Friday, June 7, 2019

Lange – Lịch Sử Triết Học Duy Vật (05)


LỊCH SỬ TRIẾT HỌC DUY VẬT
Và Phê Bình về Sự Quan Trọng Hiện nay Của Nó
Friedrich Albert Lange
(1829-1875)









CHƯƠNG V.

Bài thơ giảng dạy về Thiên nhiên của Lucretius


Giữa tất cả những dân tộc của thời cổ, không dân tộc nào, bởi bản chất, có lẽ đã khác biệt với những quan điểm duy vật hơn những người Rome. Tôn giáo của họ đã có những gốc sâu của nó trong sự mê tín; toàn bộ đời sống chính trị của họ bị những hình thái dị đoan hạn chế. Họ đã bền bỉ bám vào những tình cảm họ đã thừa hưởng; mỹ thuật và khoa học có rất ít quyến rũ với họ, và họ vẫn kém có khuynh hướng để vùi mình trong suy tưởng sâu xa về thiên nhiên. Một khuynh hướng thực tiễn, hơn bất kỳ dân tộc nào khác, đã chi phối cuộc sống của họ, và tuy điều này đã hoàn toàn không là vật chất, nhưng đã trước sau là tinh thần. Họ đề cao sự thống trị hơn sự giàu có, sự vinh hiển thay vì sự an nhàn, và chiến thắng nhiều hơn tất cả mọi sự việc. Những đức tính của họ đã không là của hòa bình, của doanh thương kỹ nghệ, của chính nghĩa, nhưng là của can đảm, của kiên cường, của tiết độ. Những tật xấu của Rome, ít nhất trong lúc đầu, đã không là của xa xỉ và hoang đàng, nhưng là của cứng rắn, tàn ác và không-tín ngưỡng. Sức mạnh trong tổ chức của họ, trong sự kết nối với tính chất hiếu chiến của họ, đã làm quốc gia thành vĩ đại, và về điều này, họ đã có ý thức tự hào. Hàng thế kỷ, sau lần đầu tiên tiếp xúc với Greece, đã vẫn tiếp tục có ác cảm đó vốn nảy sinh từ sự khác biệt trong những tính chất của họ. Chỉ sau khi đánh bại Hannibal, khiến mỹ thuật và văn học Greece dần dần đã tiến đường vào Rome. Đồng thời với sự xa xỉ và hoang đàng, với sự cuồng tín và vô đạo đức của những dân Asia [1] và Africa. Những quốc gia bị chinh phục chen chúc tới kinh đô mới của họ, và gây nên một hỗn độn về tất cả những yếu tố của đời sống Rome cũ, trong khi giới giàu có ngày càng có được một thẩm vị về văn hóa và nhục cảm tinh tế; những tướng lĩnh và thống đốc đã chiếm đoạt những tác phẩm nghệ thuật Greece; những trường phái triết học và hùng biện của Greece đã được mở, và thường thường lại bị cấm đoán: người ta đã sợ yếu tố hòa tan trong văn hóa Hellas, nhưng ngày càng ít có khả năng chống lại sự quyến rũ của nó. Ngay cả bản thân Cato-cao tuổi [2] cũng học tiếng Greece; và một khi ngôn ngữ và văn học đã phổ biến, ảnh hưởng của triết học đã không thể giữ bất động.

Trong những ngày cuối của Cộng hòa Rome, tiến trình này đã đến mức hoàn tất khiến mọi người Rome có giáo dục đều hiểu tiếng Greece, những nhà quý tộc trẻ đã theo học ở Greece, và những não thức giỏi nhất đã nỗ lực để hình thành văn học quốc gia dựa trên những mô hình Greece.

Vào thời điểm đó, trong số tất cả những trường phái triết học Greece, có hai phái đặc biệt thu hút những người Rome – phái những Stôic và phái những Epicurus: phái đầu tiên, với sự tự hào thẳng thắn về đức hạnh, liên quan tự nhiên với cá tính người Rome; phái thứ hai, phù hợp hơn với tinh thần của thời đại và tình trạng tiến bộ của họ, nhưng cả hai – và điều này đánh dấu cá tính người Rome – với khuynh hướng thực tiễn và hình thức giáo điều.

