(Il Principe)
Niccolò Machiavelli
Chương XV
Về Những Điều Khiến Con Người, Và Đặc Biệt
Là những Người Cầm Quyền Đứng Đầu, Được Ca Ngợi Hay Bị Chỉ Trích
Giờ đây còn phải xem xét những phương cách và
sự cai quản của một người cầm quyền đứng đầu nên như thế nào đối với thần dân
và với thân hữu. Và bởi vì tôi biết rằng đã có nhiều người viết về điều này,
tôi e rằng khi viết lại, mình có thể bị xem là tự phụ, nhất là khi trong việc
tranh luận vấn đề này, tôi rời bỏ những định chế của những người khác. Nhưng vì
ý định của tôi là viết điều gì đó hữu ích cho bất cứ ai hiểu được nó, tôi thấy
phù hợp hơn khi đi thẳng vào sự thực hiệu quả của sự vật hơn là vào trí tưởng
tượng về nó.
Và nhiều người đã tưởng tượng ra những nhà
nước cộng hòa và những lãnh địa chưa từng được thấy hoặc chưa từng được biết là
có tồn tại trong thực tế; bởi vì khoảng cách giữa cách người ta sống và cách
người ta nên sống là quá xa vời, đến mức kẻ nào từ bỏ những gì đang được thực
hiện để chạy theo những gì nên được thực hiện thì sẽ học được cách dẫn đến sự
diệt vong hơn là sự bảo tồn chính mình. Bởi một người muốn thực hành sự lương
thiện trong mọi phương diện thì chắc chắn sẽ tiêu vong giữa biết bao kẻ không lương
thiện. Do
đó, cần thiết cho một người cầm quyền đứng đầu, nếu vị ấy muốn giữ vững ngôi vị của mình, phải học cách để có
thể không lương thiện, và biết khi nào nên dùng nó và khi nào không dùng nó, tùy theo sự
cần thiết.
Vậy nên, bỏ qua những gì người ta tưởng tượng
về một người cầm quyền đứng đầu và thảo luận về những gì là thực tế, tôi nói
rằng tất cả mọi người, bất cứ khi nào người ta nói về họ, và đặc biệt là những
người cầm quyền đứng đầu, vì họ được đặt ở vị trí cao hơn, đều được ghi nhận
bởi một số phẩm tính mang lại cho họ hoặc là sự chỉ trích hoặc là sự ca ngợi.
Và đây là lý do tại sao người này được coi là hào phóng, kẻ kia là keo kiệt
(dùng một thuật ngữ Tuscan bởi vì avaro [tham lam] trong ngôn ngữ của
chúng ta vẫn chỉ kẻ ham muốn chiếm đoạt thứ gì đó bằng cách cướp bóc, còn misero
[keo kiệt] ] là cách chúng ta gọi kẻ quá bủn xỉn trong việc chi dùng tài sản
của chính mình); người này được coi là kẻ hay ban ơn, kẻ kia là kẻ tham tàn;
người này tàn nhẫn, kẻ kia nhân từ; [1] kẻ này là
kẻ thất tín, người kia trung thành; kẻ này nhu nhược và hèn nhát, người kia
hung mãnh và quả cảm; người này nhân đạo, kẻ kia kiêu ngạo; kẻ này dâm dật,
người kia khiết tịnh; người này thành thật, kẻ kia tinh ranh; người này cứng
rắn, kẻ kia dễ dãi [2]
người này nghiêm nghị, kẻ kia phù phiếm; người này sùng đạo, kẻ kia vô thần, và
những điều tương tự.
Tôi biết mọi người đều thừa nhận rằng: sẽ thật
đáng ca ngợi nếu một người cầm quyền đứng đầu hội tụ đủ mọi phẩm tính tốt đẹp
kể trên. Nhưng vì bản chất con người không cho phép vị ấy sở hữu hay thực hành
trọn vẹn tất cả chúng [3], nên
vị ấy cần đủ khôn ngoan để biết cách tránh né vết nhơ từ những thói xấu có thể
khiến mình mất nước; đồng thời, vị ấy cũng nên thận trọng trước những thói xấu
ít nguy hại hơn, nếu có thể. Nhưng trong trường hợp không thể tránh khỏi, vị ấy
cứ để chúng diễn ra mà không cần quá lo lắng.
