Saturday, March 21, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (06)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )






TIẾT IV.

Những Nghi Vấn Liên Quan Đến Những Hoạt Động Của Khả Năng Nhận thức

 

PHẦN II.

 

E 5.10, SBN 47-8

Không gì tự do hơn trí tưởng tượng của con người; và dù nó không thể vượt quá kho chứa những ý niệm ban đầu, vốn được những giác quan bên trong và bên ngoài cung cấp, nó có một năng lực vô hạn trong việc pha trộn, kết hợp, tách rời và phân chia những ý niệm ấy thành đủ mọi loại hư cấu và ảo tưởng. Nó có thể dựng lên một chuỗi sự kiện, với tất cả vẻ ngoài của thực tại, gán cho chúng một thời gian và địa điểm cụ thể, hình dung chúng như đang hiện hữu, tự vẽ ra một bức tranh về chúng với mọi chi tiết, thuộc về bất kỳ sự kiện lịch sử nào vốn nó tin tưởng với sự chắc chắn cao nhất. Vậy thì, sự khác biệt giữa một hư cấu như thế và tin tưởng nằm ở đâu? Nó không chỉ nằm ở bất kỳ ý niệm riêng biệt nào gắn liền với một cách hình dung buộc chúng ta phải chấp nhận, và lại vắng mặt trong mọi hư cấu chúng ta biết.

Vì trí tuệ có quyền chi phối tất cả những ý niệm của nó, nó có thể tự ý gắn ý niệm cụ thể này vào bất kỳ sự hư cấu nào, và do đó có thể tin vào bất cứ điều gì nó muốn; điều này trái ngược với những gì chúng ta quan sát được trong kinh nghiệm hằng ngày. Chúng ta có thể, trong trí tưởng tượng, ghép đầu của một người vào thân một con ngựa; nhưng không trong khả năng của chúng ta để tin rằng rằng một con vật như thế đã từng thực sự hiện hữu.

 

E 5.11, SBN 48

Do đó, hệ quả là sự khác biệt giữa hư cấu và tin tưởng nằm ở một cảm xúc hoặc cảm giác nào đó, vốn được gắn liền với tin tưởng) chứ không phải với hư cấu, và cảm giác này không phụ thuộc vào ý chí, cũng không thể bị điều khiển theo ý muốn.Tự nhiên phải khơi dậy nó, giống như tất cả những cảm xúc khác; và nó phải nảy sinh từ hoàn cảnh cụ thể vốn trí tuệ được đặt vào tại bất kỳ thời điểm đặc thù nào. Bất cứ khi nào một đối tượng hiện diện trước trí nhớ hoặc giác quan, sức mạnh của thói quen sẽ ngay lập tức thôi thúc trí tưởng tượng hình dung ra đối tượng thường kết nối với nó; và việc hình dung này đi kèm với một cảm giác hoặc cảm xúc, khác biệt với những sự mơ mộng lỏng lẻo của trí tưởng tượng thuần túy.

Toàn bộ bản chất của tin tưởng nằm ở điều này. Bởi vì không có sự kiện thực tế nào vốn chúng ta tin tưởng chắc chắn đến mức không thể hình dung ra điều ngược lại, nên sẽ chẳng có sự khác biệt nào giữa một hình dung được chúng ta chấp thuận và một hình dung bị chúng ta bác bỏ, nếu không có một cảm xúc nào đó để phân biệt cái này với cái kia.

Nếu tôi nhìn thấy một quả bóng bi-da đang lăn về phía một quả bóng khác trên mặt bàn phẳng, tôi có thể dễ dàng hình dung nó sẽ dừng lại khi va chạm. Hình dung này không chứa đựng mâu thuẫn nào; nhưng nó vẫn mang lại cảm giác rất khác biệt so với hình dung vốn qua đó tôi tự biểu hiện cho mình về xung lực và sự truyền chuyển động từ quả bi-da này sang quả bi-da kia.

 

E 5.12, SBN 48-50

Nếu chúng ta cố gắng cho một định nghĩa về cảm xúc này, có lẽ chúng ta sẽ thấy đó là một nhiệm vụ rất khó khăn, nếu không muốn nói là không thể được; cũng giống như việc chúng ta cố gắng định nghĩa cảm xúc lạnh lùng hay giận dữ mãnh liệt cho một sinh vật chưa từng có bất kỳ kinh nghiệm nào về những cảm xúc này.

