Friday, August 9, 2019

Lange – Lịch Sử Triết Học Duy Vật (06)

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC DUY VẬT
Và Phê Bình về Sự Quan Trọng Hiện nay Của Nó

Friedrich Albert Lange
(1829 1875)







Phần Thứ Hai.
Giai Đoạn Chuyển Tiếp

Chương I.
Những tôn giáo tin-chỉ-một-gót trong quan hệ của chúng với tư tưởng Duy vật.

Sự biến mất của văn minh thời cổ trong những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Kitô là một biến cố có những vấn đề nghiêm trọng của nó, trong phần lớn vẫn còn chưa được giải thích.

Theo dõi những biến cố phức tạp của Đế quốc Rome trong tất cả phạm vị mở rộng của chúng, và thấu hiểu những sự kiện quan trọng, là điều đã đủ khó khăn; nhưng thật còn khó khăn hơn nhiều, đến không thể so sánh, để ước tính trong phạm vi đầy đủ của chúng, những hoạt động của những thay đổi, dẫu nhỏ nhưng vô tận, đã nhân lên bội phần, trong diễn tiến hàng ngày của những quốc gia, giữa lòng của những tầng lớp xã hội thấp kém hơn, bên bếp lửa những gia đình nghèo khó, cho dù ở thành thị hay thôn quê. [1]

Tuy thế, ít nhất với rất nhiều vững chắc, rằng từ chỉ một mình tầng lớp dân chúng trung lưu và thấp hơn này, cuộc cách mạng lớn lao này thì giải thích được.

Thật không may, chúng ta đã từng quen để nhìn điều đã gọi là luật, vốn chi phối sự phát triển của triết học như một sức mạnh làm việc bí ẩn khác thường, vốn nó tất yếu đưa chúng ta từ ánh sáng của kiến thức về lại trong đêm tối của sự mê tín, chỉ để bắt đầu lại diễn tiến của nó, từ đó dưới những hình thức mới hơn và cao hơn. Nó là với sự thúc đẩy này của sự phát triển quốc gia cũng như nó là với sức mạnh sống động của những sinh vật. Nó là ở đó – nhưng có chỉ như kết quả của tất cả những sức mạnh tự nhiên. Để giả định nó, thường xuyên giúp những quan sát của chúng ta; nhưng nó phủ lên tấm màn không chắc chắn của chúng, và dẫn đến những sai lạc, nếu chúng ta đặt nó xuống như một giải thích thêm vào bên cạnh của những những yếu tố với tổng số của nó, nó thì thực sự giống hệt nhau.

Cho ý định của chúng ta, là tốt để giữ trong đầu rằng sự thiếu hiểu biết không thể là kết quả thực sự của kiến ​​thức, hay thất thường tuyệt vời là kết quả của phương pháp; rằng tư tưởng duy lý thì không, và không bao giờ có thể chính nó, dẫn chúng ta trở lại sự mê tín. Chúng ta đã thấy như thế nào trong thời cổ, ở giữa tiến bộ của tư tưởng duy lý, về kiến ​​thức, về phương pháp, tầng lớp quý tộc trí thức đã tách xa khỏi quần chúng. Sự thiếu vắng một nền giáo dục hoàn toàn phổ thông đã phải đẩy nhanh và làm sâu thêm sự phân tách này. Chế độ nô lệ, vốn nó trong một ý hướng, là cơ bản của toàn bộ văn minh trong thời cổ, đã thay đổi tính chất của nó trong thời đế quốc, và đã trở nên chỉ ngày càng thêm khó có thể duy trì hơn, vì những nỗ lực đã làm để nhằm cải thiện cơ chế nguy hiểm này. [2]

Giao dịch ngày càng tăng của những quốc gia đã bắt đầu tạo ra, giữa khối dân chúng mê tín, có tin tưởng và sùng mộ thái quá những hữu thể siêu nhiên, một sự hoang mang lẫn lộn của những tôn giáo. Chủ nghĩa thần bí phương Đông đã úp mở che dấu chính nó trong những hình thức Hellas. Tại Rome, khi từ những quốc gia bị chinh phục đã đổ xô đến, chẳng mấy chốc, không có tín ngưỡng nào đã không tìm được những tín đồ, trong khi không có một tín ngưỡng nào đã không bị đa số dân chúng chế nhạo. Đối với sự cuồng tín của vô số u mê đã bị phản đối – hoặc bởi một sự khinh miệt nhẹ dạ hoặc một sự thờ ơ lãnh đạm: sự hình thành của những phe phái đậm nét rõ ràng, có kỷ luật vững chắc, giữa sự phân chia phổ quát của những quyền lợi ở giữa những tầng lớp thượng lưu, đã trở nên không thể được.

Tới một mức độ như vậy, đã mở một đường xuyên qua sự phát triển đáng kinh ngạc của văn chương, qua những nghiên cứu linh tinh về những tinh thần không chính thức, qua giao tiếp hàng ngày, đã loại bỏ những mảnh vụn của những khám phá khoa học và tạo ra tình trạng đó của văn hóa bán khai [3] vốn đã từng được tuyên bố, có lẽ với ít lý do hơn, để đặc trưng cho thời của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta phải đừng quên rằng văn hóa bán khai này đã chủ yếu là tình trạng của giới giàu có và quyền lực, của những con người có ảnh hưởng đến tận ngôi hoàng đế. Sự huấn luyện xã hội đầy đủ nhất, những nét xã hội thanh lịch trong đòi hỏi lớn rộng của công việc giao tiếp, trong một nghĩa triết học, chỉ quá thường thống nhất với những thiếu sót đáng thương nhất, và những nguy hiểm vốn được gán cho những học thuyết của những triết gia có khuynh hướng để trở nên chỉ quá thực trong những nhóm người đó, ở đó văn hóa bán khai, phi nguyên tắc, mềm mỏng dễ uốn nắn là một nô lệ của những khuynh hướng bản năng tự nhiên hay những đam mê bệnh tật rối loạn.

