm hay một phương pháp nghiên cứu giải quyết hoàn toàn khác.

 

Cho đến giờ, tôi đã thảo luận về một số loại điều kiện vốn những phép biến đổi phải đáp ứng: những điều kiện xóa, thuộc loại được đưa ra trong những thí dụ 8–18; nguyên tắc áp dụng theo chu kỳ, được minh họa bằng phần thảo luận về những thí dụ 28–40 (với sự tương tự về âm vị được thảo luận liên quan với 27); và nguyên tắc A-over-A được nêu lên làm cơ bản cho việc giải thích những hiện tượng như được minh họa bằng những thí dụ 44–58. Trong mỗi trường hợp, có lý do nào đó để tin rằng nguyên tắc này là phù hợp, mặc dù không thiếu bằng chứng cho thấy nguyên tắc này được xây dựng không đầy đủ hay có lẽ bị hiểu sai. Để minh họa cuối cùng cho tình trạng này, điển hình cho ranh giới nghiên cứu tồn tại trong ngữ học cũng như trong bất kỳ lĩnh vực nào khác, hãy xem xét một vấn đề được Peter Rosenbaum thảo luận lần đầu tiên (xem tài liệu tham khảo ở ghi chú 6). Xét câu 60:

             

60          a. John agreed to go.

b. John persuaded Bill to leave.

c. Finding Tom there caused Bill to wonder about John.

 

Khi giải thích những câu này, chúng ta đem cho một “chủ ngữ còn thiếu” cho những động từ “đi”, “rời” và “tìm” tương ứng. Ở câu 60a, chúng ta hiểu chủ ngữ “go” là “John”; ở câu 60b, chúng ta hiểu chủ ngữ của “leave” là “Bill”; trong 60c, chúng ta hiểu chủ ngữ “tìm thấy” và chủ ngữ “điều kỳ diệu” là “Bill”. Về phương diện khung cấu trúc khái niệm được giả định-trước cho đến nay, sẽ là điều tự nhiên (mặc dù có lẽ không cần thiết, như chúng ta sẽ thấy bên dưới) coi đề tài còn thiếu này là đề tài thực tế trong cấu trúc sâu, bị loại bỏ bởi phép biến đổi cú pháp xóa. Do đó, những cấu trúc sâu bên dưới có thể giống như 61:

 

61          a. John agreed [John go]

b. John persuaded Bill [Bill leave]

c. [Bill find Tom there] caused Bill to wonder about John

 

Mặt khác, thực tế cho thấy rõ ràng rằng những câu 60 không thể bắt nguồn từ 62:

 

62          a. John agreed [someone go]

b. John persuaded Bill [John leave]

c. [John find Tom there] caused Bill to wonder about John

 

Sẽ khó để biện luận rằng trong những trường hợp như vậy có một phán quyết xem xét ngữ nghĩa nội tại phản lại những cấu trúc như 62. Thí dụ, người ta có thể giải thích 62a có nghĩa là John đồng ý rằng ai đó nên đi; 62b có nghĩa là John đã thuyết phục Bill rằng ông (John) sẽ (nên) rời đi; 62c có nghĩa là việc John tìm thấy Tom ở đó khiến Bill thắc mắc về John. Phải có một nguyên tắc cú pháp chung nào đó quy định 62 là nguồn có thể có cho 60 và điều đó khiến chúng ta diễn giải 60 dựa trên 61. Rosenbaum đề nghị rằng những gì liên quan là một điều kiện nhất định với những phép biến đổi cú pháp xóa, một “nguyên tắc xóa” quy định đại khái là chủ ngữ của một mệnh đề nhúng chìm vào bị xóa bởi cụm danh từ gần nhất bên ngoài mệnh đề này, “sự gần gũi” được đo bằng số nhánh trong một biểu thị chẳng hạn như 1 hay 2. [39] Như ông đã cho thấy, rất nhiều thí dụ về Có nhiều loại khác nhau có thể được giải thích dựa trên giả định chung này, giống như những giả định khác vốn tôi đã xem xét, liên quan với một điều kiện về những phép biến đổi sẽ tạo thành một phần của ngữ pháp phổ quát.        

 

Tuy nhiên, ở đây cũng có một số vấn đề phát sinh. Thí dụ, hãy xem xét những trường hợp sau: [40]

 

63          John promised Bill to leave.

64          a. John gave me the impression of working on that problem.

b. John gave me the suggestion of working on that problem.

65          a. John asked me what to wear.

b. John told me what to wear.

66          John asked Bill for permission to leave.

67          a. John begged Bill to permit him to stay.

b. John begged Bill to be permitted to stay.

c. John begged Bill to be shown the new book.

68          John made an offer to Bill (received advice from Bill, received an invitation from Bill) to stay.

69          John helped Bill write the book.

 

Câu 63 vi phạm nguyên tắc, vì John, không phải Bill, là người phải rời đi. Trong câu 64a, “John” được hiểu là chủ ngữ của “work”, trong khi ở câu 64b có vẻ tương tự, chủ ngữ được hiểu là “I”. Trong trường hợp của câu 65a, “John” là chủ ngữ được hiểu của “wear”; trong câu 65b, là “I”. Trong trường hợp của câu 66, “John” là chủ ngữ được hiểu của “leave” và “Bill” của “permit”, có lẽ là “permission” làm cơ sở; trong trường hợp của câu 67a, “Bill” là chủ ngữ bề mặt được hiểu của mệnh đề được nhúng vào, nhưng trong câu 67b và 67c, là “John”, mặc dù “Bill” là cụm danh từ “gần nhất” trong cả ba trường hợp, theo nghĩa của Rosenbaum. Trong câu 68, “John” được hiểu là chủ ngữ của “stay”, trái ngược rõ ràng với nguyên tắc, mặc dù phụ thuộc nhiều vào những câu hỏi chưa được giải quyết về cách phân tích những câu này. Trường hợp của câu 69 còn mơ hồ theo những cách khác. Nguyên tắc xóa bỏ sẽ gợi ý rằng “Bill” là chủ ngữ của “write”, mặc dù tất nhiên câu này không ngụ ý rằng Bill wrote the book/Bill đã viết cuốn sách – mà là John và Bill đã cùng nhau viết. Nhưng có một khó khăn trong việc theo đuổi cách giải thích này. Do đó, từ câu 69, chúng ta có thể kết luận rằng John đã giúp viết cuốn sách, nhưng từ câu có vẻ tương tự “John helped the cat have kittens”, chúng ta không thể suy ra rằng “John helped have kittens”, điều này là lệch lạc, một thực tế cho thấy bằng cách nào đó phải có mối quan hệ ngữ pháp giữa “John” và “write” trong câu 69. Nói cách khác, vấn đề là làm thế nào để giải thích cho “ohn helped write the book” là tương tự với câu 60a, vì rõ ràng là câu tương tự với câu 61a sẽ không phù hợp như là một nguồn.

