Ngôn ngữ và Não Thức
(Language and Mind)
Noam Chomsky
Chương 1
Những đóng góp của ngữ học cho
việc nghiên cứu não thức: Quá khứ
Trong những
bài giảng này, tôi muốn tập trung chú ý vào câu hỏi, Việc nghiên cứu ngôn ngữ
có thể đóng góp gì cho sự hiểu biết của chúng ta về bản chất con người? Trong biểu
hiện này hay biểu hiện khác, câu hỏi này len lỏi xuyên qua tư tưởng phương Tây.
Trong một thời đại con người ít hướng nội hơn và ít tập trung vào việc phân
chia kiến thức thành những lĩnh vực riêng lẻ, tách biệt hơn thời đại chúng
ta, bản chất của ngôn ngữ, những phương
diện trong đó ngôn ngữ phản ảnh những tiến trình tâm lý của con người
hay định hình dòng chảy và tính chất của suy nghĩ – đây đã là những đề tài để
nghiên cứu và giả thuyết của những học giả và những tài năng ngoài giới chuyên
môn với một loạt rộng lớn về những sở thích, quan điểm và nền tảng trí thức
khác nhau. Và trong thế kỷ 19 và 20, khi ngữ học, triết học và tâm lý học đã cố
gắng, dù không dễ dàng, để tự khẳng định là những ngành riêng biệt, những vấn
đề cổ điển về ngôn ngữ và não thức đã liên tục xuất hiện trở lại. Những vấn đề
dai dẳng này không chỉ kết nối những lĩnh vực khác biệt này nhưng còn cung cấp
cho chúng trọng tâm và ý nghĩa trong những nỗ lực đang diễn ra của chúng. Đã có
những dấu hiệu trong mười năm vừa qua rằng sự phân biệt có phần giả tạo giữa
những ngành học có thể đi đến một chấm dứt. Không còn coi là vinh dự nữa cho
việc mỗi ngành học chứng minh sự độc lập tuyệt đối của nó với những ngành khác,
và những quan tâm mới đã xuất hiện, đã làm cho những vấn đề cổ điển được trình
bày trong những cách mới lạ và đôi khi những ý tưởng sáng tạo – chẳng hạn như
qua lăng kính của khoa học điều khiển học [1] và khoa học
truyền thông, và trên nền tảng của những phát triển trong tâm lý học so sánh và
tâm-sinh lý học [2] vốn thách
thức những xác quyết lâu đời và giải phóng trí tưởng tượng khoa học khỏi những
xiềng xích nhất định, đã trở thành quá quen thuộc như một phần của môi trường
trí thức của chúng ta đến mức gần như vượt khỏi nhận biết. Tất cả điều này là
rất đáng khích lệ. Tôi tin rằng có một ý hướng
hoạt động và đổi mới lớn hơn và sôi động hơn trong tâm lý học nhận thức
ngày nay – đặc biệt là trong lĩnh vực chuyên môn của ngữ
học – so với những
gì chúng ta đã thấy trong nhiều năm. Một trong những diễn biến hứa hẹn nhất của
sự phát triển này là sự hiện diện của một sự hoài nghi lành mạnh đối với những
giáo điều chính thống được thiết lập trong quá khứ gần đây. Sự hoài nghi này đi
kèm với nhận thức sắc bén về những rủi ro từ việc rơi quá nhanh vào những hệ
thống tư tưởng khô cứng mới hay những chắc chắn mới đã chấp nhận vội vã. Nếu nhận
thức này có thể duy trì, nó có thể ngăn chặn sự xuất hiện của những giáo điều
ngột ngạt mới, cản trở sự tiến bộ trí thức.
Rất dễ bị lầm lạc trong một thẩm định giá trị về quanh cảnh tình hình
hiện tại; tuy nhiên, với tôi, có vẻ như sự giảm thiểu thuyết giáo điều và đi kèm với tìm kiếm những phương pháp nghiên
cứu giải quyết mới cho những vấn đề cũ và thường vẫn còn khó giải quyết là điều
không thể nhầm lẫn, không chỉ trong ngữ học nhưng trong tất cả những ngành có quan
tâm với nghiên cứu về não thức. Tôi nhớ khá rõ cảm giác bồn chồn của tôi như
một sinh viên trước sự kiện, có vẻ như, rằng những vấn đề cơ bản của lĩnh vực
này đã được giải quyết, và rằng những gì còn lại đã là mài dũa và cải tiến
những kỹ thuật của phân tích ngôn ngữ vốn được hiểu khá rõ và để áp dụng chúng
vào một phạm vi rộng hơn của những tài liệu ngôn ngữ. Trong những năm sau chiến
tranh, đây là một thái độ chủ đạo trong hầu hết những trung tâm nghiên cứu hoạt
động tích cực. Tôi nhớ đã được một nhà nhân chủng-ngữ học [3] nổi tiếng
bảo tôi, vào năm 1953, rằng ông không có ý định làm việc qua một bộ sưu tập
khổng lồ của những tài liệu vốn ông đã tập hợp được vì trong vòng vài năm nữa
chắc chắn có thể viết prôgram cho một máy cômputơ để xây dựng một ngữ pháp từ
một khối dữ liệu lớn bằng dùng những kỹ thuật đã được hình thành khá tốt. Vào
thời điểm đó, đây dường như không là một thái độ vô lý, mặc dù viễn cảnh đó thật
đáng buồn cho bất kỳ ai cảm thấy, hay ít nhất hy vọng, rằng nguồn lực trí tuệ
của con người có phần sâu xa hơn những gì những tiến trình và kỹ thuật này có
thể vén mở lên cho thấy. Tương ứng, có sự sụt giảm nổi bật trong những nghiên
cứu về phương pháp về ngôn ngữ vào đầu những năm 1950 khi những bộ óc lý thuyết
tích cực nhất chuyển sang vấn đề của – làm thế nào một khối kỹ thuật về cơ bản khép
kín có thể được áp dụng cho một số lĩnh vực mới – chẳng hạn như với việc phân
tích việc nói viết ngôn ngữ đã kết nối, hay với những hiện tượng văn hóa khác
ngoài ngôn ngữ. Tôi đến Harvard với tư cách là một sinh viên nghiên cứu ngay
sau khi B. F. Skinner trình bày bài giảng của William James, sau này được xuất
bản trong quyển sách Verbal
Behavior / Hành Vi Ngôn Từ của ông. Trong số những người hoạt động trong khảo cứu triết học hay
tâm lý học của ngôn ngữ, khi đó có chút nghi ngờ rằng mặc dù còn thiếu những
chi tiết và mặc dù vấn đề có thể thực sự không đơn giản như thế, tuy nhiên một
khung cấu trúc khái niệm về hành vi học thuộc loại vốn Skinner đã đại cương sẽ
chứng tỏ khá đầy đủ để đáp ứng toàn bộ phạm vi của việc dùng ngôn ngữ. [4] Bây giờ, có
ít lý do để đặt câu hỏi về xác quyết của Leonard Bloomfield, Bertrand Russell
và những nhà ngữ học, nhà tâm lý học và triết gia theo thuyết thực chứng trong tổng quát, rằng khung cấu trúc khái niệm
của tâm lý học về phản ứng-kích thích sẽ sớm được mở rộng đến điểm ở đó nó có
thể đem cho một giải thích hài lòng cho những bí ẩn nhất của khả năng con
người. Những tinh thần cấp tiến nhất cảm thấy rằng có lẽ, ngõ hầu để công bằng
với những khả năng này, người ta phải đặt ra những chữ s và r nhỏ bên
trong não, bên cạnh những chữ S và R lớn viết hoa, vốn có thể mở
ra để xem xét ngay lập tức, nhưng sự mở rộng này đã không mâu thuẫn với bức
tranh tổng quát. [5]
Những tiếng nói phê phán, ngay cả những tiếng nói có uy tín đáng trọng,
đã đơn giản là không được lắng nghe. Thí dụ, Karl Lashley đã đưa ra một phê
bình xuất sắc về khuôn khổ thịnh hành của những ý tưởng trong năm 1948, lập
luận rằng bên dưới hiện tượng dùng ngôn ngữ – và tất cả những hành vi có tổ
chức – phải có những hệ thống phân tích và lựa chọn trừu tượng thuộc loại nào
đó không thể phân tích được theo những điều kiện của sự kết hợp, và rằng nó
không thể đã phát triển được bằng bất kỳ phương tiện đơn giản nào như vậy.
Nhưng những lập luận và nêu lên của ông, dù vững chắc và nhạy bén sâu xa, lại
hoàn toàn không có tác dụng gì với sự phát triển của lĩnh vực này và không được
chú ý ngay cả tại trường đại học của ông (Harvard), khi đó là trung tâm dẫn đầu
về nghiên cứu ngữ học tâm lý. Mười năm sau, đóng góp của Lashley đã bắt đầu
được hiểu rõ giá trị, nhưng chỉ sau khi những cái nhìn trực giác sâu xa của ông
đã thành tựu nhưng độc
lập trong một nội dung khác.
Những tiến bộ kỹ thuật của những năm 1940 chỉ đơn giản là làm vững mạnh
thêm sự phấn khởi chung. Máy cômputơ đã xuất hiện, và sự sẵn có sắp tới của
chúng đã làm vững mạnh tin tưởng rằng chỉ cần đạt được một hiểu biết lý thuyết
về những hiện tượng đơn giản nhất và hiển nhiên nhất là đủ – mọi gì khác sẽ chỉ
chứng minh là “cũng giống như trước”, một sự phức tạp rõ ràng sẽ được tháo gỡ
bằng những kỳ diệu của điện toán. Máy phổ ký âm thanh [6], đã phát
triển trong chiến tranh, đã cũng mang lại triển vọng tương tự trong việc phân
tích vật lý những âm thanh của tiếng nói. Những hội nghị liên ngành về phân
tích tiếng nói vào đầu những năm 1950 là tài liệu ngày nay đọc đáng chú ý. Đã
có rất ít người quá u tối đến mức đặt câu hỏi về khả năng, trong thực tế là
tính cấp thiết, của một giải pháp cuối cùng cho vấn đề chuyển đổi tiếng nói
thành bản văn bằng kỹ thuật kỹ thuật hiện có. Và chỉ vài năm sau, người ta vui
mừng tìm ra rằng máy dịch và khả năng tóm tắt tự động cũng sắp ra đời. Đối với
những người tìm kiếm một khuôn khổ có dạng
toán học hơn về những tiến trình cơ bản, đã có lý thuyết toán học mới
được phát triển về truyền thông vốn vào đầu những năm 1950, người ta rộng rãi
rằng đã cung cấp một khái niệm cơ bản – khái niệm “thông tin” [7]– sẽ thống
nhất những khoa học xã hội và hành vi và cho phép phát triển một lý thuyết toán
học vững chắc và thỏa đáng về hành vi của con người trên một cơ sở xác suất
thống kê. Vào cùng thời đó, lý thuyết về máy tự động [8] đã phát
triển như một nghiên cứu độc lập, đem dùng những ý niệm toán học có liên quan
chặt chẽ. Và nó đã được liên kết ngay lập tức và khá phù hợp với những thăm dò
trước đó về lý thuyết của mạng lưới nơ-ron. Có những người – như John von
Neumann – cảm thấy rằng toàn bộ sự phát triển này là đáng ngờ và ít nhất là
không vững chắc, và có lẽ là khá sai lầm, nhưng những nghi ngờ như vậy không đi
đủ mạnh để xua tan cảm giác rằng toán học, kỹ thuật, ngôn ngữ học hành vi và
tâm lý học đang hội tụ trên một cái nhìn rất đơn giản, rất rõ ràng và hoàn toàn
thỏa đáng để cung cấp một sự hiểu biết cơ bản về những gì truyền thống đã để
lại che giấu trong sự bí ẩn.
Ít nhất ở nước Mỹ ngày nay có một ít dấu vết của những ảo tưởng của
những năm đầu thời hậu chiến. Nếu chúng ta xem xét hiện trạng của phương pháp
học về ngôn ngữ cấu trúc, ngữ học về tâm lý kích thích-phản ứng (dù có hay
không mở rộng sang “thuyết trung gian” [9]), hay những
mô hình lý thuyết xác suất hay lý thuyết tự động cho việc dùng ngôn ngữ, chúng
ta thấy rằng trong mỗi trường hợp đều có một phát triển song song đã diễn ra:
phân tích chi tiết đã đã cho thấy rằng trong phạm vi đến mức hệ thống những
khái niệm và nguyên tắc được nêu ra có thể được định nghĩa chính xác, thì trong
nền tảng cơ bản nó có thể được chứng minh là không đầy đủ. Những loại cấu trúc
có thể thể hiện được theo những điều kiện của những lý thuyết này đều đơn giản
không là những cấu trúc phải được nêu lên để làm cơ sở cho việc dùng ngôn ngữ,
nếu muốn đầy đủ đáp ứng những điều kiện thực nghiệm. Hơn nữa, tính chất của sự
thất bại và không đầy đủ là như vậy khiến cho không có nhiều lý do để tin rằng
những phương pháp nghiên cứu giải quyết này đi đúng hướng. Nghĩa là, trong mỗi
trường hợp, người ta đã lập luận – theo ý kiến của tôi, khá thuyết phục – rằng
phương pháp nghiên cứu giải quyết này không những chỉ không đầy đủ nhưng còn
sai lạc về những cơ bản và trong những đường lối quan trọng. Tôi tin rằng điều
này đã trở nên khá rõ ràng rằng nếu chúng ta có từng muốn hiểu ngôn ngữ được
dùng hay tiếp nhận như thế nào, khi đó chúng ta phải trừu tượng hóa để nghiên
cứu riêng rẽ và độc lập một hệ thống nhận thức, một hệ thống kiến thức và tin
tưởng, nó phát triển trong thời thơ ấu và nó tác động qua lại với nhiều yếu tố
khác để ấn định những loại hành vi vốn chúng ta quan sát được; Để giới thiệu
một từ ngữ chuyên môn, chúng ta phải tách biệt và nghiên cứu hệ thống của khả
năng ngôn ngữ [10] làm nền
tảng cho hành vi nhưng không được nhận ra theo bất kỳ cách trực tiếp hay đơn
giản nào trong hành vi. Và hệ thống khả năng ngôn ngữ này khác biệt về phẩm
tính với bất kỳ gì có thể được mô tả dưới dạng những phương pháp phân loại của
ngôn ngữ học cấu trúc, những khái niệm về tâm lý học S-R [11] hay những
khái niệm được phát triển trong lý thuyết toán học về truyền thông hay lý
thuyết về máy tự động đơn giản. Những lý thuyết và mô hình đã được phát triển
để mô tả những hiện tượng đơn giản và được đưa ra ngay lập tức không thể kết
hợp được hệ thống khả năng ngôn ngữ thực; “suy rộng” cho những mô tả đơn giản
không thể là phương pháp đi đến được thực tại của khả năng ngôn ngữ ; những cấu
trúc tâm lý không chỉ đơn giản là “cũng giống như trước” nhưng còn khác biệt về
phẩm tính so với những mạng lưới và cấu trúc phức tạp vốn có thể đã được phát
triển bằng khai triển những khái niệm vốn đã nhìn như rất hứa hẹn với nhiều nhà
khoa học chỉ cách đây vài năm. Những gì liên quan không là một vấn đề mức độ
của phức tạp nhưng đúng hơn là phẩm tính của phức tạp. Tương ứng, không có lý
do gì để kỳ vọng rằng kỹ thuật hiện có có thể mang lại sự hiểu biết sâu xa hay
những thành tựu có ích đáng kể; đáng chú ý là nó đã không làm được điều đó, và
trong thực tế, sự đầu tư đáng kể về thời gian, khả năng và tiền bạc vào việc
dùng máy cômputơ để nghiên cứu ngôn ngữ – đáng kể theo tiêu chuẩn của một lĩnh
vực nhỏ như ngữ học – đã không mang lại bất kỳ tiến bộ có ý nghĩa nào trong sự
hiểu biết của chúng ta về cách dùng hay bản chất của ngôn ngữ. Những phán xét
này khắt khe, nhưng tôi nghĩ chúng chính xác. Và những thất bại này cũng thế,
có phương diện tích cực của chúng: chúng đã giúp kích thích và làm để mài dũa,
trong những cách quan trọng, sự bất mãn tổng quát với khuôn khổ dường như rất
hứa hẹn chỉ vài năm trước, và như thế chúng đã giúp nuôi dưỡng sự lên men vốn
tôi đã nhắc trước đó.