Khi Epicurus, với một nhiệt tình cao cả, đã ném đi thật xa những gông xiềng của tôn giáo, rằng ông có thể là chính trực và cao thượng, vì là như thế đã là một thích thú lớn, ở đó đã đi đến những ưa chuộng hoang đàng này của khoảnh khắc, như chúng được Horace, Juvenalis và Petronius [4] hình dung trong sự đa dạng phong phú, những người, với trâng tráo không xấu hổ, đã lao vào trong những hình thức phản tự nhiên nhất của thói hư tật xấu; và ai đã ở đó để bảo vệ Triết học đáng thương, khi những kẻ phóng đãng truỵ lạc loại như vậy đã nhân danh của Epicurus, nếu quả thực họ đã không nhân danh của Solomon ? [5]

Sự khinh miệt của tin tưởng phổ thông ở đây đã được giả định như một mặt nạ cho sự trống rỗng bên trong, hoàn toàn thiếu vắng của tin tưởng và của kiến ​​thức thực sự. Để cười mỉm trước ý tưởng về bất tử là một dấu hiệu của vô đạo đức: nhưng thói hư tật xấu, vô đạo đức, đã do những hoàn cảnh của thời đại, và đã nổi lên không qua, nhưng bất chấp triết học.

Và trong chính những tầng lớp những nhà tu của (tôn giáo thờ) Isis này[6] , những người làm bùa phép thần thông, và những nhà tiên tri, với đoàn tàu đầy lừa bịp múa rối của họ, đã tìm được một mùa gặt sung mãn; không, đôi khi ngay cả những người Jew đã tìm được một người mới theo đạo. Đám đông hoàn toàn vô học trong những thị trấn đã có chung tính cách của sự thiếu tính cách với sự quan trọng trong văn hóa bán khai của họ. Do đấy, đã xảy ra, sau đó, trong những thời đó, trong nở rộ trọn vẹn nhất, rằng tư tưởng Duy vật thực tiễn, như nó có thể được gọi – là tư tưởng Duy vật của đời sống.

Về điểm này, cũng vậy, những khái niệm thịnh hành đòi hỏi một giải thích. Cũng có một tư tưởng Duy vật của đời sống, vốn bị một số đông rủa sả, nhưng số đông khác đề cao, bên cạnh bất kỳ khuynh hướng thực tiễn nào khác, vẫn liều lĩnh để cho thấy mặt của nó. [7]

Khi nỗ lực hướng tới không phải sự vui thú nhất thời, nhưng tới một sự toàn thiện thực của điều kiện sống của chúng ta; khi năng lượng của công trình vật chất được một tính toán rõ ràng hướng dẫn, vốn trong tất cả mọi sự vật việc có những nguyên tắc sau cùng trong quan điểm, và do đó đạt đến mục tiêu của nó; khi đó xảy ra ở đó sự tiến bộ khổng lồ vốn trong thời chúng ta đã làm England trong hai trăm năm trở thành một dân tộc hùng mạnh, vốn trong Athens của Perikles đã kết hợp với sự nở bừng cao nhất của đời sống trí thức vốn bất kỳ một đất nước nào đã từng đạt được.

Nhưng thuộc một tính cách hoàn toàn khác đã là tư tưởng Duy vật của Đế quốc Rome, vốn tự nó đã lập lại ở Byzantium, Alexandria và trong tất cả những kinh đô của Đế quốc. Ở đây việc tìm kiếm tiền bạc cũng đã chi phối vô số những đám đông rối trí bị lạc hướng, như chúng ta thấy trong những hình ảnh sắc nét của Juvenalis và Horace; nhưng đã thiếu những nguyên tắc lớn của sự nâng cao sức mạnh quốc gia, của việc sử dụng cho lợi thế chung của những tài nguyên quốc gia, vốn làm cao thượng một khuynh hướng duy vật, vì mặc dù chúng bắt đầu từ vật chất, thế nhưng chúng pha trộn dậy men nó với sức mạnh. Điều này sẽ kết quả trong tư tưởng Duy vật của thịnh vượng: Rome đã biết tư tưởng Duy vật của suy đồi. Triết học thì tương hợp với điều đầu tiên, vì với tất cả những gì có những nguyên tắc; triết học biến mất, hay đúng hơn đã biến mất xong rồi, khi những sự vật việc kinh hoàng đó xảy ra, về chúng ở đây chúng ta sẽ giữ để không nói gì cả.

Tuy nhiên, chúng ta phải trỏ vào một sự kiện không thể chối cãi, rằng trong những thế kỷ khi những ghê tởm của một Nero, một Caligula, hay ngay cả của một Heliogabalus, đã làm ô nhiễm địa cầu, không triết học nào đã bị lãng quên hơn, không triết học nào đã xa lạ hơn với tinh thần của thời đại, hơn là so với của tất cả những gì đã đòi hỏi sự tính toán cân nhắc nhất, suy ngẫm bình tĩnh nhất, điều tra tỉnh táo và thuần túy thông thường dung tục nhất – triết lý của Democritus và Epicurus.

