Người Cầm Quyền Đứng Đầu
(Il Principe)
Niccolò Machiavelli
Chương VIII
Về Những Người Chiếm Hữu Được Một Lãnh Địa
Bằng Tội Ác
Nhưng, bởi vì một người có thể trở thành người
cầm quyền đứng đầu từ địa vị cá nhân bình thường theo hai cách khác nữa nhưng
không hoàn toàn phụ thuộc vào vận may hay bản lĩnh chính trị, tôi nghĩ không
nên bỏ qua chúng, dẫu cho một trong hai cách đó có thể được luận bàn kỹ hơn ở
phần về những nước cộng hòa. [1] Hai
cách đó là: khi một người thăng tiến lên lãnh địa bằng con đường tội ác và thấp
hèn, hoặc khi một công dân bình thường trở thành người cầm quyền đứng đầu của
tổ quốc mình nhờ sự ủng hộ của những đồng bào.
Để bàn về cách thứ nhất, tôi sẽ dẫn ra hai ví
dụ, một cổ đại và một hiện đại, nhưng không đi sâu vào những giá trị đạo đức
của vấn đề này, vì tôi phán xét rằng bấy nhiêu là đủ cho bất kỳ ai buộc phải
học tập theo chúng.
Agathocles người xứ Sicily [2] đã
trở thành vua của Syracuse không chỉ từ địa vị thường dân mà còn từ một tầng
lớp thấp kém và hèn mọn. Là con của một người thợ gốm, ông luôn sống một cuộc
đời tội ác ở mọi cấp bậc trong sự nghiệp của mình; tuy nhiên, những tội ác của
ông luôn đi kèm với một bản lĩnh chính trị của tinh thần và thể xác lớn đến mức
khi gia nhập quân đội, ông đã thăng tiến qua những cấp bậc để trở thành thống
lĩnh của Syracuse. Sau khi đã yên vị ở chức vụ đó, ông quyết định trở thành
người cầm quyền đứng đầu và nắm giữ bằng bạo lực, không có sự ràng buộc với bất
kỳ ai khác, những gì đã được trao cho mình theo thỏa thuận.
Sau khi mật báo kế hoạch của mình cho Hamilcar
người Carthage, người đang cùng quân đội chinh chiến tại Sicily, vào một buổi
sáng nọ, ông triệu tập dân chúng và Viện Nguyên lão Syracuse như thể để quyết
định những vấn đề hệ trọng của nhà nước. Theo một ám hiệu đã định sẵn, ông cho
binh lính giết sạch những nghị sĩ và những người giàu có nhất trong dân chúng.
Khi họ đã chết, ông chiếm giữ và nắm giữ quyền cai trị lãnh địa [3]
nhưng không gặp phải bất kỳ tranh chấp dân sự nào. Dẫu cho ông bị người
Carthage đánh bại hai lần và cuối cùng bị bao vây, ông không chỉ bảo vệ được
thành thị của mình mà còn để lại một phần quân lính để phòng thủ, phần còn lại
đem đi tấn công châu Phi. Trong thời gian ngắn, ông đã giải vây cho Syracuse và
đẩy người Carthage vào tình thế khốn cùng; họ buộc phải thỏa hiệp với ông, chấp
nhận nắm giữ châu Phi và để lại Sicily cho Agathocles.
Vì vậy, bất kỳ ai xem xét hành động và bản
lĩnh chính trị của con người này sẽ thấy rất ít hoặc chẳng có gì có thể coi là
nhờ vận may. Bởi như đã nói ở trên, không phải nhờ sự ủng hộ của bất kỳ ai mà
nhờ thăng tiến qua những cấp bậc quân đội, điều mà ông tự giành được bằng ngàn
nỗi gian truân và hiểm nguy, ông đã đạt tới quyền cai trị và sau đó duy trì nó
bằng nhiều chính sách táo bạo và nguy hiểm. Tuy nhiên, không thể gọi là bản
lĩnh chính trị khi đi tàn sát đồng bào, phản bội thân hữu, sống thiếu tín nghĩa,
thiếu lòng trắc ẩn và tôn giáo; những thủ đoạn này có thể giúp đạt được đế
quốc, nhưng không mang lại vinh quang.