Nói vắn tắt, xem dường với tôi, vào thời điểm này, trong tổng quát,
trong sự phát triển của ngữ học và tâm lý học, có vẻ khá thích hợp để quay lại
những câu hỏi cổ điển và hỏi xem những hiểu biết mới nào đã đạt được vốn chúng
mang theo và những vấn đề cổ điển có thể cung cấp hướng đi cho sự nghiên cứu
thời nay như thế nào.
Khi chúng ta quay sang lịch sử của nghiên cứu và giả thuyết liên quan
với bản chất của não thức, và riêng biệt hơn, bản chất của ngôn ngữ con người, chú
ý của chúng ta hoàn toàn tự nhiên đi đến tập trung trên thế kỷ XVII, “thế kỷ
của những thiên tài”, trong đó những nền tảng của khoa học thời nay đã thiết
lập vững chắc và những vấn đề vẫn còn làm chúng ta bối rối đã được hình thành
với diễn đạt rõ ràng và trong sáng đáng ghi nhận. Có nhiều phương diện mang ý
nghĩa sâu xa trong đó bầu không khí trí thức ngày nay giống với bầu không khí
trí thức của Tây Âu thế kỷ XVII. Một phương diện, đặc biệt quan trọng trong nội
dung hiện nay , là sự quan tâm
rất lớn đến những tiềm năng và những khả năng của automata, [12] một vấn đề
đã làm say mê trí thức thế kỷ XVII cũng như chúng ta ngày nay. Tôi đã nhắc ở
trên rằng có một sự nhận thức dần dần sáng tỏ rằng một khoảng cách đáng kể –
chính xác hơn là một vực sâu lớn –cách biệt hệ thống những khái niệm vốn một
mặt chúng ta thấu hiểu khá rõ ràng , và bản chất của óc thông minh con người,
về một mặt khác. Một nhận thức tương tự nằm ở cơ bản của triết học phái
Descartes. Descartes cũng đã đi, khá sớm trong những nghiên cứu về ông, đến kết
luận rằng nghiên cứu về não thức đặt chúng ta đối mặt với một vấn đề của phẩm
tính của phức tạp, nhưng không đơn thuần chỉ là mức độ của phức tạp. Ông cảm
thấy ông đã chứng minh rằng hiểu biết và ý chí, hai thuộc tính nền tảng của não
thức con người, đã gồm những khả năng và nguyên lý vốn ngay cả những automata
phức tạp nhất cũng không thể thực hiện được.
Là điều đặc biệt đáng chú ý để truy nguyên sự phát triển của luận chứng
này trong những tác phẩm của những triết gia thứ yếu phái Descartes, và giờ đã
bị bỏ quên, như Cordemoy, người đã viết một chuyên luận thu hút, mở rộng một
vài nhận xét của Descartes về ngôn ngữ, hay La Forge, người đã viết Traité
de l’esprit de l’homme , một luận thuyết dài và chi tiết, với một số lý do,
ông tuyên bố, trình bày những gì Descartes có thể đã nói về đề tài này nếu như
Descartes đã còn sống, để mở rộng lý thuyết của ông về con người vượt ngoài
sinh lý học. Người ta có thể đặt câu hỏi về những chi tiết của luận chứng này,
và người ta có thể cho thấy nó đã bị những tàn dư nhất định của học thuyết kinh
viện cản trở và bóp méo như thế nào – thí dụ như khung cấu trúc khái niệm về
thực chất và phương thức. [13] Nhưng cấu
trúc chung của lập luận không là không hợp lý; trong thực tế, nó khá giống với
lập luận chống lại khung cấu trúc khái niệm tư tưởng của những năm đầu thời hậu
chiến vốn tôi đã nhắc đến ở phần đầu bài giảng này. Những người phái Descartes
đã cố gắng cho thấy rằng khi lý thuyết về cơ thể hữu hình được mài giũa, làm rõ
và mở rộng đến những giới hạn của nó, nó vẫn không có khả năng giải thích những
sự kiện vốn chúng hiển nhiên vói tự xem xét những suy nghĩ và cảm xúc, và cũng
được quan sát của chúng ta về những hành động của người khác xác nhận. Đặc
biệt, nó không thể giải thích cách dùng ngôn ngữ bình thường con người, cũng
như nó không thể giải thích những thuộc tính cơ bản của suy nghĩ. Do đó, cần
phải đưa ra một nguyên lý hoàn toàn mới – theo từ ngữ của Descartes, để đưa ra
giả thuyết về một thực thể thứ hai có bản chất là suy tưởng, bên cạnh cơ
thể, với những thuộc tính thiết yếu của cơ thể là chiếm giữ không gian và
chuyển động [14]. Nguyên lý
mới này có một “phương diện
sáng tạo”, được chứng minh rõ ràng nhất trong những gì vốn chúng ta có thể gọi
là “phương diện sáng tạo của
việc dùng ngôn ngữ”, khả năng đặc biệt của con người trong việc diễn đạt những
suy nghĩ mới và hiểu những cách diễn đạt suy nghĩ hoàn toàn mới, trong phạm vi
khung cấu trúc khái niệm của một “ngôn ngữ được thiết lập”, một ngôn ngữ là một
sản phẩm văn hóa tuân theo những quy luật và nguyên tắc một phần duy nhất với
nó và một phần phản ảnh những thuộc tính tổng quát của não thức. Người ta khẳng
định rằng những định luật và nguyên tắc này không thể xây dựng được ngay cả dưới
dạng mở rộng phức tạp nhất của những khái niệm thích hợp cho việc phân tích
hành vi và tác động qua lại của những vật thể vật lý, và chúng không thể thực
hiện được ngay cả bởi máy tự động phức tạp nhất. Trong thực tế, Descartes lập
luận rằng dấu hiệu chắc chắn duy nhất cho thấy một cơ thể khác sở hữu một não
thức con người, rằng nó thì không chỉ đơn thuần là một máy tự động, là khả năng
dùng ngôn ngữ theo cách thông thường của nó ; và ông biện luận rằng khả năng
này không thể tìm thấy được trong một động vật hay một máy tự động, vốn trong
những phương diện khác, cho
thấy những dấu hiệu của sự thông minh rõ ràng vượt xa của một con người, mặc dù
một sinh vật hay máy móc như vậy có thể được ban cho đầy đủ những cơ quan sinh
lý thiết như một con người để tạo ra lời nói. [15]
Tôi sẽ quay lại luận chứng này và những cách thức trong đó nó đã phát
triển. Nhưng tôi nghĩ là quan trọng để nhấn mạnh, với tất cả những khoảng trống
và thiếu sót cảu nó, rằng nó là một luận chứng đáng được cân nhắc kỹ lưỡng.và đòi
hỏi nhìn nhận nhận và phân tích. Hoàn toàn không có gì phi lý trong kết luận.
Với tôi, có vẻ như rất có thể vào thời điểm đặc biệt đó trong sự phát triển của
tư tưởng phương Tây, đã có khả năng cho sự xuất hiện của một khoa học tâm lý
học, thuộc một loại vẫn chưa hiện hữu, một ngành tâm lý học bắt đầu với vấn đề
mô tả những đặc điểm của những hệ thống khác nhau của tâm lý học, kiến thức và
tin tưởng của con người, những khái niệm vốn chúng được tổ chức và những nguyên
tắc làm nền tảng cho chúng, và chỉ sau đó mới chuyển sang nghiên cứu xem những
hệ thống này có thể đã phát triển như thế nào qua sự kết hợp nào đó của cấu
trúc bẩm sinh và tác động qua lại giữa sinh vật và môi trường. Một tâm lý học
như vậy sẽ tương phản khá rõ ràng với phương pháp nghiên cứu óc thông minh con
người vốn bắt đầu bằng việc đưa ra giả thuyết, trên cơ sở tiên nghiệm, một số
hệ thống phân tích và lựa chọn riêng biệt vốn người ta cho rằng phải là cơ sở
cho việc tiếp thu mọi kiến thức và tin tưởng. Sự khác biệt là những gì vốn
tôi sẽ quay lại trong bài giảng tiếp theo. Lúc này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh tính
hợp lý của phương án bị bác bỏ và hơn thế nữa, tính nhất quán của nó với phương
pháp nghiên cứu giải quyết đã tỏ ra rất thành công trong cách mạng vật lý thế
kỷ XVII.
Có những tương đồng về phương pháp luận có lẽ đã không được nhận hiểu đầy đủ
giữa giả thuyết Descartes về một thực thể vốn bản chất của nó đã là tư tưởng và
sự chấp nhận sau-Newton về một nguyên lý của lực hấp dẫn như một thuộc tính bẩm
sinh của những hạt vật chất cuối cùng, một nguyên lý hoạt động vốn định đoạt
những chuyển động của những vật thể. Có lẽ đóng góp sâu rộng nhất của triết học
Descartes cho tư tưởng thời nay đã là việc nó bác bỏ khái niệm trong tư tưởng
kinh viện về những dạng thức thực thể và phẩm tính thực, về tất cả những “hình
ảnh nhỏ bé bay trong không trung” vốn Descartes nhắc đến với sự chế nhạo [16]. Với việc “trừ
tà” những phẩm tính huyền bí này, sân khấu đã được chuẩn bị cho sự phát triển
của một vật lý học về vật chất trong chuyển động và một tâm lý học vốn khám phá
những thuộc tính của não thức. Nhưng Newton đã biện luận rằng vật lý cơ học của
Descartes sẽ không hoạt động – quyển sách thứ hai của Principia phần lớn
dành cho sự chứng minh điều này – và rằng cần phải đưa ra giả thuyết về một lực
mới để giải thích cho sự chuyển động của những vật thể. Định đề về một lực hút
tác động từ một khoảng cách, không phù hợp với những ý tưởng rõ ràng và khác
biệt của kiến thức thực tiễn thông thường và không thể được chấp nhận bởi một
người phái Descartes chính thống – một lực như vậy chỉ đơn thuần là một phẩm
tính huyền bí khác. Newton hoàn toàn đồng ý và ông đã cố gắng nhiều lần để tìm
một giải thích cơ học cho nguyên nhân của lực hấp dẫn. Ông bác bỏ quan điểm cho
rằng lực hấp dẫn là “bản tính và thừa hưởng có sẵn với vật chất” và chủ trương
rằng “nói với chúng ta rằng mọi loài của những sự vật thì đều được ban cho một
thuộc tính huyền bí riêng biệt (như lực hấp dẫn) qua đó nó hoạt động và tạo ra
những tác động rõ ràng, là không nói gì với chúng ta cả”. Một vài nhà sử học về
khoa học cho rằng Newton đã hy vọng, giống như Descartes, sẽ viết một Principles of Philosophy / Những
Nguyên lý Triết học nhưng việc ông thất bại, không giải thích được nguyên
nhân của lực hấp dẫn những cơ sở cơ học đã giới hạn ông chỉ viết Mathematical Principles
of Natural Philosophy / Những Nguyên lý Toán học của Triết học Tự nhiên. Vì vậy, theo
kiến thức duy lý dựa trên kinh nghiệm thực tiễn thông thường của Newton cũng
như của những người phái Descartes, vật lý học vẫn chưa có nền tảng vững vàng ,
vì nó nêu lên giả thuyết về lực huyền bí có khả năng tác động từ một khoảng
cách xa. Tương tự như vậy, định đề về não thức của Descartes như một nguyên lý
giải thích đã không thể chấp nhận được với tinh thần duy nghiệm. Nhưng sự thành
công đáng kinh ngạc của vật lý toán học đã vượt qua sự chống lại những phản đối
phổ thông này, và uy tín của vật lý mới cao đến mức tâm lý học giả thuyết của
thời kỳ Khai sáng đã chấp nhận sự cần thiết phải làm việc trong khung cấu trúc
khái niệm của Newton, hơn là trên khung cấu trúc khái niệm tương tự của Newton
– một vấn đề rất khác. Lực hấp dẫn huyền bí đã được chấp nhận như một yếu tố
hiển nhiên của thế giới vật chất, không cần giải thích, và không thể tưởng
tượng được rằng người ta có thể phải đưa ra những nguyên tắc hoàn toàn mới về
hoạt động và tổ chức bên ngoài khung cấu trúc khái niệm của cái sẽ sớm trở
thành “kiến thức thực tiễn thông thường” mới. “ Một phần vì lý do này, việc tìm
kiếm một ngành tâm lý học khoa học tương tự vốn đã hoàn toàn có thể khám phá
những nguyên tắc của não thức, bất kể chúng có thể là gì, đã không được kỹ
lưỡng thực hiện lúc đó, cũng như bây giờ.
