Người Cầm Quyền Đứng Đầu
(Il Principe)
Niccolò Machiavelli
Chương VI
Về những Lãnh Địa Mới Được Chiếm Hữu Bằng Quân Lực Và Bản Lĩnh Chính Trị Riêng
Không ai nên ngạc nhiên nếu, khi bàn về những chế độ cầm quyền hoàn toàn mới cả về người cầm quyền đứng đầu lẫn về nhà nước, tôi đưa ra những tấm gương vĩ đại nhất. Bởi vì con người hầu như luôn đi trên những con đường đã được người khác mở ra và trong hành động của mình thường tiến hành bằng cách noi theo; nhưng họ không thể hoàn toàn giữ đúng con đường của người khác, cũng không thể đạt tới bản lĩnh chính trị của những người mà họ noi theo. Vì thế một người khôn ngoan phải luôn bước vào những con đường mà những vĩ nhân đã đi qua và noi theo những người xuất sắc nhất; để nếu bản lĩnh chính trị của mình không đạt tới tầm cao ấy, thì ít ra cũng còn phảng phất dư hương của nó. [1] Người ấy nên làm như những cung thủ khôn ngoan: khi vị trí họ định bắn có vẻ quá xa và họ biết sức mạnh của cung mình tới đâu, họ sẽ nhắm cao hơn vị trí dự định, không phải để mũi tên bay tới độ cao ấy, mà nhờ việc nhắm cao như vậy mà thực hiện được kế hoạch của mình.
Tôi nói rằng, trong những lãnh địa hoàn toàn mới, nơi có một người cầm quyền đứng đầu mới, người ta gặp nhiều hay ít khó khăn trong việc duy trì chúng tùy thuộc vào việc người chiếm hữu đó có nhiều hay ít bản lĩnh chính trị. Và vì việc từ địa vị cá nhân bình thường trở thành người cầm quyền đứng đầu giả định hoặc bản lĩnh chính trị hoặc vận may, nên dường như một trong hai điều này phần nào làm giảm bớt nhiều khó khăn; tuy vậy, người dựa ít hơn vào vận may thường duy trì được quyền lực của mình vững chắc hơn. Nếu người cầm quyền đứng đầu buộc phải đến cư trú tại đó, vì ông ta không có những nhà nước khác, thì điều ấy lại càng làm cho việc duy trì quyền lực trở nên dễ dàng hơn.
Nhưng, để bàn về những người trở thành người cầm quyền đứng đầu bằng bản lĩnh chính trị riêng chứ không phải bằng vận may, tôi cho rằng những người kiệt xuất nhất là Moses, Cyrus, Romulus, Theseus và những người tương tự. Dẫu cho chúng ta không nên luận bàn về Moses, vì ông chỉ là người tuân theo những gì Gót truyền dạy, nhưng lại được coi là đáng ngưỡng mộ – nếu chỉ nhờ ân điển đã khiến ông xứng đáng được trò chuyện với Gót. Nhưng hãy xem xét Cyrus và những người đã chiếm hữu hoặc sáng lập những vương quốc: Ngài [2] sẽ thấy tất cả đều đáng khâm phục; và nếu xem xét kỹ từng hành động và trật tự riêng của họ, chúng sẽ không có vẻ khác gì so với những gì Moses đã làm — người vốn có một bậc thầy vĩ đại như Gót. Khi xem xét những hành động và cuộc đời của họ, ta thấy họ chẳng nhận được gì từ vận may ngoại trừ cơ hội — thứ đã cung cấp cho họ “nguyên liệu” để họ nhào nặn thành bất kỳ hình thái nào họ muốn. Nếu thiếu cơ hội đó, bản lĩnh chính trị của tinh thần họ sẽ lụi tàn, và nếu thiếu bản lĩnh chính trị đó, cơ hội cũng sẽ đến một cách vô ích.