Xa hơn nữa, vị ấy đừng bận tâm nếu phải mang
tiếng ác [4] vì
những thói xấu mà nếu thiếu chúng, vị ấy khó lòng cứu vãn được quốc gia. Bởi
lẽ, nếu cân nhắc kỹ mọi việc, ta sẽ thấy: có những thứ trông như đức hạnh nhưng
nếu theo đuổi lại dẫn đến diệt vong; ngược lại, có những thứ trông như thói xấu
nhưng nếu thực hành lại mang đến sự an toàn và thịnh vượng cho vị ấy
Chương XVI
Về Sự Rộng Rãi Và Sự Tiết Kiệm
Bắt đầu với phẩm tính đầu tiên trong số những
phẩm tính đã nêu trên, tôi khẳng định rằng việc được coi là rộng rãi thì tốt;
tuy nhiên, sự rộng rãi, khi được dùng theo cách để ngài được tiếng là rộng rãi,
sẽ gây hại cho ngài.[5] Bởi
vì nếu nó được dùng một cách có bản lĩnh chính trị và đúng như cách nó nên được
dùng, nó có thể không được người đời công nhận, và ngài sẽ không thoát khỏi tai
tiếng của sự keo kiệt. Vì vậy, nếu muốn duy trì cái danh rộng rãi trong thiên
hạ, cần phải không bỏ sót bất kỳ kiểu phô trương xa hoa nào; kết quả là một
người cầm quyền đứng đầu làm như vậy sẽ luôn tiêu tán hết nguồn lực của mình
vào những việc đó. Cuối cùng, nếu muốn duy trì cái danh rộng rãi, vị ấy buộc
phải đè nặng lên dân chúng một cách quá mức, phải khắt khe với những loại thuế,
và làm mọi cách có thể làm để thu tiền. Điều này sẽ bắt đầu khiến vị ấy bị thần
dân oán hận, và ít được kính nể bởi bất kỳ ai khi vị ấy trở nên nghèo túng; vì
thế, sau khi đã xúc phạm số đông và ban thưởng cho số ít bằng sự rộng rãi đó
của mình, vị ấy cảm nhận thấy mọi khó khăn nhỏ nhất và gặp rủi ro trước mọi
nguy hiểm nhẹ nhàng nhất. Khi vị ấy nhận ra điều này và muốn rút lui khỏi đó,
ngay lập tức vị ấy sẽ chuốc lấy tai tiếng của sự bần tiện.
Do đó, vì một người cầm quyền đứng đầu không
thể dùng bản lĩnh chính trị của sự rộng rãi để thiên hạ công nhận nhưng không
gây hại cho chính mình, vị ấy không nên bận tâm về cái danh bần tiện nếu vị ấy
là kẻ thận trọng. Bởi vì theo thời gian, vị ấy sẽ luôn được coi là rộng rãi hơn
và hơn nữa khi người đời thấy rằng nhờ sự tiết kiệm của mình, thu nhập của vị
ấy là đủ cho mình, vị ấy có thể tự bảo vệ trước bất kỳ kẻ nào gây chiến với
mình, và vị ấy có thể thực hiện những chiến dịch nhưng không cần đè nặng lên
dân chúng. Như vậy, vị ấy đi đến chỗ dùng sự rộng rãi với tất cả những người mà
vị ấy không lấy đi tài sản của họ — vốn là vô số, và tỏ ra bần tiện với tất cả
những người mà vị ấy không ban thưởng — vốn chỉ là số ít. Trong thời đại của
chúng ta, chúng ta không thấy những điều vĩ đại được thực hiện ngoại trừ bởi
những kẻ bị coi là bần tiện; những kẻ khác đều đã bị tiêu diệt. vị Vua chiên
Julius II, trong khi đã lợi dụng cái danh rộng rãi để đạt được ngôi vua chiên,
đã không nghĩ đến việc duy trì nó sau đó để có thể tiến hành chiến tranh. Vị
vua hiện tại của Pháp [6]đã
thực hiện nhiều cuộc chiến nhưng không cần áp một khoản thuế bất thường nào lên
thần dân, chỉ vì những chi phí phát sinh thêm đã được quản trị bằng sự tiết
kiệm lâu đời của ông. Nếu vị vua hiện tại của Tây Ban Nha [7]được coi là
rộng rãi, ông đã không thể thực hiện hay chiến thắng nhiều chiến dịch đến thế.