Bởi nếu người ta xem xét bản lĩnh chính trị
của Agathocles trong việc dấn thân và thoát khỏi hiểm nguy, cùng sự vĩ đại của
tinh thần ông trong việc chịu đựng và vượt qua nghịch cảnh, người ta không thấy
lý do gì để phán xét ông kém cạnh bất kỳ vị thống lĩnh xuất chúng nào. Tuy
nhiên, sự tàn bạo dã man và tính vô nhân đạo, cùng với vô số tội ác của ông,
không cho phép ông được vinh danh trong số những vĩ nhân xuất chúng nhất. Vì
thế, người ta không thể quy kết cho vận may hay bản lĩnh chính trị những gì ông
đạt được nhưng không cần đến cả hai thứ đó.
Trong thời đại của chúng ta, dưới thời vị Vua
chiên Alexander VI, Oliverotto da Fermo, [4] người đã
mồ côi cha từ nhiều năm trước, được nuôi dưỡng bởi người cậu là Giovanni
Fogliani, và trong những năm đầu tuổi trẻ, ông được gửi đi tòng quân dưới
trướng Paolo Vitelli [5] để
khi đã tinh thông kỷ luật đó, ông sẽ đạt được cấp bậc xuất sắc trong quân đội.
Sau khi Paolo chết, ông phục vụ dưới quyền em trai ông là Vitellozzo; và trong
một thời gian rất ngắn, nhờ trí tuệ và sự dẻo dai của thể xác lẫn tinh thần,
ông trở thành người đứng đầu trong quân đội của mình. Nhưng vì cảm thấy việc ở
cùng cấp bậc với người khác là thấp kém, ông nghĩ rằng với sự giúp đỡ của một
số công dân Fermo (những người coi trọng sự nô dịch hơn là tự do của tổ quốc
mình) và với sự ủng hộ của nhà Vitelli, ông sẽ chiếm lấy Fermo.
Ông viết thư cho Giovanni Fogliani nói rằng vì
đã xa nhà vài năm, ông muốn về thăm cậu và thành thị của mình, cũng như muốn
xem xét lại gia sản; và vì ông không nhọc công vì điều gì khác ngoài việc giành
lấy danh dự, ông muốn trở về theo cách trang trọng cùng một trăm kỵ binh là
thân hữu và thuộc hạ, để đồng bào thấy ông đã không lãng phí thời gian. Ông
khẩn cầu Giovanni vui lòng sắp xếp để cư dân Fermo đón tiếp ông trang trọng,
điều đó không chỉ mang lại danh dự cho ông mà còn cho chính Giovanni, vì Oliverotto
là người được ông bảo hộ.
Giovanni đã không thiếu sót bất kỳ bổn phận
nào với cháu mình; và khi Oliverotto được cư dân Fermo đón tiếp trang trọng,
ông được sắp xếp ở trong nhà Giovanni. Tại đó, sau vài ngày, khi đã chờ để bí
mật sắp đặt những gì cần thiết cho tội ác tương lai, ông tổ chức một bữa tiệc
linh đình và mời Giovanni Fogliani cùng tất cả những người đứng đầu của Fermo.
Khi thức ăn và mọi cuộc vui thường thấy đã kết thúc, Oliverotto dùng thủ đoạn
khéo léo [6] mở
ra một số thảo luận nghiêm túc,[7] bàn
về sự vĩ đại của vị Vua chiên Alexander và Cesare Borgia, con trai ông, cùng
những chiến tích của họ. Trong khi Giovanni và những người khác đang đáp lời,
Oliverotto bỗng đứng dậy và bảo rằng những việc này nên được thảo luận ở nơi
kín đáo hơn; rồi rút lui vào một căn phòng, nơi Giovanni và tất cả những công
dân khác đi theo sau.
Ngay khi họ vừa ngồi xuống, binh lính từ những
nơi ẩn nấp xông ra giết chết Giovanni và tất cả những người còn lại. Sau vụ
thảm sát này, Oliverotto lên ngựa, đi khắp thị trấn và bao vây những quan chức
cao cấp nhất trong cung điện, khiến họ vì sợ hãi mà phải phục tùng và thiết lập
một chính quyền mà ông được lập làm người cầm quyền đứng đầu. Và vì tất cả
những người có thể làm hại ông[8] vì
bất mãn đều đã chết, ông củng cố vị thế bằng những trật tự dân sự và quân sự
mới, đến nỗi trong vòng một năm nắm giữ quyền cai trị, ông không chỉ an toàn ở
Fermo mà còn trở nên đáng sợ đối với tất cả những láng giềng. Và việc lật đổ
ông cũng sẽ khó khăn như với Agathocles, nếu ông không để mình bị Cesare Borgia
lừa tại Sinigaglia (như đã nói ở trên) khi ông bắt giữ nhà Orsini và Vitelli.