Do đó, Moses cần phải tập hợp dân Israel ở Ai Cập, những người Ai Cập đã nô dịch và áp bức họ, để họ sẵn sàng đi theo ông nhằm thoát khỏi cảnh nô lệ. Romulus phải tự đối mặt với việc không được chấp nhận ở Alba và bị bỏ rơi ngay từ khi mới lọt lòng, nếu ông muốn trở thành vua Rome và là người sáng lập đất nước ấy. Cyrus cần thu hút người Ba Tư đang bất mãn với đế quốc của người Medes, trong khi người Medes đã trở nên mềm yếu và nhu nhược vì một nền hòa bình kéo dài. Theseus sẽ không thể thể hiện tài năng và bản lĩnh của mình nếu ông không thấy người dân Athens sống tản mác. Chính những cơ hội đó đã mang lại vận may cho những con người vĩ đại ấy, và nhờ bản lĩnh chính trị xuất chúng, họ nhận ra được những cơ hội đó; nhờ vậy, tổ quốc của họ được tôn vinh và trở nên vô cùng thịnh vượng.
Những người giống như những vĩ nhân này, những người trở thành người cầm quyền đứng đầu bằng con đường của bản lĩnh chính trị, s chiếm hữu lãnh địa của mình một cách khó khăn nhưng giữ nó tương đối dễ dàng; và những khó khăn trong việc chiếm hữu lãnh địa một phần phát sinh từ những trật tự và phương thức mới mà họ buộc phải thiết lập để xây dựng nhà nước và bảo đảm an nguy cho mình. Cần lưu ý rằng không có gì khó thực hiện hơn, không có gì mơ hồ về khả năng thành công hơn, cũng như không có gì nguy hiểm hơn khi đứng ra dẫn dắt việc thiết lập những trật tự mới. Bởi người thiết lập sẽ có tất cả những người hưởng lợi từ trật tự cũ làm kẻ thù, trong khi chỉ nhận được sự ủng hộ hờ hững từ những người có thể hưởng lợi từ trật tự mới. Sự hờ hững này nảy sinh một phần từ nỗi sợ những đối thủ có luật pháp đứng về phía họ, và một phần từ sự hoài nghi của con người — những người không thực sự tin vào những gì mới mẻ trừ khi họ đã có kinh nghiệm vững chắc về chúng. Hệ quả là, bất cứ khi nào kẻ thù có cơ hội tấn công, họ sẽ hành động với nhiệt huyết phe phái, trong khi những người khác chỉ bảo vệ hờ hững, khiến người lãnh đạo cùng họ cùng nguy khốn.
Tuy nhiên, nếu muốn thảo luận thấu đáo khía cạnh này, cần phải xem xét liệu những người đổi mới này đứng trên chính chân mình hay phụ thuộc vào người khác; nghĩa là, để thực hiện công cuộc của mình, họ phải cầu xin [3] hay có thể dùng vũ lực. Trong trường hợp đầu tiên, họ luôn gặp kết cục xấu và chẳng bao giờ hoàn thành được việc gì; nhưng khi họ dựa vào chính mình và có thể dùng vũ lực, thì hiếm khi họ gặp nguy hiểm. Từ đó nảy sinh thực tế rằng tất cả những tiên tri có vũ trang đều chiến thắng, còn những người không vũ trang đều bị hủy diệt. Ngoài những điều đã nói, bản chất của dân chúng thay đổi theo thời gian; thuyết phục họ tin vào một điều gì đó thì dễ, nhưng giữ cho họ tiếp tục tin vào điều đó thì khó. Vì vậy, sự việc phải được sắp xếp sao cho khi họ không còn tin nữa, người lãnh đạo vẫn có thể buộc họ tin bằng vũ lực.
Moses, Cyrus, Theseus và Romulus đã không thể khiến dân chúng của mình tuân theo những thể chế mà họ thiết lập lâu dài nếu họ không có vũ lực; điều này cũng giống như trường hợp của Girolamo Savonarola trong thời đại chúng ta. Vị tu sĩ này đã bị tiêu diệt cùng với những trật tự mới mà ông thiết lập ngay khi đám đông bắt đầu không còn tin vào chúng; và ông không có cách nào để giữ vững những người đã tin, cũng như không có phương thế nào để buộc những kẻ không tin phải tin. [4] Vì thế, những người như vậy gặp rất nhiều khó khăn trong việc điều hành công cuộc của mình; mọi hiểm nguy đều nằm ngay trên con đường họ đi, và họ phải vượt qua chúng bằng bản lĩnh của mình. Nhưng một khi đã vượt qua được những hiểm nguy ấy và bắt đầu được người đời tôn kính, đồng thời loại bỏ được những kẻ từng ghen ghét họ vì phẩm chất của họ, thì họ sẽ tiếp tục nắm giữ quyền lực một cách vững vàng, an toàn, được kính trọng và hạnh phúc.