 

Không cần theo đuổi vấn đề thêm nữa, chúng ta có thể thấy rằng mặc dù nguyên tắc tẩy xóa có nhiều điều đáng khuyến khích và có lẽ bằng cách nào đó liên quan với giải pháp chính xác cho mạng lưới những vấn đề này, nhưng vẫn còn nhiều bằng chứng cần được giải thích. Như trong những trường hợp khác đã nhắc đến, có nhiều vấn đề khác nhau liên quan với những điều kiện xác định khả năng áp dụng của những phép biến đổi, những vấn đề vẫn cản trở bất kỳ giải pháp gần như xác định nào, mặc dù một số nêu lên đáng chú ý và sáng tỏ có thể được đưa ra dường như đã đi được một phần chặng đường. hướng tới một giải pháp chung.

 

Khi thảo luận về bản chất của những hoạt động ngữ pháp, tôi đã tự giới hạn ở những thí dụ cú pháp và âm vị học, tránh những câu hỏi về diễn giải ngữ nghĩa. Nếu một ngữ pháp mô tả khả năng ngôn ngữ đầy đủ của người nói-nghe, thì nó cũng phải gồm những quy luật diễn giải ngữ nghĩa, nhưng người ta biết rất ít về chiều sâu liên quan với phương diện ngữ pháp này. Trong những tài liệu tham khảo được trích dẫn trước đó (xem ghi chú 6), người ta nêu lên rằng một ngữ pháp gồm một thành phần cú pháp xác định một tập hợp vô hạn những cấu trúc ngoài mặt và sâu được ghép nối và thể hiện quan hệ biến đổi giữa những yếu tố được ghép nối này, một thành phần âm vị gán một ngữ âm biểu thị cho cấu trúc ngoài mặt và thành phần ngữ nghĩa gán biểu thị ngữ nghĩa cho cấu trúc sâu. Như đã ghi nhận trước đó (trang 27; xem thêm trang 94–97), tôi nghĩ có bằng chứng mạnh mẽ cho thấy những phương diện của cấu trúc ngoài mặt cũng liên quan với việc diễn giải ngữ nghĩa. [41] Tuy nhiên, điều này có thể xảy ra, có thể có chút nghi ngờ rằng một cách hiểu đầy đủ ngữ pháp phải chứa đựng những quy luật diễn giải ngữ nghĩa khá phức tạp, ít nhất là phần, gắn với những thuộc tính khá riêng biệt của những đơn vị thông tin từ vựng và cấu trúc dạng thức của ngôn ngữ được nhắc đến. Để nhắc đến chỉ một thí dụ, hãy xem xét câu 70:

 

70          John has lived in Princeton..

 

Từ giả định rằng câu này đã được dùng hợp lý để đưa ra một phát biểu, chúng ta có thể kết luận rằng John là một người (người ta sẽ không nói rằng con chó của ông đã sống ở Princeton); rằng Princeton là một nơi đáp ứng những điều kiện nhất định về vật chất và ngôn ngữ: (vì “Princeton” là một danh từ riêng); rằng John thì hiện sống (tôi có thể nói rằng tôi đã từng sống ở Princeton, nhưng bây giờ tôi không thể nói “Einstein đã từng sống ở Princeton” – đúng hơn là “Einstein đã sống ở Princeton”); và vân vân. Việc giải thích ngữ nghĩa của số 70 phải sao cho phù hợp với những sự thật này.

 

Một phần, những câu hỏi như thế này có thể được xếp vào một ngữ nghĩa học phổ quát vẫn đang được phát triển, trong đó những khái niệm và quan hệ của chúng được phân tích một cách rất tổng quát; lấy một thí dụ cổ điển, có thể biện luận rằng quan hệ ý nghĩa giữa “John is proud of what Bill did” và “John has some responsibility for Bill’s actions” nên được giải thích theo những khái niệm phổ quát về niềm tự hào và trách nhiệm, chỉ là ở mức độ cấu trúc âm thanh, người ta có thể viện đến một nguyên tắc ngữ âm học phổ quát để giải thích thực tế là khi một phụ âm vòm miệng trở thành âm vòm thì nó thường trở nên chói tai (xem tài liệu tham khảo ở ghi chú 14 để thảo luận). Chẳng hạn, nêu lên này có vẻ kém thu hút hơn khi áp dụng cho trường hợp 70, vì thực tế là việc dùng đúng số 70 ngụ ý rằng John hiện vẫn còn sống. Khi cố gắng theo đuổi những câu hỏi như vậy, chúng ta sẽ nhanh chóng lạc vào một mớ rắc rối và những vấn đề mơ hồ, và thật khó để đưa ra những trả lời có sức thuyết phục. Vì lý do này, tôi không thể thảo luận những điều kiện về những quy luật diễn giải ngữ nghĩa có thể tương tự với những điều kiện về những quy luật cú pháp và âm vị học đã nhắc đến trước đó.