Tin tưởng là tên gọi đúng và thích hợp của cảm xúc này; và không ai lại từng phải lúng túng không thể hiểu ý nghĩa của từ ngữ đó; bởi vì mọi người trong từng khoảnh khắc đều ý thức được cảm xúc nó biểu thị. Tuy nhiên, có lẽ không phải là không thích hợp nếu cố gắng mô tả cảm xúc này; với hy vọng rằng bằng cách đó, chúng ta có thể đi đến một một số tương đồng, có thể cung cấp một lời giải thích hoàn thiện hơn về nó. Vậy thì tôi nói rằng, tin tưởng không gì khác hơn là một hình dung về một đối tượng sống động, mạnh mẽ, vững chắc và ổn định hơn so với những gì trí tưởng tượng đơn thuần có thể đạt được. Sự đa dạng này về từ ngữ, dù có vẻ không mang tính triết học, chỉ nhằm mục đích diễn tả hoạt động của tâm trí, hoạt động làm cho những thực tại, hoặc những gì được coi là thực tại, trở nên hiện hữu với chúng ta hơn là những hư cấu, khiến chúng có trọng lượng hơn trong suy nghĩ, và mang lại cho chúng một ảnh hưởng vượt trội lên tình cảm và trí tưởng tượng. Miễn là chúng ta đồng ý về bản chất của vấn đề, thì không cần phải tranh luận về những từ ngữ. Trí tưởng tượng có quyền chi phối tất cả những ý niệm của nó, và có thể kết hợp, pha trộn và biến đổi chúng theo tất cả những cách có thể. Nó có thể hình dung những đối tượng hư cấu với đầy đủ tất cả những hoàn cảnh về không gian và thời gian. Nó có thể, theo một cách nào đó, đặt chúng trước mắt chúng ta, trong những màu sắc chân thực của chúng, như thể chúng đã thực sự hiện hữu.

Nhưng vì năng lực tưởng tượng này tự nó không bao giờ có thể đạt tới tin tưởng, nên rõ ràng là tin tưởng không nằm ở bản chất hay trật tự đặc biệt của những ý niệm, mà nằm ở cách thức chúng được cảm nhận và cách chúng tác động đến não thức. Tôi thừa nhận rằng không thể giải thích một cách hoàn hảo cảm giác hay cách thức hình dung này. Chúng ta có thể dùng những từ ngữ diễn tả một gì đó gần với nó. Nhưng tên gọi đúng và thích hợp của nó, như chúng ta đã nhận xét trước đây, chính là tin tưởng một thuật ngữ mà ai cũng hiểu rõ trong đời sống thường nhật. Và trong triết học, chúng ta không thể đi xa hơn việc khẳng định rằng tin tưởng là một thứ gì đó được não thức cảm nhận, vốn phân biệt những ý niệm của phán đoán với những hư cấu của trí tưởng tượng. Nó đem lại cho chúng nhiều trọng lượng và ảnh hưởng hơn; khiến chúng xuất hiện với sự quan trọng lớn hơn; củng cố chúng não thức và khiến chúng trở thành nguyên lý chi phối hành động của chúng ta.Thí dụ, hiện tại tôi nghe thấy giọng nói của một người vốn tôi quen biết; và âm thanh như đến từ phòng bên cạnh. Ấn tượng này từ những giác quan của tôi ngay lập tức dẫn suy nghĩ của tôi đến người đó, cùng với tất cả những vật thể xung quanh. Tôi tự họa ra chúng như thể chúng đang hiện hữu ngay lúc này, với cùng những phẩm chất và quan hệ giống như trước đây tôi biết chúng có. Những ý niệm này chiếm lấy tâm trí tôi nhanh hơn là cả những ý niệm về một lâu đài phù phép. Chúng rất khác biệt với cảm xúc, và có ảnh hưởng lớn hơn nhiều về mọi mặt, dù là để mang lại  vui sướng hay đau đớn, hân hoan hay ưu sầu.

 

E 5.13, SBN 50

Vậy thì, chúng ta hãy bao quát toàn bộ phạm vi của học thuyết này, và thừa nhận rằng: cảm xúc về tin tưởng [1] chẳng qua là một cách thức hình dung sống động và bền vững hơn so với những gì đi kèm với những hư cấu thuần túy của trí tưởng tượng; và rằng cách thức hình dung này phát sinh từ sự liên kết theo thói quen giữa đối tượng với một cái gì đó đang hiện diện trước trí nhớ hoặc những giác quan. Tôi cho rằng, dựa trên những giả định ấy, sẽ không khó để tìm ra những hoạt động khác của trí tuệ tương tự như hiện tượng này, và quy những hiện tượng ấy về những nguyên lý còn tổng quát hơn nữa.