Thời của Perikles đã là thời nở rộ của triết học duy vật và duy cảm của thời cổ: những thành quả của nó đã chín mùi trong thời kỳ của sự học tập ở Alexandria, hai trăm năm trước Christ. [8]

Nhưng khi quần chúng dưới thời Đế quốc đã say sưa với nhiễm độc gấp đôi của thói hư tật xấu và của những huyền bí tôn giáo, không tìm thấy được người học trò tỉnh táo nào, và triết học đã chết. Trong những thời đó, như mọi người đều biết, những hệ thống Plato-Mới và Pythagore-Mới chiếm ưu thắng, trong đó nhiều yếu tố cao quí hơn của quá khứ đã bị cuồng tín và thần bí phương Đông áp đảo. Plotinus đã cảm thấy xấu hổ vì ông có một cơ thể, và sẽ không bao giờ nói ra tên cha mẹ mình [9]. Ở đây, chúng ta đã có rồi đỉnh cao của khuynh hướng phản-Duy vật trong triết lý – một yếu tố vốn đã vẫn đã còn mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực vốn nó thuộc về đích thực – lĩnh vực của Tôn giáo. Chưa bao giờ những tôn giáo nảy nở với sự xa xỉ hoang đàng như thế và trong trạng thái muôn màu muôn vẻ lớn rông như vậy, từ những dạng thức thuần khiết nhất đến ghê tởm nhất, như trong ba trăm năm đầu tiên sau Christ. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi ngay cả những triết gia thời này cũng thường xuất hiện như những nhà tu và những ông tổ truyền đạo. Chủ nghĩa Stôic, học thuyết của nó đã tự nhiên có một bước ngoặt về gót học, đầu tiên nhường theo khuynh hướng này, và do đó đã được kính trọng lâu dài nhất trong những trường phái cổ hơn, cho đến khi nó bị thua cuộc và bị những huyền bí khổ hạnh của phái Plato-Mới thay thế. [10]

Người ta thường nói rằng sự hoài nghi và mê tín đẩy mạnh và kích thích lẫn nhau; nhưng chúng ta phải đừng cho phép chính mình bị những phản đề làm lóa mắt. Chỉ bằng cách cân nhắc những nguyên nhân cụ thể và bằng sự phân biệt gay gắt về thời gian và hoàn cảnh, chúng ta mới có thể thấy nó đúng đến mức nào.

Khi một hệ thống khoa học nghiêm ngặt, dựa trên những nguyên tắc vững chắc, trên những cơ sở được xem xét tốt loại trừ lòng tin tôn giáo khỏi khoa học, nó sẽ chắc chắn nhất, và ngay cả hoàn toàn hơn, loại trừ tất cả những mê tín mập mờ mơ hồ. Tuy nhiên, trong những thời và trong những trường hợp, trong đó những nghiên cứu khoa học đều cũng rối loạn và vô tổ chức như những hình thức của lòng tin tôn giáo quốc gia và nguyên thủy, mệnh đề này quả thực có áp dụng của nó. Như thế đã là trong những thời đế quốc.

Trong sự thực, khi đó, đã không có khuynh hướng, không cần sự sống vốn đã không có một hình thức tôn giáo tương ứng; nhưng bên cạnh những lễ hội bừa bãi của những tín đồ) Bacchus, những bí ẩn bí mật và quyến rũ của Isis, đã âm thầm lan rộng, ngày càng rộng và rộng hơn, lòng thương yêu của một chủ nghĩa khổ hạnh nghiêm khắc và tự phủ nhận.

Như trong trường hợp những cá nhân trở nên cuồng nhiệt và say mê sau khi cạn kiệt mọi thú vui, cuối cùng, một nét quyến rũ của sự mới lạ còn lại – đó là của một đời sống khắc khổ, tự phủ nhận; nó đã như thế trên một quy mô lớn trong thế giới cổ; và do đó, nó chỉ là điều tự nhiên rằng khuynh hướng mới này, như nó đã là, trong trái ngược hoàn toàn với sự gợi cảm vui vẻ của thế giới cổũ, dẫ dẫn con người đến một cực đoan của khước từ-thế giới và tự-quên mình.[11]

Đạo Kitô, với học thuyết quyến rũ tuyệt vời của nó về vương quốc không thuộc về thế giới này, đã dường như để cung cấp sự ủng hộ đáng thán phục nhất cho những quan điểm này.

Tôn giáo của những kẻ bị áp bức và nô lệ, của những người mệt mỏi và nặng gánh đời, cũng thu hút những người quyền quí thôi không hài lòng với xa hoa và giàu có. Và như thế, với nguyên tắc của tự-chối bỏ đã đồng minh với nguyên tắc của tình huynh đệ phổ quát, vốn chứa đựng những thích thú tinh thần mới cho con tim đã khô héo vì lòng ích kỷ. Khát khao của tinh thần lang thang và cô lập sau một gắn kết chặt chẽ của cộng đồng và một tin tưởng tích cực đã được thỏa mãn; và sự gắn kết vững chắc của những người chung tin tưởng, sự hợp nhất hùng vĩ oai nghiêm của những cộng đồng đang đâm nhánh lan tràn khắp trên thế giới lớn rộng, đã tác động đến việc truyền bá tôn giáo mới nhiều hơn khối phép lạ đã thổ lộ đến những tai nghe sẵn lòng tin tưởng. Nói tóm lại, phép lạ không quá nhiều như một khí cụ truyền giáo nhưng như một sự bổ sung cần thiết của lòng tin, trong một thời vốn nó đã không đặt thước đo nào cho thương yêu của nó hay tin tưởng của nó vào những phép lạ. Về mặt này, đã không chỉ những nhà tu của Isis và những nhà huyền thuật cạnh tranh với đạo Kitô, nhưng ngay cả những triết gia cũng xuất hiện trong tính cách của những người làm phép lạ và những nhà tiên tri được ‘Gót cho phép’. Những chiến công của một Cagliostro và Gassner [12] trong thời hiện đại đều chỉ là một sao chép mờ nhạt của những trình diễn của Apollonius người thành Tyana [13], nhà tiên tri nổi tiếng nhất, có phép lạ và sấm truyền được ngay cả Lucian và Origen đã một phần tin tưởng. Nhưng kết quả của tất cả những sự vật việc này đã cho thấy rằng chỉ những nguyên tắc đơn giản và nhất quán mới có thể làm nên một phép lạ lâu dài – ít nhất là phép lạ đó, dần dần hợp nhất những quốc gia rải rác và tín ngưỡng quanh bàn thờ của những người Kitô. [14]