Để làm rõ hơn những tấm gương vĩ đại ấy, tôi muốn thêm vào một ví dụ nhỏ hơn; tuy vậy nó vẫn có sự tương xứng nhất định với những người kia, và tôi muốn nó đại diện cho mọi trường hợp tương tự khác: đó là Hiero of Syracuse của Syracuse. Từ một cá nhân bình thường, ông đã trở thành người cầm quyền đứng đầu của Syracuse, và ông cũng chẳng nhận được gì từ vận may ngoài cơ hội. Bởi khi người dân Syracuse bị áp bức, họ đã chọn ông làm thống lĩnh; và từ vị trí ấy ông đã chứng tỏ mình xứng đáng được làm người cầm quyền đứng đầu của họ. Ông có bản lĩnh chính trị lớn đến mức, ngay cả khi còn là dân thường, người viết về ông đã nói rằng: “ông chẳng thiếu phẩm chất nào của một vị vua, ngoại trừ một vương quốc.” [5] Hiero đã giải tán quân đội cũ và tổ chức một quân đội mới; ông từ bỏ những quan hệ cũ và thiết lập những quan hệ mới. Khi đã có những bằng hữu và binh sĩ thuộc về mình, ông có thể xây dựng bất cứ công trình nào trên nền tảng ấy; vì thế ông đã phải chịu nhiều gian lao để giành được quyền lực, nhưng chỉ gặp rất ít khó khăn để giữ gìn nó.
Chương VII
Về những Lãnh Địa Mới Được Chiếm Hữu Bằng Quân Lực Của người Khác Và Bằng Vận May
Những người từ vị thế cá nhân bình thường trở thành người cầm quyền đứng đầu chỉ nhờ vận may thì đạt được vị thế đó với rất ít khó khăn, nhưng lại phải chịu nhiều gian nan để duy trì nó. Họ không gặp trở ngại nào trên con đường đạt được quyền lực, vì dường như vận may đưa họ bay thẳng đến đó, nhưng mọi khó khăn chỉ nảy sinh khi họ đã yên vị. Những người cầm quyền đứng đầu như vậy xuất hiện khi một nhà nước được giao cho ai đó bằng tiền bạc hoặc bằng ân huệ của người ban phát; như đã xảy ra với nhiều người ở Hy Lạp, tại những thành thị vùng Ionia và Hellespont, nơi họ được Darius lập làm người cầm quyền đứng đầu để nắm giữ những thành thị đó nhằm bảo vệ sự an nguy và vinh quang của ông; [6] hoặc như những hoàng đế từ thường dân đạt được đế quốc qua việc mua chuộc binh lính.[7]
Những cá nhân này hoàn toàn dựa trên ý chí và vận may của người đã ban phát một nhà nước cho họ, vốn là hai thứ vô cùng bất định và phù du. Họ không biết cách và cũng không thể giữ vững vị thế đó: họ không biết cách là vì nếu không phải một người có trí tuệ và bản lĩnh chính trị lớn, thì không lẽ nào một người luôn sống kiếp thường dân lại biết cách điều binh khiển tướng; họ không thể giữ vững là vì họ không có những lực lượng thân cận và trung thành với mình. Hơn nữa, những nhà nước ra đời chớp nhoáng, cũng giống như mọi thứ khác trong tự nhiên sinh trưởng quá nhanh, không thể có rễ và cành lá vững chắc, khiến cho cơn bão đầu tiên [8] của nghịch cảnh sẽ xóa sổ chúng — trừ khi, như đã nói, những người bỗng chốc thành người cầm quyền đứng đầu ấy có bản lĩnh chính trị lớn đến mức họ biết cách chuẩn bị ngay lập tức để giữ lấy những gì vận may đã đặt sẵn trong tay họ; và họ phải tự mình xây dựng những nền móng mà người khác đã đặt trước khi trở thành người cầm quyền đứng đầu.