Tại đó, một năm sau khi thực hiện tội ác giết người thân, Oliverotto cũng bị
bắt và bị siết cổ cùng với Vitellozzo, người thầy về bản lĩnh chính trị và tội
ác của mình.
Có người sẽ đặt câu hỏi làm thế nào Agathocles
và những người tương tự, sau vô số sự phản bội và tàn bạo, lại có thể sống an
ổn lâu dài tại tổ quốc mình, tự vệ trước người thù ngoại bang nhưng không bao
giờ bị công dân âm mưu lật đổ; trong khi nhiều người khác không thể duy trì nhà
nước của mình qua sự tàn bạo ngay cả trong thời bình, chứ đừng nói đến thời
chiến loạn đầy biến động. Tôi tin rằng điều này xuất phát từ việc sự tàn bạo
được dùng tồi hay được dùng tốt.
Có thể gọi là được dùng tốt (nếu có thể nói
tốt về cái ác) khi chúng được thực hiện một lần duy nhất vì sự tất yếu của việc
bảo vệ mình, rồi không tiếp diễn nữa mà được chuyển hóa thành những lợi ích tối
đa cho thần dân. Bị dùng tồi là những hành động tàn bạo ban đầu thì ít, nhưng
theo thời gian thay vì chấm dứt thì lại tăng lên. Những người đi theo cách thứ
nhất có thể tìm thấy sự cứu rỗi cho nhà nước của mình trước Gót và người đời,
như Agathocles đã làm; còn những người đi theo cách thứ hai thì không thể duy
trì vị thế.
Do đó, cần lưu ý rằng khi chiếm hữu một nhà
nước, người chiếm hữu phải rà soát tất cả những tổn thương cần thiết phải thực
hiện, và thực hiện chúng một lần duy nhất, để không phải lặp lại mỗi ngày; nhờ
không lặp lại, ông có thể trấn an dân chúng và thu phục họ bằng những ân huệ.
người nào hành động khác đi, dù vì nhút nhát hay vì cố vấn tồi, sẽ luôn buộc
phải cầm dao trong tay; và ông không bao giờ có thể dựa vào thần dân, vì họ
không thể cảm thấy an toàn trước vị ấy bởi những tổn thương liên tiếp và mới mẻ.
Những tổn thương phải được thực hiện cùng một
lúc để chúng ít bị nếm trải hơn, do đó ít gây phẫn nộ hơn; còn những ân huệ thì
nên được ban phát từng chút một, để chúng được thưởng thức kỹ hơn. [9]Và
trên hết, một người cầm quyền đứng đầu phải chung sống với thần dân sao cho
không có biến cố nào — dù xấu hay tốt — buộc vị ấy phải thay đổi; vì khi nghịch
cảnh ập đến, ngài không còn thời gian cho cái ác, còn cái thiện ngài làm lúc đó
cũng chẳng giúp gì được cho ngài, vì người ta sẽ coi đó là sự cưỡng ép và chẳng
ai mang ơn ngài cả.
Chương IX
Về Lãnh Địa Dân Sự
Nhưng, chuyển sang phương sách còn lại, khi
một công dân bình thường trở thành người cầm quyền đứng đầu của tổ quốc mình,
không phải qua tội ác hay sự bạo lực tàn bạo không thể dung thứ, mà với sự ủng
hộ của những đồng bào (điều mà người ta có thể gọi là lãnh địa dân sự; để đạt
được điều này không nhất thiết cần đến toàn bộ bản lĩnh chính trị xuất chúng
hay toàn bộ vận may, mà đúng hơn là một sự khôn ngoan đầy may mắn) — tôi khẳng
định rằng người ta thăng tiến lên lãnh địa này hoặc với sự ủng hộ của dân chúng,
hoặc với sự ủng hộ của giới quyền thế. Bởi vì trong mọi thành thị, hai khuynh
hướng đối lập này luôn được tìm thấy, điều nảy sinh từ việc: dân chúng không
khao khát bị chỉ huy hay áp bức bởi giới quyền thế, và giới quyền thế thì khao
khát chỉ huy và áp bức dân chúng. Từ hai ham muốn đối lập này, một trong ba kết
cục sẽ xảy ra tại những thành thị: lãnh địa, tự do, hoặc hỗn loạn.
