Một Điều Tra
Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT V.
Giải Pháp Hoài Nghị Cho Những Nghị Vấn Này.
PHẦN II.
E 5.10, SBN 47-8
Không gì tự do hơn trí tưởng tượng của con
người; và dù nó không thể vượt quá kho chứa những ý niệm ban đầu, vốn được những giác quan bên
trong và bên ngoài cung cấp, nó có một năng lực vô hạn trong việc pha trộn, kết
hợp, tách rời và phân chia những ý niệm ấy thành đủ mọi loại hư cấu và ảo tưởng.
Nó có thể dựng lên một chuỗi sự kiện, với tất cả vẻ ngoài của thực tại, gán cho chúng một thời gian và địa điểm cụ
thể, hình dung chúng như đang hiện hữu, và tự vẽ ra một bức tranh về chúng với mọi chi tiết, thuộc về bất kỳ sự kiện lịch sử nào vốn nó tin tưởng với sự chắc
chắn cao nhất. Vậy thì, sự khác biệt giữa một hư cấu như thế và tin tưởng nằm ở
đâu? Nó không chỉ nằm ở bất kỳ ý niệm riêng biệt nào gắn liền với một cách hình
dung buộc chúng ta phải chấp nhận, và lại vắng mặt trong mọi hư cấu chúng ta biết.
Vì não thức có quyền chi phối tất cả những ý niệm của
nó, nó có thể tự ý gắn ý niệm cụ thể này vào bất kỳ hư cấu nào, và do đó có thể
tin vào bất cứ gì nó muốn; sự này trái ngược với những gì chúng ta quan sát được trong kinh nghiệm hằng
ngày. Trong trí tưởng tượng, chúng ta có thể ghép một đầu người vào thân một con ngựa [1]; nhưng không trong khả năng của chúng ta để tin rằng rằng một con vật như thế đã thực sự từng hiện hữu. [2]
E 5.11, SBN 48
Do đó, hệ quả là sự
khác biệt giữa hư cấu và tin tưởng nằm ở một cảm xúc hay cảm giác
nào đó, vốn được gắn liền với tin tưởng chứ không phải với hư cấu, và cảm giác này
không phụ thuộc vào ý chí, cũng không thể bị điều khiển theo ý muốn.Tự nhiên phải khơi dậy nó, giống như tất cả những cảm xúc khác; và nó phải
nảy sinh từ hoàn cảnh cụ thể vốn não thức được đặt vào tại bất kỳ thời điểm đặc thù nào. Bất cứ khi nào một đối tượng hiện diện trước trí nhớ hay giác quan, sức mạnh
của thói quen sẽ ngay lập tức thôi thúc trí tưởng tượng hình dung ra đối tượng thường
liên kết với nó; và việc hình dung này đi kèm với một cảm giác hay cảm xúc, khác
biệt với những sự mơ mộng lỏng lẻo của trí tưởng tượng thuần túy.
Toàn bộ bản chất của tin tưởng nằm ở điều này.
Bởi vì không có sự kiện thực tế nào vốn chúng ta tin tưởng chắc chắn đến mức không
thể hình dung ra điều ngược lại, nên sẽ chẳng có sự khác biệt nào giữa một hình
dung được chúng ta chấp thuận và một hình dung bị chúng ta bác bỏ, nếu không có
một cảm xúc nào đó để phân biệt một này với một kia.
Nếu tôi nhìn thấy một quả bi-a đang lăn về phía
một quả bóng khác trên mặt bàn phẳng, tôi có thể dễ dàng hình dung nó sẽ dừng lại
khi va chạm. Hình dung này không chứa đựng mâu thuẫn nào; nhưng nó vẫn mang lại
cảm giác rất khác biệt so với hình dung vốn qua đó tôi tự biểu hiện cho mình về
xung lực và sự truyền chuyển động từ quả bi-da này sang quả bi-da kia.
E 5.12, SBN 48-50
Nếu chúng ta cố gắng cho một định nghĩa về cảm xúc này, có lẽ chúng ta sẽ thấy đó là một nhiệm vụ rất khó khăn,
nếu không muốn nói là không thể được; cũng giống như việc chúng ta cố gắng định
nghĩa cảm xúc lạnh lùng hay giận dữ mãnh liệt cho một sinh vật chưa từng có bất kỳ kinh nghiệm nào
về những cảm xúc này.