Về cả hai phương thức trở thành người cầm quyền đứng đầu đã nêu — bằng bản lĩnh chính trị hoặc vận may — tôi muốn dẫn ra hai ví dụ xảy ra trong thời đại chúng ta vẫn còn nhớ rõ: đó là Francesco Sforza và Cesare Borgia. Francesco bằng những phương cách đúng đắn [9] và bằng chính bản lĩnh chính trị xuất chúng của họ, từ một cá nhân bình thường đã trở thành công tước xứ Milan; và những gì ông đã chiếm hữu bằng ngàn nỗi gian truân, ông đã duy trì được với rất ít khó khăn. Ngược lại, Cesare Borgia, thường được dân chúng gọi là công tước Valentino, đã có được nhà nước của mình nhờ vận may của người cha và cũng để mất nó vì chính điều đó; mặc cho thực tế rằng ông đã tận dụng mọi hành động và làm tất cả những gì một người khôn ngoan và bản lĩnh nên làm để bám rễ vào những nhà nước mà quân lực và vận may của người khác đã ban cho ông. Bởi vì, như đã nói ở trên, người nào không đặt nền móng ngay từ đầu thì với bản lĩnh chính trị lớn lao, có thể đặt chúng sau đó, dẫu rằng điều này sẽ gây khó nhọc cho người kiến trúc và gây nguy hiểm cho công trình.
Vậy nên, nếu xem xét mọi bước đi của công tước này, người ta sẽ thấy ông đã đặt cho mình những nền móng vững chắc cho quyền lực tương lai, điều mà tôi cho rằng không hề thừa thãi khi thảo luận; vì tôi không biết có lời dạy nào tốt hơn cho một người cầm quyền đứng đầu mới hơn là ví dụ từ những hành động của ông. Và nếu những biện pháp và mệnh lệnh của ông không đem lại lợi ích cho ông, thì đó không phải lỗi của ông, mà từ một sự ác nghiệt tột cùng và khác thường của vận may.
Alexander VI gặp rất nhiều khó khăn, cả hiện tại lẫn tương lai, khi quyết định đưa con trai mình trở thành một vị công tước vĩ đại. Thứ nhất, ông không thấy con đường nào để biến con mình thành chủ nhân của bất kỳ nhà nước nào nhưng không thuộc về Hội nhà thờ Catô; và khi ông định lấy đất của Hội nhà thờ Catô, ông biết rằng Công tước xứ Milan và người Venice sẽ không đồng ý vì Faenza và Rimini từ lâu đã nằm dưới sự bảo trợ của người Venice. Bên cạnh đó, ông thấy rằng quân lực của Ý, đặc biệt là những lực lượng mà ông có thể tận dụng, đều nằm trong tay những người sợ hãi sự bành trướng của vị Vua chiên; vì thế ông không thể tin cậy chúng, vì tất cả đều thuộc về phe Orsini và Colonna cùng những tòng phạm của họ.[10]
Do đó, ông buộc phải đảo lộn những trật tự đó và gây ra sự hỗn loạn cho những nhà nước của chúng để có thể chiếm hữu một phần trong số đó một cách an toàn. Điều này thật dễ dàng với ông, vì ông nhận thấy người Venice, vì những lý do khác, đang tìm cách đưa người Pháp trở lại Ý, điều mà ông không những không phản đối mà còn làm cho dễ dàng hơn bằng việc hủy bỏ cuộc hôn nhân cũ của Vua Louis. Vậy là nhà vua tiến vào Ý với sự hỗ trợ của người Venice và sự đồng thuận của Alexander; và ngay khi nhà vua đến Milan, đã mượn quân từ ông cho chiến dịch ở Romagna, một chiến dịch thành công nhờ vào uy danh của nhà vua.
Sau khi công tước chiếm được Romagna và đánh bại phe Colonna, có hai điều ngăn cản ông duy trì thành quả ấy và tiến xa hơn: một là quân lực của ông dường như không đáng tin; hai là ý chí của nhà vua nước Pháp. Nghĩa là, quân lực Orsini mà ông đang sử dụng có thể làm ông thất vọng, không những ngăn cản ông chiếm hữu thêm mà còn tước đoạt những gì ông đã chiếm được; và chính nhà vua cũng có thể làm điều tương tự đối với ông. Ông đã có dịp kiểm chứng phe Orsini khi, sau khi chiếm được Faenza, ông tấn công Bologna và thấy họ tham gia cuộc tấn công ấy một cách lạnh nhạt. Còn về phía nhà vua, công tước hiểu rõ ý định của ông khi, sau khi chiếm được công quốc Urbino, ông tấn công Toscana nhưng nhà vua đã buộc ông phải từ bỏ chiến dịch ấy.