Tôi không muốn bỏ qua một khác biệt nền tảng giữa định đề về lực hấp dẫn
và giả thuyết (định đề) của một res cogitans, cụ thể là sự chênh lệch to
lớn về sức mạnh của những lý thuyết giải thích đã được phát triển. Tuy nhiên,
tôi nghĩ là có ích để lưu ý rằng những lý do khiến Newton, Leibnitz và những
người phái Descartes chính thống không hài lòng với vật lý mới thì đặc biệt rất
giống với những lý do một tâm lý học duy lý nhị nguyên dựa trên đó đã sớm bị
bác bỏ. Tôi nghĩ là đúng để nói rằng việc nghiên cứu những thuộc tính và tổ
chức của não thức đã sớm bị bỏ rơi, phần dựa trên những lý do hoàn toàn sai
lầm, và cũng cho thấy rằng có một sự mỉa mai nhất định trong quan điểm phổ
thông rằng việc bỏ rơi nó là do sự lan truyền dần dần một “thái độ khoa học”
tổng quát hơn.
Tôi đã cố gắng gọi chú ý đến một số điểm tương đồng giữa môi trường trí
thức của thế kỷ XVII và môi trường ngày nay. Tôi nghĩ sẽ sáng tỏ hơn khi theo
dõi chi tiết hơn một chút về diễn biến phát triển riêng biệt của lý thuyết ngôn
ngữ trong thời nay, trong nội dung của sự nghiên cứu về não thức và của hành vi
trong tổng quát. [17]
Một điểm hợp lý để bắt đầu là với những bài viết của y sĩ người Spain
Juan Huarte, người vào cuối thế kỷ XVI đã xuất bản một nghiên cứu được dịch
rộng rãi về bản chất của óc thông minh con người. Trong tiến trình khảo sát của
ông, Huarte đã tự hỏi sự kiện là từ “óc thông minh”, ingenio , dường như
có cùng gốc Latin với nhiều từ khác có nghĩa là “sinh ra” hay “tạo ra”. Ông
biện luận rằng điều này đem cho một manh mối về bản chất của não thức. Do đó, “người
ta có thể phân biệt hai khả năng sinh sản ở con người, một khả năng chung với
những loài thú và thực vật, và khả năng kia tham dự vào thực thể tinh thần. Óc
thông minh/khôn ngoan ( Ingenio ) là một sức mạnh sáng tạo. Sự hiểu biết
là một khả nă ng sáng tạo”. Từ nguyên của Huarte thực sự không hay lắm; tuy
nhiên, cái nhìn trực giác sâu xa thì hoàn toàn có thực chất. [18]
Huarte tiếp tục phân biệt ba mức độ của thông minh. Mức độ thấp nhất
trong số chúng là “óc thông minh hiền lành”, vốn thỏa mãn nguyên lý duy nghiệm
vốn ông, cùng với Leibnitz và nhiều người khác, đã gán sai cho Aristotle, cụ
thể là không có gì trong não thức vốn không là chỉ đơn giản được những giác
quan truyền đến nó. Mức độ cao hơn tiếp theo, óc thông minh bình thường của con
người, vượt xa giới hạn về duy nghiệm: nó có thể “tự tạo ra bên trong chính nó,
bằng sức mạnh của chính nó, những nguyên tắc vốn trên đó kiến thức dựa vào”.
Những não thức con người bình thường là loại như thế đó, “chỉ được một mình chủ
thể hỗ trợ, với không giúp đỡ của bất kỳ ai, chúng sẽ tạo ra hàng ngàn những
mới lạ vốn chúng chưa từng nghe nói đến... việc phát minh và việc nói ra những
điều như thế vốn họ chưa từng nghe từ chủ nhân của mình, hay bất kỳ miệng lưỡi
nào”. Do đó, óc thông minh bình thường của con người có khả năng tiếp thu kiến
thức qua những nguồn lực bên trong của chính nó, có lẽ đem dùng dữ liệu của
giác quan nhưng tiếp tục xây dựng một hệ thống nhận thức dưới dạng của những
khái niệm và nguyên tắc vốn đã phát triển trên những nền tảng độc lập; và nó có
khả năng để phát sinh những suy nghĩ mới và tìm ra những cách thích hợp và mới
lạ để diễn đạt chúng, theo những cách vốn hoàn toàn vượt trên mọi huấn luyện
hay kinh nghiệm.
Huarte đưa ra giả thuyết về một loại óc thông minh thứ ba, “qua đó một
số người, không có nghệ thuật hay học thức, có thể nói những sự việc tế nhị và
đáng ngạc nhiên, nhưng đúng, chưa từng thấy, nghe hay viết ra, thậm chí chưa
từng nghĩ đến”. Ở đây chỉ đến sự sáng tạo thực, một thực tập của sự tưởng tượng
sáng tạo trong những cách thức vốn đi ra ngoài óc thông minh bình thường và ông
cảm thấy có thể gồm “một pha trộn của điên rồ”.
Huarte chủ trương rằng sự khác biệt giữa óc thông minh hiền lành, đáp
ứng được nguyên lý duy nghiệm, và óc thông minh bình thường, với đầy đủ khả
năng sáng tạo, chính là sự khác biệt giữa loài vật và con người. Là một y sĩ,
Huarte rất quan tâm đến bệnh lý học. Đặc biệt, ông lưu ý rằng khuyết tật nghiêm
trọng nhất của óc thông minh có thể ảnh hưởng đến con người là sự giới hạn ở
mức độ thấp nhất trong ba mức độ, ở mức độ óc thông minh hiền lành tuân theo
những nguyên tắc của thuyết duy nghiệm. Huarte nói rằng khuyết tật này “giống
như của hoạn quan, không có khả năng sinh sản”. Trong những hoàn cảnh đáng buồn
này, khi óc thông minh chỉ có thể tiếp nhận những kích thích được truyền qua
giác quan và liên kết chúng với nhau, thì giáo dục thực sự dĩ nhiên là không
thể có được, vì thiếu những ý tưởng và nguyên tắc cho phép sự phát triển kiến
thức và sự hiểu biết. Trong trường hợp này, “cả roi vọt, tiếng kêu, phương
pháp, thí dụ, thời gian, kinh nghiệm, hay bất cứ thứ gì trong tự nhiên đều
không đủ để kích thích người này tạo ra bất cứ sự vật việc gì”.
Khung cấu trúc khái niệm của Huarte rất có ích cho việc thảo luận về “lý
thuyết tâm lý học” trong giai đoạn tiếp theo. Điển hình cho tư tưởng sau này là
việc ông nhắc đến việc dùng ngôn ngữ như một chỉ số về óc thông minh của con
người, về những gì phân biệt con người với loài vật, và đặc biệt là việc ông
nhấn mạnh trên khả năng sáng tạo của óc thông minh bình thường. Những quan tâm này chi phối tâm lý học và
ngữ học duy lý. Với sự trỗi dậy của phong
trào lãng mạn, sự chú ý chuyển sang loại óc thông minh thứ ba, sang sự
sáng tạo thực, mặc dù giả định duy lý rằng óc thông minh bình thường của con
người là tự do và sáng tạo độc nhất và vượt ra ngoài những giới hạn của sự giải
thích máy móc theo khoa học đã không bị bỏ rơi và đóng một vai trò quan trọng
trong tâm lý học của phong trào lãng
mạn, và ngay cả trong triết học xã hội của nó. [19]
Trong thực tế, như chính Descartes đã quan sát khá đúng, ngôn ngữ là một
sở hữu chủng loại đặc biệt của loài người, và ngay cả ở những mức độ thông minh
thấp, những mức độ bệnh lý, chúng ta vẫn tìm thấy một khả năng dùng ngôn ngữ
vốn một con vượn hoàn toàn không thể đạt được, nhưng ở những phương diện khác,
con vượn đó có thể vượt trội một người đần độn trong khả năng giải quyết vấn đề
và những hành vi thích nghi khác. Tôi sẽ quay lại sau về tình trạng của quan
sát này, dưới ánh sáng của những gì hiện được biết về truyền thông giao tiếp
của loài vật. Descartes đã lập luận rằng có một yếu tố cơ bản còn thiếu trong
những loài vật, vì nó cũng thiếu ở ngay cả trong những máy móc phức tạp nhất,
vốn phát triển “những cấu trúc trí thức” của nó hoàn toàn trong những điều kiện
của sự điều kiện hóa và liên tưởng – riêng biệt là loại óc thông minh thứ hai
của Huarte, khả năng phát sinh vốn được vén mở lên cho thấy trong việc con
người bình thường dùng ngôn ngữ, như một dụng cụ linh hoạt tự do của tư tưởng.
Nếu qua thí nghiệm, chúng ta tự thuyết phục được rằng một sinh vật khác đem cho
bằng chứng của việc bình thường dùng ngôn ngữ một cách sáng tạo, thì chúng ta
phải cho rằng sinh vật đó, giống như chúng ta, có một não thức và những gì nó
làm nằm ngoài những giới hạn của sự giải thích máy móc theo khoa học, khuôn khổ
của tâm lý phản ứng kích thích của thời đó, trong đó những yếu tính liên quan
thì không khác biệt đáng kể so với ngày nay, mặc dù nó còn kém về phương diện
kỹ thuật tinh vi chính xác, phạm vi và mức độ tin cậy của kiến thức thông tin.
Nhân tiện, Như một lưu ý bên lề, không nên nghĩ rằng những lập luận duy
nhất của Descartes cho giả thuyết về động vật-máy móc là những lập luận bắt
nguồn từ sự bất lực rõ ràng của động vật trong việc thể hiện khía cạnh sáng tạo
trong việc sử dụng ngôn ngữ đã là những lập luận bắt nguồn từ sự bất lực rõ
ràng của những loài vật để để thể hiện phương diện sáng tạo của việc dùng ngôn
ngữ. Cũng còn có nhiều lý do khác– thí dụ, sự sợ hãi tự nhiên về sự bùng nổ dân
số trong lĩnh vực của tinh thần nếu mỗi sinh vật nhỏ bé, như một con muỗi, đều có
một hồn thú. Hay biện luận của nhà chăn chiên cấp cao, hàng cố vấn cho vua
chiên, Melchior de Polignac, người biện luận rằng giả thuyết về thú vật-máy móc
theo đến từ giả định về sự tốt lành của Gót, vì, như ông đã cho thấy, người ta
có thể thấy “học thuyết cho rằng loài vật không chịu đau đớn thì nhân đạo hơn
biết bao”. [20] Hay có biện
luận của Louis Racine, con trai của nhà viết kịch nổi tiếng, người đã bị nhận
thức sâu xa sau đây gây chấn động mạnh: “Nếu những loài thú có hồn thú và có
khả năng cảm xúc, liệu chúng có tỏ ra vô cảm trước sự xúc phạm và bất công
Descartes đã gây ra cho chúng không? Liệu chúng có thịnh nộ nổi dậy chống lại “thủ
lĩnh” và “giáo phái” đã hạ thấp chúng như vậy không?” Tôi giả định, người ta sẽ
thêm rằng Louis Racine được những người cùng thời coi như bằng chứng sống rằng
một người cha tài giỏi không thể có một đứa con tài giỏi. Nhưng thực tế là thảo
luận về sự hiện hữu của những não thức khác, và ngược lại, bản chất máy móc của
loài vật, đã tiếp tục quay lại với phương
diện sáng tạo của việc dùng ngôn ngữ, với tuyên bố rằng – như một nhân
vật ít tiếng tăm khác ở thế kỷ XVII nói – “nếu những thú vật có lý trí, chúng
sẽ có khả năng nói chuyện thực sự với sự đa dạng vô tận của nó”.
Điều quan trọng là phải hiểu chính xác những thuộc tính nào của ngôn ngữ
là nổi bật nhất với Descartes và những người theo ông.Thảo luận về những gì tôi
vẫn gọi là “phương diện sáng
tạo của việc dùng ngôn ngữ” bật lên ba nhận xét quan trọng. Thứ nhất là việc
dùng ngôn ngữ bình thường thì có tính có tính mới lạ; có tính sáng kiến, theo
nghĩa là phần lớn những gì chúng ta nói trong suốt thời gian dùng ngôn ngữ bình
thường là hoàn toàn mới lạ, không là một lập lại của bất cứ gì chúng ta đã từng
nghe trước đây và ngay cả không giống về kiểu mẫu – trong bất kỳ cách diễn giải
thực tế hay có ý nghĩa nào của những từ “tương tự” và “kiểu mẫu” – với những
câu hay nói viết của ngôn ngữ vốn chúng ta đã nghe trong quá khứ. Đây là một
đúng thực hiển nhiên, nhưng là một đúng thực quan trọng, thường bị bỏ qua và
không là không thường bị phủ nhận trong giai đoạn của ngữ học hành vi vốn tôi
đã nhắc ở trước, khi người ta gần như phổ biến khẳng định rằng kiến thức ngôn
ngữ của một người có thể được biểu hiện như một tập hợp lưu trữ của những khuôn
mẫu, được thực hành hay luyện tập nhiều quá mức, qua lập lại liên tục và huấn
luyện chi ly, trong đó cùng lắm sự mới lạ chỉ là một vấn đề của “tương tự”. Tuy
nhiên, thực tế chắc chắn là số của những câu nói bằng tiếng mẹ đẻ một người có
thể hiểu ngay nhưng không cảm thấy khó khăn hay lạ lùng thì vô cùng lớn; và
rằng số lượng những mẫu cơ bản trong cách dùng ngôn ngữ bình thường của chúng
ta và tương ứng với những câu có ý nghĩa và dễ hiểu trong ngôn ngữ của chúng ta
thì có mức độ lớn lớn hơn số giây trong cả một đời người. Đó là trong nghĩa
này, việc dùng ngôn ngữ bình thường thì mới lạ, sáng tạo.