Tin tưởng là tên gọi đúng và thích đáng của cảm xúc này; và không
ai lại từng phải lúng túng không thể hiểu ý nghĩa của từ ngữ đó; bởi vì mọi người trong từng khoảnh khắc đều ý thức được cảm xúc nó
biểu thị. Tuy nhiên, có lẽ không
phải là không thích hợp nếu cố gắng mô tả cảm xúc này; với hy vọng rằng bằng cách đó, chúng ta có thể đi đến một một số tương đồng, có
thể cung cấp một lời giải thích
hoàn thiện hơn về nó. Vậy thì tôi nói rằng, tin tưởng
không là gì khác hơn là một hình
dung về một đối tượng sống động, mạnh mẽ, vững chắc và ổn định hơn so với những gì
trí tưởng tượng đơn thuần có thể đạt được. Sự đa dạng này về từ ngữ, dù có vẻ không
mang tính triết học, chỉ nhằm mục đích diễn tả hoạt động của trí óc, hoạt động làm
cho những thực tại, hay những gì được coi là thực tại, trở nên hiện hữu với
chúng ta hơn là những hư cấu, khiến chúng có trọng lượng hơn trong suy nghĩ, và
mang lại cho chúng một ảnh hưởng vượt trội lên tình cảm và trí tưởng tượng. Miễn
là chúng ta đồng ý về bản chất của vấn đề, thì không cần
phải tranh luận về những từ ngữ. Trí tưởng tượng có quyền chi phối tất cả những
ý niệm của nó, và có thể kết hợp, pha trộn và biến đổi chúng theo tất cả những
cách có thể. Nó có thể hình dung những đối tượng hư cấu với đầy đủ tất cả những
hoàn cảnh về không gian và thời gian. Nó có thể, theo một cách nào đó, đặt chúng
trước mắt chúng ta, trong những màu sắc chân thực của chúng, như thể chúng đã thực
sự hiện
hữu.
Nhưng vì năng lực
tưởng tượng này tự nó không bao giờ có thể đạt tới tin tưởng, nên rõ ràng là
tin tưởng không nằm ở bản chất hay trật tự đặc biệt của những ý niệm, mà nằm ở cách
thức chúng được cảm nhận và cách chúng tác động đến não thức. Tôi nhìn nhận rằng không thể giải thích
một cách hoàn hảo cảm giác hay cách thức hình dung này. Chúng ta có thể dùng những từ ngữ diễn
tả một gì đó gần với nó. Nhưng tên gọi đúng và thích hợp của nó, như chúng ta đã
nhận xét trước đây, chính là tin tưởng— một thuật ngữ mà ai cũng hiểu rõ trong đời sống thường nhật. Và trong triết học, chúng ta không thể đi
xa hơn việc khẳng định rằng tin tưởng là một thứ gì đó được não thức cảm
nhận, vốn phân biệt những ý niệm của phán đoán với những hư cấu của trí tưởng tượng.
Nó đem lại cho chúng nhiều trọng lượng và ảnh hưởng hơn; khiến
chúng xuất hiện với sự quan trọng lớn hơn; củng cố chúng não thức và
khiến chúng trở thành nguyên lý chi phối hành động của chúng ta .Thí dụ, hiện
tại tôi nghe thấy giọng nói của một người vốn tôi quen biết; và âm thanh như
đến từ phòng bên cạnh. Ấn tượng này từ những giác quan của tôi ngay lập tức dẫn suy nghĩ của tôi đến
người đó, cùng với tất cả những vật thể xung quanh. Tôi tự họa ra chúng như thể chúng đang hiện hữu ngay lúc này, với cùng những
phẩm chất và quan hệ giống như trước đây tôi biết chúng có. Những ý niệm này chiếm
lấy trí óc tôi nhanh hơn là cả những ý niệm về một lâu đài phù phép. Chúng rất khác
biệt với cảm xúc, và có ảnh hưởng lớn hơn nhiều về mọi mặt, dù là để mang lại vui sướng hay đau đớn, hân hoan hay ưu sầu.
E 5.13, SBN 50
Vậy thì, chúng ta
hãy bao quát toàn bộ phạm vi của học thuyết này, và nhìn nhận rằng: cảm xúc về tin tưởng [3] chẳng qua là một cách
thức hình dung sống động và bền vững hơn so với những gì đi kèm với những hư cấu
thuần túy của trí tưởng tượng; và rằng cách thức hình dung này phát sinh
từ sự liên kết theo thói quen giữa đối tượng với một cái gì đó đang hiện diện trước
trí nhớ hay những giác quan. Tôi cho rằng, dựa trên những giả định ấy, sẽ không
khó để tìm ra những hoạt động khác của não thức tương tự như hiện tượng này, và
quy những hiện tượng ấy về những nguyên lý còn tổng quát hơn nữa.
E 5.14, SBN 50-1
Chúng ta đã quan sát thấy rằng thiên nhiên đã
thiết lập những liên kết giữa những ý niệm cụ thể, và ngay khi một ý niệm xuất hiện trong suy
nghĩ của chúng ta, nó lập tức gợi lên ý niệm tương quan của nó, và dẫn dắt sự chú
ý của chúng ta hướng về phía ý niệm ấy bằng một chuyển động êm nhẹ và hầu như không
thể cảm nhận. Chúng ta đã quy giản
những nguyên lý về sự liên kết hay sự liên tưởng này về thành ba loại, cụ thể là: Sự Tương Đồng (Resemblance), Sự Kế Cận
(Contiguity), và Quan Hệ Nhân Quả (Causation); đây là những sợi dây liên
kết duy nhất hợp nhất những
suy nghĩ của chúng ta với nhau, và tạo ra chuỗi suy tưởng hay
lập luận đều đặn, diễn ra ở mức độ nhiều hay ít giữa toàn thể loài người.