Từ đó, công tước quyết định không phụ thuộc vào quân lực và vận may của người khác nữa. Hành động đầu tiên của ông là làm suy yếu phe cánh Orsini và Colonna tại Rome. Ông đã thu phục tất cả những người theo phe họ vốn là những quý tộc, biến họ thành quý tộc của chính mình bằng cách ban cho họ bổng lộc lớn; ông tôn vinh họ bằng những chức vụ chỉ huy và chính quyền tùy theo năng lực, đến nỗi chỉ trong vài tháng, lòng trung thành phe phái trong tâm trí họ bị xóa sạch và tất cả đều hướng về phía vị Công tước. Sau đó, ông chờ đợi cơ hội để tiêu diệt những thủ lĩnh nhà Orsini, sau khi đã làm tan rã nhà Colonna. Một cơ hội tốt đã đến, và ông đã tận dụng nó còn tốt hơn; vì khi phe Orsini nhận ra, dù đã muộn, rằng sự vĩ đại của công tước và Hội nhà thờ Catô chính là sự diệt vong của họ, họ đã tổ chức một cuộc họp tại Magione, gần Perugia.[11] Từ đó nảy sinh cuộc nổi loạn ở Urbino, những cuộc bạo loạn ở Romagna, và vô vàn hiểm nguy cho công tước, người đã vượt qua tất cả với sự hỗ trợ của người Pháp.
Khi uy danh đã được khôi phục, ông không còn tin cậy người Pháp hay bất kỳ lực lượng ngoại bang nào khác; và để không phải đặt mình vào sự thử thách của họ, ông đã dùng đến mưu kế. Ông biết che giấu ý định của mình khéo léo đến mức chính phe Orsini, thông qua Paolo Orsini, đã hòa giải với ông. Vị Công tước không thiếu bất kỳ cử chỉ nào để trấn an Paolo: ban cho ông tiền bạc, phục sức và ngựa chiến, cho đến khi sự cả tin đã đưa họ vào tay ông tại Sinigaglia. [12] Khi những thủ lĩnh này đã bị tiêu diệt và phe cánh của họ trở thành thân hữu của ông, vị Công tước đã đặt được những nền móng vững chắc cho quyền lực của mình; bởi vì ông đã nắm giữ toàn bộ Romagna cùng công quốc Urbino. Đặc biệt, ông tin rằng mình đã chiếm được lòng tin của vùng Romagna và thu phục được dân chúng ở đó, khi họ bắt đầu được nếm trải một trật tự và sự thịnh trị.
Vì điểm này rất đáng chú ý và đáng để người khác noi theo, tôi không muốn bỏ qua nó. Khi vị công tước tiếp quản Romagna, ông thấy vùng này trước đó được cai quản bởi những lãnh chúa bất lực, những kẻ chỉ biết bóc lột thần dân hơn là cai trị họ; vì thế họ gây ra sự chia rẽ thay vì tạo dựng sự thống nhất. Do đó vùng đất này đầy rẫy trộm cướp, tranh chấp và đủ mọi thói ngang ngược. Vì vậy ông phán đoán rằng, nếu muốn lập lại hòa bình và đưa dân chúng trở lại sự phục tùng đối với quyền lực của nhà nước, thì cần phải thiết lập một chính quyền mạnh mẽ. [13] Bởi vậy ông đã đặt Messer Remirro de Orco, một người tàn bạo nhưng quyết đoán, cai quản nơi này với quyền lực gần như tuyệt đối.