Tuy nhiên, trong cái nhìn của phái Descartes, ngay cả hành vi của loài
vật vật thì cũng có tiềm năng vô hạn trong sự đa dạng của nó, trong ý hướng đặc
biệt, trong đó những chỉ số đọc được của một đồng hồ tốc độ có thể được nói,
với một sự lý tưởng hóa rõ ràng, là có tiềm năng vô hạn trong đa dạng. Nghĩa
là, nếu hành vi của động vật được kiểm soát bởi những kích thích bên ngoài hoặc
những trạng thái bên trong (điều sau gồm cả những trạng thái được thiết lập bởi
sự điều kiện hóa), thì khi những kích thích thay đổi trong một phạm vi vô hạn,
thì hành vi của loài vật cũng có thể thay đổi như vậy. Nhưng việc dùng ngôn ngữ
bình thường không chỉ mang tính mới lạ và có khả năng vô hạn về phạm vi, nhưng
còn thoát khỏi sự kiểm soát của những kích thích có thể tìm ra được, bên ngoài
hay bên trong. Chính vì sự tự do, thoát khỏi sự điều khiển của kích thích này
vốn ngôn ngữ có thể đóng vai trò như một dụng cụ của suy nghĩ và tự-biểu hiện,
vì nó không chỉ dành cho những người có thiên khiếu và tài năng đặc biệt, nhưng
trong thực tế, cũng cho mọi con người bình thường.
Lại nữa, những thuộc tính của không bị giới hạn và
thoát khỏi sự điều khiển của kích thích thì không vượt quá ranh giới của giải
thích cơ học. Và do đó, thảo luận của Descartes về giới hạn của giải thích cơ
học đã ghi nhận thuộc tính thứ ba của việc dùng ngôn ngữ bình thường, riêng
biệt là tính mạch lạc và “tính phù hợp với hoàn cảnh” của nó – dĩ nhiên là một
vấn đề hoàn toàn khác với sự điều khiển của kích thích bên ngoài. chúng ta
không thể nói một cách rõ ràng hay chắc chắn rằng “tính phù hợp” và “sự mạch
lạc” gồm những gì, nhưng chắc chắn rằng đây là những khái niệm có ý nghĩa.
chúng ta có thể phân biệt cách dùng ngôn ngữ bình thường với những lời nói điên
dại của một người khùng, hay output của một máy cômputơ với một yếu tố ngẫu
nhiên. [21]
Thành thật buộc chúng ta phải nhìn nhận rằng ngày nay chúng ta đi cũng
chỉ xa được như Descartes ba thế kỷ trước với sự hiểu biết chính xác những gì
vốn có thể khiến cho một người nói trong một cách vốn là mới lạ, tự do với
những điều khiển của những kích thích, đồng thời phù hợp và mạch lạc. Đây là
một vấn đề nghịêm trọng vốn nhà tâm lý học và nhà sinh vật học cuối cùng phải
đối mặt và không thể loại bỏ sự hiện hữu của nó bằng viện dẫn “thói quen” hay “điều
kiện hóa” hay “chọn lọc tự nhiên”.
Phân tích của phái Descartes về vấn đề của những não thức khác, về phương diện sáng tạo của việc dùng
ngôn ngữ và những biểu lộ tương tự của những giới hạn của giải thích máy móc
theo khoa học, đã không hoàn toàn làm thỏa mãn dư luận đương thời – Thí dụ, Từ
điển Bayle trích dẫn việc không thể đưa ra một bằng chứng thỏa đáng về sự hiện
hữu của những não thức khác như yếu tố yếu nhất trong triết học Descartes – và
có một loạt những thảo luận và bút chiến dài và lôi cuốn liên quan với những
vấn đề Descartes đã nêu ra. Từ điểm nhìn thuận lợi sau nhiều thế kỷ, chúng ta
có thể thấy rằng tranh luận đã không có kết cục. Những thuộc tính của tư tưởng
con người và ngôn ngữ con người được phái Descartes nhấn mạnh là đủ thực; chúng
khi đó, cũng như hiện nay, đã vượt ra ngoài những hạn độ của bất kỳ loại giải
thích vật chất nào hiểu được rõ ràng. Cả vật lý, sinh học lẫn tâm lý học đều
không cho chúng ta manh mối nào về việc giải quyết những vấn đề này thế nào.
Giống như trong trường hợp của những vấn đề khó giải quyết khác, việc
thử một phương pháp nghiên cứu giải quyết khác là điều rất lôi cuốn , một
phương pháp nghiên cứu giải quyết có thể cho thấy vấn đề là bị hiểu sai, là kết
quả của một vài sự nhầm lẫn về khái niệm. Đây là một đường lối biện luận được
triết học đương thời tuân theo, nhưng với tôi, có vẻ như nó không thành công.
Rõ ràng là phái Descartes đã hiểu, cũng như Gilbert Ryle và những nhà phê bình
đương thời khác hiểu, sự khác biệt giữa một mặt là việc đưa ra những tiêu chuẩn cho hành vi thông minh và
mặt khác là đưa ra giải thích cho khả năng xảy ra hành vi đó; nhưng, khác với
Ryle, họ đã quan tâm đến vấn đề sau cũng nhiều như vấn đề trước. Với tư cách là
những nhà khoa học, họ đã không hài lòng với việc xây dựng những thử nghiệm
thực nghiệm vốn sẽ cho thấy hành vi của một sinh vật khác có tính sáng tạo,
theo nghĩa đặc biệt vừa nêu; họ cũng gặp rắc rối, và điều đó hoàn toàn đúng,
bởi sự kiện là những khả năng được cho thấy bởi những thí nghiệm và tiêu chuẩn quan sát như vậy vượt quá
những khả năng của những cơ thể vật chất như họ hiểu về chúng, cũng như chúng
nằm ngoài phạm vi của giải thích vật lý như chúng ta hiểu ngày nay. Chắc chắn
không có gì là không hợp thức trong cố gắng để vượt quá khỏi việc xây dựng công
phu những thí nghiệm quan sát được và thu thập bằng chứng để xây dựng một số
giải thích lý thuyết cho những gì được quan sát, và đây thì đúng là những gì
đang bị đe dọa trong phương thức nghiên cứu giải quyết của Descartes với vấn đề
não thức. Như La Forge và những người khác đã nhấn mạnh, cần phải vượt qua khỏi
những gì người ta có thể nhận thức hay “tưởng tượng” (theo nghĩa chuyên môn, cổ
điển của từ này) nếu người ta hy vọng hiểu được bản chất của “l’esprit de
l’homme /tinh thần con người “, giống như Newton đã làm – thành công –
trong việc cố gắng tìm hiểu bản chất của chuyển động hành tinh. Mặt khác, bản
thân những đề nghị của phái Descartes không có thực chất, không thuyết phục;
những hiện tượng trong vấn đề không được giải thích thỏa đáng bằng quy chúng về
một “nguyên lý hoạt động” được gọi là “não thức”, những thuộc tính của nó đã
không được phát triển trong bất kỳ một cách mạch lạc hay toàn diện nào.
Với tôi, dường như phương pháp nghiên cứu giải quyết nhiều hy vọng nhất
hiện nay là mô tả những hiện tượng của ngôn ngữ và của hoạt động tâm lý một
cách chính xác nhất có thể được, cố gắng để phát triển một hệ thống lý thuyết
trừu tượng có khả năng giải thích càng nhiều càng tốt những hiện tượng này và
vén lên cho thấy những nguyên lý của tổ chức và hoạt động của chúng, với không
cố gắng, trong hiện tại, liên hệ những cấu trúc và tiến trình tâm lý được mặc
định nào với bất kỳ hệ thống phân tích và lựa chọn sinh lý nào, hay để giải
thích chức năng tâm lý theo “những
nguyên nhân vật lý”. chúng ta chỉ có thể để ngỏ cho tương lai câu hỏi làm thế
nào những cấu trúc và tiến trình trừu tượng này được nhận ra hay giải thích
bằng một số từ ngữ riêng biệt, có thể hình dung được bằng những từ ngữ không
nằm trong phạm vi của những tiến trình vật lý như được hiểu hiện nay – một kết
luận, nếu đúng, sẽ không làm ai ngạc nhiên.
Triết học duy lý của ngôn ngữ này đã hợp lẫn với nhiều phát triển độc
lập khác nhau trong thế kỷ 17, dẫn đến lý thuyết tổng quát đầu tiên thực sự có
ý nghĩa của cấu trúc ngôn ngữ, riêng biệt là quan điểm tổng quát đã trỏ thành
được biết như ngữ pháp “triết học” hay “phổ quát”. Thật không may, ngữ pháp
triết học ngày nay rất ít được biết đến. Có rất ít nghiên cứu mang tính kỹ
thuật hay học thuật, và một số nghiên cứu này là biện hộ và chê bai xem thường.
Những viện dẫn đến ngữ pháp triết học trong những luận thuyết thời nay về ngôn
ngữ bị bóp méo đến mức hoàn toàn vô giá trị. Ngay cả một học giả được kính
trọng như Leonard Bloomfield cũng đưa ra, trong tác phẩm chính của ông, Language
Ngôn ngữ (1933), một tường trình về ngữ pháp
triết học vốn đã bóp méo rất nhiều truyền thống ban đầu. Mô tả của ông gán cho
ngữ pháp triết học những quan điểm hoàn toàn trái ngược với những gì là điển
hình của nó. Thí dụ, Bloomfield, cùng với nhiều người khác, mô tả ngữ pháp
triết học là dựa nhiều vào những mô hình tiếng Latin, là quy phạm (tập trung
vào việc chỉ cho mọi người cách nói thế nào), là không quan tâm đến âm thanh
của lời nói và là nhầm lẫn lời nói với chữ viết. Tuy nhiên, tất cả những tuyên
bố này đều không đúng, và điều quan trọng là phải xua tan những huyền thoại này
để có thể thẩm định giá trị khách quan về những gì đã thành tựu được thực sự.
Thật trớ trêu bất ngờ khi ngữ pháp triết học bị buộc tội chịu ảnh hưởng
quá mức từ tiếng Latin. Trong thực tế, điều đáng chú ý là những tác phẩm gốc –
đặc biệt là Ngữ pháp và Lôgích Port-Royal – đã viết bằng tiếng Pháp, vấn
đề là chúng hình thành nên một phần của phong trào thay thế tiếng Latin bằng
tiếng địa phương. [22] Sự kiện là
tiếng Latin đã dược coi như một ngôn ngữ trái tự nhiên, giả tạo và không chính
xác, một ngôn ngữ thực sự gây hại cho việc thực hành của suy nghĩ đơn giản và
việc và nói viết theo kiến thức thực tiễn thông thường vốn những người phái
Descartes đã rất coi trọng. Những người thực hành ngữ pháp triết học đã dùng
những tài liệu ngôn ngữ sẵn có như vậy. Điều đáng ghi nhận là một số đề tài
được nghiên cứu một cách cẩn thận và kiên trì nhất trong hơn một thế kỷ liên
quan đế những điểm ngữ pháp ngay cả không có một sự tương tự trong tiếng Latin.
Một thí dụ nổi bật là những gì gọi là quy luật Vaugelas, liên quan với quan hệ
giữa mạo từ bất định và mệnh đề (phụ) quan hệ trong tiếng Pháp. Trong 150 năm,
quy luật của Vaugelas là vấn đề trọng tâm được tranh luận trong tranh luận về
khả năng phát triển một “ngữ pháp duy lý”, một ngữ pháp sẽ vượt ngoài sự mô tả
để đạt được một giải thích duy lý cho những hiện tượng.
Không phải ngờ vực, nó là một hiểu lầm hoàn toàn của vấn đề của giải
thích duy lý vốn dẫn đến việc buộc tội nhắm vào “thuyết quy phạm”, hoàn toàn
sai lầm, chống lại ngữ pháp triết học [23]. Trong thực
tế, không có vấn đề nào về thuyết quy phạm. Người ta hiểu rõ và thường xuyên
nhắc lại rằng những thực tiễn của cách dùng là những gì chúng vốn là, và không
là chỗ để nhà ngữ pháp qui định những luật lệ. Vấn đề ở đây là một vấn đề hoàn
toàn khác, riêng biệt là vấn đề giải thích những sự kiện của cách dùng, trên cơ
bản của những giả thuyết giải thích, liên quan với bản chất của ngôn ngữ và
cuối cùng là bản chất của tư tưởng con người. Những nhà ngữ pháp triết học
không mấy quan tâm đến việc tích lũy dữ liệu, ngoại trừ khi dữ liệu đó có thể
được đem dùng làm bằng chứng liên quan với những tiến trình sâu hơn, có tính
tổng quát rộng lớn. Do đó, sự tương phản không là giữa ngữ pháp mô tả và ngữ
pháp quy phạm, nhưng là giữa mô tả và giải thích, giữa ngữ pháp như “lịch sử tự
nhiên” và ngữ pháp như một loại “triết học tự nhiên” hay, theo thuật ngữ thời
nay, “khoa học tự nhiên”. Một phản đối phi lý lớn với những thuyết giải thích
như vậy đã khiến ngữ học thời nay khó có thể thẩm định được giá trị những gì
thực sự bị đe dọa trong những diễn biến này, và dẫn đến một lẫn lộn giữa ngữ
pháp triết học với cố gắng để dạy để những ứng xử tốt hơn cho một tầng lớp
trung lưu đang nổi lên.
Toàn bộ vấn đề không là không đáng chú ý. Tôi đã nhắc trước đây rằng có
những tương đồng nổi bật giữa bầu không khí quan điểm của thế kỷ XVII và bầu
không khí của tâm lý học nhận thức và ngữ học thời nay. Một tương đồng liên
quan chính xác với vấn đề này của lý thuyết giải thích. Ngữ pháp triết học, rất
giống với ngữ pháp phát sinh hiện nay, đã phát triển trong sự đối lập tự-ý thức
với một truyền thống mô tả vốn diễn giải nhiệm vụ của nhà ngữ pháp chỉ đơn
thuần là ghi chép và sắp xếp dữ liệu việc dùng ngôn ngữ – một loại lịch sử tự
nhiên. Bản văn lập luận – hoàn toàn chính xác, tôi tin là đúng – rằng một giới
hạn như vậy đã không cần thiết và gây suy yếu, và rằng, dù có lý do biện minh
nào đi nữa, nó không liên quan gì với phương pháp khoa học – vốn điển hình
thường quan tâm đến dữ liệu không phải cho chính nó, nhưng như bằng chứng cho
những nguyên tắc tổ chức sâu xa hơn, ẩn giấu hơn, những nguyên tắc không thể dò
tìm ra “trong hiện tượng” cũng như không thể bắt nguồn từ chúng bằng những hoạt
động tiến hành giải quyết dữ liệu phân loại, cũng không khác gì hơn những
nguyên tắc của cơ học về những thiên thể không thể đã phát triển được nếu chúng
phải tuân giữ những giới hạn như vậy. [24]
Học giới thời nay thì không trong một vị trí để đem cho một thẩm định
giá trị dứt khoát về những thành tựu của ngữ pháp triết học. Khảo cứu nền móng
chưa được đặt định cho một thẩm định loại như vậy, những tác phẩm gốc thì hầu
như xa lạ hoàn toàn với hầu hết học giả. Chúng tất cả rất hiếm trong những thư
viện hay những sưu tập, với sự kiện là chúng đã chưa được in, hay được in lại
rộng rãi. Thí dụ, tôi đã không thể tìm được lấy một bản sao nào, tại nước Mỹ,
của bản in phê bình duy nhất của Port-Royal Grammar, đã được in cách đây
hơn một thế kỷ; và mặc dù bản gốc tiếng Pháp giờ đã có trở lại sẵn sàng [25], nhưng bản
dịch tiếng Anh duy nhất của tác phẩm quan trọng này dường như chỉ được tìm thấy
ở viện Bảo tàng nước Anh. Thật đáng tiếc là tác phẩm này lẽ ra đã không bị bỏ
qua hoàn toàn như thế, vì những gì ít ỏi được biết về nó lại thực sự thu hút và
soi sáng suy nghĩ.