Giờ đây nảy sinh một câu hỏi mà lời giải cho khó
khăn hiện tại sẽ phụ thuộc vào đó. Liệu trong tất cả những quan hệ này, có phải khi một
trong những đối tượng trình diện trước giác quan hay trí nhớ, trí óc không chỉ bị
dẫn dắt tới sự hình dung về ý niệm tương quan, mà còn đạt tới một sự hình dung về
nó vững chắc và sinh động hơn so với những gì mà nếu không có quan hệ ấy nó có thể
đạt tới hay không? Điều này dường như đúng đối với tin tưởng nảy sinh từ quan hệ nhân
quả. Và nếu trường hợp này cũng tương tự với những quan hệ hay nguyên lý liên tưởng
khác, thì chúng ta có thể xác lập điều đó như một quy luật tổng quát chi phối mọi
hoạt động của trí óc
E 5.15, SBN 51
Do đó, chúng ta có thể quan sát, như thí
nghiệm đầu tiên cho mục đích hiện tại của chúng ta, rằng, khi xuất hiện bức ảnh
của một người bạn vắng mặt, ý niệm của chúng ta về người này rõ ràng được làm
sống động bởi sự tương đồng, và tất cả những tình cảm vốn ý niệm ấy khơi dậy—dù là vui thích hay buồn bã— đều có
được sức mạnh và sinh lực mới. Để tạo ra tác dụng này, cả một liên hệ và một ấn tượng
hiện tại đều đồng thời xảy ra. Nơi nào bức ảnh không mang sự tương đồng nào với
người này, hay ít nhất không dự định cho người này,, thì nó không bao giờ
truyền tải suy nghĩ của chúng ta đến người này: Và nơi nào nó vắng mặt, cũng như chính
người này vắng mặt, dù trí óc có thể có thể chuyển từ ý nghĩ về người này sang ý nghĩ
về người khác, nó vẫn cảm thấy những ý niệm của nó bị suy giảm hơn là được làm cho
sống động bởi sự chuyển đổi đó. Chúng
ta thích thú khi nhìn bức ảnh của một người bạn khi nó hiện diện trước mắt; nhưng
khi nó không còn đó, thì tốt hơn là nghĩ trực tiếp về người ấy, hơn là qua một hình
ảnh phản chiếu—vốn xa xăm và mờ mịt như nhau.
E 5.16, SBN 51-2
Những nghi lễ của
Hội nhà thờ Kitô Rôma có thể được xem như những ví dụ cùng bản chất. Những tín đồ
của sự mê tín này thường đưa ra lời biện hộ cho những điều phù phiếm mà người
ta chỉ trích họ, rằng họ cảm nhận được tác dụng tích cực của những động tác, tư
thế và hành vi bên ngoài ấy trong việc làm cho lòng sùng kính trở nên sống động
và khơi dậy lòng nhiệt thành —những điều vốn sẽ suy yếu nếu họ chỉ hướng về
những đối tượng xa vời và phi vật chất.
Họ nói rằng, bằng
những hình ảnh và biểu tượng hữu hình, chúng ta đưa những đối tượng của lòng tin
tôn giáo ra khỏi bóng tối, và làm cho chúng hiện diện rõ ràng hơn trước chúng
ta nhờ sự hiện diện trực tiếp của những hình tượng ấy, hơn là chỉ bằng năng lực
trí thức và sự suy tưởng. những đối tượng hữu hình luôn có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn
đối với trí tưởng tượng so với bất kỳ đối tượng nào khác; và ảnh hưởng này chúng
dễ dàng truyền sang những ý niệm mà chúng có quan hệ và tương đồng.
Tôi chỉ suy ra từ những thực hành này, và lý
luận này, rằng tác động của sự tương đồng trong việc làm sống động những ý niệm là rất phổ biến; và vì trong tất cả những trường hợp, một sự tương đồng và một ấn tượng hiện tại
phải
đồng thời hiện hữu, chúng ta có rất nhiều thí
nghiệm để chứng minh tính hiện thực của nguyên lý nói trên.
E 5.17, SBN 52
Chúng ta có thể thêm sức thuyết phục cho những thí
nghiệm này bằng những thí nghiệm khác thuộc một loại khác, trong việc xem xét những tác động của sự kế
cận cũng như của sự tương đồng.
Chắc chắn rằng, khoảng cách làm giảm sức mạnh của mọi ý niệm,
và khi chúng ta tiến lại gần bất kỳ đối tượng nào, dù đối tượng đó không tự bộc
lộ ra với giác quan chúng ta,
nó vẫn tác động lên não thức chúng ta với một ảnh hưởng vốn bắt chước một ấn
tượng trực tiếp.
Việc suy nghĩ về bất kỳ đối tượng nào cũng dễ dàng
đưa não thức đến những gì liền kề; nhưng chỉ khi một đối tượng thực sự hiện diện,
nó mới đưa não thức đến những gì liền kề với một sức sống mãnh liệt hơn.
Khi tôi cách nhà vài
dặm đường, những gì liên quan đến nó tác động tôi hơn so với khi tôi còn cách hai
trăm dặm; mặc dù ngay cả ở khoảng cách đó, việc ngẫm nghĩ về bất cứ gì gì trong vùng lân cận của bạn bè hay gia đình tôi vẫn tự nhiên tạo ra một
ý niệm về họ. Nhưng như trong trường hợp sau này, cả hai đối tượng của não thức đều
là ý niệm; dù có một sự chuyển đổi dễ dàng giữa chúng; chỉ riêng sự chuyển đổi
đó không thể mang lại sự sống động vượt trội cho bất kỳ ý niệm nào, vì thiếu
một ấn tượng trực tiếp nào đó [9].