Trong một thời gian ngắn, Remirro đã lập lại trật tự và thống nhất vùng đất, nhờ đó tạo dựng uy danh lớn lao. Sau đó, vị công tước nhận thấy rằng một quyền lực quá lớn như vậy không còn cần thiết nữa, và ông lo rằng nó có thể trở thành nguyên nhân gây ra sự thù ghét. Vì thế ông thiết lập một tòa án dân sự ở trung tâm vùng đất, với một vị chủ tọa xuất sắc, nơi mỗi thành thị đều có đại diện riêng. Và bởi ông biết rằng sự nghiêm khắc trước kia đã gây ra nhiều oán hận đối với Remirro, nên để xoa dịu dân chúng và thu phục họ hoàn toàn về phía mình, ông muốn chứng tỏ rằng nếu có bất kỳ sự tàn bạo nào đã xảy ra, thì điều đó không bắt nguồn từ ông mà từ bản tính khắc nghiệt của thuộc hạ. Vì vậy, nhân một dịp thích hợp, một buổi sáng nọ ông cho đặt xác Remirro tại quảng trường Cesena, thân thể bị chặt làm đôi, bên cạnh là một khúc gỗ và một con dao vấy máu.Cảnh tượng tàn khốc ấy khiến dân chúng vừa thỏa mãn vừa kinh hoàng.
Nhưng hãy quay lại điểm chúng ta đã dừng lại. Tôi khẳng định rằng khi công tước thấy mình đã trở nên rất quyền lực và an toàn trước những hiểm nguy hiện tại — vì ông đã tổ chức lực lượng quân sự theo ý mình và đã tiêu diệt phần lớn những thế lực lân cận có thể đe dọa ông [14]— thì điều còn lại, nếu muốn tiếp tục mở rộng lãnh địa, là phải dè chừng vua Pháp. Ông biết rằng nhà vua sẽ không dung thứ cho điều đó, vì người Pháp đã nhận ra sai lầm của mình, tuy là quá muộn. Vì vậy ông bắt đầu tìm kiếm những liên minh mới và tránh phụ thuộc vào Pháp trong chiến dịch mà người Pháp đang tiến hành hướng về vương quốc Naples chống lại quân Tây Ban Nha đang bao vây Gaeta. Mục đích của ông là tự bảo vệ mình trước họ; và ông hẳn đã sớm đạt được điều này nếu Alexander còn sống.
Đó là những tính toán của ông đối với tình thế trước mắt. Nhưng đối với tương lai, ông phải lo sợ trước hết rằng người kế vị mới của hội nhà thờ Catô có thể không thân thiện với mình và sẽ tìm cách tước đoạt những gì Alexander đã ban cho ông. Vì vậy ông dự định bảo vệ mình bằng bốn biện pháp: thứ nhất, tiêu diệt dòng dõi của tất cả những lãnh chúa mà ông đã tước đoạt đất đai, để loại bỏ khả năng họ được vua chiên mới phục hồi; thứ hai, thu phục toàn bộ giới quý tộc ở Rome, như đã nói, để có thể kiềm chế vua chiên thông qua họ; thứ ba, tạo cho mình một phe cánh mạnh trong Hồng y đoàn; thứ tư, trước khi vua chiên qua đời phải chiếm hữu một lãnh thổ đủ lớn để có thể tự mình chống lại đòn tấn công đầu tiên.[15]
Trong bốn điều này, khi Alexander qua đời ông đã hoàn thành được ba điều; điều thứ tư cũng gần như hoàn tất. Trong số những lãnh chúa bị tước đoạt, ông đã giết hầu hết những người rơi vào tay mình, và chỉ rất ít người thoát được; giới quý tộc La Mã đã bị ông thu phục; trong Hồng y đoàn ông có một phe cánh rất lớn. Về việc mở rộng lãnh thổ, ông đã dự định trở thành chủ nhân của Tuscany; ông đã chiếm giữ Perugia và Piombino, và đặt Pisa dưới sự bảo hộ của mình. Khi không còn phải kiêng dè nước Pháp nữa — điều sắp xảy ra, vì người Pháp đã bị người Tây Ban Nha tước mất vương quốc Naples, khiến cả hai bên đều cần đến tình hữu nghị của ông — thì ông sẽ lập tức chiếm Pisa. Sau đó Lucca và Siena sẽ nhanh chóng khuất phục, một phần vì ganh ghét Florence, một phần vì sợ hãi; còn Florence thì không có cách nào tự bảo vệ. Nếu ông thành công trong việc này — điều mà ông đã tiến rất gần vào chính năm Alexander qua đời — thì ông sẽ đạt được sức mạnh và uy thế lớn đến mức có thể tự đứng vững bằng lực lượng của mình, [16] không còn phụ thuộc vào vận may và sức mạnh của người khác, mà dựa vào chính quyền lực và bản lĩnh chính trị của chính mình.