Vì vậy, để không phải cướp bóc thần dân, để có
thể tự bảo vệ mình, để không trở nên nghèo túng và đáng khinh, cũng như không
bị buộc phải trở nên tham bạo, một người cầm quyền đứng đầu nên ít để tâm đến
việc mang tiếng bần tiện, bởi vì đây là một trong những thói xấu giúp vị ấy có
thể trị vì. Và nếu ai đó nói rằng: Caesar đã đạt được đế quốc bằng sự rộng rãi,
và nhiều người khác, vì họ đã và đã được coi là rộng rãi, nên đã đạt được địa
vị rất cao sang, tôi đáp lại: hoặc ngài đã là một người cầm quyền đứng đầu,
hoặc ngài đang trên con đường đạt được nó. Trong trường hợp thứ nhất, sự rộng
rãi này là gây hại; trong trường hợp thứ hai, việc được coi là rộng rãi quả
thực là cần thiết. Và Caesar là một trong những kẻ muốn đạt được quyền thống
trị Rome; nhưng nếu sau khi đã tới đó, nếu ông còn sống nhưng không điều tiết
chi tiêu của mình, ông hẳn đã hủy hoại đế quốc đó.
Và nếu ai đó đáp lại: nhiều người đã là người
cầm quyền đứng đầu và làm được những việc vĩ đại với quân đội của họ, những
người từng được coi là rất rộng rãi, tôi trả lời ngài: hoặc người cầm quyền chi
tiêu từ tài sản của chính mình và thần dân, hoặc từ tài sản thuộc về kẻ khác.
Trong trường hợp đầu tiên, vị ấy nên dè xẻn; trong trường hợp kia, vị ấy không
nên bỏ sót bất kỳ phần nào của sự rộng rãi. Và đối với người cầm quyền đứng đầu
cầm quân ra trận, kẻ sống bằng chiến lợi phẩm, cướp phá và tiền chuộc, và quản
lý dựa trên tài sản thuộc về kẻ khác, thì sự rộng rãi này là cần thiết; nếu
không, vị ấy sẽ không được binh lính đi theo. Và với những gì không thuộc về
ngài hay thần dân của ngài, ngài có thể là một người ban thưởng hào phóng hơn,
giống như Cyrus, Caesar và Alexander; bởi vì chi tiêu tài sản của kẻ khác không
tước đi uy tín của ngài mà bồi đắp thêm cho ngài; chỉ có chi tiêu tài sản của
chính mình mới là thứ gây hại cho ngài.
Và chẳng có gì tự bào mòn chính nó nhiều như
sự rộng rãi: trong khi ngài dùng nó, ngài mất khả năng để dùng nó; và ngài trở
nên hoặc nghèo túng và đáng khinh, hoặc để thoát khỏi cảnh nghèo túng, ngài trở
nên tham bạo và bị oán hận. Trong tất cả những điều mà một người cầm quyền đứng
đầu nên canh chừng là việc bị đáng khinh và bị oán hận, và sự rộng rãi dẫn ngài
đến cả hai. Vì vậy, có nhiều sự khôn ngoan hơn trong việc duy trì cái danh bần
tiện — thứ tạo ra tai tiếng nhưng không có oán hận — hơn là vì muốn có cái danh
rộng rãi mà buộc phải mang danh tham bạo — thứ tạo ra tai tiếng đi kèm với sự
oán hận.
Chương XVII
Về Sự Tàn nhẫn Và Lòng Nhân Từ,[8] Và
Liệu Nên Được Yêu Hay Bị Sợ Thì Tốt Hơn, Hay Ngược Lại
Tiếp tục xem xét những phẩm tính khác đã được
trích dẫn trước đó, tôi khẳng định rằng mỗi người cầm quyền đứng đầu nên mong
muốn được coi là nhân từ chứ không phải tàn nhẫn; tuy nhiên, vị ấy nên cẩn
trọng đừng dùng lòng nhân từ đó một cách sai lầm. Cesare Borgia từng bị coi là
tàn nhẫn; thế nhưng sự tàn nhẫn của ông đã phục hồi vùng Romagna, thống nhất
nó, và đưa nó về trạng thái hòa bình cùng với tín nghĩa. Nếu xem xét kỹ điều
này, người ta sẽ thấy ông nhân từ hơn nhiều so với dân chúng Florence, những kẻ
vì muốn tránh cái danh tàn nhẫn mà đã để mặc vùng Pistoia bị tiêu diệt.[9]
Do đó, một người cầm quyền đứng đầu, để giữ
cho thần dân đoàn kết và giữ trọn tín nghĩa, không nên bận tâm đến tai tiếng
tàn nhẫn; bởi lẽ, chỉ bằng
một vài hình phạt làm gương, vị ấy sẽ nhân từ hơn những kẻ
vì quá nhân từ mà để mặc cho sự hỗn loạn tiếp diễn, dẫn đến giết chóc hoặc cướp
phá; vì những biến loạn này thường gây hại[10] cho
toàn thể cộng đồng, [11]
nhưng những cuộc hành hình đến từ người cầm quyền đứng đầu chỉ gây hại [12] cho
một cá nhân cụ thể. Và trong tất cả những người đứng đầu, một người mới lên cầm quyền không thể
nào tránh khỏi cái danh tàn nhẫn vì những nhà nước mới luôn đầy rẫy hiểm nguy.