Những trường phái này, bất kể những tương phản sâu đậm của chúng, dù sao đi nữa đã có rất nhiều điểm chung, đã đi đến tiếp xúc thân thiện ở Rome hơn ở quê hương của chúng. Đúng rằng những vu khống không lường được về phái Epicurus, vốn những người phái Stôic đã được reo rắc không mệt mỏi kể từ Chrysippus [3], đã nhanh chóng cấy trồng vào Rome. Ở đó, cũng vậy, đám đông của những người xem một người phái Epicurus như một nô lệ của những ham muốn nhục dục của người ấy, và, với một chừng mức thiển cận gấp đôi, đã liều lĩnh để phủ nhận triết lý về tự nhiên của ông, vì đã không có những câu nói khó hiểu nào làm rào cản để bảo vệ nó.

Cicero cũng vậy, thật đáng tiếc, đã phổ biến học thuyết Epicurus trong ý hướng xấu của từ ngữ, và như thế đã ném một màu lố bịch lên trên nhiều những sự vật việc vốn biến mất khi chúng được lưu tâm nghiêm trang hơn. Nhưng với tất cả những sự việc đó, những người Rome đã hầu hết, là những người không chuyên môn, những kẻ tài tử đáng ngưỡng phục nhất, những người đã không quá bận tâm cho (có được) trường phái riêng của mình, nhưng rằng họ đã có khả năng để thẩm định những quan điểm đối nghịch. Sự an toàn của vị thế của họ trong thế giới, tính phổ quát của giao tiếp của họ, giữ cho họ thoát khỏi định kiến; và do đó, chúng ta tìm thấy những diễn tả, ngay cả trong Seneca, vốn đã đem cho Gassendi một vài thẩm quyền vì việc làm ông thành một người theo Epicurus. Brutus người theo Stôic và Cassius người theo Epicurus đã cùng nhau nhúng tay vào máu của Caesar. Nhưng cùng một khái niệm phổ biến và giả tạo này về học thuyết Epicurus, vốn trong Cicero xem dường rất bất lợi cho nó như thế, không chỉ làm cho tình bạn có thể tồn tại giữa triết học Epicurus và những trường phái khác biệt nhất, nhưng nó còn làm suy yếu tính chất của số lượng lớn hơn của những người Rome theo phái Epicurus, và như thế đem lại một nền tảng nhất định trong thực tế cho sự bài xích tổng quát. Ngay cả vào thời điểm văn hóa Hellas vẫn còn khá xa lạ với họ, những người Rome đã bắt đầu đổi chác sự khắc khổ thô lỗ của những cách thức cư xử nguyên sơ cho một khuynh hướng buông thả và bừa bãi, như chúng ta thường thấy trong trường hợp cá nhân, vốn đã không bị hạn chế nhiều hơn trong tỷ lệ với điều mới lạ của trạng thái tự do hơn của những sự vật việc. Sự thay đổi đã thành được đánh dấu rõ rệt sớm từ thời của Marius và Sulla. Người Rome đã trở thành những người duy vật thực tiễn, thường theo nghĩa rất tệ nhất của thuật ngữ này, trước khi họ đã học được lý thuyết.

Lý thuyết của Epicurus, tuy nhiên, trong mọi đường lối, đã tinh khiết và cao quý hơn so với sự thực tiễn của những người Rome này; và như thế, hai tiến trình bây giờ đã mở cho họ – hoặc là họ cho phép chính mình để được thanh tẩy, và trở nên khiêm tốn và ôn hòa, hoặc họ làm hỏng lý thuyết, và như thế kết hợp những khái niệm về những bạn hữu và những thù địch của nó, rằng họ đã kết thúc bằng có một lý thuyết của học thuyết Epicurus vốn tương ứng với những tập quán của họ. Ngay cả những bản chất cao quý hơn và những triết gia thông xuốt hơn đã nghiêng sang chịu nắm giữ bởi hình thức thuận tiện hơn này. Như thế, đã là với Horace [4] khi ông nói về mình như ‘một con lợn của bầy Epicurus’, rõ ràng là với sự mỉa mai vui vẻ, nhưng không trong ý nghĩa chân thực nghiêm trang và tỉnh táo của học thuyết Epicurus cổ. Và, trong thực tế, Horace không phải là không thường xuyên chỉ vào Aristippus người thành Cyrene như khuôn mẫu của ông.