Lãnh địa được gây ra bởi dân chúng hoặc bởi
giới quyền thế, tùy theo bên nào trong số đó có cơ hội. Bởi khi giới quyền thế
thấy mình không thể kháng cự dân chúng, họ bắt đầu dồn uy tín cho một người
trong số họ, và họ lập người đó làm người cầm quyền đứng đầu để họ có thể thỏa
mãn ham muốn của họ dưới cái bóng của người ấy. Tương tự như vậy, dân chúng,
khi thấy mình không thể kháng cự giới quyền thế, sẽ dồn uy tín cho một người,
và lập người đó làm người cầm quyền đứng đầu để được bảo vệ bằng quyền uy của người
ấy.
Người thăng tiến lên lãnh địa với sự giúp đỡ
của giới quyền thế thì duy trì vị thế khó khăn hơn người trở thành người cầm
quyền đứng đầu với sự giúp đỡ của dân chúng; bởi vì trường hợp đầu tiên thấy
mình là người cầm quyền đứng đầu với nhiều người xung quanh luôn tỏ ra ngang
hàng với mình, và vì lý do này, người ấy không thể chỉ huy hay quản lý họ theo
ý mình. Nhưng người đạt tới lãnh địa bằng sự ủng hộ của dân chúng thì thấy mình
đơn độc ở đó, và xung quanh người ấy không có ai, hoặc rất ít người không sẵn
lòng phục tùng.
Bên cạnh đó, người ta không thể thỏa mãn giới
quyền thế một cách lương thiện và không gây tổn thương cho người khác, nhưng
người ta có thể thỏa mãn dân chúng; vì mục tiêu của dân chúng lương thiện hơn
mục tiêu của giới quyền thế, bởi giới quyền thế muốn áp bức còn dân chúng thì
muốn không bị áp bức. Hơn nữa, một người cầm quyền đứng đầu không bao giờ có
thể tự bảo vệ mình trước một cộng đồng dân chúng thù nghịch, vì họ quá đông;
nhưng trước giới quyền thế, người ấy có thể bảo vệ mình, vì họ ít. Điều tồi tệ nhất
mà một người cầm quyền đứng đầu có thể trông đợi từ dân chúng thù nghịch là bị
họ ruồng bỏ; nhưng từ giới quyền thế, khi họ thù nghịch, người ấy không chỉ
phải sợ bị ruồng bỏ mà còn phải sợ họ sẽ chống lại mình, vì giới quyền thế có
tầm nhìn xa và xảo quyệt hơn, họ luôn hành động kịp thời để cứu mình, và tìm
kiếm vị thế từ người mà họ hy vọng sẽ chiến tngười nàyg. Ngoài ra, người cầm
quyền đứng đầu buộc phải luôn chung sống với cùng một cộng đồng dân chúng,
nhưng người ấy có thể làm tốt nhưng không cần cùng một nhóm quyền thế, vì người
ấy có thể lập ra hay phế bỏ họ mỗi ngày, và tước đi hay ban cho họ uy tín tùy
theo sự thuận tiện của mình.
Và để làm rõ vấn đề này hơn, tôi khẳng định
giới quyền thế phải được xem xét chủ yếu theo hai phương thức. Hoặc là họ hành
xử sao cho trong những hoạt động của mình, họ gắn bó hoàn toàn vào vận mệnh của
ngài, hoặc là không. Những người gắn bó, và không tham lam, phải được tôn trọng
và yêu mến; những người không gắn bó phải được xem xét theo hai phương thức.