Như Virgil đã mượn lời Dido: “Sự nghiệt ngã của hoàn cảnh và sự mới mẻ của
vương quốc buộc ta phải trù tính những điều như thế, và phải canh phòng cẩn mật
mọi biên cương.” [13]
Tuy nhiên, vị ấy nên thận trọng trong việc tin tưởng
và hành động, cũng không nên khiến bản thân trở thành nỗi khiếp sợ; vị ấy nên
tiến hành một cách chừng mực với sự khôn ngoan và tính nhân đạo, sao cho sự tự
tin thái quá không làm vị ấy mất cảnh giác và sự quá đa nghi không khiến vị ấy
trở nên không thể dung thứ.
Từ đây nảy sinh một tranh luận: liệu được yêu
hay bị sợ thì tốt hơn, hay ngược lại. Câu trả lời là người ta sẽ muốn có cả cả
hai; nhưng vì khó có thể kết hợp chúng lại với nhau, nên sẽ an toàn hơn nhiều
nếu bị sợ hơn là được yêu, nếu người ta phải thiếu một trong hai. Bởi vì người
ta có thể nói điều này một cách tổng quát về con người: rằng họ là những kẻ vô
ơn, hay thay đổi, giả tạo và gian trá, lảng tránh hiểm nguy, hám lợi. Chừng nào
ngài còn ban ơn cho họ, họ hoàn toàn thuộc về ngài, dâng hiến cho ngài máu mủ,
tài sản, mạng sống và con cái, như tôi đã nói ở trên [14] , khi mà
nhu cầu về chúng còn ở xa; nhưng khi nhu cầu đó đến gần, họ sẽ phản bội. Và
người cầm quyền đứng đầu nào đặt nền móng hoàn toàn vào lời hứa của họ, mà
thiếu đi những sự chuẩn bị khác, sẽ bị hủy diệt; vì những hứu nghị có được bằng
giá trả chứ không phải bằng sự vĩ đại và cao quý của tinh thần thì được mua về
nhưng không thực sự sở hữu, và khi thời cơ đến chúng không thể đem ra dùng
được. Và con người ít do dự hơn trong việc xúc phạm một kẻ khiến mình yêu hơn
là một kẻ khiến mình sợ; vì thương yêu được giữ bằng sợi dây ân nghĩa, những gì
vốn vì con người vốn đê tiện, sẽ bị cắt đứt ở mọi cơ hội vì lợi ích riêng của họ; nhưng sợ hãi được
giữ bằng sự khiếp sợ hình phạt, thứ không bao giờ rời bỏ ngài.
Tuy nhiên, người cầm quyền đứng đầu nên khiến
mình bị sợ theo cách mà nếu vị ấy không có được thương yêu, thì vị ấy cũng
tránh được sự oán hận; bởi vì việc bị sợ và việc không bị oán hận có thể song
hành với nhau rất tốt. Vị ấy sẽ luôn làm được điều này nếu vị ấy kiềm chế việc
đụng đến tài sản của những công dân và thần dân của mình, cũng như phụ nữ của
họ; và nếu vị ấy cần phải tước đoạt mạng sống của ai đó [15], vị ấy
phải làm điều đó khi có sự biện minh thỏa đáng và nguyên nhân rõ ràng. Nhưng
trên hết, vị ấy phải kiềm chế việc đụng đến tài sản của người khác, bởi vì con
người quên cái chết của cha mình nhanh hơn là việc mất đi tài sản thừa kế. Hơn
nữa, những lý do để chiếm đoạt tài sản thì không bao giờ thiếu, và kẻ nào bắt
đầu sống bằng nghề cướp bóc luôn tìm thấy lý do để chiếm đoạt tài sản của người
khác; trái lại, những lý do để tước đoạt mạng sống [16] thì hiếm
hơn và biến mất nhanh hơn.