 

Hãy Lưu ý rằng tôi có thể đã nhầm lẫn trong những nhận xét trước khi cho rằng những đề tài được thảo luận thuộc về cú pháp nhưng không thành phần ngữ nghĩa của ngữ pháp hay thuộc một lĩnh vực nào đó trong đó những quy luật ngữ nghĩa và cú pháp thâm nhập vào nhau. Những vấn đề quá mơ hồ để chúng ta có thể nói rằng đây là một câu hỏi thực nghiệm, như vấn đề hiện nay; nhưng khi chúng được mài giũa, chúng ta có thể thấy rằng một câu hỏi thực nghiệm có thể được đặt ra. Thí dụ, hãy xem xét thảo luận trên nguyên tắc xóa trong cú pháp. Joseph Emonds đã đề nghị (trong một tác phẩm chưa được xuất bản) rằng sẽ không đúng nếu cho rằng, như tôi đã làm, những câu của câu 60 được diễn giải qua việc viện dẫn đến những cấu trúc cơ bản của câu 61. Đúng hơn, ông biện luận rằng những gì tôi cho là mệnh đề gắn liền có không có đề tài nào ở dạng cơ bản được tạo ra bởi thành phần cú pháp và một quy luật chung về diễn giải ngữ nghĩa sẽ thay thế nguyên tắc xóa của Rosenbaum. Tôi không biết điều này có đúng không, nhưng chắc chắn là có khả năng xảy ra. chúng ta có thể mong đợi, khi tiếp tục nghiên cứu những vấn đề về ngữ pháp, những ranh giới dường như rõ ràng ngày nay có thể thay đổi theo những cách không thể đoán trước hay một số cơ bản mới cho việc tổ chức ngữ pháp có thể thay thế khung cấu trúc khái niệm vốn hiện nay có vẻ phù hợp.

 

Những điều kiện về quy luật ngữ pháp vốn tôi đang thảo luận rất phức tạp và chỉ được hiểu một phần. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng ngay cả một số điều kiện đơn giản và rõ ràng nhất của dạng thức ngữ pháp cũng không là thuộc tính cần thiết của một hệ thống đáp ứng những chức năng của ngôn ngữ con người. Tương ứng, thực tế là chúng đúng với ngôn ngữ của con người trong tổng quát và đóng một vai trò trong khả năng ngôn ngữ tiếp nhận của người nói-nghe không thể bị bác bỏ một cách dễ dàng. Thí dụ, hãy xem xét một thực tế đơn giản là những phép biến đổi ngữ pháp luôn tùy thuộc vào cấu trúc theo nghĩa là chúng áp dụng cho một chuỗi từ , [42] nhờ vào việc tổ chức những từ này thành những cụm từ. Thật dễ dàng để tưởng tượng những phép biến đổi cú pháp độc lập với cấu trúc áp dụng cho một chuỗi những phần tử hoàn toàn độc lập với cấu trúc trừu tượng của nó như một hệ thống những cụm từ. Thí dụ, quy luật hình thành những câu hỏi của 71 từ những khẳng định tương ứng của 72 (xem chú thích 10) là một quy luật tùy thuộc vào cấu trúc trao đổi một cụm danh từ với thành phần đầu tiên của trợ động từ.

 

71          a. Will the members of the audience who enjoyed the play stand?

b. Has Mary lived in Princeton?

c. Will the subjects who will act as controls be paid?

72          a. The members of the audience who enjoyed the play will stand.

b. Mary has lived in Princeton.

c. The subjects who will act as controls will be paid.

 

Ngược lại, hãy xem xét phép biến đổi cú pháp đảo ngược từ đầu tiên và cuối cùng của câu hay sắp xếp những từ trong câu theo độ dài tăng dần theo những phân đoạn ngữ âm (“xếp bảng chữ cái” theo cách riêng biệt nào đó cho những đơn vị có cùng độ dài), hay di chuyển sự xuất hiện ở ngoài cùng bên trái của từ “will” sang cực bên trái – gọi lần lượt là O1 , O2 và O3 . Áp dụng O1 cho 72a, ta suy ra 73a; áp dụng O2 cho 72b, ta thu được 73b; áp dụng O3 vào 72c, chúng ta lấy ra 73c:

 

73          a. stand the members of the audience who enjoyed the play will

b. in has lived Mary Princeton

c. will the subjects who act as controls will be paid

 

Những phép biến đổi cú pháp O1 , O2 và O3  không tùy thuộc vào cấu trúc. Vô số hoạt động khác thuộc loại này có thể được chỉ định.

 

Không có lý do tiên nghiệm nào tại sao ngôn ngữ của con người chỉ nên dùng những hoạt động tùy thuộc vào cấu trúc, chẳng hạn như những hỏi bằng tiếng Anh, thay vì những hoạt động không tùy thuộc vào cấu trúc, chẳng hạn như O1 , O2 và O3. Người ta khó có thể biện luận rằng cái sau “phức tạp” hơn theo một nghĩa tuyệt đối nào đó; chúng cũng không thể được chứng minh là có hiệu quả hơn trong việc giải quyết sự mơ hồ hay có hại hơn cho hiệu quả giao tiếp. Tuy nhiên, không có ngôn ngữ nào của con người chứa những hoạt động độc lập với cấu trúc giữa (hay thay thế) những phép biến đổi ngữ pháp tùy thuộc vào cấu trúc. Người học ngôn ngữ biết rằng phép biến đổi cú pháp đem cho 71 là một lựa chọn có thể được cho một ngữ pháp, trong khi O1 , O2 và O3, cũng như bất kỳ phép biến đổi cú pháp nào giống như chúng, không cần phải được coi như giả thuyết tạm thời thí nghiệm.

 

Nếu chúng ta thiết lập được “khoảng cách tâm lý” thích hợp với những hiện tượng cơ bản và thông thường như thế này, chúng ta sẽ thấy rằng chúng thực sự gây ra một số vấn đề không hề nhỏ với tâm lý con người. chúng ta có thể giả thuyết về lý do của sự tùy thuộc vào những hoạt động tùy thuộc vào cấu trúc, [43] nhưng chúng ta phải nhìn nhận rằng bất kỳ giả thuyết nào như vậy đều phải liên quan với những giả định về khả năng nhận thức của con người vốn không hề hiển nhiên hay tất yếu. Và khó tránh khỏi kết luận rằng bất kể chức năng của nó là gì, sự tùy thuộc vào những hoạt động tùy thuộc vào cấu trúc phải được xác định trước với người học ngôn ngữ bằng một lược đồ ban đầu mang tính giới hạn thuộc loại nào đó nhằm định hướng cố gắng để của người đó để đạt được khả năng ngôn ngữ . Với tôi, những kết luận tương tự dường như được bảo đảm, a fortiori , trong trường hợp những nguyên tắc sâu xa hơn và phức tạp hơn đã được thảo luận trước đó, bất kể dạng thức chính xác của chúng có thể ra sao.