Một thái độ chân thực nghiêm trang hơn là của Virgil [5], người có một thày dạy cũng thuộc phái Epicurus, nhưng đã thích ứng đặt vào những yếu tố sao chép của những hệ thống khác. Trong số tất cả những ‘triết gia một nửa’ này, một người thông xuốt và chân chính của trường phái Epicurus đứng không thay đổi là Titus Lucretius, người có bài thơ giảng dạy, ‘De Rerum Natura’, đã đóng góp nhiều hơn bất cứ gì khác, khi việc học được hồi sinh, để làm sống dậy học thuyết của Epicurus, và đã đặt nó trong ánh sáng thuận lợi hơn. Những nhà tư tưởng duy vật của thế kỷ trước đã nghiên cứu và yêu thích Lucretius, và đó là chỉ trong thời của chúng ta, lần đầu tiên, tư tưởng Duy vật dường như đã phá vỡ hoàn toàn khỏi những truyền thống cũ.

Titus Lucretius Carus sinh năm 99, và mất năm 55 TCN. Những gì được biết về cuộc đời ông thì rất hiếm hoi. Dường như giữa rối loạn của nội chiến, ông đã tìm một vài chỗ nương tựa cho đời sống nội tâm của ông, và đã thấy nó trong triết học của Epicurus. Bài thơ vĩ đại của ông đã được thực hiện để làm một chuyển đổi sang trường phái này của người bạn ông là nhà thơ Memmius. Sự nồng nhiệt, với nó ông chống lại sự cứu rỗi, được tìm thấy trong triết học của ông, với những khó khăn và hư vô của thời đại, đem cho công trình của ông một giọng cao nhã, một sự mãnh liệt của tin tưởng và tưởng tượng vượt cao trên sự thanh thản ngây thơ của đời sống một người phái Epicurus, và thường giả định có một động lực Stôic. Và tuy thế là một sai lầm, khi Bernhardy chủ trương trong ‘Văn học Rome’ của ông, rằng ‘từ Epicurus và những người phái Epicurus, Lucretius đã không lấy gì ngoài khung hình của một triết lý về tự nhiên.’ Điều này chứa một sự hiểu sai về Epicurus, vốn vẫn dễ thấy còn hơn trong diễn đạt sau đây của nhà ngữ văn nổi tiếng:

“Quả thực, Lucretius dựng trên nền tảng của tự nhiên cơ giới này, nhưng vì ông đã bận tâm để cứu lấy quyền tự do cá nhân và sự độc lập của tất cả những truyền thống tôn giáo, ông tìm để giới thiệu kiến ​​thức vào trong thực hành, để con người tự do, và để đặt con người trên hai chân của riêng mình, bằng cái nhìn sâu xa vào trong nguồn gốc và bản chất của sự vật việc.”

Chúng ta đã từng thấy rằng sự gắng sức theo đuổi sự giải phóng là chính cốt tuỷ của hệ thống tư tưởng Epicurus. Trong phát biểu nông cạn của Cicero, điều này thực sự đã bị bỏ lại phía đằng sau ; nhưng không là vô ích Diogenes Laertius [6] đã giữ lại cho chúng ta trong tiểu sử tốt nhất của ông những lời của chính Epicurus, vốn là cơ bản của quan điểm chúng ta đã được đem cho. [7]

Nhưng nếu có bất cứ gì đã thu hút Lucretius đến với Epicurus và gây hứng khởi cho ông với nhiệt tình háo hức này, thì nó là chính sự táo bạo và sức mạnh đạo đức này, với nó Epicurus đã cướp đi của những tin tưởng thần thánh những ngòi châm đốt độc hại của chúng, ngõ hầu đặt đạo đức trên một nền tảng không thể lay chuyển tấn công được. Điều này được Lucretius cho thấy đủ rõ ràng, vì ngay sau phần giới thiệu thơ ca tuyệt vời với Memmius, ông tiếp tục:

‘Khi sự sống con người nhìn đặt nằm phục xấu xa và nhục nhã xuống mặt đất, bị sức nặng của tôn giáo nghiến nát, người đã cho thấy đầu của nàng từ bốn góc trời với khía cạnh gớm ghiếc hạ thấp trên những người phàm, một người của xứ Greece đã mạo hiểm trước tiên để ngửng mắt trần của mình lên, nhìn vào mặt nàng, và đầu tiên để chống lại nàng tận mặt. Không câu chuyện về những gót, cũng không tiếng sét, cũng không thiên đường với tiếng gầm đe dọa, có thể dập tắt được người này, nhưng chỉ khuấy động thêm – sự can đảm háo hức của hồn người đầy trong người này với khao khát để là người đầu tiên bùng phá những chấn song cứng chắc của những cửa ngõ của Thiên nhiên.’ [8]

Lucretius đã nhờ đến nhiều những nguồn bổ sung, rằng ông đã nghiên cứu kỹ lưỡng về Empedocles, và có lẽ trong những phần khoa học của lý thuyết của ông đã bổ sung nhiều từ sự quan sát riêng của ông, chúng ta sẽ không phủ nhận; Thế nhưng một lần nữa ở đây chúng ta phải tự nhắc nhở rằng chúng ta không biết kho báu nào đã được chứa trong những quyển sách đã bị mất của Epicurus. Hầu như tất cả những người phán xét đều gán cho bài thơ của Lucretius một vị trí rất cao giữa những tác phẩm của thời trước-Augustus, trong sự tôn trọng thiên tài và sức sống của nó; và thế nhưng những phần mô phạm đều thường khô khan và cẩu thả, hay được kết nối bởi những chuyển tiếp đột ngột với những hình ảnh thơ ca.

Về mặt ngôn ngữ, Lucretius có một mức độ cực đoan của sự thô cứng và đơn giản cổ xưa. Những nhà thơ của thời Augustus, những người cảm thấy mình vượt xa trên nghệ thuật thô lỗ của những người đi trước họ, đã có sự tôn kính rất lớn với Lucretius. Virgil đã dành cho ông những dòng-- ‘

‘Felix qui potuit rerum cognoscere causas,
Atque metus omnes et inexorabile fatum
Subjecit pedibus strepitumque Acberontis ayari,’ [9]

Lucretius, khi đó, không nghi ngờ gì, đã có một. ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc quảng bá của triết học Epicurus giữa những người Rome. Việc này đạt đến điểm cao nhất của nó dưới thời Augustus; vì mặc dù khi đó đã không có đại diện giống như Lucretius, nhưng tất cả những tinh thần vui vẻ hơn của đám những nhà thơ, họ tụ họp quanh Maecenas và Augustus đã đều được tinh thần của hệ thống tư tưởng này hướng dẫn và truyền cho hứng khởi.

Tuy nhiên, khi đến thời Tiberius và Nero, đã cho thấy xuất hiện những sự việc gớm ghiếc thuộc đủ loại và gần như tất cả thú vui đều bị sự nguy hiểm hay sự xấu hổ đầu độc, những người Epicurus đã về hưu, và trong thời kỳ cuối cùng này của triết học thế tục, đó đã là những Stôic, đặc biệt là những người đảm đương sự đấu tranh chống lại sự xấu xa vô đạo đức và hèn nhát, và với lòng can đảm không lay chuyển, như trong trường hợp của một Seneca hay một Paetus Thrasea [10], đã gánh chịu hy sinh cho sự chuyên chế.

Không nghi ngờ gì, triết học Epicurus cũng trong sự thuần khiết của nó, và đặc biệt trong sự mở rộng vốn đã được nhân cách đạo đức mạnh mẽ của Lucretius đem cho nó, đã khá phù hợp để những tình cảm được thăng hoa như thế, chỉ có sự thuần khiết, mạnh mẽ và sức mạnh của sự thấu hiểu vốn được Lucretius đã biểu lộ đã là rất hiếm trong trường phái này, và có lẽ đã không được gặp lại từ thời Lucretius đến thời của chúng ta. Sau đó, cũng đáng bõ công khó khăn, để xem xét kỹ hơn trong công trình của con người đáng chú ý này.

Phần Dẫn nhập cho bài thơ này gồm một cầu khẩn với gót nữ Venus, vị ban cho sự sống, thịnh vượng và hòa bình, vốn được đánh dấu bằng sự tưởng tượng thần thoại đẹp như tranh vẽ, một đi đến của tư tưởng rõ ràng và tuy thế sâu xa.