Nhưng khi người cầm quyền đứng đầu đang ở cùng
quân đội của mình và nắm giữ một khối lượng binh lính dưới quyền, khi đó trên
hết thảy, vị ấy cần thiết không được bận tâm về cái danh tàn nhẫn; bởi vì nếu
không có cái danh này, vị ấy không bao giờ giữ được quân đội thống nhất, hoặc
sẵn sàng cho bất kỳ hành động nào. Trong số những hành động đáng ngưỡng mộ của
Hannibal có việc này: khi ông có một đạo quân khổng lồ, hỗn tạp vô số loại
người, và đã dẫn dắt họ đi chiến đấu ở những vùng đất ngoại bang, không bao giờ có bất kỳ sự
bất đồng nào nảy sinh trong đó, dù là giữa binh lính với nhau hay chống lại
người chỉ
huy, ngay cả trong vận rủi cũng như vận may của ông. Điều này không thể nảy
sinh từ điều gì khác ngoài sự tàn nhẫn phi nhân tính của ông, những gì vốn cùng
với những năng lực vô hạn của mình, luôn khiến ông trở nên đáng kính và khủng
khiếp trong mắt binh lính; và nếu không có nó, những phẩm tính khác của ông sẽ
không đủ để mang lại hiệu quả này. Và những người viết, vì ít xem xét điều
này, một mặt ngưỡng mộ hành động này của ông nhưng mặt khác lại lên án nguyên
nhân chính dẫn đến nó.
Và để thấy rằng sự thực là những phẩm tính
khác của Hannibal vốn không đủ để tạo nên thành công đó, ta hãy xem xét trường
hợp của Scipio — một nhân vật cực kỳ hiếm có không chỉ trong thời đại của mình
mà còn trong toàn bộ sử sách về những điều nhân loại đã biết — người mà những đạo
quân tại Tây Ban Nha đã nổi loạn chống lại. Cuộc nổi loạn này nảy sinh không từ
điều gì khác ngoài lòng nhân từ quá mức của ông, thứ đã cho phép binh lính của
mình hưởng sự phóng túng nhiều hơn mức phù hợp với kỷ luật quân đội. Fabius
Maximus đã quở trách lòng nhân từ này của Scipio trước Thượng viện và gọi ông
là kẻ làm hư hỏng quân đội La Mã. Ngay cả khi một phó tướng của Scipio tàn phá
người Locrian, ông cũng không bắt tên đó phải đền tội cho họ, cũng không trừng
phạt sự xấc xược của tên phó tướng đó — tất cả những sai lầm này đều nảy sinh
từ bản tính dễ dãi của ông; đến mức khi có người tại Thượng viện muốn bào chữa
cho ông, họ đã nói rằng có nhiều người biết cách tự mình không phạm sai lầm tốt
hơn là biết cách trừng phạt sai lầm của kẻ khác. Bản tính như vậy theo thời
gian chắc chắn sẽ làm hoen ố danh tiếng và vinh quang của Scipio nếu ông tiếp
tục duy trì nó trong quyền cai trị của một người cầm quyền đứng đầu; nhưng vì
ông sống dưới sự giám sát của Thượng viện, phẩm tính gây hại này không những bị che lấp mà còn
góp phần tạo nên vinh quang cho ông.[17]
Tôi kết luận, do đó, quay lại việc bị sợ và
được yêu, rằng vì con người yêu theo sự thuận tiện của họ và sợ theo sự thuận
tiện của người cầm quyền đứng đầu, nên một người cầm quyền đứng đầu khôn ngoan
nên đặt nền móng dựa trên những gì thuộc về mình, chứ không phải những gì thuộc
về kẻ khác; vị ấy chỉ nên nỗ lực để tránh sự oán hận, như đã nói.
Chương XVIII
Những Người Cầm Quyền Đứng Đầu Nên Giữ Lời
Hứa Theo Cách Nào
Mọi người đều hiểu rằng việc một người cầm
quyền đứng đầu giữ lời hứa, sống liêm chính chứ không bằng thủ đoạn tinh khôn,
là điều đáng ca ngợi biết bao. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế trong thời đại
chúng ta cho thấy rằng: những người cầm quyền làm được những việc lớn lao lại
chính là những người ít coi trọng lời hứa. Họ biết cách dùng sự tinh ranh để xoay chuyển trí
óc con người; và cuối cùng, họ khuất phục được những kẻ vốn chỉ biết xây dựng
nền tảng dựa trên sự trung thành.
Vì vậy, ngài [18] cần biết
rằng có hai cách chiến đấu: một bằng luật pháp, hai bằng sức mạnh. Cách thứ
nhất phù hợp với con người, cách thứ hai phù hợp với dã thú. Nhưng vì cách thứ
nhất thường không đủ hiệu lực, vị ấy phải viện đến cách thứ hai. Do đó, một
người cầm quyền đứng đầu cần phải biết cách dùng khéo léo cả bản tính của dã
thú lẫn bản tính của con người. Những nhà văn thời cổ đã ngầm dạy bài học này
cho những vị quân vương khi họ viết rằng: Achilles, cùng nhiều người cầm quyền
thời cổ khác, đã được gửi đến cho nhân mã Chiron nuôi dưỡng, để ông ta rèn giũa
họ dưới kỷ luật của mình. Việc những bậc tiền nhân chọn một người thầy nửa
người nửa thú chỉ nhằm mục đích duy nhất: họ muốn dạy rằng một người cầm quyền
cần phải biết cách vận dụng cả hai bản chất; và nếu thiếu một trong hai, vị ấy
sẽ không thể giữ vững quyền lực lâu dài.