Đạo Kitô, bằng rao giảng ‘phúc âm’ cho người nghèo, đã không quan tâm đến thế giới thời cổ. [15] Những gì sẽ xuất hiện trong vẹn toàn của thời gian là một sự kiện thực tế, tinh thần của lòng tin đã bắt nhận trong trí tưởng tượng – vương quốc của thương yêu, trong đó ‘nhiều người hiện ở địa vị cao sẽ bị đem xuống chỗ thấp nhất, còn nhiều người hiện ở địa vị thấp nhất sẽ được mang lên chỗ cao nhất.” [16]. Ý tưởng pháp lý nghiêm khắc của người Rome, xây dựng trật tự trên vũ lực, và đã làm gia sản thành nền tảng bất biến của những quan hệ con người, đã được đáp ứng bởi một đòi hỏi, với sức nặng đáng kinh ngạc, rằng người ta nên từ bỏ mọi yêu sách riêng tư, nên yêu những kẻ thù của mình, hy sinh kho báu của mình, và coi kẻ gian ác bất lương trên giàn treo cổ hay thiêu sống ngang với chính bản thân mình.

Một kính sợ thần bí về những học thuyết này đã chiếm đoạt thế giới thời cổ, [17] và những người có quyền lực đã hoài công để tìm cách dập tắt một cách mạng bằng những đàn áp tàn khốc, vốn nó đã lật đổ tất cả những sự vật việc hiện có, và đã cười không chỉ với nhà tù và giàn treo cổ, mà ngay cả với tôn giáo và luật pháp. Trong táo bạo của sự tự cứu rỗi mà một người phản bội đạo Jew, người đã chịu khổ hình để chết như một nô lệ, đã đem xuống từ trời cao như một quà tặng ân phước của người ‘Cha vĩnh cửu’, giáo phái này đã chinh phục đất nước sau đất nước kia, và đã có thể, trong khi bám chặt những nguyên tắc chính của nó, từng chút một để ép đẩy vào trong tận dụng của sự sáng tạo những ý tưởng mê tín dị đoan mới, những khuynh hướng cảm xúc mới, những đam mê và những khái niệm pháp lý mới về thế giới phàm tục của những người ngoại đạo, vì chúng không thể bị phá hủy hoàn toàn. Chốn của những gót Olympus cũ, với giàu sang của huyền thoại, đã bị những thánh chiên và tử đạo Kitô chiếm giữ. Thuyết Kiến thức Bí truyền [18] cấu thành những yếu tố của một triết lý Kitô. Những trường phái Kitô về tu từ học đã được mở ra cho tất cả những ai là người tìm cách kết hợp văn hóa cổ với tin tưởng mới. Từ kỷ luật đơn giản và khắc khổ của hội Nhà thờ buổi đầu đã phát triển những yếu tố của một hệ thống trật tự thứ bậc. Những thày chăn chiên cấp tỉnh đã gom góp tài sản cho chính họ và sống một đời kiêu ngạo và phàm tục; đám khố rách áo ôm của những thành phố lớn trở nên say sưa với sự thù hận và cuồng tín. Sự chăm sóc cho người nghèo đã biến mất, và người giàu có bằng cho vay nặng lãi đã bảo vệ tiền của bất lương của họ bằng một hệ thống cảnh sát. Những lễ hội nhanh chóng giống như nhau trong sự bừa bãi và phô trương của những người theo chủ nghĩa phàm tục đang băng hoại, và lòng kính tín của sự tân hiến trong sự dâng trào của những cảm xúc rối loạn đã hiện ra nhất quyết phá hủy những mầm sống của tôn giáo mới. Nhưng nó đã không bị phá hủy như thế. Đấu tranh chống lại những sức mạnh đến từ bên ngoài, nó làm theo cách của nó. Ngay cả triết học cổ, vốn từ những nguồn gốc mập mờ của chủ nghĩa Plato-Mới, đã đổ vào trong thế giới Kitô, cũng phải tự thích nghi với đặc tính của tôn giáo này; và trong khi xảo quyệt, phản bội và tàn ác đã giúp thiết lập nhà nước Kitô – bản thân nó là một mâu thuẫn – ý nghĩ về sự kêu gọi bình đẳng của tất cả mọi người đối với sự hiện hữu cao hơn vẫn là nền tảng của sự phát triển phổ biến hiện đại. Vì vậy, Scherer nói, là sự thay đổi thất thường và sự lừa đảo của loài người, một trong những phương tiện qua đó Thần linh đã phát triển một đời sống mới từ những tàn tích của thế giới thời cổ. [19]

Bây giờ trở thành nhiệm vụ của chúng ta để xem xét uy lực của đem ra thể hiện nguyên lý Kitô đã phải tác động trên lịch sử của tư tưởng Duy vật, và với việc này, chúng ta sẽ liên kết với suy nghĩ cân nhắc về đạo Juda và Islam, vốn tôn giáo sau có sự quan trọng đặc biệt.