 

Tóm lại: theo những hướng đã được phác thảo ở đây, chúng ta có thể một mặt phát triển một hệ thống những nguyên tắc tổng quát của ngữ pháp phổ quát, [44]và mặt khác, những ngữ pháp riêng biệt được hình thành và giải thích theo những nguyên tắc này. Sự tác động qua lại giữa những nguyên tắc phổ quát và những quy luật riêng biệt dẫn đến những hệ quả thực nghiệm như những hệ quả chúng ta đã minh họa; ở nhiều mức độ chuyên sâu khác nhau, những quy luật và nguyên tắc này đưa ra giải thích cho những sự kiện về khả năng ngôn ngữ – kiến thức về ngôn ngữ vốn mỗi người nói bình thường sở hữu – và về một số cách vốn kiến thức này được dùng trong hoạt động của người nói hay người nghe.

 

Những nguyên tắc của ngữ pháp phổ quát đem cho một lược đồ rất giới hạn vốn bất kỳ ngôn ngữ nào của con người đều phải tuân theo, cũng như những điều kiện riêng biệt xác định cách dùng ngữ pháp của bất kỳ ngôn ngữ nào như vậy. Thật dễ dàng để tưởng tượng ra những lựa chọn thay thế cho những điều kiện đã được hình thành (hay những điều kiện thường được giả định ngầm). Những tình trạng này trước đây thường không được chú ý và ngày nay chúng ta biết rất ít về chúng. Nếu chúng ta cố gắng thiết lập “khoảng cách tâm lý” thích hợp với những hiện tượng liên quan và thành công trong việc “làm cho chúng trở nên xa lạ” với bản thân, chúng ta sẽ thấy ngay rằng chúng gây ra những vấn đề rất nghiêm trọng không thể nói ra hay xác định được là không tồn tại. Việc xem xét cẩn thận những vấn đề được phác họa ở đây cho thấy rằng để giải thích cho việc dùng ngôn ngữ thông thường, chúng ta phải gán cho người nghe-người nói một hệ thống quy luật phức tạp liên quan với những hoạt động tâm lý có tính chất rất trừu tượng, áp dụng cho những biểu thị khá xa vời. tín hiệu vật lý. Hơn nữa, chúng ta nhận thấy rằng kiến thức về ngôn ngữ có được trên cơ bản dữ liệu suy thoái và bị giới hạn, và ở mức độ lớn, nó không tùy thuộc vào óc thông minh cũng như những biến đổi lớn trong kinh nghiệm cá nhân.

 

Nếu một nhà khoa học phải đối mặt với vấn đề xác định bản chất của một thiết bị có những thuộc tính chưa xác định, hoạt động dựa trên loại dữ liệu có sẵn cho trẻ em và đưa ra dưới dạng “output” (nghĩa là “trạng thái cuối cùng của thiết bị”, trong trong trường hợp này) một loại ngữ pháp riêng biệt vốn dường như cần phải gán cho người biết ngôn ngữ đó, người này sẽ tự nhiên tìm kiếm những nguyên tắc tổ chức vốn có để xác định dạng thức output trên cơ bản dữ liệu giới hạn có sẵn. Không có lý do gì để chấp nhận một quan điểm thành kiến hay giáo điều hơn khi dụng cụ có những thuộc tính chưa được biết tới chính là não thức con người; riêng biệt, không có lý do gì để giả định, trước bất kỳ biện luận nào, rằng những giả định theo thuyết kinh nghiệm tổng quát đã thống lĩnh giả thuyết về những vấn đề này có bất kỳ yêu cầu ưu tiên riêng biệt nào. Không ai thành công trong việc cho thấy tại sao những giả định mang tính kinh nghiệm rất riêng biệt của thuyết kinh nghiệm về cách thức tiếp nhận kiến thức lại cần được xem xét một cách nghiêm chỉnh. Chúng dường như không đưa ra cách nào để mô tả hay giải thích những cấu trúc biểu thị đặc điểm và bình thường nhất của óc thông minh con người, chẳng hạn như khả năng ngôn ngữ . Mặt khác, một số giả định rất riêng biệt về ngữ pháp riêng biệt và phổ quát mang lại hy vọng giải thích được những hiện tượng vốn chúng ta gặp phải khi xem xét kiến thức và cách dùng ngôn ngữ. Giả thuyết về tương lai, dường như không có khả năng rằng việc tiếp tục nghiên cứu theo hướng được cho thấy ở đây sẽ đưa ra ánh sáng một lược đồ có tính giới hạn cao, xác định cả nội dung của kinh nghiệm và bản chất của kiến thức nảy sinh từ nó, từ đó chứng minh và xây dựng một số suy nghĩ truyền thống. về vấn đề ngôn ngữ và não thức . Về vấn đề này, cùng với những vấn đề khác, tôi sẽ trình bày trong bài giảng cuối cùng.



Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Aug/2024)

(Còn tiếp ... )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com




[1] [W. Köhler, Dynamics in Psychology (New York: Liveright, 1940)].

Những khám phá cơ bản trong vật lý cổ điển có thể khá gây chấn động vì chúng vén mở lên cho thấy những sự việc mà mọi người thường tự nhiên không hiểu. Thí dụ, hầu hết mọi người sẽ không biết theo trực giác rằng những hành tinh chuyển động theo quỹ đạo hình elip hay lực hấp dẫn tuân theo một định luật toán học cụ thể (hằng số lực hấp dẫn). Những ý tưởng này gây kinh ngạc vì chúng không phù hợp với kinh nghiệm thường hàng. Giá trị của chấn động đến từ cách nó thay đổi hiểu biết của chúng ta về vũ trụ. Những khám phá này buộc chúng ta phải suy nghĩ theo những cách mới và nhận ra những hiểu biết sâu xa trước đây vẫn ẩn giấu. Thấu hiểu những khái niệm này, chúng ta có thể giải thích chuyển động của hành tinh, cách những vật thể rơi và thậm chí phát triển những kỹ thuật như vệ tinh, hỏa tiễn, và khao học thám hiểm không gian. Vì vậy, giá trị gây chấn động đến từ sự ngạc nhiên ban đầu, và giá trị thực sự nằm ở kiến ​​thức và những tiến bộ thực tiễn sau đó.

[2] một sự thay đổi từ việc thực sự nhìn thấy sang chỉ đơn giản là sự nhận dạng

[3] [Xem V. Ehrlich, Russian Formalism, bản sửa đổi thứ 2. edn. (New York: Nhân văn, 1965), trang 176–77]

[4] [Ludwig Wittgenstein, Philosophical Investigations (New York: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1953), Phần 129]

[5] [Như trên, Mục 415.]