Đây không là chỗ để cố gắng thẩm định giá trị sơ bộ về tác phẩm này, hay
ngay cả phác thảo những đại cương của nó như chúng hiện ra hiện nay, trên cơ
bản của hiểu biết rất thiếu sót hiện nay. Tuy nhiên, tôi muốn nhắc đến ít nhất
một ít của những chủ đề vẫn còn tiếp tục xuất hiện và vẫn có liên quan trong
thảo luận về tác phẩm.. Có vẻ như một trong những đổi mới của Ngữ pháp
Port-Royal năm 1660 – tác phẩm khởi xướng truyền thống ngữ pháp triết học –
là sự nhìn nhận của nó về sự quan trọng của ý niệm của những cụm từ như một đơn
vị ngữ pháp. Ngữ pháp trước đó phần lớn là ngữ pháp của những từ loại và những
biến tố. Trong lý thuyết phái Descartes của Port-Royal, một cụm từ tương ứng
với một ý tưởng phức tạp và một câu được chia thành những cụm từ liên tiếp,
những cụm từ này lại được chia nhỏ thành những cụm từ, v.v., cho đến khi đạt
đến mức độ của từ. Bằng này, chúng ta lấy ra được những gì có thể được gọi là “cấu
trúc ngoài mặt” của câu đang được nhắc đến. Để dùng những gì đã trở thành một
thí dụ tiêu chuẩn, câu “Gót vô hình đã tạo ra thế giới hữu hình” chứa chủ ngữ “Gót
vô hình” và vị ngữ “đã tạo ra thế giới hữu hình”, vị ngữ sau chứa ý phức tạp “thế
giới hữu hình” và động từ “ được tạo ra”, v.v. Nhưng điều đáng chú ý là mặc dù
Port-Royal Grammar xem có vẻ là tác phẩm đầu tiên dựa một cách khá hệ thống vào
việc phân tích cấu trúc ngoài mặt, nhưng nó cũng nhìn nhận sự thiếu sót của sự
phân tích như vậy. Theo lý thuyết Port-Royal, cấu trúc ngoài mặt chỉ tương ứng
với âm thanh – phương diện vật
chất của ngôn ngữ; nhưng khi tín hiệu được tạo ra, với cấu trúc ngoài mặt của
nó, sẽ diễn ra một phân tích tâm lý tương ứng về những gì vốn chúng ta có thể
gọi là cấu trúc sâu, một cấu trúc dạng thức liên quan trực tiếp không phải đến
âm thanh vốn đến ý nghĩa. Trong thí dụ vừa đưa ra, “Gót vô hình đã tạo ra thế
giới hữu hình”, cấu trúc sâu gồm một hệ thống gồm ba mệnh đề, “Gót vô hình”, “rằng
ngài đã tạo ra thế giới”, “thế giới hữu hình”. Dĩ nhiên, những mệnh đề tương
quan với nhau để tạo thành cấu trúc sâu không được khẳng định khi câu được dùng
để đưa ra một tuyên bố; Nếu tôi nói rằng một người khôn ngoan thì trung thực,
tôi không khẳng định rằng những người thì đều khôn ngoan hay trung thực, mặc dù
trong lý thuyết Port-Royal, những mệnh đề “một người khôn ngoan” và “một người
trung thực” đã đi vào trong cấu trúc sâu. Đúng hơn, những mệnh đề này đi vào
những ý tưởng phức tạp hiện diện trong não thức, mặc dù hiếm khi được thể hiện
rõ ràng bằng tín hiệu, khi câu nói được thốt ra.[26]
Cấu trúc sâu thì liên quan với cấu trúc ngoài mặt bởi những hoạt động
tâm lý nhất định – trong thuật ngữ thời nay, bới những biến đổi về ngữ pháp.
Mỗi ngôn ngữ có thể được nhìn như một liên hệ cụ thể giữa âm thanh và ý nghĩa. Theo
lý thuyết Port-Royal đến những kết luận lôgích của nó, khi đó, ngữ pháp của một
ngôn ngữ phải chứa một hệ thống của những quy luật vốn biểu thị đặc điểm cho
những cấu trúc sâu và ngoài mặt và quan hệ biến đổi giữa chúng, và – nếu nó có
thích ứng phù hợp với phương diện
sáng tạo của việc dùng ngôn ngữ – thì nó thực hiện như vậy trên một
lĩnh vực vô hạn của những cấu trúc sâu và ngoài mặt được ghép đôi với nhau. Để
dùng thuật ngữ Wilhelm von Humboldt đã dùng trong những năm 1830, “người nói
dùng vô hạn những phương tiện hữu hạn”. Do đó, ngữ pháp của người này phải chứa
một hệ thống hữu hạn gồm những qui luật vốn phát sinh vô hạn những cấu trúc sâu
và ngoài mặt, tương ứng thích hợp. Nó cũng phải chứa những quy luật vốn liên hệ
những cấu trúc trừu tượng này với những biểu hiện nhất định của âm thanh và ý
nghĩa – những biểu hiện, có lẽ, vốn được cấu thành từ những yếu tố vốn thuộc về
ngữ âm học phổ quát và ngữ nghĩa học phổ quát tương ứng. Trong yếu tính, đây là
khái niệm của cấu trúc ngữ pháp như nó đang được phát triển và trình bày chi
tiết ngày nay. Những gốc của nó rõ ràng được tìm thấy trong truyền thống cổ
điển tôi đang bàn luận, và những khái niệm cơ bản đã được khám phá với một số
thành công trong giai đoạn này.
Lý thuyết về cấu trúc sâu và ngoài mặt có vẻ khá rõ ràng đơn giản, ít
nhất trong khái quát đại cương. Tuy nhiên, nó khá khác biệt với bất kỳ gì đã có
trước nó, và một chút ngạc nhiên hơn là nó đã biến mất gần như không cón dấu
vết khi ngữ học thời nay đã phát triển vào cuối thế kỷ 19. Tôi muốn nói chỉ một
lời về sự liên hệ giữa lý thuyết về cấu trúc sâu và ngoài mặt với tư tưởng
trước đó và sau này về ngôn ngữ.
Có một tương đồng, vốn tôi nghĩ nó có thể gây lầm lạc lớn, giữa lý
thuyết của cấu trúc sâu và ngoài mặt và một truyền thống lâu đời hơn nhiều.
Những người thực hành ngữ pháp triết học đã rất cẩn thận để nhấn mạnh sự tương
đồng này trong sự phát triển chi tiết của lý thuyết và đã không ngần ngại trong
việc biểu lộ biết ơn của họ với ngữ pháp cổ điển cũng như với những nhân vật
quan trọng của ngữ pháp thời phục hưng, như Sanctius, một học giả người Spain.
Đặc biệt, Sanctius đã phát triển một lý thuyết về dấu chấm lửng có ảnh hưởng
lớn đến ngữ pháp triết học. Như tôi đã nhận xét, ngày nay người ta hiểu được
rất ít về ngữ pháp triết học. Nhưng những người đi trước như Sanctius đã hoàn
toàn rơi vào quên lãng. Hơn nữa, như trong trường hợp của tất cả những tác phẩm
như vậy, có một vấn đề của việc xác định không chỉ những gì ông đã nói, nhưng
quan trọng hơn, những gì ông muốn nói. [27]
Không phải nghi ngờ, rằng trong phát triển khái niệm của ông về dấu chấm
lửng như một thuộc tính nền tảng của ngôn ngữ, Sanctius đã đem cho nhiều thí dụ
rằng ngôn ngữ bề ngoài giả tạo trông giống song song với những thí dụ dùng để
phát triển lý thuyết về cấu trúc sâu và ngoài mặt, cả trong ngữ pháp triết học
cổ điển và trong những biến thể thời nay rõ ràng hơn nhiều của nó. Tuy nhiên,
điều đó có nghĩa là khái niệm dấu chấm lửng được Sanctius dự định chỉ đơn thuần
là một dụng cụ để diễn giải bản văn. Vì vậy, để xác định ý nghĩa thực của một đoạn
văn thực sự, theo Sanctius, người ta rất thường phải coi nó như một biến thể về
dấu ba chấm của một diễn giải dài giòng chi tiết công phu hơn. Nhưng lý thuyết
Port-Royal và phát triển sau này của nó, đặc biệt là dưới tay của nhà bách khoa
toàn thư Du Marsais, đã đem cho một diễn giải khá khác biệt về dấu ba chấm. Ý
định rõ ràng của ngữ pháp triết học đã là phát triển một lý thuyết về tâm lý,
không phải một kỹ thuật của sự diễn giải bản văn. Lý thuyết chủ trương rằng cấu
trúc sâu nằm chìm bên trong, với tổ chức trừu tượng của những dạng thức ngôn
ngữ [28] của nó, thì
“hiện diện với não thức”, như tín hiệu, với cấu trúc ngoài mặt của nó, được
những cơ quan cơ thể đã phát sinh hay cảm nhận. Và những hoạt động biến đổi
liên quan với cấu trúc ngoài mặt và sâu bên trong đều là những hoạt động tâm lý
thực sự, được não thức thực hiện khi một câu nói được phát sinh hay nhận hiểu.
Sự khác biệt là nền tảng. Theo cách giải thích vừa nói, có nghĩa là, đã thể
hiện trong não thức, phải có một hệ thống cố định gồm những nguyên tắc hình
thành vốn biểu thị đặc điểm và liên kết với những cấu trúc sâu và ngoài mặt,
trong một cách xác định nào đó – nói cách khác, một ngữ pháp vốn được dùng theo
một kiểu thức nào đó khi nói viết ngôn ngữ được phát sinh hay diễn giải. Ngữ
pháp này tương ứng với khả năng ngôn ngữ bên trong như nền móng vốn tôi đã nhắc
đến trước đó. Vấn đề xác định tính chất của những ngữ pháp như vậy và những
nguyên tắc chi phối chúng là một vấn đề điển hình của khoa học, có lẽ rất khó,
nhưng trên nguyên tắc thừa nhận những trả lời chắc chắn là đúng hoặc sai thì
tùy thuộc vào việc chúng tương ứng hay không với thực tại tâm lý. Nhưng lý
thuyết về những dấu chấm lửng như một kỹ thuật của việc diễn giải bản văn không
cần phải gồm một tập hợp của những nguyên tắc được biểu hiện một cách nào đó
trong não thức, như một phương diện
của khả năng và óc thông minh của con người bình thường. Thay vào đó, nó có thể
là phần được sắp đặt riêng biệt cho mục đích đó và có thể liên quan với nhiều
yếu tố văn hóa và cá nhân liên quan với tác phẩm văn học đang phân tích.
Lý thuyết
Port-Royal của cấu trúc sâu và ngoài mặt thuộc về tâm lý học như một cố gắng để
nhằm nói cho rõ loại óc thông minh thứ hai của Huarte, như một khám phá những
thuộc tính của óc thông minh bình thường của con người. Khái niệm dấu ba chấm
trong Sanctius, nếu tôi hiểu chính xác, là một trong nhiều kỹ thuật, được áp
dụng khi có điều kiện bảo đảm và không cần có sự biểu hiện tâm lý cần thiết như
một phương diện của óc thông
minh bình thường. Mặc dù những thí dụ ngôn ngữ được dùng thường giống nhau,
nhưng nội dung vốn chúng được đưa vào và khung cấu trúc khái niệm vốn chúng phù
hợp về cơ bản là khác nhau; đặc biệt, chúng đã được cách mạng phái Descartes
tạo ra sự phân chia. Tôi nêu lên điều này với một chút do dự do tính phức tạp
và bản chất không rõ ràng của những bản văn liên quan và những nội dung trí
thức của chúng, nhưng cách giải thích này với tôi có vẻ đúng.
Liên hệ của
lý thuyết Port-Royal với ngôn ngữ học cấu trúc và mô tả thời nay thì có phần rõ
ràng hơn. ngữ học mô tả tự giới hạn với phân tích những gì vốn tôi gọi là cấu
trúc ngoài mặt, đến những thuộc tính dạng thức vốn rõ ràng trong tín hiệu và
những cụm từ và những đơn vị có thể được xác định từ tín hiệu bằng những kỹ
thuật phân đoạn và phân loại. Giới hạn này là một giới hạn hoàn toàn tự ý thức,
và nó được coi – tôi tin khá sai lầm – như một bước tiến lớn. Nhà ngữ học vĩ
đại người Swiss, Ferdinand de Saussure, người vào đầu thế kỷ này đã đặt nền
móng cho ngôn ngữ học cấu trúc thời nay, đã đưa ra quan điểm rằng những phương
pháp phân tích ngôn ngữ thích hợp duy nhất là sự phân đoạn và sự phân loại. Sau
khi áp dụng những phương pháp này, nhà ngữ học xác định những mô thức trong đó
những đơn vị được phân tích rơi vào, ở đó những mô hình này hoặc là ngữ đoạn – nghĩa
là những mô thức nối tiếp theo nghĩa đen trong dòng của lời nói – hay mô hình –
tức là những liên hệ giữa những đơn vị chiếm cùng một vị trí trong dòng của lời
nói. Ông chủ trương rằng khi tất cả những phân tích như vậy hoàn tất thì cấu
trúc của ngôn ngữ tất yếu sẽ được bộc lộ hoàn toàn, và khoa học của ngữ học sẽ
hoàn toàn nhận ra nhiệm vụ của nó. Rõ ràng, sự phân tích về phân loại như vậy
không có chỗ cho cấu trúc sâu theo nghĩa ngữ pháp triết học. Thí dụ, hệ thống
ba mệnh đề làm cơ bản cho câu “Gót vô hình đã tạo ra thế giới hữu hình” không
thể bắt nguồn từ câu này bằng phân đoạn và phân loại những đơn vị được phân
đoạn, trong trường hợp này, những hoạt động biến đổi liên quan với cấu trúc sâu
và ngoài mặt cũng không thể được coi như hợp lý. được thể hiện dưới dạng cấu
trúc hệ biến hóa và ngữ đoạn. ngôn ngữ học cấu trúc thời nay đã trung thành với
những giới hạn này, vốn được coi như những giới hạn cần thiết.