Hoặc là họ làm điều này vì sự nhút nhát và một khiếm khuyết tự nhiên của tinh
thần; khi đó ngài phải trọng dụng đặc biệt là những người có mưu lược tốt, bởi
vì trong lúc hưng thịnh họ mang lại vinh dự cho ngài, và trong nghịch cảnh ngài
không phải sợ họ; nhưng, khi bằng mưu mẹo và vì một duyên cớ tham vọng, họ
không gắn bó, đó là dấu hiệu cho thấy họ đang nghĩ cho bản thân mình nhiều hơn
cho ngài; và người cầm quyền đứng đầu phải canh chừng họ, và sợ họ như thể họ
là những người thù công khai, bởi vì trong nghịch cảnh họ sẽ luôn góp phần làm
hại người ấy.
Do đó, người thăng tiến lên người cầm quyền
đứng đầu qua sự ủng hộ của dân chúng nên giữ cho họ thân thiện với mình; điều
này thật dễ dàng đối với người ấy vì họ chỉ yêu cầu mình không bị áp bức. Nhưng
người nào trở thành người cầm quyền đứng đầu chống lại dân chúng với sự ủng hộ
của giới quyền thế, thì trước hết mọi sự, phải tìm cách thu phục dân chúng về
phía mình; điều này thật dễ dàng đối với người ấy khi người ấy đứng ra bảo vệ
họ. Và vì con người khi nhận được điều tốt từ người mà họ ngỡ sẽ nhận điều xấu
thì sẽ càng mang ơn vị ân nhân của mình hơn, nên dân chúng sẽ lập tức mong cầu
điều tốt cho người ấy hơn cả khi người ấy được đưa lên ngôi vị bằng sự ủng hộ
của chính họ. Người cầm quyền đứng đầu có thể thu phục dân chúng về phía mình
theo nhiều phương thức mà người ta không thể đưa ra những quy tắc chắc chắn vì
những phương thức này thay đổi theo hoàn cảnh, [10] và vì thế
chúng sẽ bị bỏ qua. Tôi sẽ chỉ kết luận rằng: đối với một người cầm quyền đứng
đầu, điều cần thiết là có được sự thân thiện của dân chúng; nếu không, người ấy
sẽ không có phương sách nào trong nghịch cảnh.
Nabis, người cầm quyền đứng đầu của Sparta,[11] đã
chống trả cuộc bao vây của toàn Hy Lạp và của một trong những quân đội lẫy lừng
chiến tngười nàyg nhất của Rome, và đã bảo vệ được tổ quốc cũng như nhà nước
của mình trước họ: và khi hiểm nguy ập đến, bấy nhiêu là đủ để người ấy chỉ cần
bảo vệ mình trước một số ít người, điều vốn đã không đủ nếu người ấy có một
cộng đồng dân chúng thù nghịch.
Và đừng ai phản đối ý kiến của tôi về điều này
bằng câu châm ngôn cũ rích rằng, người nào xây nền móng trên dân chúng là xây
trên bùn. Vì điều đó chỉ đúng khi một công dân bình thường đặt nền tảng lên họ,
và cho phép mình nghĩ rằng dân chúng sẽ giải phóng mình nếu mình bị áp bức bởi
người thù hay bởi những quan tòa (trong trường hợp này người ta thường có thể
bị lừa dối, như anh em nhà Gracchi ở Rome [12] và Ngài
Giorgio Scali ở Florence). [13]
Nhưng khi một người cầm quyền đứng đầu đặt nền móng trên dân chúng, biết cách
chỉ huy và là một người đầy lòng quả cảm, không khiếp sợ trong nghịch cảnh,
không thiếu những khâu chuẩn bị, và bằng tinh thần cùng những sắc lệnh của mình
giữ cho dân chúng luôn có cảm hứng[14] , người
ấy sẽ không bao giờ thấy mình bị họ lừa dối và người ấy sẽ thấy rằng mình đã
đặt những nền móng vững chắc.
Những lãnh địa này thường gặp nguy hiểm khi
chúng sắp sửa thăng tiến từ một trật tự dân sự sang một trật tự tuyệt đối. Bởi
vì những người cầm quyền đứng đầu này trực tiếp ra lệnh hoặc qua những quan
chức hành pháp. Trong trường hợp sau, vị thế của họ yếu hơn và nguy hiểm hơn vì
họ hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của những công dân đã được đặt vào những chức
vụ hành pháp; những người này, đặc biệt là trong những thời điểm nghịch cảnh,
có thể tước đoạt nhà nước của người cầm quyền đứng đầu một cách cực kỳ dễ dàng
bằng cách chống lại hoặc không phục tùng người cầm quyền đứng đầu.