[6] Introspection : tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc, hay rộng hơn những trạng thái tinh thần. Về cơ bản, đó là một người tự “nhìn vào bên trong”để nhận biết những gì đang xảy ra trong chính não thức của mình, ở một thời điểm nhất định. Tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc cùa chính một người từng là một phương pháp chính trong tâm lý học ban đầu, đặc biệt trong những trường phái như cấu trúc, nhưng nó có những giới hạn vì dựa vào việc tự xem xét thuật kể chủ quan, điều này có thể không đáng tin cậy.

[7] Habit structure: ngôn ngữ học được qua tập quán, thói quen – qua sự lặp đi lập lại những khuôn mẫu ăn nói, hay phản ứng tự động khi ứng đáp

[8] internalize

[9] [Để làm nổi bật sự khác biệt trong chiều sâu của giải thíchnày, tôi đã nêu lên trong Current Issues in Linguistic Theory (New York: Humanities, 1965) của tôi, rằng từ ngữ “mức độ thích hợp về mô tả”có thể được dùng cho nghiên cứu liên hệ giữa những ngữ pháp và dữ liệu, và từ ngữ “mức độ giải thích thỏa đáng”cho liên hệ giữa lý thuyết của ngữ pháp phổ quát và những dữ liệu này].

[10] Quan hệ giữa cấu trúc sâu và cấu trúc ngoài mặt trong ngôn ngữ, như được mô tả ở đây, có thể được hiểu qua ngữ pháp chuyển đổi (transformational grammar), một khái niệm Noam Chomsky phát triển. Sau đây là một phân tích đơn giản:

(a) Cấu trúc sâu biểu thị cấu trúc cú pháp cơ bản của một câu, nơi ý nghĩa cốt lõi và quan hệ giữa những ý tưởng được thiết lập. Đó là mức độ trừu tượng, cơ bản hơn của một câu.

(b) Cấu trúc ngoài mặt đề cập đến dạng thức cuối cùng, bên ngoài của câu, dạng thức được nói hoặc viết. Đó là phiên bản mà chúng ta thực sự gặp phải trong giao tiếp.

Hai điều này có liên quan qua một loạt những qui luật chuyển đổi, là những hoạt động hoặc tiến trình sửa đổi cấu trúc sâu để tạo ra cấu trúc ngoài mặt. Những chuyển đổi này có thể gồm những hoạt động như:

(a) Di chuyển những thành phần: Thay đổi thứ tự của những từ (thí dụ: hình thành câu hỏi bằng cách di chuyển động từ trợ động trong tiếng Anh, “You are leaving”thành “Are you leaving?”).

(b) Chèn hoặc xóa những thành phần: Thêm hoặc xóa những từ để phù hợp với những mẫu ngữ pháp (thí dụ, thêm “do”để nhấn mạnh hoặc phủ định: “I go”trở thành “I do go”hoặc “I don't go”).

(c) chuyển sang thể thụ động: Thay đổi câu từ chủ động sang thụ động (thí dụ, “The cat chased the mouse”trở thành “The mouse was chased by the cat”).

Những hoạt động chuyển đổi này chuyển đổi cấu trúc sâu, biểu thị ý nghĩa của câu, thành cấu trúc ngoài mặt phù hợp với những qui luật ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể.

[11] [Để biết thêm chi tiết về quan điểm này, xem J. Katz và P. Postal, An Integrated Theory of Linguistic Descriptions (Cambridge, Mass.: MIT Press, 1964) và Aspects of the Theory of Syntax (Cambridge, Mass. : Nhà xuất bản MIT, 1965). Xem thêm Peter S. Rosenbaum, The Grammar of English Predicate Complement Constructions / Ngữ pháp của những cấu trúc bổ sung vị ngữ tiếng Anh (Cambridge, Mass.: MIT Press, 1967). Chúng chứa những tham chiếu đến công việc trước đó mà chúng mở rộng và sửa đổi. Đã có rất nhiều công việc trong vài năm qua mở rộng và sửa đổi phương pháp nghiên cứu giải quyết tổng quát này và khám phá những giải pháp thay thế. Hiện tại, mỏ đang trong giai đoạn sôi sục đáng kể và có lẽ sẽ phải mất một thời gian nữa bụi mới bắt đầu lắng xuống và một số vấn đề tồn đọng ngay cả còn tạm thời được giải quyết. Công việc hiện tại quá rộng để có thể tham khảo chi tiết trong một bản phác thảo như thế này. Một số ý tưởng về phạm vi và hướng chung của nó có thể được lấy từ những bộ sưu tập như R. Jacobs và PS Rosenbaum, eds., Readings in English Transformational Grammar (Waltham, Mass.: Ginn and Company, 1970).]

[12] [Tôi dùng dấu hoa thị (*) theo cách thông thường để biểu thị một câu đi chệch khỏi quy luật ngữ pháp ở một phương diện nào đó] –

Câu “I disapprove of John’s overdose drinking the beer”không đúng (chệch khỏi quy luật ngữ pháp) vì nó cố gắng kết hợp hai cấu trúc ngữ pháp khác nhau thường được tách biệt. Câu 5 (“I disapprove of John’s drinking the beer”) đề cập đến một hành động cụ thể – John drinking the beer. Câu 6 (“I disapprove of John’s Excessive drinking”) đề cập đến cách thức hoặc mức độ uống rượu của John – hành vi quá mức của John nói chung. Trong câu 7, nỗ lực kết hợp cả hai nghĩa – hành động cụ thể (uống bia) và hành vi chung (uống quá mức) – tạo ra xung đột vì ngữ pháp không thể đồng thời diễn đạt hai ý riêng biệt này trong một câu. Ngữ pháp nội tại gán những cấu trúc sâu riêng biệt cho mỗi nghĩa (hành động cụ thể trong câu 5, hành vi chung trong câu 6) và khi cố gắng kết hợp chúng, nó tạo ra một câu không đúng ngữ pháp (tiếng Anh)

[13] [Từ nay trở đi, tôi thường sẽ xóa những dấu ngoặc vuông để đưa ra cấu trúc sâu, ngoài mặt hay trung gian, để điều này không dẫn đến nhầm lẫn. Người ta nên nghĩ về 8 và 9 vì mỗi số đều có một dấu ngoặc vuông có nhãn chỉ định phạm trù ngữ pháp đầy đủ đi kèm với nó. Ghi nhận rằng 8 tất nhiên không phải là một cấu trúc sâu nhưng là kết quả của việc áp dụng những phép biến đổi cho một đối tượng trừu tượng nguyên thủy hơn]

[14] [Cũng có thể có những cách giải thích khác, dựa trên những sự mơ hồ khác trong cấu trúc “cách nấu ăn của John”– cụ thể là cách giải thích ăn thịt người và cách giải thích “nấu ăn”là “thứ được nấu chín”.]