Những gì ba tôn giáo này có chung là lý thuyết Tin-chỉ-một-gót [20].

Khi con người trần gian nhìn mọi sự vật việc như đầy thần linh, và đã có thói quen với việc xem xét, giải quyết mọi sự kiện cá nhân riêng lẻ như thuộc lĩnh vực đặc biệt của một vài uy lực siêu nhiên thường là tai ác nào đó, những khó khăn vốn như thế vốn chống đối lại một giải thích duy vật về vũ trụ thì cũng gấp ngàn lần như đoàn ngũ lớp lang của những cộng đồng tin tưởng thần linh. Nếu một người tìm tòi nào đó đã nghĩ ra được ý tưởng lớn lao của việc giải thích mọi sự vật việc vốn xảy ra từ tất yếu, từ sự thống trị của những luật tự nhiên, và từ một vật chất vĩnh cửu mà hành vi vốn có vận hành chi phối bởi những quy luật, thì không còn có hòa giải nào nữa với tôn giáo. Do đó, gắng thử buộc vào Epicurus về hòa giải thì chỉ là một gắng sức yếu ớt, và những triết gia đó, những người đã phủ nhận sự hiện hữu của những gót, sự là-có của những thần thánh, đều đã là nhất quán hơn. Nhưng những người theo thuyết tin-chỉ-một-gót giữ một vị trí khác biệt trong quan hệ với khoa học. Chúng ta nhìn nhận rằng ngay cả lý thuyết Tin-chỉ-một-gót cũng thú nhận một cách giải thích thấp và nhạy cảm, trong đó mọi sự kiện cụ thể thì đều lại được quy gán cho hoạt động đặc biệt và địa phương của Gót trong kiểu thức mang tính dạng con người. Và điều này thì có thể có được hơn vì mọi con người tự nhiên chỉ nghĩ về bản thân và môi trường quanh mình. Ý tưởng về sự toàn năng vẫn chỉ là một công thức trống rỗng, và người ta lại thực sự có một bội số của những than thánh, với điều kiện ngầm rằng chúng ta sẽ quan niệm tất cả họ là một và như nhau.

Từ chỗ đứng này, vốn đặc biệt như tín ngưỡng của người thợ đốt lò than, khoa học vẫn cũng không thể có được như trong trường hợp của tín ngưỡng phàm tục.

Chỉ khi chúng ta có một lý thuyết cởi mở rộng rãi về sự dẫn đạo hài hòa của một Gót với toàn bộ vũ trụ của những sự vật việc, thì sự liên hệ nhân quả giữa những sự vật việc quả thực không chỉ có thể hiểu được, nhưng trong thực tế, là một hệ quả tất yếu của lý thuyết. Vì nếu tôi thấy bất cứ nơi nào, hàng ngàn với hàng ngàn những bánh xe trong chuyển động, và nếu giả định rằng đã có một ai đó là người có vẻ đã điều khiển tất cả, tôi tất bị buộc phải giả định rằng có trước mặt tôi là một guồng máy trong đó những chuyển động của tất cả những bộ phận nhỏ nhất đều đã được ấn định không thể thay đổi bởi kế hoạch của toàn bộ. Nhưng nếu tôi giả định điều này, sau đó tôi phải có khả năng để tìm ra cấu trúc của guồng máy, ít nhất là phần nào, để hiểu sự làm việc của nó, và như thế, một đường lối qua đó được mở ra, để khoa học có thể tự do bước vào.

Vì chính lý do này, những phát triển có thể tiếp diễn hàng trăm năm và làm giàu có cho khoa học với vật liệu tích cực, trước khi cần phải giả định rằng guồng máy này là của một trạng thái trong đó có chuyển động vĩnh viễn. [21] Nhưng một khi đã được xem xét thỏa thê, kết luận này phải xuất hiện với sức nặng của những sự kiện bên cạnh chúng, bộ máy của những Sôphít cũ hiện ra hoàn toàn yếu đuối và không đầy đủ với chúng ta.

Và do đó, ở đây chúng ta có thể so sánh sự lên men của thuyết Tin-chỉ-một-gót với một hồ nước to lớn, nó thu tập những dòng chảy tuôn tràn của khoa học lại với nhau, cho đến khi chúng đột nhiên bắt đầu phá vỡ, vượt qua con đập.[22]

Nhưng sau đó đã đi đến được một tính chất mới tinh của thuyết Tin-chỉ-một-gót. Ý tưởng chính của Tin-chỉ-một-gót sở hữu một mềm mỏng dễ uốn nắn mang tính giáo điều và một sự nhập nhằng mơ hồ mang tính suy diễn so đo lợi lộc vốn đặc biệt sửa chữa thích ứng với nó, giữa những hoàn cảnh luôn biến đổi của văn minh, và trong những tiến bộ lớn lao nhất của văn hóa khoa học, để phục vụ như là sự chống đỡ của đời sống tôn giáo. Lý thuyết về một chỉnh đốn tái diễn hay qui định sắp đặt độc lập của vũ trụ, trong sự theo đuổi những quy luật vĩnh cửu, đã không, như có thể đã được dự kiến, ngay lập tức dẫn đến một sự đấu tranh chết sống giữa tôn giáo và khoa học; nhưng, ngược lại, đã nảy sinh một nỗ lực để so sánh sự liên hệ giữa Gót và thế giới như giữa thể xác và hồn người. Do đó, ba tôn giáo tin-chỉ-một-gót lớn, trong thời kỳ phát triển trí thức cao nhất của những môn đồ của chúng, có tất cả khuynh hướng ngả theo thuyết Tin-gót-là-khắp-cả. [23] Và ngay cả điều này liên quan đến sự thù địch với truyền thống; nhưng xung đột là rất xa với đấu tranh chết sống.