 

E 5.14, SBN 50-1

Chúng ta đã quan sát thấy rằng thiên nhiên đã thiết lập những liên hệ giữa những ý niệm cụ thể, và ngay khi một ý niệm xuất hiện trong suy nghĩ của chúng ta, nó lập tức gợi lên ý niệm tương quan của nó, và dẫn dắt sự chú ý của chúng ta hướng về phía ý niệm ấy bằng một chuyển động êm nhẹ và hầu như không thể cảm nhận. Chúng ta đã quy giản những nguyên lý liên kết hay liên tưởng này thành ba loại, cụ thể là: Sự Tương Đồng (Resemblance), Sự Kế Cận (Contiguity), và Quan Hệ Nhân Quả (Causation); đây là những sợi dây liên kết duy nhất hợp nhất những suy nghĩ của chúng ta với nhau, và tạo ra chuỗi suy tưởng hay lập luận đều đặn, diễn ra ở mức độ nhiều hay ít giữa toàn thể loài người.

Giờ đây nảy sinh một câu hỏi mà lời giải cho khó khăn hiện tại sẽ phụ thuộc vào đó. Liệu trong tất cả những quan hệ này, có phải khi một trong những đối tượng trình diện trước giác quan hoặc trí nhớ, tâm trí không chỉ bị dẫn dắt tới sự hình dung về ý niệm tương quan, mà còn đạt tới một sự hình dung về nó vững chắc và sinh động hơn so với những gì mà nếu không có quan hệ ấy nó có thể đạt tới hay không? Điều này dường như đúng đối với tin tưởng nảy sinh từ quan hệ nhân quả. Và nếu trường hợp này cũng tương tự với những quan hệ hay nguyên lý liên tưởng khác, thì chúng ta có thể xác lập điều đó như một quy luật tổng quát chi phối mọi hoạt động của tâm trí

 

E 5.15, SBN 51

Do đó, chúng ta có thể quan sát, như thí nghiệm đầu tiên cho mục đích hiện tại của chúng ta, rằng, khi xuất hiện bức ảnh của một người bạn vắng mặt, ý niệm của chúng ta về người này rõ ràng được làm sống động bởi sự tương đồng, và tất cả những tình cảm vốn ý niệm ấy khơi dậy—dù là vui thích hay buồn bã— đều có được sức mạnh và sinh lực mới. Để tạo ra tác dụng này, cả một liên hệ và một ấn tượng hiện tại đều đồng thời xảy ra. Nơi nào bức ảnh không mang sự tương đồng nào với người này, hoặc ít nhất không dự định cho người này, , thì nó không bao giờ truyền tải suy nghĩ của chúng ta đến người này: Và nơi nào nó vắng mặt, cũng như chính người này vắng mặt, dù tâm trí có thể có thể chuyển từ ý nghĩ về người này sang ý nghĩ về người khác, nó vẫn cảm thấy những ý niệm của nó bị suy giảm hơn là được làm cho sống động bởi sự chuyển đổi đó. Chúng ta thích thú khi nhìn bức ảnh của một người bạn khi nó hiện diện trước mắt; nhưng khi nó không còn đó, thì tốt hơn là nghĩ trực tiếp về người ấy, hơn là qua một hình ảnh phản chiếu—vốn xa xăm và mờ mịt như nhau.

 

E 5.16, SBN 51-2

Những nghi lễ của Hội nhà thờ Kitô Rôma có thể được xem như những ví dụ cùng bản chất. Những tín đồ của sự mê tín này thường đưa ra lời biện hộ cho những điều phù phiếm mà người ta chỉ trích họ, rằng họ cảm nhận được tác dụng tích cực của những động tác, tư thế và hành vi bên ngoài ấy trong việc làm cho lòng sùng kính trở nên sống động và khơi dậy lòng nhiệt thành —những điều vốn sẽ suy yếu nếu họ chỉ hướng về những đối tượng xa vời và phi vật chất.

Họ nói rằng, bằng những hình ảnh và biểu tượng hữu hình, chúng ta đưa những đối tượng của lòng tin tôn giáo ra khỏi bóng tối, và làm cho chúng hiện diện rõ ràng hơn trước chúng ta nhờ sự hiện diện trực tiếp của những hình tượng ấy, hơn là chỉ bằng năng lực trí tuệ và sự suy tưởng. những đối tượng hữu hình luôn có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đối với trí tưởng tượng so với bất kỳ đối tượng nào khác; và ảnh hưởng này chúng dễ dàng truyền sang những ý niệm mà chúng có liên hệ và tương đồng.