E 5.18, SBN 53
Không ai có thể
nghi ngờ rằng quan hệ nhân quả cũng có sức ảnh hưởng tương tự như hai quan hệ
còn lại là sự tương đồng và sự kế cận. Những người mê tín say mê những thánh tích
của những vị thánh và những bậc tu hành đạo hạnh, vì cùng lý do mà họ tìm kiếm những
mẫu hình hay hình tượng, nhằm làm sống động lòng sùng kính của họ, và mang lại cho
họ một sự hình dung thân thuộc và mạnh mẽ hơn về những cuộc đời mẫu mực đó, những
cuộc đời mà họ khao khát noi theo. Giờ đây, rõ ràng rằng, một trong những di vật
tốt nhất vốn một tín đồ có thể có được chính là sản phẩm tự tay vị thánh làm ra;
và nếu quần áo hay đồ đạc của vị thánh được xem xét dưới góc độ này, thì đó là
vì chúng đã từng thuộc quyền sử dụng của vị ấy, từng được vị ấy chạm vào và tác
động; xét về phương diện này, chúng được coi là những hệ quả gián tiếp chưa hoàn
hảo, và được liên kết với vị ấy bằng một chuỗi hệ quả ngắn hơn bất kỳ chuỗi nào
mà qua đó chúng ta biết được sự hiện hữu thực sự của vị ấy.
E 5.19, SBN 53
Giả sử rằng con
trai của một người bạn, người đã qua đời hoặc vắng mặt từ lâu, hiện diện trước
mắt chúng ta ; rõ ràng là đối tượng này sẽ lập tức làm sống dậy ý niệm tương
ứng về người bạn đó, và gợi lại trong trí óc chúng ta tất cả những sự thân mật
và quen thuộc trong quá khứ với những sắc thái sống động hơn so với khi chúng
hiện ra theo bất kỳ cách nào khác. Đây là một hiện tượng
khác, dường như chứng minh cho nguyên lý đã nêu ở trên.
E 5.20, SBN 53-4
Chúng ta có thể
nhận thấy rằng, trong những hiện tượng này, tin tưởng vào đối tượng tương ứng
luôn luôn được giả định trước; nếu không có nó, quan hệ sẽ không thể có tác
dụng. Ảnh hưởng của hình ảnh giả định, định rằng chúng ta tin
tưởng người bạn của chúng ta đã một lần từng
hiện hữu. Sự cận kề với quê hương không bao giờ có thể gợi lên những ý niệm về
quê hương, trừ khi chúng ta tin rằng nó thực sự hiện hữu. Giờ
đây, tôi khẳng định rằng tin tưởng này, khi nó vượt ra ngoài trí nhớ hay giác
quan, có một bản chất tương tự, và
nảy sinh từ những nguyên nhân tương tự, như sự chuyển dịch
của tư tưởng và sự sống động của quan niệm đã được giải thích ở đây.
Khi tôi ném một
mẩu gỗ khô vào lửa, não thức tôi ngay lập tức bị cuốn sang việc hình dung rằng
nó làm tăng chứ không dập tắt ngọn lửa. Sự chuyển dịch của tư tưởng từ nguyên
nhân sang kết quả này không xuất phát từ lý trí. Nó hoàn toàn bắt nguồn từ thói
quen và kinh nghiệm. Và vì nó khởi đầu từ một đối tượng hiện diện trước giác
quan, nên nó làm cho ý niệm về ngọn lửa trở nên mạnh mẽ và sinh động hơn bất kỳ
sự mơ tưởng lỏng lẻo, phiêu dạt nào của trí tưởng tượng. Ý niệm ấy phát sinh
ngay lập tức. Tư tưởng lập tức hướng tới nó, và truyền cho nó toàn bộ sức mạnh
của sự hình dung vốn được rút ra từ ấn tượng hiện diện trước giác quan.
Khi một mũi kiếm chĩa thẳng vào ngực tôi,
chẳng lẽ ý niệm về vết thương và sự đau đớn lại không tác động đến tôi mạnh mẽ
hơn hẳn so với khi một ly rượu vang được đưa ra trước mặt tôi, ngay cả khi vì một sự
tình cờ nào đó mà ý niệm về cái đau ấy lại nảy ra sau khi ly rượu xuất hiện hay
sao?
Nhưng trong toàn
bộ sự việc này, có điều gì gây ra một sự hình dung mạnh mẽ như vậy, ngoài một
đối tượng hiện diện và một sự chuyển dịch theo thói quen sang ý niệm về một đối tượng khác, mà
chúng ta vốn quen liên kết với đối tượng trước đó? Đây chính là toàn bộ hoạt
động của não thức trong mọi kết luận của chúng ta liên quan đến những vấn đề thực tại và sự hiện hữu; và thật là
thỏa đáng khi tìm được những sự tương tự nào đó để qua đó có thể giải thích nó.
Sự chuyển dịch từ một đối tượng hiện diện, trong mọi trường hợp, đều mang lại sức
mạnh và tính xác thực cho ý niệm liên hệ.