Chính là tín ngưỡng của Moses đã là đầu tiên của tất cả những tôn giáo để thai nghén ý tưởng về sáng tạo là một sáng tạo từ hư không. [24]


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Feb/2019)






[1] [A very valuable insight into the physiology of nations has been recently afforded us by the consideration of history from the standpoints of the natural sciences and of political economy, and the light thus kindled extends into the poorest hovels; yet it shows us only one side of the matter, and the changes in the intel’ lectual condition of peoples remain still covered with darkness, so far as they cannot be explained from the social changes. Liebig’s theory of the exhaustion of the soil has been carried by Carey (Principles of Social Science, vol. i. chaps, iii. ix., vol. iii. chap, xlvi., &c.) to wrong and exaggerated conclusions, and been fused with entirely absurd doctrines (comp. my essay, Mill’s Ansichten uber die sociale Frage u. d. angebl. Umwalzung der Socialwissensch.durch Carey, Duisb. H1866), but the correctness of this theory in its main features, and its applicability to the civilisation of the old world, cannot be doubted.
The corn-exporting provinces must have gradually become poor and depopulated, while around Rome, and likewise about the subordinate centres, wealth and population led to the most forced system of agriculture, in which heavily-manured and carefully cultivated little gardens produced richer results in fruit, flowers, &c., than extensive holdings in distant neighbourhoods. (Comp. Eoscher, Nationalokon. des Ackerbaus, § 46, where it is said, inter alia, that single, fruit-trees in the vicinity of Rome produced as much as £1$ yearly, while wheat in Italy for the most part produced only fourfold, because only inferior soils were devoted to the growing of wheat.) But the whole concentrated economy of the rich commercial centre is not only more sensitive to blows from without than the economy of a country in more moderate circumstances, but it is also dependent upon the productiveness of the circle which delivers to the centre the indispensable necessaries of life. The devastation of a fertile country by war, even though it is accompanied by a decimation of its inhabitants, is speedily compensated by the efforts of nature and of man; while a blow inflicted upon the capital, especially if the resources of the provinces are already diminishing, very easily produces complete ruin, because it hampers the entire system of commercial exchange at its centre, and so suddenly annihilates the exaggerated values enjoyed and created by luxury. But even without such blows from without, the fall must have come with increasing acceleration, as soon as the pauperisation and depopulation of the provinces was so far gone that, even by means of increased pressure, their contributions could no longer be kept up to their standard. The whole picture of this process would, so far as the Roman Empire is concerned, be much more clearly displayed to us, but that the advantages of a magnificent and powerfully maintained centralising process among the great emperors of the second century counterbalanced the evil, and, in fact, evoked a new period of material splendour at the very brink of the general downfall. It is upon this last brilliant display of the ancient civilisation, the benefits of which fell, of course, for the most part, to the towns and to certain favoured tracts of country, that the favourable picture chiefly rests which Gibbon draws of the condition of the Empire in the first chapter of the “History of the Decline and Fall of the Roman Empire.” It is evident, however, that the economic evil to which the Empire must ultimately succumb had already attained a serious development. A splendour which rests upon the accumulation and concentration of riches can very easily reach its climax if the means of accumulation are already beginning to disappear, just as the greatest heat of the day occurs when the sun is already setting.
Much earlier must the moral ruin appear in this great process of centralisation, because the subjection and fusion of numerous and utterly different peoples and races brings confusion not only into the specific forms of morality, but also into its very principles. Lecky shows quite rightly (History of European Morals from Augustus to Charlemagne, 1869, vol. i. p. 271 foll.) how the Roman virtue, so intimately fused, with the local patriotism of the early Romans and the native religion, must inevitably perish through the destruction of the old political forms, and the rise of scepticism and introduction of foreign cults. That the progress of civilisation did not substitute new and superior virtues — “gentler manners and enlarged benevolence” — in place of the old ones, is attributed to three causes: the Empire, slavery, and the gladiatorial games. Does this not involve a confusion of cause and effect? Compare the admirable contrast just before drawn by Lecky himself between the noble sentiments of the Emperor Marcus Aurelius and the character of the masses over whom he ruled. The individual can raise himself with the help of philosophy to ethical principles which are independent of religion and politics; the masses of the people found morality — and that still more in antiquity than in our own days — only in the connection, which had been taught in local traditions, and had become inseparable, of the general and the individual, of the permanently valid and the variable; and accordingly the great centralisation of the world-empire must in this sphere have exercised everywhere, alike amongst conquerors and conquered, a dissolving and disturbing influence. Where, however, is the “normal condition of society” (Lecky, loc. cit., p. 271) which could forthwith replace by new ones the virtues of the perishing social order? Time, above all things, and, as a rule, also the appearance of a new type of people, are needed for the fusion of moral principles with sensational elements and fanciful additions. And so the same process of accumulation and concentration which developed the ancient civilisation to its utmost point appears also as the cause of its fall. In fact, the peculiarly enthusiastic feature of the fermenting process from which mediaeval Christianity finally proceeded seems to find its explanation here; for it distinctly points to an overstraining of the nervous system by the extremes of luxury and abstinence, voluptuousness and suffering, extending through all classes of the population; and this condition, again, is merely a consequence of the accumulation of wealth, although, indeed, slavery lends to its consequences a specially disagreeable colouring. For the facts as to the accumulation in ancient Rome, see Roscher, Grundl. der IsTationalokon. § 204, and especially Anm. 10; for the senseless luxury of decaying nations, ibid., § 233 ff., as well as the essay on luxury in Eoscher’s ‘Ansichten der Volkswirthschaft aus geschichtl. Standptmkte.’ The influence of slavery has been specially pointed out by Contzen, Die Sociale Frage, ihre Geschichte, Literatur u. Bedeut. in d. Gegenw., 2te Aufl., Leipzig, 1873. Compare also the following note.]
[2] [Gibbon, Hist, of the Decline, &c., chap, ii., describes how the slaves, who had become comparatively cheaper since the Roman conquests, rose in value, and were better treated in consequence, with the falling off in the importation of prisoners of war, who in the times of the wars of conquest had often been sold by thousands at a very cheap rate. It became more and more necessary to breed slaves at home, and to promote marriages amongst them. By this means the whole mass, which had previously on every estate, often with the most careful calculation (see the letters of Cato in Contzen, loc. cit., S. 174), been composed of as many different nationalities as possible, became more homogeneous. To this was added the enormous accumulation of slaves on the large estates and in the palaces of the rich; and again, too, the important part played by the freedmen in the social life of imperial times. Lecky, loc. cit,, i. 318, rightly distinguishes three periods in the position of the slaves: the earliest, in which they were a part of the family, and were comparatively well treated; the second, in which their numbers were very largely increased, while their treatment grew worse; and finally, the third, which begins with the turning-points indicated by Gibbon. Lecky specially points out, too, the influence of the Stoic philosophy in the milder treatment of the slaves.
Slavery no longer reacted in this third period upon the civilisation of the ancient world by means of the dread of great servile wars, but did so, of course, by the influence which the subject class more and more exercised on the whole modes of thought of the population. This influence, one diametrically opposed to the ancient ideals, became especially marked with the spread of Christianity. Comp. as to this Lecky, Hist. Eur. Morals, ii. 66 foll.]
[3] Semi-cultutrre
[4] Petronius Arbiter (khoảng 27-66 CN): được coi là tác giả của Satyricon, thường được xem là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của văn học Latin.
Decimus Junius Juvenalisis, (khoảng 55–127 CN): nhà thơ trào phúng châm biếm Latin của Rome
[5] Nguyên văn: “claim that of the Porch”
[6] Isis: thần nữ, gốc từ tôn giáo cổ của Egypt, dần được thờ trong khắp thế giới Mediterranean ở thời kỳ văn minh Hellas, và đã trở thành một trong những tôn giáo chính của đế quốc Rome.
[7] [Mommsen, History of Rome, E. T., iv. 560 (chap, xii.), observes: “Unbelief and superstition, different hues of the same historical phenome pulled down, non, went in the Roman world of that day hand in hand, and there was no lack of individuals who themselves combined both — who denied the gods with Epikuros, and yet prayed and sacrificed before every shrine.” In the same chapter are some details as to the introduction of Oriental religions into Rome. “When the Senate (in 50 B.C.) ordered the temples of Isis constructed within the ring-wall to be pulled down, no labourer ventured to no labourer ventured to lay the first hand on them, and the consul Lucius Paullus was himself obliged to apply the first stroke of the axe. A wager might be laid that the more lax any woman was, the more piously she worshipped Isis.”
Compare further Lecky, Hist. Eur. Morals, i. 338 foll.]
[8] [It is therefore at once unfair and inaccurate when Draper, in his in many respects valuable “History of the Intellectual Development of Europe,” identifies Epikureanism with the hypocritical infidelity of the men of the world, to whom “society is indebted for more than half its corrupions” (vol. i. pp. 168, 169). Independent as Draper shows himself his final judgments and his whole mode of thought, there nevertheless appears in his account of Epikuros, and perhaps still more in the way in which he makes Aristotle an experience-philosopher, the obvious influence of erroneous traditions.]
[9] Plotinus, (205 - 270): triết gia, khuôn mặt có ảnh hưởng lớn, ở trung tâm của giới trí thức thế kỷ 3 ở Rome, ngày nay được xem như người sáng lập trương phái Plato-Mới. Theo Porphyry, Plotinus không bao giờ nhắc/nói về cha mẹ, giòng dõi, hay xứ sở quê quán.
[10] [Zeller, Phil. d. Griech., iii. i, S. 289, E. T. tr. Eeichel (= Stoics, &c.), p. 323: “ \In a word, Stoicism is not only a philosophic, but also a religious system. As such it was regarded by its first adherents, .. and as such, together with Platonism, it afforded in subsequent times, to the best and most cultivated men, a substitute for declining natural religion, a satisfaction for religious cravings, and a sup port for moral life, wherever the in fluence of Greek culture extended.” Lecky, Hist. Eur. Morals, i. 327, says of the Roman Stoics of the first two centuries: “On occasions of family bereavement, when the mind is most susceptible of impressions, they were habitually called in to con sole the survivors. Dying men asked their comfort and support in the last hours of their life. They became the directors of the conscience of niimbers who resorted to them for a solution of perplexing cases of practical morals, or under the influence of despondency or remorse.” For the extinction of the Stoic influence, and its supplanting by the Neo-Platonic mysticism, comp. Lecky, loc. cii., p. 337. Zeller, iii. 2, S. 381, observes: “Neo Platonism is a religious system, and it is so not merely in the sense in which Platonism and Stoicism may also be so described: it is not merely content to apply to the moral duties and spiritual life of man a philosophy starting from the idea of God, but nevertheless attained by a scientific method. But even its scientific view of the world reflects from first to last the religious disposition of man. and is thoroughly dominated by the wish to meet his religious needs, and to bring him into the most intimate per sonal communion with the Deity.”]