Thực sự, Saussure trong một số phương
diện ngay cả còn đi xa hơn thế khi tách khỏi truyền thống của ngữ pháp
triết học. Thỉnh thoảng ông bày tỏ quan điểm rằng những tiến trình hình thành
câu hoàn toàn không thuộc về hệ thống ngôn ngữ – Thay vào đó, hệ thống ngôn ngữ
bị giới hạn ở những đơn vị ngôn ngữ cơ bản như âm thanh, từ ngữ, có thể là một
số cụm từ cố định và một số ít những mẫu thức rất tổng quát. Ông lập luận rằng
những hệ thống phân tích và lựa chọn hình thành câu không bị ràng buộc bởi cấu
trúc ngôn ngữ.. Ông cho rằng tiến trình hình thành câu diễn ra tự do, không bị
chi phối chặt chẽ bởi những quy luật cấu trúc của ngôn ngữ. Vì vậy, theo cách
nói của ông, việc hình thành câu không hoàn toàn là vấn đề của ngôn ngữ, nhưng
đúng hơn là được gán cho những gì vốn ông gọi là “lời nói/parole”, và do
đó đặt bên ngoài phạm vi ngữ học đích thực; nó là một tiến trình của sự sáng
tạo tự do, không bị bởi quy luật ngôn ngữ ràng buộc, ngoại trừ khi những quy
luật đó chi phối những dạng từ và những mẫu thức âm thanh. Cú pháp, theo quan
điểm này, là một vấn đề khá tầm thường. Và trong thực tế, có rất ít công trình
về cú pháp trong suốt thời kỳ ngôn ngữ học cấu trúc.
Trong việc đưa ra lập trường này, Saussure đã nhắc lại một phê bình quan
trọng với lý thuyết ngữ học theo Humbold của nhà ngữ học lỗi lạc người Mỹ,
William Dwight Whitney, người rõ ràng có ảnh hưởng lớn với Saussure. Theo
Whitney, lý thuyết ngữ học theo Humbold, trong nhiều đường lối, đã mở rộng
những cái nhìn của phái Descartes, vốn tôi đã thảo luận, về cơ bản đã sai lầm.
Thay vào đó, một ngôn ngữ chỉ đơn giản là “được tạo thành từ một số lượng lớn
những từ mục, mỗi chúng có thời gian, cơ hội và tác dụng riêng”. Ông chủ trương
rằng “ngôn ngữ trong nghĩa riêng biệt . . . là . . tổng số của những từ và
những câu qua đó một người bất kỳ nào dùng để diễn đạt suy nghĩ của người ấy”;
do đó, việc làm của nhà ngữ học là liệt kê những dạng thức ngôn ngữ này và
nghiên cứu lịch sử riêng của chúng [29]. Ngược lại
với ngữ pháp triết học, Whitney biện luận rằng không có gì mang tính phổ quát
về dạng thức ngôn ngữ và người ta không thể học được gì về những thuộc tính
tổng quát của óc thông minh con người từ việc nghiên cứu sự kết tụ tùy tiện của
những dạng thức cấu thành nên ngôn ngữ của con người. Như ông đã nói, “Chỉ
riêng sự đa dạng của ngôn ngữ loài người cũng đủ để thách thức ý tưởng rằng một
hiểu biết về não thức hay những quá trình tinh thần có thể giải thích đầy đủ
bản chất của ngôn ngữ.”. Tương tự, Delbrück , trong tác phẩm tiêu chuẩn về cú
pháp so sánh ngôn ngữ Ấn Âu, đã lên án ngữ pháp truyền thống vì đã thiết lập
những loại câu lý tưởng làm cơ bản cho những tín hiệu quan sát được, coi
Sanctius là “nhà giáo điều chính trong lĩnh vực này”.
Với việc thể hiện những tình cảm như vậy, chúng ta bước vào thời đại
ngày nay của việc nghiên cứu ngôn ngữ. Hồi chuông báo tử của ngữ pháp triết học
đã vang lên cùng với những thành công đáng chú ý của những nghiên cứu so sánh
ngôn ngữ Ấn-Âu, chắc chắn được xếp vào hàng những thành tựu nổi bật của khoa
học thế kỷ 19. Sự hiểu biết đơn giản và không đầy đủ về ngôn ngữ được những học
giả như William Dwight Whitney và Ferdinand de Saussure nêu ra, cùng với những
người khác, đã thích hợp với trình độ nghiên cứu ngữ học vào thời đó. Kết quả
là quan niệm này được coi như xác đáng, một tin tưởng không phải trái tự nhiên
nhưng hoàn toàn sai lầm. ngữ học mô tả-cấu trúc thời nay được phát triển trong
cùng một khung cấu trúc khái niệm trí thức và cũng đã đạt được những tiến bộ
đáng kể, vốn tôi sẽ sớm quay lại bàn tiếp. Ngược lại, ngữ pháp triết học đã
không cung cấp những khái niệm cần thiết cho ngữ pháp so sánh mới hay để nghiên
cứu những ngôn ngữ trước đây chưa được biết đến. Về cơ bản, nó đã cạn kiệt tiềm
năng của nó, đã đi đến giới hạn của những gì có thể đạt được trong khung cấu
trúc khái niệm những ý tưởng và kỹ thuật có sẵn vào thời đó. Cách đây một thế
kỷ, không có sự hiểu biết rõ ràng nào về cách người ta có thể tiến hành xây
dựng những ngữ pháp phát sinh “dùng vô hạn những phương tiện hữu hạn” và thể
hiện “dạng hữu cơ” của ngôn ngữ con người, “phát minh kỳ diệu đó” (theo lời của
Port-Royal Grammar) “qua đó chúng ta xây dựng, từ hai mươi lăm hay ba mươi âm
thanh, một vô hạn của những diễn đạt, chúng không có gì giống với những gì diễn
ra trong não thức chúng ta, nhưng vẫn cho chúng ta khả năng để cho những người
khác biết bí mật về những gì chúng ta hình thành trong trí tưởng và về tất cả
những hoạt động tâm lý khác loại vốn chúng ta thực hiện”.
Thế nên, nghiên cứu ngôn ngữ đã đạt đến điểm vốn có hai cách nghiên cứ
giả quyết trái ngược nhau: một mặt, những khái niệm đơn giản và rõ ràng dẫn đến
một số khám phá ấn tượng; mặt khác, những ý tưởng sâu xa hơn nhưng ít được xác
định hơn dường như không gây hứng khởi cho nhiều nghiên cứu hiệu quả hơn nữa.
Sự chia rẽ này dẫn đến một sự thay đổi tất yếu vốn không nhất thiết là đáng
tiếc. ngữ học trở nên chuyên nghiệp hơn, tránh xạnhững câu hỏi cổ điển từng hấp
dẫn những trí thức như Arnauld và Humboldt. Thay vào đó, trọng tâm chuyển sang
một lĩnh vực mới, được định hình bởi những dụng cụ và kỹ thuật vốn chính ngành
chuyên môn này đã phát triển để giải quyết những vấn đề riêng biệt. Mặc dù sự
thay đổi này là tự nhiên và phù hợp, nhưng nó cũng mang lại một số rủi ro nhất
định. Không nhằm mục đích tán dương sự tham gia của giới không chuyên môn vào
những hoạt động nghiên cứu trí thức, nhưng vẫn phải thừa nhận rằng những câu
hỏi cổ điển nắm giữ một năng lượng và ý nghĩa có thể không có trong những lĩnh
vực chủ yếu được thúc đẩy bởi việc dùng những phương pháp riêng biệt, thay vì
bởi sự quan tâm vốn có của chính những vấn đề.
Bài học ở đây không là loại bỏ những dụng cụ có ích; đúng hơn, trước
tiên, người ta phải duy trì viễn tượng đủ bao quát để nhận ra khi ngày đó chắc
chắn sẽ đến, khi nghiên cứu có thể được thực hiện bằng những dụng cụ này thì
không quan trọng nữa; và thứ hai, người ta nên coi trọng những ý tưởng và hiểu
biết trực giác sâu xa đến mức, mặc dù có lẽ còn quá sớm, mơ hồ và không mang
lại hiệu quả cho nghiên cứu ở một giai đoạn kỹ thuật và hiểu biết riêng biệt..
Với lợi thế của cái nhìn sáng suốt, tôi nghĩ, chúng ta bây giờ có thể thấy rõ
ràng là việc chê bai xem thường và xao lãng một truyền thống phong phú về lâu
dài đã gây hại cho việc nghiên cứu ngôn ngữ. Hơn nữa, việc chê bai xem thường
và xao lãng này đã chắc chắn không cần thiết. Có lẽ điều đó sẽ khó khăn về
phương diện tâm lý, nhưng trên nguyên tắc, không có lý do nào khiến việc khai
thác thành công phương pháp nghiên cứu giải quyết cấu trúc luận trong nghiên
cứu lịch sử và mô tả lại không thể đi đôi với sự nhìn nhận rõ ràng về những
giới hạn cơ bản và sự thiết xót cuối cùng của nó, so với truyền thống đó tạm
thời và khá chính đáng, bị thay thế. Tôi nghĩ đây là một bài học có thể có giá
trị cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và não thức trong tương lai.
Để kết luận, tôi nghĩ rằng đã từng có hai truyền thống nghiên cứu thực
sự hiệu quả vốn không thể nghi ngờ có liên quan với bất kỳ ai có quan tâm với
sự nghiên cứu ngôn ngữ ngày nay. Một là truyền thống của ngữ pháp triết học vốn
đã hưng thịnh từ thế kỷ XVII qua phong trào lãng mạn; thứ hai là truyền thống
vốn tôi đã gọi có phần sai lầm như “chủ thuyết cấu trúc”, vốn nó đã thống trị
khảo cứu trong thế kỷ vừa qua, ít nhất là cho đến đầu những năm 1950. Tôi đã
tập trung vào những thành tựu của truyền thống trước, vì sự xa lạ của chúng
cũng như sự liên quan của chúng với thời đại. ngôn ngữ học cấu trúc đã mở rộng
rất lớn phạm vi thông tin sẵn sàng cho chúng ta và đã kéo dài đến không thể đo
được sự tin cậy của dữ liệu loại như thế. Nó đã cho thấy rằng có những quan hệ
cấu trúc trong ngôn ngữ có thể được nghiên cứu trừu tượng. Nó đã nâng độ chính
xác của nói viết về ngôn ngữ lên một tầm cao hoàn toàn mới. Nhưng tôi nghĩ rằng
đóng góp chính của nó có thể chứng minh là một đóng góp, vốn nghịch lý thay, nó
đã bị chỉ trích rất nghiêm khắc. Tôi muốn nói đến nỗ lực cẩn thận và nghiêm
chỉnh nhằm xây dựng “những cách tiến hành khám phá”, những kỹ thuật phân đoạn
và phân loại vốn Saussure đã nhắc đến. Nỗ lực này đã là một thất bại – tôi nghĩ
rằng giờ đây mọi người đều hiểu như vậy. Thất bại vì những kỹ thuật như vậy thì
nhiều nhất chỉ giới hạn với những hiện tượng cấu trúc ngoài mặt và do đó không
thể vén lên cho thấy những hệ thống phân tích và lựa chọn làm nền tảng cho
phương diện sáng tạo của việc dùng ngôn ngữ và biểu thị nội dung ngữ nghĩa.
Nhưng điều quan trọng cơ bản vẫn còn là nỗ lực này hướng đến câu hỏi cơ bản
trong nghiên cứu ngôn ngữ, lần đầu tiên được xây dựng theo cách rõ ràng và dễ
hiểu. Vấn đề đặt ra là chỉ định những hệ thống phân tích và lựa chọn hoạt động
trên dữ liệu ý nghĩa và tạo ra kiến thức về ngôn ngữ – khả năng ngôn ngữ. Rõ
ràng là những hệ thống phân tích và lựa chọn như vậy hiện hữu. Trẻ em học một
ngôn ngữ đầu tiên; ngôn ngữ vốn chúng học, theo nghĩa truyền thống, là một “ngôn
ngữ được dạy và học”, không là một hệ thống riêng biệt bẩm sinh vốn
con người sinh ra đã có. Trả lời đưa ra theo phương pháp ngôn ngữ cấu
trúc đã được chứng minh là sai, tuy nhiên, điều này không quan trọng lắm khi so
sánh với sự kiện là tự thân vấn đề hiện nay đã được xác định và hiểu rõ.
Whitehead từng nói rằng tinh thần của khoa học thời nay được hình thành từ “sự kết hợp giữa sự chú tâm nhiệt tình trong những sự kiện chi tiết với sự tận tụy ngang bằng với khái quát hóa trừu tượng”. Ý tưởng này cũng có thể mô tả liên hệ giữa ngữ học thời nay và ngữ pháp triết học. Ngữ học thời nay tập trung sâu xa trên nghiên cứu kỹ lưỡng những chi tiết cụ thể, trong khi ngữ pháp triết học tập trung trên những ý tưởng trừu tượng, rộng lớn. Tôi tin rằng đã đến lúc kết hợp hai phương pháp nghiên cứu giải quyết này lại với nhau và tạo ra một cách suy nghĩ dựa trên thế mạnh của cả hai.
Trong hai bài giảng tiếp theo, tôi sẽ cho thấy cách truyền thống ngữ pháp triết học có thể được định hình lại và sử dụng để giải quyết những vấn đề mới và khó khăn như thế nào. Tôi cũng sẽ giải thích cách truyền thống này có thể giúp chúng ta quay trở lại, theo một cách hữu ích, với những câu hỏi và ý tưởng cốt lõi đã tạo ra nó lần đầu tiên. Mục tiêu của tôi là cho thấy rằng bằng cách kết hợp hai cách suy nghĩ này, chúng ta có thể mở ra những khả năng mới và tạo được tiến bộ thực sự.