Ở đây, chúng ta cùng một lúc trực diện với thái độ khác thường của Epicurus hướng tới tôn giáo. Không chỉ là những ý tưởng của tôn giáo, nhưng những nhân cách hóa thi ca của nó được dùng với một sự nhiệt thành và tôn sùng không thể nhầm lẫn của cùng một con người, là người ngay sau đó, trong chỗ đã trích dẫn ở trên, trình bày nó như điểm mạnh nhất của hệ thống của ông vốn nó chinh phục được sự kinh hoàng nhục nhã (cảu con người về) những gót.

Khái niệm của người Rome ban đầu về tôn giáo [11] , mặc dù không chắc chắn về từ nguyên, thế nhưng chắc chắn thể hiện yếu tố của sự phụ thuộc và bổn phận của con người đối với những gót (thần linh như những hữu thể), dĩ nhiên, phải chuyển tải đến Lucretius chính xác những gì ông khinh miệt và chống đối nhất. Ông thách thức những gót, do đó, và tấn công tôn giáo, vào điểm này, chúng ta không có khả năng để có thể tìm ra được bất kỳ sắc thái nào của hoài nghi hay mâu thuẫn nào trong hệ thống của ông.



Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Feb/2019)







[1] Trung Đông
[2] Cato the Elder, hay Marcus Porcius Cato (234–149 TCN): Cato-cao tuổi: thượng nghi sĩ Rome, sử gia, được biết với lập trường bảo thủ và phản đối sự bắt chước Hellas. Ông là cố nội của Cato the Younger (95 –46 TCN): Cato- trẻ tuổi, theo phái Stôic
[3] Chrysippus người thành Soli: triết gia Stôic, người Greece
[4] Quintus Horatius Flaccus (65 – 8 TCN), được biết dưới tên Horace trong thế giới tiếng England, nhà thơ trữ tình hàng đầu của Rome
[5] Publius Vergilius Maro (70-19 TCN), ngay nay được biết dưới tên Virgil, một trong những nhà thơ lớn nhất của thời đầu đế quốc Rome.
[6] Diogenes Laërtius, (nổi tiếng khoảng thế kỷ 3 TCN) tác giả người Greece, được ghi nhận bộ ‘Lives, Teachings, and Sayings of Famous Philosophers’ - lịch sử triết học Greece, nguồn tài liệu hạng nhì quan trọng nhất trong lĩnh vực này.
[7] [A refutation of the attempts of Ritter to distinguish between the theories of Lucretius and Epikuros may be found in Zeller, iii. i, 2 Aufl. p. 499 … ]
[8] [* Lib. i. 61 sqq. In this and other passages from Lucretius, I have availed myself of Mr. Munro's translation - Tr.]
[9] Tạm dịch: ‘phúc đức biết bao, nhà hiền triết có hồn soi xuyên thấu mỗi nguyên nhân của Thiên nhiên biến đổi và những luật lệ kỳ diệu của thiên nhiên. Người đạp lên sợ hãi dưới chân mình, và can đảm trước Số phân và cái chết nghiêm khắc, và tiếng những đợt sóng vang động của địa ngục   ….’ 
[10] Paetus Thrasea (hay Thrasea Paetus)
[11] Religion < Latin religionem (nominative religio): có nhiều nghĩa, những nghĩa chính: tôn trọng những gì thiêng liêng, sùng kính đối với các vị gót; ý thức về cái đúng, bổn phận đạo đức; khiếp sợ những gót, thần linh,…; Ngày nay, các học giả nghiêng sang từ nguyên religare : ràng buộc chặt – với khái niệm  ‘đặt bổn phận/nghĩ vụ với/trên’ hay rõ ràng hơn: ‘sự ràng buộc giữa con người với những thần linh/gót = sự phụ thuộc của con người với những thần linh/những gót.
Tôi dài giòng ở đây – vì muốn cho thấy một trong những cơ bản của lập trường quen thuộc chủ trương rằng những hệ thống tư tưởng chúng ta, quen gọi chung là ‘tam giáo’ (Nho, Lão, Phật), chúng không thực sự là những ‘tôn giáo’ [theo từ nguyên (religio)< religare] vì theo nghĩa này, (vốn hợp với những tôn giáo phương Tây,) chúng rõ ràng không có ‘sự ràng buộc giữa con người với những thần linh/gót’.