[15] [Tôi cần nhấn mạnh rằng khi tôi nói một câu như đã chuyển hóa từ một câu khác, tôi đang nói một cách lỏng lẻo và không hoàn toàn chính xác. Điều tôi nên nói là cấu trúc liên quan đến câu đầu tiên thì bắt nguồn từ cấu trúc cơ bản của câu thứ hai. Do đó, trong trường hợp đang thảo luận, chính cấu trúc ngoài mặt của câu 10 vốn được lấy ra, theo một phân tích, từ cấu trúc trừu tượng mà nếu nó trải qua một sự phát triển chuyển hóa biến đổi khác, sẽ được chuyển đổi thành cấu trúc ngoài mặt của 11. Rằng những câu không bắt nguồn từ những câu khác nhưng thay vào đó là từ những cấu trúc bên dưới chúng đã được nhìn nhận một cách rõ ràng kể từ công trình đầu tiên về ngữ pháp phát sinh chuyển đổi khoảng mười lăm năm trước, nhưng những phát biểu không chính thức như những phát biểu trong bản văn ở đây đã đánh lừa nhiều người đọc và dẫn đến một quan niệm sai lầm. rất nhiều sự nhầm lẫn trong văn học. Có lẽ thêm vào sự nhầm lẫn là thực tế là một lý thuyết rất khác về những quan hệ chuyển đổi được phát triển bởi Zellig Harris, Henry Hiz và những người khác, trong thực tế lại coi những hoạt động chuyển đổi được áp dụng cho những câu. Thí dụ, xem ZS Harris, “Sự xuất hiện và biến đổi trong cấu trúc ngôn ngữ”, trong Ngôn ngữ, Tập. 33, số 3, 1957, trang 283-340, và nhiều ấn phẩm sau này. Với tôi và hầu hết những người nói khác, câu 12 là sai lệch. Tuy nhiên, cấu trúc liên kết làm nền tảng cho điểm 10 trong một phân tích phải được nhìn nhận, có lẽ bắt nguồn từ cấu trúc liên quan đến ““I know a man who is taller than Bill is”]

[16] [Nó cũng không thể có nghĩa ““I know a taller man than Bill and John likes ice cream”. Do đó, nếu cấu trúc sâu xác định ý nghĩa (trong chừng mực có liên quan đến những quan hệ ngữ pháp), thì phải có thứ gì đó như 14 hay 15 là cấu trúc cơ bản ngay lập tức cho 13. Thuộc tính chung của những hoạt động chuyển đổi xóa có liên quan đến một số loại khả năng phục hồi, a vấn đề không tầm thường với những hậu quả thực nghiệm thích thú. Để biết một số thảo luận, xem Những vấn đề hiện tại của tôi, Phần 2.2 và Những phương diện, Phần 4.2.2. Vấn đề đặt ra trong những thí dụ như 9 và 13 đã được John Ross chỉ ra cho tôi. Tài liệu tham khảo đầu tiên về khả năng lịch sử phái sinh có thể đóng một vai trò trong việc xác định khả năng áp dụng những phép biến đổi xuất hiện trong RB Lees, The Grammar of English Nominalizations (New York: Humanities, 1960), p. 76, liên quan đến thảo luận của ông – cũng là thảo luận đầu tiên – về vấn đề đồng nhất cấu trúc thành phần như một yếu tố quyết định khả năng ứng dụng của những phép biến đổi]

[17] [Nếu bản thân số 18 chỉ mơ hồ hai chiều thì trong thực tế, một vấn đề đã nảy sinh ở một thời điểm ngay cả còn sớm hơn. Tính không tự nhiên của số 18 khiến cho việc xác định điều này một cách chắc chắn khó có thể xảy ra.]

[18] [Xem RB Lees, “Cấu trúc tính từ mơ hồ đa dạng trong tiếng Anh”, trong Ngôn ngữ, Tập. 36, Số 2, 1960, trang 207-21, để thảo luận về những cấu trúc như vậy].

[19] abstract representations: những biểu thị trừu tượng – Phonological representations: biểu thị ngữ âm (how sounds are structured mentally), Grammatical representations (how sentences are structured at a deeper, abstract level), Biểu thị = hình ảnh tinh thần, ý tưởng trừu tượng hoặc hình thức tượng trưng của một khái niệm, đối tượng hoặc cấu trúc.

[20] restrictive schematism: Lược đồ hạn chế đề cập đến một khuôn khổ có hệ thống những qui luật cơ bản chi phối cách những yếu tố ngôn ngữ được cấu trúc và áp dụng. Nó hoạt động như một bản thiết kế, đảm bảo rằng ngôn ngữ tuân thủ những mô hình cụ thể, đặc biệt là trong những lĩnh vực như cấu trúc âm thanh và ngữ pháp. Thuật ngữ hạn chế làm nổi bật những ràng buộc phổ quát giới hạn phạm vi những cấu trúc ngôn ngữ có thể có, phản ảnh lý thuyết Ngữ pháp phổ quát của Chomsky, lý thuyết này định nghĩa những qui luật cơ bản được chia sẻ bởi tất cả những ngôn ngữ của con người.