Vậy nên, khi hoàn cảnh buộc một người cầm
quyền đứng đầu phải vận dụng bản chất dã thú, vị ấy nên chọn hình tượng con cáo
và con sư tử [19] .
Bởi vì sư tử không thể tự bảo vệ mình trước cạm bẫy, còn cáo thì lại bất lực
trước bầy sói. Vị ấy phải hóa thân thành con cáo để nhận diện cạm bẫy, và trở
thành con sư tử để làm bầy sói khiếp sợ. Những người chỉ đơn thuần đóng vai sư tử sẽ
không bao giờ hiểu được điều này. Do đó, một bậc thủ lĩnh khôn ngoan không thể
và không nên giữ lời hứa, nếu việc tuân thủ đó gây bất lợi cho mình, và khi
những lý do khiến vị ấy hứa hẹn đã không còn nữa. Nếu toàn nhân loại đều lương
thiện, thì giáo huấn này sẽ là tồi tệ; nhưng vì con người vốn đê tiện và họ sẽ
không giữ lời với ngài, nên ngài cũng chẳng cần phải giữ lời với họ.
Một người cầm quyền cũng chẳng bao giờ thiếu
những lý do chính đáng để tô vẽ cho việc bội tín của mình. Người ta có thể dẫn
ra vô số ví dụ thời hiện đại để chứng minh điều này: biết bao hòa ước và lời
hứa đã trở nên vô giá trị bởi sự phản bội của những người cầm quyền; và vị nào biết vận dụng
bản tính con cáo nhuần nhuyễn nhất, kẻ đó sẽ thành công nhất. Nhưng vị ấy phải
biết cách che đậy bản tính này thật khéo, phải là một kẻ ngụy trang và che dấu
đại tài. Con người vốn quá đơn thuần và quá lệ thuộc vào những nhu cầu hiện
tại, đến mức kẻ đi lừa dối sẽ luôn tìm thấy những kẻ sẵn lòng để mình bị lừa.
Tôi không muốn
giữ im lặng về một trong những ví dụ gần đây. Alexander VI chưa bao giờ làm bất
cứ điều gì, cũng chưa bao giờ nghĩ đến điều gì khác, ngoài việc làm thế nào để
lừa dối con người, và ông ta luôn tìm thấy đối tượng để ông ta có thể thực hiện
việc đó. Và chưa từng có một người nào có hiệu quả lớn hơn trong việc khẳng
định một điều, và trong việc xác nhận điều đó bằng những lời thề thốt trọng thể
hơn, nhưng lại ít tuân thủ nó hơn; tuy nhiên, những sự lừa dối của ông ta luôn
thành công theo ý nguyện của ông ta, bởi vì ông ta am tường tường tận khía cạnh
này của thế gian.
Vì vậy, không
nhất thiết một người cầm quyền đứng đầu phải thực sự sở hữu tất cả những phẩm
tính đã nêu trên, nhưng thực sự cần thiết phải tỏ ra là mình
có chúng. Thậm chí, tôi dám nói điều này, rằng bằng việc sở hữu chúng và luôn
tuân thủ chúng, chúng sẽ gây hại; còn bằng việc tỏ ra có chúng, chúng sẽ hữu
ích, chẳng hạn như tỏ ra nhân từ, trung tín, nhân đạo, liêm chính, sùng đạo, và
thực sự là người như thế; nhưng phải duy trì một tinh thần được xây dựng sao
cho, nếu ngài cần phải không là những thứ đó, ngài có khả năng và biết cách
xoay chuyển sang điều ngược lại.
Điều này cần phải
được thấu hiểu: rằng một người cầm quyền đứng đầu, và đặc biệt là một người cầm
quyền mới, không thể tuân giữ tất cả những điều mà nhờ đó con người được coi là
tốt đẹp, vì để giữ vững nhà nước của mình, vị ấy thường xuyên bị đặt dưới sự
cấp thiết phải hành động ngược lại lòng tin, ngược lại lòng từ thiện, ngược lại
tính nhân đạo, ngược lại tôn giáo. Và vì thế, vị ấy cần phải có một tinh thần
sẵn sàng thay đổi theo sự đưa đẩy của những ngọn gió vận may và sự biến chuyển
của sự vật; và như tôi đã nói ở trên, không rời bỏ cái thiện khi có thể, nhưng
phải biết cách bước vào cái ác khi bị sự cấp thiết cưỡng bách.