Nhưng Alexander qua đời chỉ năm năm sau [17] khi công tước bắt đầu hành động. Ông để lại công tước với duy nhất vùng Romagna được củng cố vững chắc, còn tất cả những dự định khác vẫn dang dở; công tước lại bị kẹp giữa hai đội quân thù địch hùng mạnh, và bản thân thì mắc bệnh nặng đến mức gần chết. Tuy nhiên, công tước có ý chí kiên quyết và bản lĩnh chính trị lớn; ông hiểu rất rõ rằng con người phải được hoặc thu phục, hoặc tiêu diệt; và những nền móng mà ông đã đặt ra trong thời gian ngắn ấy vững chắc đến mức nếu không bị hai đội quân kia uy hiếp, hoặc nếu bản thân khỏe mạnh, ông đã có thể vượt qua mọi khó khăn.
Sự vững chắc của những nền móng đó có thể thấy rõ: Romagna vẫn chờ đợi ông hơn một tháng; tại Rome, dù chỉ còn thoi thóp, ông vẫn được an toàn; và mặc dù nhà Baglioni, Vitelli và Orsini kéo quân đến Rome, không ai đứng về phía họ chống lại ông. Nếu ông không thể lập vua chiên theo ý mình, ít nhất ông cũng có thể ngăn cản người mà ông không muốn lên ngôi. Nếu khi Alexander chết mà công tước còn khỏe mạnh, mọi việc hẳn đã dễ dàng cho ông. Vào ngày vua chiên Julius II được bầu, [18] công tước nói với tôi rằng ông đã dự liệu mọi tình huống có thể xảy ra khi cha mình qua đời và đã chuẩn bị phương án cho tất cả, ngoại trừ một điều: ông không bao giờ nghĩ rằng vào chính lúc cha mình chết thì bản thân ông cũng đang cận kề cái chết.
Tóm lại, nếu xem xét toàn bộ hành động của công tước, tôi không thấy có điều gì đáng trách; trái lại, tôi cho rằng ông xứng đáng được nêu ra làm tấm gương cho tất cả những ai đạt được quyền lực nhờ vận may và nhờ lực lượng của người khác. Với tham vọng lớn và bản lĩnh chính trị mạnh mẽ, ông không thể hành động khác hơn; điều duy nhất phá hỏng kế hoạch của ông là cái chết sớm của Alexander và bệnh tật của chính ông.
Vì vậy, bất kỳ ai xét rằng trong một lãnh địa mới cần phải tự bảo vệ trước kẻ thù, thu phục bạn bè, chiến thắng bằng vũ lực hoặc bằng mưu lược, khiến dân chúng vừa yêu vừa sợ, khiến binh lính phục tùng và kính trọng, tiêu diệt những người có thể hoặc có khả năng gây hại, [19], thay đổi những trật tự cũ bằng những thiết chế mới, vừa nghiêm khắc vừa khoan dung, vừa rộng rãi vừa quyết đoán, giải tán một quân đội không trung thành để xây dựng một quân đội mới, duy trì quan hệ với những quân vương sao cho họ phải ban ơn hoặc phải dè chừng khi gây hại — thì sẽ không tìm thấy một tấm gương mới mẻ và rõ ràng hơn những hành động của con người này.