Tôi chỉ suy ra từ những thực hành này, và lý luận này, rằng tác động của sự tương đồng trong việc làm sống động những ý niệm là rất phổ biến; và vì trong tất cả những trường hợp, một sự tương đồng và một ấn tượng hiện tại phải

đồng thời hiện hữu, chúng ta có rất nhiều thí nghiệm để chứng minh tính hiện thực của nguyên lý nói trên.

 

E 5.17, SBN 52

Chúng ta có thể thêm sức thuyết phục cho những thí nghiệm này bằng những thí nghiệm khác thuộc một loại khác, trong việc xem xét những tác động của sự kế cận cũng như của sự tương đồng. Chắc chắn rằng, khoảng cách làm giảm sức mạnh của mọi ý niệm, và khi chúng ta tiến lại gần bất kỳ đối tượng nào, dù đối tượng đó không tự bộc lộ ra với giác quan chúng ta, nó vẫn tác động lên não thức chúng ta với một ảnh hưởng vốn  bắt chước một ấn tượng trực tiếp.

Việc suy nghĩ về bất kỳ đối tượng nào cũng dễ dàng đưa não thức đến những gì liền kề; nhưng chỉ khi một đối tượng thực sự hiện diện, nó mới đưa não thức đến những gì liền kề với một sức sống mãnh liệt hơn.

Khi tôi cách nhà vài dặm đường, những gì liên quan đến nó tác động tôi hơn so với khi tôi còn cách hai trăm dặm; mặc dù ngay cả ở khoảng cách đó, việc ngẫm nghĩ về bất cứ gì gì trong vùng lân cận của bạn bè hay gia đình tôi vẫn tự nhiên tạo ra một ý niệm về họ. Nhưng như trong trường hợp sau này, cả hai đối tượng của não thức đều là ý niệm; dù có một sự chuyển đổi dễ dàng giữa chúng; chỉ riêng sự chuyển đổi đó không thể mang lại sự sống động vượt trội cho bất kỳ ý niệm nào, vì thiếu một ấn tượng trực tiếp nào đó[9].

 

E 5.18, SBN 53

Không ai có thể nghi ngờ quan hệ nhân quả cũng có cùng tác động như hai liên hệ còn lại là tương đồng và  kế cận. Những người tôn giáo mê tín rất thích những thánh tích của những vị thánh và những bậc tu hành đạo hạnh, vì cùng lý do mà họ tìm kiếm những mẫu hình hoặc hình tượng, nhằm làm sống động lòng sùng kính của họ, và mang lại cho họ một sự hình dung thân thuộc và mạnh mẽ hơn về những cuộc đời mẫu mực đó, những cuộc đời mà họ khao khát noi theo.

Giờ đây, rõ ràng rằng, một trong những di vật tốt nhất vốn một tín đồ có thể kiếm được chính là sản phẩm từ bàn tay của một vị thánh; và nếu người ta từng xem xét quần áo hay đồ đạc của vị ấy dưới góc độ này, thì đó là vì chúng từng thuộc quyền sử dụng của vị ấy, và chính vị ấy đã dịch chuyển cũng như tác động vào chúng; ở khía cạnh đó, chúng ta phải xem xét chúng như những hệ quả chưa hoàn hảo, và như những thứ kết nối với vị ấy bằng một chuỗi hệ quả ngắn hơn bất kỳ chuỗi nào mà qua đó chúng ta tìm hiểu về tính hiện thực của sự tồn tại của vị ấy.

 

E 5.19, SBN 53

Giả sử, con trai của một người bạn đã mất từ ​​lâu hoặc vắng mặt, được đưa đến gặp chúng ta; rõ ràng, sự xuất hiện của người này sẽ ngay lập tức khơi gợi lại hình ảnh gắn liền với người bạn đó, và gợi nhớ lại tất cả những kỷ niệm thân mật trong quá khứ, với những sắc màu sống động hơn so với những gì chúng sẽ hiện ra trước mắt chúng ta. Đây là một hiện tượng khác, dường như chứng minh cho nguyên lý đã nhắc đến ở trên.

 

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Mar/2026)

(Còn tiếp... →)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] the sentiment of belief : Hume định nghĩa cảm xúc về tin tưởng / cảm nhận về niềm tin không phải như một ý niệm mới thêm vào suy nghĩ, nhưng là một cảm xúc cụ thể hoặc “cách thức hình dung / cách thức nhận thức” phân biệt những ý niệm của phán đoán với những hư cấu đơn thuần của trí tưởng tượng. Tin tưởng là cơ chế tâm lý cung cấp “sự tin cậy vững chắc và an toàn” cần thiết cho sự tồn tại của con người và điều chỉnh hành vi trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.