E 5.21, SBN 54-5
Vậy thì, ở đây có
một dạng hài hòa được thiết lập sẵn (pre-established harmony) giữa tiến
trình của tự nhiên và sự nối tiếp của những ý niệm trong chúng ta ; và mặc dù những khả
năng và lực lượng chi phối tiến trình tự nhiên ấy hoàn toàn xa lạ với chúng ta,
song chúng ta vẫn nhận thấy rằng tư tưởng và những ý niệm của mình luôn vận hành theo cùng
một mạch với những vận hành khác của tự nhiên.
Thói quen chính
là nguyên lý tạo nên sự tương hợp này; và nguyên lý ấy thiết yếu cho sự duy trì
đời sống thực tiễn của loài người, cũng như cho việc điều chỉnh hành vi của chúng
ta trong mọi hoàn cảnh và sự kiện của đời sống. Nếu sự hiện diện của một đối tượng không ngay lập tức khơi
dậy trong chúng ta ý niệm về những đối tượng khác thường đi kèm với nó, thì
toàn bộ tri thức của chúng ta hẳn đã bị giới hạn trong phạm vi chật hẹp của ký
ức và giác quan; và chúng ta sẽ không bao giờ có thể điều chỉnh phương tiện cho
phù hợp với mục đích, hay vận dụng những năng lực tự nhiên của mình, dù là để tạo
ra điều thiện hay để tránh điều ác. Những ai ưa thích khám
phá và chiêm nghiệm về những nguyên nhân cứu cánh, [4] ở đây có một đề tài
dồi dào để họ vận dụng sự kinh ngạc và lòng thán phục
E 5.22, SBN 55
Tôi xin bổ sung,
nhằm củng cố hơn nữa cho học thuyết đã nêu, rằng: vì hoạt động này của não thức
— nhờ đó chúng ta suy ra những kết quả giống nhau từ những nguyên nhân giống
nhau, và ngược lại — là vô cùng thiết yếu cho sự duy trì của loài người,
nên không thể phó mặc nó cho những suy luận sai lầm của lý trí, vốn vận hành
chậm; hầu như không xuất hiện trong những năm đầu đời; và ngay cả trong điều
kiện tốt nhất, ở mọi độ tuổi và giai đoạn của cuộc đời con người, lý trí vẫn
cực kỳ dễ mắc sai sót và nhầm lẫn.
Sẽ phù hợp hơn
với sự khôn ngoan thông thường của tự nhiên khi bảo đảm cho một hành vi tối cần
thiết của não thức bằng một bản năng hoặc một khuynh hướng cơ học nào đó — thứ
có thể vận hành không sai lạc, tự bộc lộ ngay từ lần xuất hiện đầu tiên của sự
sống và tư tưởng, và tồn tại độc lập với mọi suy luận công phu của lý trí.
Cũng như thiên
nhiên đã dạy chúng ta cách dùng tay chân nhưng không cung cấp cho chúng ta tri
thức về những bắp thịt và dây thần kinh khiến chúng vận động, tự nhiên cũng đã
gieo vào trong chúng ta một bản năng, thúc đẩy tư tưởng tiến hành theo một lộ
trình tương ứng với lộ trình vốn tự nhiên đã thiết lập giữa những đối tượng bên
ngoài; mặc dù chúng ta hoàn toàn không biết gì về những khả năng và sức mạnh, vốn
toàn bộ trật tự và sự nối tiếp đều phụ thuộc vào.
E 5.5n8, SBN 43
8. Xem GHI CHÚ [B].
E 5.5n8. 1, SBN 43-4
KHÔNG CÓ GÌ phổ
biến hơn việc những tác giả, ngay cả khi viết về những đề tài đạo đức, chính
trị hay vật lý, phân biệt giữa lý trí và kinh nghiệm, và giả định rằng hai hình
thức lập luận này hoàn toàn khác nhau. Họ coi lý trí là kết quả đơn thuần của
những năng lực trí thức: bằng cách xem xét tiên nghiệm bản chất của sự vật và
khảo sát những tác động tất yếu nảy sinh từ hoạt động của chúng, lý trí thiết
lập những nguyên lý cụ thể của khoa học và triết học. Ngược lại, kinh nghiệm
được cho là hoàn toàn bắt nguồn từ giác quan và quan sát; nhờ đó chúng ta biết
được điều gì thực sự đã xảy ra từ hoạt động của những đối tượng cụ thể, và từ
đó có thể suy ra điều gì sẽ xảy ra trong tương lai. Ví dụ, những hạn chế và
ràng buộc của chính quyền dân sự, cũng như một hiến pháp, có thể được bảo vệ
bằng lý trí, vốn phản ánh sự yếu đuối và tha hóa lớn của bản chất con người,
dạy rằng không ai có thể được giao phó quyền lực vô hạn một cách an toàn; hoặc
bằng kinh nghiệm và lịch sử, cho chúng ta biết về những lạm dụng to lớn mà tham
vọng, ở mọi thời đại và quốc gia, đã thực sự tạo ra từ một sự tin tưởng thiếu
thận trọng như vậy.