Lê Dọn Bàn tạm dịch
– bản nháp thứ nhất
(Aug/2024)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Cybernetics: Điều khiển học là nghiên cứu
về hệ thống, kiểm soát và giao tiếp trong những sinh vật sống, máy móc và những
tổ chức. Nó khám phá cách những hệ thống tự điều chỉnh và thích nghi thông qua
những vòng phản hồi. Ví dụ: Trong sinh học, điều khiển học nghiên cứu
cách não xử lý thông tin và kiểm soát cơ thể. Trong công nghệ, nó liên quan đến
việc thiết kế những hệ thống như rô-bốt hoặc máy tính mô phỏng chức năng của
con người hoặc động vật. Trong bối cảnh rộng hơn, nó có thể áp dụng cho những
hệ thống hoặc mạng xã hội. Hãy coi nó như khoa học về cách những hệ thống “suy
nghĩ”, giao tiếp và điều chỉnh để duy trì sự ổn định hoặc đạt được mục tiêu.
[2] Physiological
psychology: Tâm
lý học sinh lý học nghiên cứu cách những tiến trình vật lý trong não
và hệ thần kinh ảnh hưởng đến hành vi và những tiến trình tinh thần.
[3] anthropological
linguist: nghiên cứu quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, tập trung vào cách
thức ngôn ngữ định hình và được định hình bởi những hoạt động xã hội và văn
hóa. Ngôn ngữ học nhân chủng học là một phân ngành của cả nhân chủng học và
ngôn ngữ học, và liên quan đến việc xem xét cách thức ngôn ngữ ảnh hưởng đến
hành vi của con người, cấu trúc xã hội, chuẩn mực văn hóa và bản sắc định tính.
[4] Verbal
Behavior / Hành vi ngôn từ của B.F. Skinner (1957): tìm xem ngôn ngữ được học
và dùng như thế nảo, tập trung vào những nguyên lý của thuyết hành vi. Skinner
lập luận rằng ngôn ngữ không phải là sản phẩm của những cấu trúc tinh thần bẩm
sinh nhưng là một hành vi được những tác động hỗ tương với môi trường hình
thành. Những điểm chính: (a) Ngôn ngữ như hành vi: Skinner coi ngôn ngữ
là hành vi con người học (qua kinh nghiệm bên ngoài), giống như bất kỳ hành vi ứng
xử nào khác. Nó được hình thành bởi khen thưởng và phản ứng từ môi trường. (b) Điều
kiện hóa tác động: Skinner dùng thuyết điều kiện hóa tác động của ông để giải
thích ngôn ngữ (tiến trình học tập trong đó những hành vi được hậu quả của
chúng kiểm soát. (Thí dụ, nếu một hành vi được theo sau bởi phần thưởng, thì khả
năng lập lại, tái diễn hành vi đó trong tương lai cao hơn, và ngược lại trong
trường hợp có khiển trách/trừng phạt, khả năng lập lại, tái diễn hành vi đó thấp
hơn). Lý thuyết này cho rằng những hành vi (gồm cả nói) được hậu quả của chúng
củng cố, khiến chúng có nhiều khả năng xảy ra lần nữa. (c) Những hoạt động bằng
lời: Skinner chia ngôn ngữ thành những loại hành vi bằng lời nói: Mands/Mệnh
lệnh: Yêu cầu hoặc mệnh lệnh (thí dụ: xin đồ ăn). Tacts: / Nhãn hiệu:
Nhãn hoặc mô tả (thí dụ: gọi tên một đối tượng). Echoics / Tiếng vang: Lập
lại những gì người khác nói (thí dụ: lập lại một cụm từ). Intraverbals / Đáp
ứng Ngôn từ : Phản ứng với những kích thích bằng lời (thí dụ: trả lời câu hỏi).
Lý thuyết của Skinner như thế đối lập với của Chomsky: Noam Chomsky lập luận rằng
năng lực ngôn ngữ xuất phát từ một cấu trúc tinh thần bẩm sinh (ngữ pháp phổ
quát). Ông tin rằng con người sinh ra đã có sự hiểu biết sẵn có về những quy luật
ngôn ngữ. Ngược lại, Skinner bác bỏ ý tưởng về những cấu trúc tinh thần bẩm
sinh. Ông tin rằng ngôn ngữ học được qua những tác động hỗ tương và sự củng cố
từ môi trường bên ngoài, không phải từ một tập hợp những quy luật ngôn ngữ bẩm
sinh bên trong. Thuyết của Skinner mở rộng việc nghiên cứu những hành vi có thể
quan sát được sang những hành động phức tạp của con người như ngôn ngữ, bác bỏ
những trạng thái tinh thần không thể quan sát thực nghiệm được.
[5] tâm lý học kích thích-phản ứng (S-R), một khung cấu trúc khái niệm liên
quan đến thuyết hành vi, nổi bật vào đầu đến giữa thế kỷ 20. Stimulus-response (S-R) psychology Tâm lý học kích thích-phản ứng (S-R): lý thuyết bắt nguồn từ thuyết hành vi, cho rằng mọi hành vi đều là
những phản ứng với những kích thích cụ thể trong môi trường. Nó bắt nguồn từ
đầu thế kỷ 20 khi những nhà tâm lý học tìm cách nghiên cứu hành vi theo phương
cách khoa học hơn và có thể quan sát, được tập trung trên quan hệ giữa những kích
thích bên ngoài và những phản ứng có thể quan sát được (phản ứng) mà chúng kích
động. Nguồn gốc: (a) Ivan Pavlov: Một trong những nhân vật chính yếu trong sự
phát triển của tâm lý học S-R, những thí nghiệm của Pavlov với những con chó
vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã chứng minh được tiến trình điều kiện hóa
cổ điển, trong đó một kích thích trung tính (như tiếng chuông) có thể liên kết
với một kích thích không điều kiện (như thức ăn) để tạo ra phản ứng có điều
kiện (chảy nước bọt). (b) John B. Watson: Dựa trên công trình của Pavlov,
Watson, trong tuyên ngôn năm 1913 của ông “Tâm lý học như cái nhìn của thuyết
hành vi”, lập luận rằng tâm lý học nên tập trung vào hành vi có thể quan sát
được, chứ không những trạng thái tinh thần/tâm lý bên trong. Ông đã đặt ra
thuật ngữ behaviorism / thuyết hành vi và thúc đẩy ý tưởng rằng hành vi của con
người có thể được giải thích hoàn toàn bằng những liên kết S-R. (c) B.F.
Skinner: Sau đó, Skinner đã mở rộng tâm lý học S-R với công trình nghiên cứu
của ông về điều kiện hóa tác động, trong đó những hành vi by ảnh hưởng bởi
những hậu quả (sự làm vững mạnh thêm hoặc hình phạt) theo sau chúng. Tâm lý học
S-R cho rằng hành vi là kết quả trực tiếp của những kích thích môi trường,
không cần phải xem xét đến những suy nghĩ hoặc cảm xúc bên trong. Phương pháp
nghiên cứu giải quyết này đã đặt nền tảng cho sự phát triển của thuyết hành vi
như một trường phái tư tưởng ưu thắng trong tâm lý học trong nửa đầu thế kỷ 20.
[6] sound
spectrograph
[7] Information:
Khái niệm “thông tin” đã phát triển theo thời gian và ý nghĩa của nó tùy thuộc vào ngữ cảnh. Vào
đầu những năm 1950 (Chomsky nhắc ở trên) khái niệm “thông tin”
chịu ảnh hưởng nặng nề từ Mathematical Theory of Communication/Lý thuyết
toán học về truyền thông của Claude Shannon (1948),. Khái niệm “thông tin” của
Shannon được
định nghĩa là sự giảm bớt sự không chắc chắn. Nó định lượng mức độ “mới
mẻ” hoặc “bất ngờ” mà một thông điệp mang lại cho người nhận, bất kể ý nghĩa
hay nội dung ngữ nghĩa của nó. Thông tin không phải là về nội dung của một thông điệp nhưng
là về những thuộc tính thống kê của nó (ví dụ: xác suất của các tín hiệu hoặc
ký hiệu khác nhau được truyền trong một hệ thống truyền thông).
[8]
automata
[9] Mediation Theory / Thuyết
trung gian: Để giải thích cho những hành vi phức tạp hơn mà không thể giải
thích chỉ bằng những chuỗi kích thích-phản ứng đơn giản, những người theo
thuyết tâm lý học hành vi đã đưa ra ý tưởng về “trung gian”. Khái niệm này cho
rằng những sự kiện nhận thức bên trong, như suy nghĩ hoặc ký ức, đóng vai trò
là trung gian giữa một kích thích và hành vi kết quả. Thí dụ, khi bạn nghe một
từ (kích thích), khái niệm liên quan trong tinh thần bạn (người trung gian) dẫn
đến phản ứng bằng lời nói hoặc hành vi. Noam Chomsky đã phê bình những thuyết
như vậy, lập luận rằng về cơ bản chúng không đủ để giải thích những cấu trúc và
nguyên tắc cơ bản của ngôn ngữ. Ông nhấn mạnh rằng việc dùng ngôn ngữ liên quan
đến những quy luật trừu tượng, có tính sáng tạo mà không thể được nắm bắt đầy
đủ bằng những mô hình kích thích-phản ứng hoặc những liên hệ được trung gian
hóa.
[10] linguistic competence
[11] S-R psychology
[12] Khái niệm automata /
máy tự động để chỉ những thiết bị hoặc hệ thống cơ khí được thiết kế để thực
hiện những nhiệm vụ hoặc mô phỏng hành vi một cách độc lập. Theo truyền thống,
automata là những máy móc phức tạp được chế tạo để bắt chước hành động của con
người hoặc động vật, chô thấy một quan tâm thích thú trong cả tiềm năng và
những giới hạn của những máy móc bắt chước lập lại những chức năng giống con
người. Lĩnh vực automata đã tiến triển đáng kể với việc tạo ra những thiết bị
cơ khí tinh vi của những nhân vật như nhà làm đồng hồ người Swiss, Jaquet-Droz
(1721–1790) và nhà phát minh người France, Jacques de Vaucanson (1709–1782).
Thí dụ, De Vaucanson đã phát triển một con vịt máy, có khả năng mô phỏng việc
ăn uống và tiêu hóa. Sự phát triển của automata được thúc đẩy bởi những tiến bộ
trong kỹ thuật cơ khí và sự say mê bắt chước chuyển động của con người và động
vật. Những thiết bị này chủ yếu được dùng để giải trí, trình diễn hoặc khám phá
những nguyên lý cơ học.
[13] The
framework of substance and mode: khung cấu trúc khái niệm
về thực thể và phương thức: một
khái niệm triết học bắt nguồn từ học thuyết kinh viện, đặc biệt là trong tác phẩm
của Descartes và Spinoza.(a) Thực thể: chỉ bản chất cơ bản của một gì đó, yếu
tính hoặc thực tại cơ bản của nó.(b) Phương thức chỉ những trạng thái, tính chất
hoặc biến đổi cụ thể mà một thực thể có thể có. Khung này là trung tâm của nhiều
tư tưởng siêu hình trong truyền thống kinh viện, có ảnh hưởng đến triết học hiện
đại ban đầu.
[14] properties
of extension and motion:, “sự mở rộng”chỉ những thuộc tính vật lý của một vật thể,
đặc biệt là sự chiếm giữ không gian của nó. Khái niệm này, từ triết lý của
Descartes, rằng một thực thể có kích thước (dài, rộng, cao) và có thể được đo
lường theo những đặc điểm không gian của nó. Ngược lại, “suy tưởng”là một thuộc
tính của não thức hoặc ý thức/tinh thần, không trong không gian ý và không thể
được đo lường hoặc mở rộng.
Trong thuyết nhị nguyên của
Descartes, não thức được coi là một thực thể nhưng phi-vật chất, khác biệt về
nền tảng với cơ thể. Ông lập luận rằng tư tưởng là yếu tính của não thức, và
không giống cơ thể, não thức không tồn tại trong không gian vật lý. Não thức
không có những chiều như dài, rộng, cao (mà Descartes gọi là phần mở rộng/chiếm
hữu không gian), cũng không thể được phân chia hoặc đo lường theo cách mà những
vật thể vật lý có thể. Vì vậy, theo Descartes, não thức hoặc ý thức nằm ngoài
phạm vi vật lý của không gian và vật chất. Nó tác động hỗ tương với cơ thể
nhưng không nằm trong không gian vật lý như cơ thể hoặc vật thể. Quan điểm này
đặt ra những câu hỏi phức tạp, chẳng hạn như làm thế nào một não thức phi không
gian có thể tác động hỗ tương với cơ thể không gian, mà Descartes đã cố gắng
giải quyết thông qua khái niệm tuyến tùng (the pineal gland) như một điểm tác
động hỗ tương. Tóm lại, đối với Descartes, não thức không tồn tại trong không
gian như những vật thể vật lý những thay vào đó là một thực thể riêng biệt, phi
không gian.
[15]
Descartes lập luận rằng khả năng dùng ngôn ngữ một cách có ý nghĩa là dấu hiệu
đáng tin cậy duy nhất của trí tuệ con người. Ông tuyên bố rằng, ngay cả khi một
loài động vật hoặc máy móc có vẻ rất thông minh hoặc có khả năng sinh lý cho tiếng
nói, thì chúng cũng không thể thực sự dùng ngôn ngữ như một con người. Khả năng
giao tiếp sáng tạo và linh hoạt độc đáo này là những gì phân biệt con người với
những động vật hay những máy móc.
[16] Ý niệm của những dạng thức
thực thể và những phẩm tính thực: những ý niệm thời trung cổ, đặc biệt là từ
Aristotle, là trung tâm của truyền thống giảng dạy kinh viện. Theo giảng dạy
này: những dạng thức bản chất là những nguyên lý cơ bản, nền tảng xác định
những gì là một sự vật (yếu tính hay bản chất của nó). Thí dụ, dạng thức bản
chất của một cái cây là những gì khiến nó trở thành một cái cây chứ không phải
một gì khác. Những những phẩm tính thực là những thuộc tính nội tại của những
vật thể, chẳng hạn như nhiệt, màu sắc hoặc độ cứng, được cho là hiện hữu độc
lập và là phần của yếu tính của đối tượng.