Bởi vậy, một người cầm quyền đứng đầu phải hết
sức cẩn trọng, không để một lời nào thoát ra khỏi miệng mà không chứa đựng năm
phẩm tính: hoàn toàn nhân từ, hoàn toàn trung thành, hoàn toàn thành thật, hoàn
toàn nhân đạo và hoàn toàn sùng đạo. Đặc biệt, việc “tỏ ra sùng đạo” là điều
tối quan trọng. Con người nói tổng quát [20] phán xét
bằng mắt thường nhiều hơn là bằng trải nghiệm thực tế, vì ai cũng có thể nhìn
thấy, nhưng rất ít người có thể chạm tới [21] bản chất.
Mọi người đều thấy ngài phô diễn thế nào, nhưng ít ai chạm được vào con người
thật của ngài; và số ít đó không đời nào dám chống lại ý kiến của đa số – những
kẻ đang được uy quyền của nhà nước che chở cho họ.
Trong mọi hành
động của con người, và nhất là của những người cầm quyền đứng đầu, nơi không có
tòa án nào để khiếu nại, người ta chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng. Vậy nên, chỉ cần một người cầm quyền đứng đầu chiến thắng và duy trì
được quốc gia: mọi phương tiện vị ấy dùng sẽ luôn được coi là vẻ vang và được mọi
người ca ngợi. Bởi lẽ những
kẻ hạ đẳng luôn bị thu phục bởi vẻ bề ngoài và kết quả của sự việc, mà thế gian
này thì chẳng có ai ngoài những kẻ hạ đẳng; Số ít [22] [những kẻ tinh khôn] chỉ có chỗ đứng ở đó
[trong thế gian] khi số đông đã có nơi nào đó để tựa vào.
Một người cầm quyền đứng đầu thời nay, [23] người
mà tôi không tiện nêu tên, chẳng bao giờ rao giảng điều gì ngoài hòa bình và
lòng tin, nhưng lại cực kỳ thù địch với cả hai. Nếu vị ấy thực sự tuân thủ cả hai điều
đó, thì danh tiếng hoặc nhà nước của vị ấy đã bị lấy mất nhiều lần rồi.
Chương XIX
Về Việc Tránh Sự Khinh Miệt Và Oán hận
Bởi vì tôi đã bàn về những phẩm chất quan
trọng nhất trong số những phẩm chất nêu trên, tôi muốn nghị luận ngắn gọn về
những phẩm chất khác dưới nguyên lý tổng quát này: rằng người cầm quyền đứng
đầu, như đã nói một phần ở trên, nên suy tính cách tránh những sự việc khiến vị
ấy bị oán hận và bị khinh miệt. Khi vị ấy tránh được chúng, vị ấy sẽ làm tròn
vai trò của
mình và sẽ không gặp nguy hiểm nào trong những tai tiếng khác của mình
Điều khiến vị ấy bị oán hận trên hết thảy, như
tôi đã nói, [24]
chính là sự tham tàn, chiếm đoạt tài sản cũng như phụ nữ của thần dân. Vị ấy phải kiêng cữ
những điều này; và bất cứ khi nào tài sản hay danh dự của đa số mọi người không
bị tước đoạt, họ sẽ sống mãn nguyện.[25] Khi đó,
người ta chỉ còn phải chống lại tham vọng của một số ít người – thứ có thể được
kiểm soát bằng nhiều cách và với dễ dàng.
Điều khiến vị ấy
bị khinh miệt là việc vị ấy bị coi là hay thay đổi, nông nổi, yếu đuối, hèn
nhát, thiếu quyết đoán; những sự việc này người cầm quyền đứng đầu phải tự canh chừng
như canh chừng một bãi đá ngầm. Vị ấy nên nỗ lực để thiên hạ nhìn thấy sự vĩ
đại, lòng quả cảm, sự trang nghiêm và sức mạnh trong các hành động của mình; và
vị ấy nên kiên định rằng những phán quyết của mình trong các sự việc riêng tư
của thuộc hạ là không thể thay đổi. Vị ấy nên duy trì một dư luận về bản thân
sao cho không một ai nghĩ đến việc lừa dối vị ấy hay nghĩ đến việc qua mặt vị
ấy.