Chỉ có thể trách ông ở một điểm: ông đã để cho Julius trở thành vua chiên, và đó là một lựa chọn sai lầm. Bởi như đã nói, nếu ông không thể lập người mình muốn lên ngôi, thì ít nhất ông cũng có thể ngăn cản những người khác. Ông không bao giờ nên đồng ý để những hồng y mà ông đã từng làm hại, hoặc những người khi trở thành vua chiên sẽ phải sợ ông, được lên ngôi. Bởi con người gây hại cho người khác hoặc vì sợ hãi, hoặc vì thù hận. Những người ông từng làm hại gồm San Piero ad Vincula, Colonna, San Giorgio và Ascanio; [20] còn những người khác nếu lên ngôi đều sẽ sợ ông, ngoại trừ Hồng y Rouen và người Tây Ban Nha: người Tây Ban Nha vì quan hệ huyết thống và nghĩa vụ, còn Hồng y Rouen vì quyền lực của ông gắn liền với vương quốc Pháp.[21]
Vì vậy, trước hết công tước nên ủng hộ một người Tây Ban Nha trở thành vua chiên; nếu điều đó không thể, thì nên chấp nhận Hồng y Rouen chứ không phải San Piero ad Vincula. Bất cứ ai tin rằng những ân huệ mới có thể khiến những vĩ nhân quên đi những tổn thương cũ thì người đó đang tự lừa dối mình. [22] Vì Công tước đã sai lầm trong lựa chọn này, và chính sai lầm đó đã dẫn đến sự sụp đổ cuối cùng của ông.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Feb/2026)
(Còn tiếp.. →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
https://chuyenxgan.blogspot.com/
[1] [Nghĩa đen: đức hạnh. > bản lãnh chính trị
[2] [Đại từ nhân xưng trang trọng hoặc số nhiều “ngài”.
[3] [Hoặc cầu nguyện
[4] [Savonarola (1452–98) là một tu sĩ dòng Dominican đến Florence để thuyết giảng vào năm 1481, và đã thành công trong việc thuyết phục người dân Florence, những người tự cho mình là “không thô lỗ cũng không ngu dốt”, rằng “ông ấy nói chuyện với Gót”. So sánh với Bài giảng về Livy I 11, nơi NM ca ngợi thành tựu này và không đề cập, như ông ấy đã làm ở đây, đến cái chết khủng khiếp của Savonarola bằng cách bị thiêu sống.
[5] [Các nguồn có thể: Polybius, I 8, 16; VII 8; Livy XXIV 4; Justin, XXIII 4; I Samuel 18: 8. So sánh với Dedicatory Letter to the Discourses on Livy
[6] [Darius I (521–486 TCN), không phải Darius III như ở Chương 4.
[7] [Về việc binh lính bầu chọn các hoàng đế La Mã, xem Chương 19.
[8] [Hoặc thời gian.
[9] [Về cụm từ này, xem NM (Niccolò Machiavelli), Luận bàn về Livy I 41.
[10] [Nhà Orsini và nhà Colonna là hai đại gia tộc quý tộc ở Rome, những kẻ đã chiến đấu lâu dài để kiểm soát Rome và giáo hoàng.
[11] [Ngày 9 tháng 10 năm 1502.
[12] [Xem tường thuật của NM về sự kiện này trong bài “Mô tả phương pháp Công tước Valentino đã sử dụng để giết Vitellozzo Vitelli, Oliverotto da Fermo và những kẻ khác”, trong Allan Gilbert, dịch, Những tác phẩm chính của Machiavelli, 3 tập (Durham, N.C.: Nhà xuất bản Đại học Duke, 1965), 1:163–69.
[13] quyền lực: potestà, không phải potenzia; cụm từ này gợi nhắc đến yêu sách của giáo hoàng về sự sung mãn của quyền năng (plenitudo potestatis).
[14] [Nghĩa đen: bị xúc phạm/tổn thương.
[15] [Nghĩa đen: sự thúc bách/xung lực (impetus).
[16] [potenzia
[17] [Alexander hay Cesare?
[18] [NM đã ở Rome vào thời điểm diễn ra mật nghị bầu chọn Julius II làm giáo hoàng vào tháng 10-12 năm 1503.
[19] [offendere (ở đây và dưới đây) không chỉ đơn thuần là sự coi thường, mà là gây hại đến mức dẫn đến sự xúc phạm/hận thù.
[20] [Trong danh sách các hồng y đầy vẻ bất kính này, Giuliano della Rovere (người trở thành Giáo hoàng Julius II) được gọi tên theo nhà thờ của ông tại Rome là San Pietro ở Vincoli; Giovanni Colonna; Raffaelo Riario, được gọi theo tên San Giorgio; Ascanio Sforza
[21] [Hồng y Georges d’Amboise, giám mục vùng Rouen; xem Chương 3.
[22] [Xem NM, Luận bàn về Livy III 4.