[21] [Thảo luận về những đề tài này, xem bài viết của tôi “Một số thuộc tính chung của những quy luật âm vị học”trong Ngôn ngữ, Tập. 47, Số 1, 1967. Để có thảo luận đầy đủ và chi tiết hơn về lý thuyết âm vị học và ứng dụng của nó vào tiếng Anh, với những thí dụ được lấy ra từ nhiều ngôn ngữ và một số thảo luận về lịch sử của hệ thống âm thanh tiếng Anh, xem N. Chomsky và M. Halle, The Sound Pattern of English (New York: Harper & Row, 1968). Thí dụ trong bản văn được thảo luận chi tiết, trong bối cảnh khung cấu trúc khái niệm những quy luật và nguyên tắc tổng quát hơn, ở Chương 4, Phần 4, của Mẫu âm thanh trong tiếng Anh. Xem P. Postal, Aspects of Phonological Theory (New York: Harper & Row, 1968), để biết sự phát triển tổng quát của nhiều đề tài liên quan, cùng với phân tích quan trọng về những phương pháp phương pháp nghiên cứu giải quyết thay thế để nghiên cứu cấu trúc âm thanh.]

[22] Item

[23] the lexical entry: thông tin về một đơn vị từ vựng

[24] a word-final nasal: âm mũi (như /m/, /n/ hoặc /ŋ/) xuất hiện ở cuối từ. Thí dụ, trong từ “ham”, âm /m/ là âm mũi cuối từ.

[25] unstressed Một âm tiết không nhấn mạnh được phát âm với lực yếu hơn, thường ngắn hơn và có thể có âm nguyên âm giảm (như /ə/ hoặc schwa). Nhấn mạnh là một đặc điểm ngữ điệu, có nghĩa là nó liên quan đến nhịp điệu và ngữ điệu của lời nói.Thí dụ: Trong từ “photograph”(/ˈfoʊtəɡræf/), âm tiết đầu tiên “pho”được nhấn mạnh, trong khi âm tiết thứ hai “to”không được nhấn mạnh.. Nguyên âm nontense /không căng thẳng thì ngắn hơn, được phát ra với lực căng cơ ít hơn và thường nằm ở vị trí trung tâm hơn trong miệng. Thí dụ: Nguyên âm trong “sit”(/ɪ/) không căng thẳng (lax), so với nguyên âm trong “seat”(/i:/), là căng thẳng. Thí dụ: Nguyên âm trong “sit”(/ɪ/) không căng thẳng (lax), so với nguyên âm trong “seat”(/i:/), là căng thẳng.

[26] [Nếu nó là một âm không liên tục thì nó sẽ phải là vô thanh, nghĩa là /k/, vì không có cụm phụ âm hữu thanh-vô thanh nào ở vị trí cuối cùng, theo nguyên tắc tổng quát. Nhưng nó không thể là /k/, vì /k/ vẫn ở vị trí này (thí dụ: “trực tiếp”, “đuổi”, v.v.). 16 Trong “sự kết nối”, ở chu kỳ thứ ba, áp lực được thay đổi. Chu kỳ thứ hai chỉ đơn thuần gán lại trọng âm cho cùng một âm tiết được nhấn mạnh ở chu kỳ đầu tiên.]

[27] [Theo nghĩa hiển nhiên. Vì vậy [a. . . [b. . .] b . . . [c . . .] c . . .] thí dụ: a sẽ là dấu ngoặc vuông thích hợp của chuỗi . . . xét về những dấu ngoặc vuông có nhãn chỉ định phạm trù ngữ pháp [a ,] a , [b ,] b , [c ,] c , nhưng cả hai điều sau đây đều không phải là dấu ngoặc vuông thích hợp:

[ A . . . [b. . .] A ; [A . . . [b. . .] A . . .] b]

[28] [J. Ross, “Về bản chất tuần hoàn của việc phát âm tiếng Anh”, trong To Honor Roman Jakobson (New York: Humanities, 1967).]

[29] [Tất nhiên, 31 là một câu, nhưng “ông”trong câu không nhắc đến John như trong câu 29. Do đó, 31 không được hình thành bằng cách đại từ hóa nếu hai lần xuất hiện của “John”có mục đích khác nhau về phương diện ý nghĩa. thẩm quyền giải quyết. Chúng tôi loại trừ trường hợp này khỏi thảo luận ở đây. Để biết một số nhận xét liên quan đến vấn đề này, xem Những phương diện của tôi, trang 144–47.]

[30] [Việc những quy luật chuyển đổi có thể được cho là hoạt động theo cách này, bản thân nó là một thực tế không tầm thường nếu đúng, được nêu lên trong Những phương diện của tôi, Chương 3. Nhận xét của Ross cho thấy rằng nguyên tắc áp dụng này không chỉ khả thi nhưng còn cần thiết. Những biện luận thích thú khác về hiệu ứng này được trình bày trong R. Jacobs và P. S. Rosenbaum, biên tập, Bài đọc trong Ngữ pháp chuyển đổi tiếng Anh, Chương 28. Vấn đề còn lâu mới được giải quyết. Nói tổng quát, sự hiểu biết về cấu trúc cú pháp bị giới hạn hơn nhiều so với cấu trúc âm vị học, những mô tả còn thô sơ hơn nhiều, và tương ứng, những nguyên tắc của cú pháp phổ quát được thiết lập kém chắc chắn hơn nhiều so với những nguyên tắc của âm vị học phổ quát, mặc dù sau này, không cần phải nói, cũng phải được coi như dự kiến. Một phần, điều này có thể là do tính phức tạp vốn có của vấn đề]’

[31] [Xem tài liệu tham khảo ở ghi chú 14. Vấn đề được thảo luận một cách tổng quát trong “Những mô hình giải thích trong ngôn ngữ học”của tôi, trong E. Nagel, P. Suppes, và A. Tarski, eds., Logic, Methodology, and Philosophy of Science ( Stanford, California: Nhà xuất bản Đại học Stanford, 1962); trong Những số hiện tại của tôi, Phần 2; trong Những phương diện của tôi, Chương 1; và trong những ấn phẩm khác được nhắc đến trong những tài liệu tham khảo này.]