Và người cầm quyền đứng đầu không có thời gian
trong cơn nguy biến để nắm lấy quyền lực tuyệt đối vì những công dân và thần
dân, những người vốn quen nhận mệnh lệnh từ những quan chức, không sẵn lòng
phục tùng mệnh lệnh của người cầm quyền đứng đầu trong những trường hợp khẩn
cấp này; trong những thời điểm bất định, người cầm quyền đứng đầu sẽ luôn thiếu
hụt những người có thể tin cậy. Bởi vì một người cầm quyền đứng đầu như vậy
không thể đặt nền tảng vào những gì người ấy thấy trong những thời điểm yên bình,
khi những công dân cần đến nhà nước, bởi vì khi đó mọi người đều chạy đến, mọi
người đều hứa hẹn, và mỗi người đều muốn chết vì người cầm quyền đứng đầu khi
cái chết còn ở xa; nhưng trong nghịch cảnh, khi nhà nước cần đến công dân, thì
chỉ thấy rất ít người trong số họ.
Và phép thử này càng nguy hiểm hơn vì người ta
không thể thực hiện nó quá một lần. Vì vậy, một người cầm quyền đứng đầu khôn
ngoan phải nghĩ ra một cách để những công dân của mình, luôn luôn và trong mọi
thời kỳ, đều cần đến nhà nước và cần đến chính người cầm quyền đứng đầu; và khi
đó, họ sẽ luôn trung thành với người cầm quyền đứng đầu.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Feb/2026)
(Còn tiếp. →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
https://chuyenxgan.blogspot.com/
[1] [Xem Luận bàn về Livy; lưu ý rằng NM không
nói rõ phương thức nào trong hai phương thức này được lập luận đầy đủ hơn “tại
nơi những nền cộng hòa được bàn đến”.
[2] [Agathocles sống từ năm 361 đến 289 TCN; thời kỳ
bạo chúa của ông bắt đầu từ năm 316.
[3] [Hoặc Lãnh địa; principato có thể chỉ chức
vụ cai trị hoặc thống trị cũng như cõi lãnh thổ bị thống trị.
[4] [Oliverotto Euffreducci da Fermo, kẻ đã nắm quyền
tại Fermo vào ngày 26 tháng 12 năm 1501, và một năm sau đó đã bị siết cổ theo
lệnh của Cesare Borgia tại Sinigaglia.
[5] [Một condottiere (chỉ huy quân đánh thuê)
nổi tiếng, ông được người Florence thuê và sau đó bị chính họ chặt đầu.
[6] [Nghĩa đen: nghệ thuật (art).
[7] [Nghĩa đen: những lý luận (reasonings).
[8] [Nghĩa đen: bị xúc phạm/tổn thương (offended).
[9] [Xem Luận bàn về Livy I 45.
[10] [Nghĩa đen: theo như đề tài.
[11] [NM coi Nabis là một kẻ bạo chúa trong Luận bàn
về Livy I 10, 40; và trong phần III 6, ông kể lại việc Nabis bị ám sát bất
kể có được sự ủng hộ của dân chúng. Nabis cai trị Sparta từ năm 205 đến 192
TCN.
[12] [Anh em nhà Gracchi, Tiberius và Gaius Sempronius,
là những quan hộ dân của bình dân nhưng đã mất mạng dưới tay kẻ thù trong
Thượng viện, Tiberius vào năm 133 TCN và Gaius vào năm 121 TCN; xem Luận bàn
về Livy I 37.
[13] [Một thủ lĩnh của cuộc nổi dậy Ciompi tại Florence
(1378), người đã cai trị trong ba năm sau đó và rồi bị chặt đầu; xem Lịch sử
Florence của NM, III 18, 20.
[14] [Nghĩa đen: cái phổ quát (the universal).
NM, theo cách dùng từ thời bấy giờ, nói “phổ quát” trong những trường hợp mà
chúng ta mong đợi là “tổng quát”, vì rõ ràng không phải tất cả mọi người (chưa
nói đến mọi thứ) đều được hàm ý