E 5.5n8. 2, SBN 44
Sự phân biệt tương tự giữa lý trí và kinh
nghiệm được duy trì trong tất cả những suy xét của chúng ta về cách ứng xử
trong đời sống; trong khi một chính khách, một tướng lĩnh, một bác sĩ hay một
thương gia lão luyện được tin tưởng và tuân theo; còn một người mới vào nghề,
dù có tài năng thiên bẩm, lại bị bỏ qua và khinh thường. Dù lý trí có thể đưa
ra những phỏng đoán rất hợp lý về hậu quả của một hành vi cụ thể trong những
hoàn cảnh cụ thể, nhưng nó vẫn bị cho là chưa hoàn thiện nếu không có sự hỗ trợ
của kinh nghiệm, vốn là thứ duy nhất có thể mang lại sự ổn định và chắc chắn
cho những châm ngôn được rút ra từ nghiên cứu và suy ngẫm.
E 5.5n8. 3, SBN 44
Nhưng bất kể việc sự phân biệt này được nhìn
nhận rộng rãi như thế đến thế nào, trong cả những phương diện hoạt động lẫn suy
tưởng của đời sống, tôi sẽ không ngần ngại tuyên bố rằng, về bản chất, nó là
sai lầm, hoặc ít nhất cũng là hời hợt.
E 5.5n8. 4, SBN 44-5
Nếu chúng ta xem
xét những lập luận vốn, trong bất kỳ ngành khoa học nào đã nhắc đến ở trên,
được coi là chỉ là kết quả của suy luận và tự suy ngẫm, cuối cùng chúng sẽ dẫn
tới một nguyên lý tổng quát hay một kết luận, mà chúng ta không thể giải thích
bằng lý do nào khác ngoài quan sát và kinh nghiệm.
Sự khác biệt duy
nhất giữa những lập luận này và những châm ngôn, vốn thường được coi là kết quả
của kinh nghiệm thuần túy, là: những lập luận trước không thể thiết lập nếu
thiếu một tiến trình suy nghĩ và một chút tự suy ngẫm về những gì chúng ta đã
quan sát, nhằm phân biệt hoàn cảnh và truy tìm hậu quả; trong khi ở những châm
ngôn kia, sự kiện kinh nghiệm hoàn toàn giống hệt với sự kiện mà chúng ta suy
ra là hậu quả của bất kỳ hoàn cảnh cụ thể nào.
Ví dụ, lịch sử
của một Tiberius hay một Nero khiến chúng ta sợ hãi một chế độ chuyên chế tương
tự, nếu những vua chúa của chúng ta thoát được khỏi sự ràng buộc của luật pháp
và viện nguyên lão; nhưng việc quan sát bất kỳ sự gian lận hay tàn ác nào trong
đời sống riêng tư cũng đủ, với một chút suy nghĩ, để mang lại cho chúng ta cùng
một lo sợ. Đồng thời, điều đó là một minh chứng cho sự tha hóa tổng quát của
bản chất con người, và cho thấy nguy cơ mà chúng ta phải chịu khi đặt trọn niềm
tin vào loài người.
Trong cả hai
trường hợp, chính kinh nghiệm mới là nền tảng cuối cùng cho mọi suy luận và kết
luận của chúng ta .
E 5.5n8. 5, SBN 45
Không có ai trẻ
tuổi và thiếu kinh nghiệm đến mức không hình thành, từ quan sát, nhiều châm
ngôn tổng quát và đúng đắn về những vấn đề của con người và cách hành xử trong
đời sống. Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng, khi một người bắt đầu áp dụng những
châm ngôn này vào thực tế, người này sẽ rất dễ mắc sai lầm, cho đến khi thời
gian và kinh nghiệm phong phú hơn vừa mở rộng những châm ngôn này, vừa dạy cách
dùng và áp dụng chúng một cách đúng đắn.
Trong mọi hoàn
cảnh hay sự việc, có nhiều chi tiết cụ thể và tưởng chừng nhỏ nhặt mà ngay cả
những người có tài năng lớn nhất cũng dễ bỏ qua lúc đầu; trong khi tính chính
xác của kết luận, và do đó sự thận trọng trong hành vi, hoàn toàn phụ thuộc vào
những chi tiết này.
Chưa kể, với một
người mới bắt đầu, những quan sát và châm ngôn tổng quát không phải lúc nào
cũng xuất hiện đúng lúc, và cũng không thể áp dụng ngay lập tức với sự bình
tĩnh và khả năng phân biệt đúng đắn.
Sự thật là, một
nhà lý luận thiếu kinh nghiệm sẽ không thể là nhà lý luận thực sự nếu hoàn toàn
không có kinh nghiệm; và khi chúng ta gán cho ai đó đặc điểm này, chúng ta chỉ
dùng theo nghĩa so sánh, giả định rằng người này sở hữu kinh nghiệm ở mức độ
hạn chế và chưa hoàn hảo.
E 5.17n9, SBN 52-3
9. “Phải chăng đó là điều tự nhiên đã được ban cho chúng
ta, hay chỉ là một sự nhầm lẫn nào đó, rằng khi chúng ta nhìn thấy những nơi
chốn mà chúng ta biết những con người đáng kính đã từng lui tới nhiều lần,
chúng ta lại xúc động mạnh hơn so với khi nghe kể về chính hành động của họ hay
đọc một tác phẩm nào đó của họ? Chẳng hạn như tôi lúc này đây đang xúc động.