[11] [An account of this extreme, as it made itself specially felt after third century, is to be found in Lecky,the Hist. Eur. Morals, ii. 107 foll.]
[12] Count Alessandro di Cagliostro (1743–1795) nhà huyền học nổi tiếng người Italy. Johann Joseph Gassner (1727–1779): nhà tu Catô, người Germany, nổi tiếng với tài ‘trục quỉ ám’.
[13] Apollonius of Tyana (khoảng 1–97): triết gia phái Pythagoras-Mới, người Greece, thày dạy ẩn cư và khổ hạnh, người thực hiện những phép lạ. Giảng dạy và truyền thuyết về ông có ảnh hưởng trên tư tưởng khoa học và thuyết huyền bí hàng thế kỷ sau khi ông chết.
[14] [As to the spread of Christianity, compare the celebrated fifteenth chap ter of Gibbon, which is full of material for the estimation of this fact from the most varied standpoints. More correct views, however, are put forward by Lecky in his “History of European Morals,” and in the “History of Rationalism in Europe.” As the chief work on the theological side, may be named Baur, das Christen thura, u. die christliche Kirche der drei ersten Jahrhunderte. From the philosophico historical standpoint, E. von Lasaulx, der Untergang des Hellenismus u. die Einziehung seiner Tempelgliter durch die christl. Kaiser, Miinchen, 1854. For further literature, see in Ueberweg in the “History of the Patristic Philosophy,” a section of his history which unfortunately has not met with the approbation it deserves (comp. my Biographic TJeberwegs, Berlin, 1871, S. 21, 22). On the miracle -mania which marked this period, compare particularly Lecky, Hist, of Eur. Morals, i. 393. Also p. 395 as to miracle working philosophers: “Christianity floated into the Roman Empire on the wave of credulity that brought with it this long train of Oriental superstitions and legends.. .. Its miracles were accepted by both friend and foe as the ordinary accompaniments of religious teaching.”]
[15] [How much the influence of the Christian care for the poor was felt is shown by the remarkable fact that Julian ‘the Apostate,’ in his attempt to supplant Christianity by a philosophic Greek State religion, openly recognised the superiority of Christianity in this respect to the old religion. He recommended, accordingly, in order to rival the Christians in this respect, the establishment in every town of Xenodocheia, in which strangers should be received without respect to creed. For the maintenance of them, and also for distribution to the poor, he devoted con siderable sums of money. “For it is disgraceful,” he wrote to Arsacius, the high priest of the Galatians, ‘ ‘ that no one of the Jews begs, while the atheistic Galileans not only main tain their own poor, but also any whom we leave helpless.” — Lasaulx, Untergang des Hellenismus, S. 68.]
[16] Lời Jesus rao giảng với những người đi theo - Matthew 19:30
[17] [Compare Tacitus, Annals, xv. 44, where it is said that Nero laid the blame of the burning of Rome upon the Christians. He “inflicted the most exquisite tortures on a class hated for their abominations, called Christians by the populace. Christus, from whom’the name had its origin, suf fered the extreme penalty during the reign of Tiberius, at the hands of one of our procurators, Pontius Pilatus, and a most mischievous superstition, thus checked for the moment, again broke out, not only in Judaea, the first source of the evil, but even in Rome, where all things hideous and shame ful from every part of the world find their centre and become popular. Accordingly, an arrest was first made of all who pleaded guilty; then, upon their information, an immense multi tude was convicted, not so much of the crime of firing the city, as of hatred against mankind.” Their associating amongst themselves, together with their hatred of others, was frequently made a subject of reproach to the Jews also. Lasaulx, Untergang des Hellenismus, S. 7 foil., shows the internal necessity of this view of the Romans, and quotes similar judgments from Suetonius and the younger Pliny. In the same place, very accurate references to the intolerance (strange to Greeks and Romans alike) of the Monotheistic religions, amongst which Christianity particularly from the first took up an offensive attitude. Gibbon reckons as one of the chief causes of the rapid propagation of Christianity its intolerant zeal, and the expectation of another world. For the threatening of the whole human race with the everlasting torments of hell, and the influence of this threat upon the Romans, comp. Lecky, Hist. Eur. Morals, i. 447 foil.]
[18] Gnosticism: có nhiều nghĩa, ở đây là tin tưởng, nhấn mạnh hay đề cao rằng có một thứ kiến thức bí truyền (esoteric knowledge) trong tìm kiếm sự thật để được giải thoát khỏi thế giới này (vẫn dịch là thuyết ‘Ngộ đạo’)      
[19] [Schlosser, Weltgesch. f. d. deutsche Volk, bearb. v. Kriegk, iv. 426 Gesch. der Körner, xiv. 7).]
[20] Monotheism: vẫn dịch là Độc thần, tôi muốn rõ nghĩa hơn – nên cũng như những chỗ khác, trước đây - ‘Tin-chỉ-một-gót’.
[21] perpetuum mobile
[22] [This in modern times refers especially to the turning-point made by the popularising of Newton's system of the universe by Voltaire.]
[23] Pantheism
[24] creatio ex nihilo (nghĩa đen – sự sáng tạo vũ trụ từ không-gì), ngược lại với creatio ex materia (sáng tạo vũ trụ từ những gì đã có trước, từ vật chất vĩnh cửu vẫn luôn có đó - eternal matter; đa số những tôn giáo khác những tôn giáo Abraham) và creatio ex deo (sự sáng tạo từ bản thể của thần linh tối cao – như đạo Hindu)