[32] [Vấn đề này được thảo luận trong Current Issues. lại của tôi. Có một số phiên bản của chuyên khảo này. Bài đầu tiên, được trình bày tại Đại hội Ngôn ngữ học Quốc tế, năm 1962, xuất hiện trong Proceedings of the Congress với tiêu đề của phiên họp mà nó được trình bày, “Cơ bản logic của lý thuyết ngôn ngữ học”, ed. H. Lunt (New York: Nhân văn, 1964); phần thứ hai xuất hiện trong J. Fodor và JJ Katz, biên tập, Structure of Language: Readings in the Philosophy of Language (Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall, 1964); cuốn thứ ba, như một chuyên khảo riêng biệt (New York: Humanities, 1965). Những phiên bản này khác nhau về cách tiến hành giải quyết những thí dụ được thảo luận ở đây; không có phương pháp điều trị nào là thỏa đáng, và vấn đề chung vẫn còn bỏ ngỏ. Những ý tưởng mới và thích thú về vấn đề này được trình bày trong J. Ross, “Ràng buộc về những biến trong cú pháp”, luận án tiến sĩ của MIT (chưa xuất bản). Ở đây tôi làm theo những nét chung của phiên bản đầu tiên trong số ba phiên bản của Current Issues, mà nhìn lại, với tôi, phiên bản này dường như đưa ra phương pháp nghiên cứu giải quyết hứa hẹn nhất trong ba phiên bản.]

[33] [Trong thực tế, có vẻ như chỉ có thể đặt câu hỏi cho những cụm danh từ số ít không xác định (nghĩa là “ai đó”, “cái gì đó”, v.v.), một thực tế liên quan đến vấn đề có thể phục hồi được việc xóa được nhắc đến trong ghi chú 11. Xem H Current Issues, của tôi Những vấn đề cho một số thảo luận.]

[34] nonvacuously

[35] Extraposition:  Quy tắc đặt ra ngoài cùng trong ngữ pháp đề cập đến sự chuyển đổi cú pháp di chuyển một mệnh đề hoặc cụm từ từ vị trí ban đầu đến cuối câu vì lý do phong cách hoặc cấu trúc, thường là để cải thiện tính rõ ràng hoặc khả năng đọc.

[36] [Chúng ta có thể mở rộng nguyên tắc này theo hướng là phép biến đổi này cũng phải áp dụng cho cụm từ tối thiểu của loại S (câu). Do đó, câu

[ S John was persuade that [S Bill would leave before dark]SS

có thể được chuyển thành “John was persuade that before dark Bill would leave” nhưng không phải thành “before dark John was persuade that Bill would leave”, câu này phải có một nguồn khác. Giống như nguyên tắc ban đầu, phần mở rộng này không phải là không có vấn đề, nhưng nó vẫn có một số lượng hỗ trợ nhất định.]

[37] [Không gian không cho phép thảo luận về sự khác biệt được ngụ ý ở đây bằng từ ngữ lỏng lẻo, “cụm danh từ”–”cụm danh từ”, nhưng điều này không quan trọng với vấn đề đang được nhắc đến. Xem “Nhận xét về cụm danh từ hóa”của tôi trong R. Jacobs và PS Rosenbaum, chủ biên, Bài đọc trong ngữ pháp chuyển đổi tiếng Anh. Có những cách giải thích khác về số 49 (thí dụ, với sự nhấn mạnh tương phản ở “John”), và có nhiều vấn đề mở liên quan đến những cấu trúc như thế này.]

[38] transparency”

[39] [Trong tác phẩm chưa được xuất bản, David Perlmutter đã trình bày một biện luận mạnh mẽ rằng những gì liên quan không phải là điều kiện về sự biến đổi nhưng là điều kiện về những cấu trúc sâu được hình thành tốt. Sự khác biệt không quan trọng với những gì tiếp theo nhưng sẽ trở nên quan trọng ở mức độ thảo luận ít hời hợt hơn.]

[40] [Thí dụ 63 và 67 được Rosenbaum thảo luận; 64 được Maurice Gross chỉ ra; 65 đã được Zeno Vendler chỉ ra trong một liên hệ khác, “Nominalizations”, trong Transformations and Discourse Analysis Papers, số 55 (Philadelphia: University of Pennsylvania, 1964), p. 67.]

[41] [Để biết một số nhận xét liên quan đến vấn đề này, xem “Cấu trúc ngoài mặt và diễn giải ngữ nghĩa”của tôi trong R. Jakobson, chủ biên, Studies in General and Oriental Linguistics (Tokyo: Tập đoàn TEC về Nghiên cứu Ngôn ngữ và Giáo dục, 1970). Văn học về giải thích ngữ nghĩa của cấu trúc cú pháp đang được mở rộng khá nhanh chóng. Về thảo luận gần đây, xem JJ Katz, The Philosophy of Language (New York: Harper & Row, 1966); U. Weinreich, “Những khám phá về lý thuyết ngữ nghĩa”, trong TA Sebeok, chủ biên, Khuynh hướng hiện tại trong ngôn ngữ học, Tập. III (New York: Nhân văn, 1966); JJ Katz, “Những vấn đề gần đây về lý thuyết ngữ nghĩa”, Foundations of Language,Tập. 3, Số 2, tháng 5 năm 1967, trang 124–94; và nhiều bài viết khác.]

[42] [Nói đúng hơn, với một chuỗi những đơn vị ngôn ngữ tối thiểu có thể là từ hay không.]

[43] [Xem G. A. Miller và N. Chomsky, “Mô hình tài chính của người dùng ngôn ngữ, Phần II”, trong RD Luce, R. Bush, và E. Galanter, eds., Sổ tay tâm lý học toán học, Tập. II (New York: Wiley, 1963), về một số nêu lên liên quan đến vấn đề này.]

[44] [Ghi nhận rằng chúng ta đang giải thích “ngữ pháp phổ quát”như một hệ thống những điều kiện về ngữ pháp. Nó có thể liên quan đến một cấu trúc con khung của những quy luật mà bất kỳ ngôn ngữ nào của con người đều phải có, nhưng nó cũng kết hợp những điều kiện phải được đáp ứng bởi những nguyên tắc và ngữ pháp đó để xác định cách chúng được diễn giải. Cách diễn đạt này là một sự khởi đầu từ một quan điểm truyền thống coi ngữ pháp phổ quát chỉ đơn giản là một cấu trúc con của mỗi ngữ pháp cụ thể, một hệ thống những quy luật cốt lõi của mỗi ngữ pháp. Quan điểm truyền thống này cũng đã được thể hiện trong những tác phẩm gần đây. Với tôi, dường như có rất ít công đức. Về phương diện thông tin, có những giới hạn nặng nề về dạng thức và cách giải thích ngữ pháp ở mọi mức độ, từ cấu trúc cú pháp sâu xa, qua thành phần chuyển đổi, đến những quy luật diễn giải cấu trúc cú pháp theo ngữ nghĩa và ngữ âm.]