Bởi lẽ hình ảnh Plato hiện lên trong trí óc tôi — người mà chúng ta biết là đã
từng thường xuyên tranh luận tại chính nơi này: ngay cả những khu vườn kia ở
gần đó của ông không chỉ gợi lại ký ức cho tôi, mà dường như còn đặt chính con
người ông trước mắt tôi. Đây là Speusippus, đây là Xenocrates, đây là học trò
của ông, Polemon; chính chỗ ngồi kia là nơi ông ấy đã từng ngồi — chỗ mà chúng
ta đang thấy đây. Còn tôi, mỗi khi nhìn vào tòa nghị sự của chúng ta, ý
tôi là tòa Hostilia chứ không phải tòa nghị sự mới này [5] — một tòa nhà mà đối
với tôi dường như nhỏ đi kể từ khi nó trở nên đồ sộ hơn — tôi thường nghĩ đến
Scipio Africanus, Cato the Elder, Gaius Laelius Sapiens, và trên hết là người
ông của chính mình. Sức mạnh gợi nhắc của những nơi chốn quả thật lớn lao đến
thế; vì vậy, không phải không có lý mà từ chính những nơi này, người ta đã rút
ra nghệ thuật ghi nhớ.”
— Cicero,
De Finibus, Quyển 5. [6]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] The Centaur (Man +
Horse) / Nhân mã (Người + Ngựa): Trong thần thoại Hy Lạp, quái vật này thể hiện
sự căng thẳng giữa lý trí con người và bản năng động vật. Với nhưgx triết gia,
đó là một “ý tưởng phức hợp”. Vì chúng ta biết một người trông như thế nào và
một con ngựa trông như thế nào nên trí tưởng tượng của chúng ta có thể ghép
chúng lại với nhau thành một hình ảnh sống động—mặc dù chúng ta biết nó không
có thật.
The Golden
Mountain (Gold + Mountain): / Núi Vàng (Vàng + Núi): Có thể chúng ta chưa bao
giờ nhìn thấy một ngọn núi làm bằng vàng nguyên khối, nhưng chúng ta có thể dễ
dàng hình dung ra nó. John Locke đã dùng điều này để chứng minh rằng tất cả
những kiến thức đều đến từ kinh nghiệm giác quan. Bằng cách lấy ý tưởng đơn
giản về “vàng” và ý tưởng đơn giản về “ngọn núi”, não thức chúng ta sẽ hợp nhất
chúng thành một khái niệm mới, phức tạp.
[2] “it is not in our
power” nên được hiểu sát nghĩa là “không nằm trong khả năng/quyền hạn” của chúng
ta. Hume định nghĩa 'Khả năng' chính là Ý chí Tự nguyện. Ông lập luận rằng: dù chúng
ta có toàn quyền điều khiển trí tưởng tượng để tạo ra những sinh vật hư cấu như
nhân mã, chúng ta lại hoàn toàn bất lực trong việc ép bản thân tin vào chúng.
Bởi lẽ, niềm tin là một cảm xúc thụ động được khơi gợi từ thực tại và thói
quen, chứ không phải là một công tắc có thể bật tắt theo ý muốn.
Lý thuyết “pha
trộn” của Hume (/Theory of Ideas / Lý thuyết về những Ý niệm) nổi tiếng nhất ở
chỗ nó phân tích hai khái niệm lớn nhất của nhân loại: Gót và Tự ngã. Ông lập
luận rằng cả hai đều không phải là ý niệm “nguyên thủy”, mà là một cấu trúc
phức tạp được tạo nên từ những khối xây dựng đơn giản dựa trên giác quan.
1. Ý niệm về Gót
(The “Remix” of Human Virtues / Sự “pha trộn” những đức tính của con người)
Hume lập luận rằng chúng ta không có “ấn tượng” trực tiếp về một đấng thiêng
liêng. Thay vào đó, não thức chúng ta lấy những phẩm chất mà chúng ta tìm thấy
trong chính mình—như trí thông minh, lòng nhân ái và sự khôn ngoan—và “pha trộn”
chúng với ý niệm về vô hạn. Công thức: [Sự khôn ngoan của con người] + [Lòng
tốt của con người] + [Khái niệm về “Vô hạn”] = Gót. Lý luận: Chúng ta lấy những
phần tốt nhất của bản chất con người, loại bỏ những giới hạn, và phóng chiếu
chúng lên một thực thể duy nhất. Cũng như chúng ta kết hợp một “người” và một “con
ngựa” để tạo ra một Nhân Mã, chúng ta kết hợp “lòng tốt” và “vô hạn” để tạo ra
Gót.
2. Ý niệm về Tự
ngã (The “Bundle” Theory / Lý thuyết “Gói/Bó”) Có lẽ luận điểm cấp tiến nhất
của Hume là không có một bản ngã “vĩnh cửu”. Khi chúng ta nhìn vào não thức
mình, chúng ta không tìm thấy một “hồn người” hay một “cốt lõi”—chúng ta chỉ
tìm thấy một dòng chảy liên tục của những nhận thức thoáng qua (nóng, lạnh,
giận dữ, ký ức). Sự phối lại: “Tự ngã” chỉ là một gói những nhận thức nối tiếp
nhau với tốc độ đáng kinh ngạc. Sự tương đồng: Tự ngã giống như một cộng đồng
hay một nhà hát. Những người khác nhau (suy nghĩ) ra vào sân khấu, nhưng không
có “sân khấu vĩnh cửu” nào tồn tại độc lập với những diễn viên. Lý luận: Trí
tưởng tượng của chúng ta “phối lại” những ký ức riêng biệt, thay đổi nhanh
chóng này thành một câu chuyện duy nhất, liền mạch mà chúng ta gọi là “Tôi”,
mặc dù “Tôi” đó về mặt kỹ thuật là khác nhau mỗi giây.