[17] [Để biết thêm
chi tiết và thảo luận, xem Cartesian
Linguistics / Ngôn
ngữ học phái Descartes của tôi (New York: Harper & Row, 1966) và những
tài liệu tham khảo được trích dẫn ở đó.]
[18] Từ “ingenio”trong tiếng
Spain và “ingenium”trong tiếng Latin thực sự bắt nguồn từ động từ tiếng
Latin “ingignere”, có nghĩa là “trồng / cấy ghép”hay “tạo ra từ bên trong”,
nhưng từ này dùng để chỉ những phẩm chất bẩm sinh hay tài năng tự nhiên hơn là
sự sáng tạo hay sự tạo ra trong /vật lý. Vì vậy, trong khi ý tưởng của Huarte
rằng “trí thông minh/khôn ngoan”hay “trí tuệ”liên quan đến sự sáng tạo hay sức
mạnh sinh sản nắm bắt được một hiểu biết triết học lôi cuốn đáng chú ý, nhưng
liên kết của ông với những từ như “sinh ra”hay “tạo ra”không hoàn toàn chính
xác. Những từ này xuất phát từ những gốc khác nhau liên quan đến sự sáng tạo
vật lý (tiếng Latin “generare”có nghĩa là sáng tạo, sinh ra), trong khi “ingenium”dùng
để chỉ nhiều hơn đến những khả năng tự nhiên hay thiên tài của một người. Vì
vậy, từ nguyên chính xác hơn nhấn mạnh đến những phẩm chất hay tài năng bẩm
sinh hơn là tiến trình sáng tạo hay tạo ra.
[19] Tâm
lý học của phong trào lãng mạn nhấn mạnh vào sự sáng tạo, trí tưởng tượng và
chiều sâu cảm xúc của con người, coi đây là những tính chất cốt lõi, yếu tính
xác định, chúng đặt con người khác biệt với loài vật hay máy móc. Nó bác bỏ những
giải thích cơ khí hay thuần lý về tâm lý/tinh thần, thay vào đó tập trung vào
biểu hiện cá nhân và đời sống nội tâm. Trong triết lý xã hội, phong trào lãng mạn
nhấn mạnh trên sự quan trọng của tự do cá nhân, trực giác và sự kết nối cảm xúc
trong việc định hình xã hội và vă
Như tôi đã nhắc đến, lý thuyết duy lý về ngôn ngữ, vốn được chứng minh là hết sức
giàu hiểu biếtn hóa.
[20] [Những thí dụ
này được lấy từ nghiên cứu xuất sắc của Leonora Cohen Rosenfield, From Beast-Machine
to Man-Machine (New York: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1941). Những trích
dẫn là cách diễn giải từ bản gốc của bà]
[21] không
có bất kỳ mẫu, logic hoặc sự mạch lạc có ý nghĩa nào – về cơ bản được tạo ra bởi
ngẫu nhiên hơn là suy nghĩ hoặc ý định có mục đích, không giống như cách dùng
ngôn ngữ bình thường, có cấu trúc của con người.
[22] “Ngữ pháp Port-Royal”và “Logic Port-Royal”là
hai tác phẩm quan trọng được những thành viên của tu viện giáo phái Jansen ở
Port-Royal, gần Paris, biên soạn vào thế kỷ 17. Những bản văn này là nền tảng
trong nghiên cứu về ngữ pháp và logic triết học, đại diện cho sự chuyển dịch
sang những phương pháp nghiên cứu giả quyết duy lý hơn với ngôn ngữ và tư tưởng.
Ngữ pháp Port-Royal (1660): do Antoine Arnauld và Claude Lancelot biên soạn,
tác phẩm này, Grammaire générale et raisonnée, nhằm mục đích giải thích
cấu trúc của ngôn ngữ qua những nguyên tắc phổ quát của logic và lý trí thay vì
qua những tính chất đặc biệt của bất kỳ ngôn ngữ nào, chẳng hạn như tiếng
Latin. Nó được coi là tiền thân của ngôn ngữ học hiện đại, vì nó cố gắng tìm ra
những quy luật tổng quát có thể áp dụng cho tất cả những ngôn ngữ, gắn chặt ngữ
pháp với những tiến trình tinh thần. Logic Port-Royal (1662): Cũng do
Arnauld và Pierre Nicole biên soạn, tác phẩm này, La logique ou l'art de
penser, khám phá sâu hơn về tư tưởng duy lý và diễn đạt của nó qua ngôn ngữ.
Nó nhấn mạnh vào sự rõ ràng và tính mạch lạc hợp lý trong lập luận, bác bỏ những
gì được coi là sự phức tạp không cần thiết của ngữ pháp tiếng Latin và ủng hộ
ngôn ngữ địa phương (trong trường hợp này là tiếng Pháp) để suy nghĩ trong sáng
rõ ràng hơn.Những bản văn này có ý nghĩa vì chúng phản ảnh những ảnh hưởng của
Descartes với ngôn ngữ, nhằm mục đích phát triển một “ngữ pháp duy lý”có thể được
hiểu trên toàn thế giới, vượt ra ngoài những ngôn ngữ riêng lẻ như tiếng Latin.
Tu viện của giáo phái
Jansen ở Port-Royal, còn được gọi là Port-Royal des Champs, là một cộng đồng
tôn giáo nằm gần Paris, Pháp, được biết đến vì có liên hệ với giáo phái Jansen
vào thế kỷ 17. Giáo phái Jansen là một phong trào cải cách đạo Ki tô nhấn mạnh
vào tội lỗi nguyên thủy, sự sa đọa của con người, ân sủng của Gót và tiền định
của Gót, phù hợp với một số ý tưởng của nhà gót học người Netherlands Cornelius
Jansen. Port-Royal đã trở thành trung tâm của hoạt động trí thức và tôn giáo,
thu hút những học giả, nhà gót học và triết gia quan tâm đến việc cải cách đạo
Ki tô và thúc đẩy giáo dục. Tu viện là nơi ở của một số nhân vật nổi tiếng, gồm
Antoine Arnauld và Blaise Pascal, và được biết đến với chương trình giáo dục
nghiêm ngặt tập trung vào những nghiên cứu cổ điển và tư tưởng duy lý. Những
trường Port-Royal (“Petites Écoles”) nổi tiếng với những phương pháp tiến bộ của
họ, chẳng hạn như dạy học sinh tư tưởng phản biện và lý luận logic, điều này ảnh
hưởng đến triết lý giáo dục sau này. Những học giả tại Port-Royal, những người
cũng gắn bó với giáo phái Jansen, đã tham gia sâu đậm vào việc phát triển những
ý tưởng về ngôn ngữ, logic và ngữ pháp, dẫn đến việc sản xuất những tác phẩm
quan trọng như Port-Royal Grammar và Port-Royal Logic. Năm 1709, tu viện bị giải
thể và những tòa nhà bị phá hủy theo lệnh của vua Louis XIV, như một phần trong
cuộc đàn áp giáo phái Jansen của ông, vốn bị hội nhà thờ đạo Ki tô coi là dị
giáo vào thời điểm đó. Bất chấp sự giải thể, di sản trí thức của Port-Royal, đặc
biệt là về ngôn ngữ học và triết học, vẫn tồn tại.
[23] prescriptivism / Thuyết quy phạm: phương pháp nghiên cứu giải quyết ngôn ngữ tập trung vào
việc tìm hiểu ngôn ngữ nên được đem dùng tuân theo những quy luật và tiêu chuẩn
cụ thể nào. Nó nhấn mạnh trên ngữ pháp đúng, chính tả đúng và cách dùng đúng, đề
cao việc tuân thủ những chuẩn mực truyền thống và những quy luật chính thức. Điều
này trái ngược với thuyết mô tả, mô tả ngôn ngữ theo cách nó thực sự được đem
dùng, không đưa ra phán đoán về đúng hay sai.
[24] Lập lại ở đây, có lẽ thừa thãi nhưng trực tiếp với những gì nói ở trên – Noam Chomsky đã đưa lên hai khái
niệm quan trọng trong ngôn ngữ học: Ngữ pháp phát sinh (Generative
Grammar) và Ngữ pháp phổ quát (Universal Grammar). Dù có liên quan,
nhưng chúng tập trung vào những khía cạnh khác nhau của ngôn ngữ. Ngữ pháp phát sinh (Generative Grammar)
tập trung vào những quy luật và nguyên tắc chi phối cấu trúc của một ngôn ngữ
cụ thể. Mục tiêu của nó là tạo ra một hệ thống quy luật có thể sinh ra
tất cả và chỉ những câu đúng ngữ pháp trong ngôn ngữ đó. Thí dụ, Ngữ pháp phát
sinh cho tiếng Việt sẽ gồm những quy luật về thứ tự từ, cấu trúc câu, và sự hòa
hợp giữa chủ ngữ và động từ. Đây là hệ thống quy luật riêng cho từng ngôn ngữ
cụ thể, nhằm cung cấp một khuôn khổ đầy đủ để tạo ra những câu đúng ngữ pháp. Ngữ pháp phổ quát (Universal
Grammar), ngược lại, tập trung vào khả năng bẩm sinh, mang tính sinh học, giúp
con người học và dùng ngôn ngữ. Chomsky cho rằng tất cả những ngôn ngữ đều có
những nguyên tắc chung – một “bản vẽ nền tảng”giúp con người phát triển ngôn
ngữ. Dù những quy luật cụ thể có thể khác nhau giữa những ngôn ngữ, nhưng những
nguyên tắc chung này là điểm khởi đầu cho việc tiếp thu ngôn ngữ từ khi còn
nhỏ. Điều này hàm ý rằng khả năng học ngôn ngữ là một phần của sinh học con
người.
Thí
dụ trong tiếng Việt: Ngữ pháp phát sinh cho tiếng Việt sẽ quy định rằng câu
có cấu trúc S-V-O (Chủ ngữ – Động từ – Tân ngữ), như trong câu: “Tôi ăn cơm.”Quy
luật này là riêng cho tiếng Việt và giúp người nói biết cách sắp xếp từ ngữ để
tạo thành câu đúng. Ngữ pháp phổ quát sẽ nói rằng, bất kể ngôn ngữ nào,
người học đều có khả năng bẩm sinh để hiểu những khái niệm như chủ ngữ, động
từ, và cách chúng liên kết với nhau để tạo ra câu. Ngữ pháp phát sinh giống như quyển
sách nấu ăn dành riêng cho một thức ăn (ngôn ngữ cụ thể), trong đó có hướng dẫn
chi tiết về cách chuẩn bị thức ăn đó. Ngữ pháp phổ quát giống như nhà bếp
mà mọi sách dạy nấu ăn đều dùng, nơi có những dụng cụ chung để nấu những
thức ăn khác nhau. Như thế, Ngữ pháp phát sinh liên quan đến cấu trúc đặc trưng
của từng ngôn ngữ, còn Ngữ pháp phổ quát là những nguyên tắc chung mà
mọi ngôn ngữ đều dựa vào. Thế nên ở trên Chomsky nói rõ – Ngữ
pháp Port-Royal giống với ngữ pháp phát sinh nhưng không với ngữ pháp phổ quát,
vì cả hai đều tập trung vào việc phát sinh ra những quy luật chính thức để giải
thích cách những câu được xây dựng trong một ngôn ngữ cụ thể. Cả hai đều có mục
đích khám phá những nguyên tắc cơ bản phát sinh ra những câu đúng ngữ pháp,
thay vì chỉ mô tả cách dùng ngôn ngữ. Ngược lại, ngữ pháp phổ quát giải quyết
những nguyên tắc rộng hơn, bẩm sinh, có chung trong tất cả những ngôn ngữ của
con người, vốn không phải là quan tâm chính của Ngữ pháp Port-Royal.
[25]
[Menston, England: Scolar Press Limited, 1967.]
[26]
“A man is wise” (hoặc “ a person
is wise” ) ám chỉ một cá nhân số ít. Điều này không ngụ ý rằng tất cả đàn ông
(hoặc tất cả mọi người) đều khôn ngoan, mà đúng hơn là thể hiện ý tưởng về một
cá nhân là khôn ngoan. Đây là một mệnh đề cụ thể và hạn chế hơn.” Men are wise”
ám chỉ một câu nói số nhiều, khái quát
cho rằng tất cả đàn ông (hoặc tất cả mọi người) đều sở hữu phẩm chất khôn
ngoan. Đây là một tuyên bố phổ quát về một nhóm, ngụ ý rằng sự khôn ngoan được
áp dụng rộng rãi. Câu phát
biểu có nghĩa là khi ai đó nói, “a wise man is honest / Một người khôn ngoan thì trung thực”, họ không tuyên bố (hoặc khẳng định)
một cách rõ ràng những sự thật tổng quát rằng “men are wise /những người thì khôn ngoan” hoặc “ men are honest / những người là trung thực” . Thay vào đó,
những ý tưởng này (“ “ a man is wise” and “ a man is honest” / một người
là khôn ngoan” và “ một người là trung
thực” ) là một phần của khuôn khổ khái niệm cơ bản—hoặc cấu trúc sâu—hỗ trợ ý
nghĩa của câu. Nói cách khác, những mệnh đề này là một phần của biểu diễn tinh
thần về ý nghĩa của câu, nhưng chúng không được nêu hoặc khẳng định trực tiếp
trong cấu trúc bề mặt (câu theo nghĩa đen khi nói hoặc viết).
[27] Lý
thuyết về dấu chấm lửng (ba chấm) của Francisco Sanctius, phát triển trong Minerva
(1587), lập luận rằng ngôn ngữ tự nhiên bỏ qua một số yếu tố nhất định, như
động từ hoặc chủ ngữ, khi ý nghĩa của chúng rõ ràng từ ngữ cảnh. Điều này làm
cho truyền thông giao tiếp hiệu quả hơn và trôi chảy hơn. Lý thuyết của ông tập
trung vào tiếng Latin, nơi dấu ba chấm phổ biến, đặc biệt là trong những bản
văn cổ điển, thường bỏ qua những từ như “esse/to be/thì/là” hay “ire/to go/đi” khi
chúng có thể được suy ra.
[28] Thành
tố và đơn vị ngôn ngữ (từ, cụm từ, cấu trúc ngữ pháp)
[29] sự
phát triển hoặc tiến hóa chi tiết của từng dạng thức ngôn ngữ cụ thể theo thời
gian