Hume lập luận
rằng Gót là một “sự pha trộn/ remix “ của những đức tính của con người (như trí
tuệ thong minh và tố lành, thiện hảo) được mở rộng đến vô hạn, kepos dài đến vô
cực; chứ không phải là một kinh nghiệm trực tiếp. Tương tự, Tự ngã không phải
là một hồn người bất biến, mà là một “tập hợp” những nhận thức thoáng qua được
trí tưởng tượng liên kết lại thành một câu chuyện duy nhất. Xét cho cùng, cả
hai khái niệm đều là những hư cấu phức tạp được não thức xây dựng từ những khối
cấu tạo đơn giản của giác quan.
[3] the sentiment of belief : Hume định nghĩa cảm xúc về tin tưởng / cảm nhận về niềm tin không
phải như một ý niệm mới thêm vào suy nghĩ, nhưng là một cảm xúc cụ thể hay “cách
thức hình dung / cách thức nhận thức” phân biệt những ý niệm của phán đoán với
những hư cấu đơn thuần của trí tưởng tượng. Tin tưởng là cơ chế tâm lý cung cấp
“sự tin cậy vững chắc và an toàn” cần thiết cho sự tồn tại của con người và
điều chỉnh hành vi trong tất cả những hoàn cảnh của cuộc sống.
[4] final causes
Final cause = nguyên nhân mục đích / cứu cánh / kết quả cuối cùng mà một vật
hoặc hiện tượng hướng tới. Nó khác với nguyên nhân hiệu quả (efficient cause),
vốn là nguyên nhân trực tiếp tạo ra sự vật.
[5] Curia là nơi họp của Viện Nguyên lão La Mã; Curia Hostilia
là tòa nghị sự cổ nhất tại Rôma, gắn với những hoạt động chính trị của Cộng hòa
La Mã. Tòa
nghị sự mới của Viện Nguyên lão được xây lại sau này (thời Cicero là Curia
Cornelia, sau nữa là Curia Julia)
[6] Đoạn trích từ De Finibus Bonorum et Malorum, Quyển V của
Cicero. Ở đây Cicero bàn về sức mạnh gợi nhớ của không gian và nơi chốn với ký
ức: những địa điểm gắn với những nhân vật vĩ đại (như Plato, Speusippus,
Xenocrates) có khả năng khơi dậy hình dung sống động về họ mạnh hơn cả việc
nghe kể hay đọc tác phẩm. Từ đó ông liên hệ tới truyền thống tu từ học cổ điển
về nghệ thuật ghi nhớ (ars memoriae), theo đó ký ức được củng cố
bằng cách gắn ý niệm với những vị trí không gian (phương pháp loci).
Hume dùng trích dẫn này t Cicero để chứng
minh rằng lý thuyết của ông không chỉ là triết học trừu tượng mà còn là kinh
nghiệm phổ quát của con người. Đây là lý do tại sao đoạn văn cụ thể này phù hợp
với lập luận của ông: Sức mạnh của sự hiện diện: Hume lập luận rằng một đồ vật
hiện tại (như khu vườn hay chiếc ghế mà Cicero nhắc đến) khiến một ý tưởng trở
nên “sống động” hơn nhiều so với việc chỉ nghe một câu chuyện. Cicero nói rằng
việc nhìn thấy địa điểm sẽ đặt con người “trước mắt tôi” (in conspectu meo), đó
chính xác là những gì Hume muốn nói qua ấn tượng tạo sức mạnh cho một ý tưởng.
Nguyên tắc kế cận: Một trong ba định luật liên kết của Hume là kế cận(sự gần gũi trong không
gian hoặc thời gian). Cicero cảm nhận được sự hiện diện của Plato bởi vì ông đang đứng ở đúng nơi
Plato đã đứng. Sự gần gũi về mặt vật chất “chuyển” sự sống động của địa điểm
vào trí nhớ của con người. Thiên nhiên so với Lý trí: Cicero hỏi liệu đây là
món quà của thiên nhiên (naturane) hay là một lỗi (errore). Hume trả lời: Đó là
bản chất (cụ thể là Custom). Đó không phải là một lựa chọn hợp lý để cảm thấy
xúc động; đó là một phản ứng “máy móc” tự động của não thức con người.Ý tưởng “Sống
động”: Hãy chú ý cách Cicero nói rằng tòa nhà cũ khiến ông “nghĩ đến Scipio và Cato”.
Với Hume, đây là ví dụ hoàn hảo về cách một vật thể làm sống lại sự thân mật
trong quá khứ bằng “màu sắc sống động hơn”. Nói tóm lại, Cicero đã cung cấp
bằng chứng đầy cảm xúc cho quy luật tâm lý mà Hume đang cố gắng xác định.