Người cầm quyền
đứng đầu nào tạo ra dư luận như thế về bản thân sẽ có uy tín lớn; và đối với kẻ
nào có uy tín lớn, kẻ khác khó lòng âm mưu chống lại, khó lòng mở cuộc tấn
công, miễn là thiên hạ hiểu rằng vị ấy xuất sắc và được chính thần dân của mình
tôn kính. Bởi vì một người cầm quyền đứng đầu nên có hai nỗi sợ: một ở bên
trong, do chính thần dân của mình; nỗi sợ kia ở bên ngoài, do những thế lực
ngoại bang. Trước những thế lực ngoại bang, binh lực mạnh và những đồng minh trung
thành sẽ bảo vệ vị ấy; và nếu ngài có binh lực mạnh, ngài sẽ luôn có những đồng
minh trung thành.
Mọi việc bên
trong sẽ luôn giữ được sự ổn định nếu mọi việc bên ngoài ổn định, trừ khi có
một âm mưu quấy nhiễu chúng; và ngay cả khi mọi việc bên ngoài biến động, miễn
là vị ấy đã sắp đặt và sống như tôi đã nói, chừng nào vị ấy không tự bỏ rơi
chính mình, vị ấy sẽ luôn chống đỡ được mọi đòn tấn công, như tôi đã nói Nabis
người Sparta làm được.[26] Nhưng về phía thần dân, khi mọi việc bên
ngoài không biến động, người ta phải sợ rằng họ có thể đang âm mưu bí mật.
Người cầm quyền đứng đầu có thể bảo vệ bản thân đầy đủ trước điều này nếu vị ấy
tránh việc bị oán hận hoặc bị khinh miệt, và giữ cho dân chúng hài lòng với mình; đây
là điều cần phải đạt được, như đã nói ở trên một cách dài dòng.[27]
Và một trong
những biện pháp hữu hiệu nhất mà một người cầm quyền đứng đầu có thể dùng để
chống lại các âm mưu là không bị dân chúng nói tổng quát oán hận. [28] Bởi vì bất cứ ai âm mưu đều tin rằng họ sẽ làm hài lòng dân chúng bằng cái
chết của người cầm quyền đứng đầu, nhưng khi hắn tin rằng hắn sẽ gây hấn với
họ, hắn sẽ không có đủ can đảm để theo đuổi con đường đó, bởi vì những khó khăn về phía những kẻ
âm mưu là vô tận. Và kinh nghiệm cho thấy rằng đã có nhiều âm mưu, nhưng rất ít
trong số đó có một kết cục tốt đẹp. Vì kẻ âm mưu không thể hành động một mình;
nhưng hắn cũng không thể tìm được đồng bọn, trừ những kẻ mà hắn tin là bất mãn;
và ngay khi hắn bộc lộ ý định của mình cho một kẻ bất mãn, hắn trao cho kẻ đó
chính chất liệu để trở nên thỏa mãn, bởi vì hiển nhiên kẻ ấy có thể hy vọng đạt
được mọi lợi lộc từ việc đó.Do đó, khi nhìn thấy lợi ích chắc chắn ở phía này,
và ở phía kia là lợi ích mơ hồ đầy nguy hiểm, thì kẻ ấy hẳn phải hoặc là một
người bạn hiếm có, hoặc là một kẻ thù hoàn toàn ngoan cố của người cầm quyền
đứng đầu thì mới giữ trọn lòng trung thành với kẻ âm mưu.
Và để thu gọn
điều này thành những thuật ngữ ngắn gọn, tôi nói rằng về phía kẻ âm mưu chẳng
có gì ngoài sự sợ hãi, ghen tị và sự dự cảm về hình phạt khủng khiếp; nhưng về
phía người cầm quyền đứng đầu có sự oai nghiêm của lãnh địa, luật pháp, sự bảo
vệ của đồng minh và của nhà nước che chở cho vị ấy, đến nỗi khi sự thiện chí
của nhân dân được thêm vào tất cả những sự việc này, không ai có thể liều lĩnh
đến mức mưu phản. Bởi lẽ trong khi một kẻ âm mưu thông thường phải sợ hãi trước khi hành sự, thì trong
trường hợp này (có dân chúng là kẻ thù) hắn phải sợ hãi cả sau đó nữa, khi sự
việc quá mức đã xảy ra, và hắn cũng chẳng thể hy vọng vào bất kỳ nơi trú ẩn nào.
Người ta có thể
đưa ra vô số ví dụ về vấn đề này, nhưng tôi chỉ muốn bằng lòng với một ví dụ
duy nhất xảy ra trong ký ức của cha ông chúng ta. Ngài Annibale Bentivoglio, ông nội của
Ngài Annibale hiện tại, người từng là người cầm quyền đứng đầu tại Bologna, đã
bị nhà Canneschi ám sát trong một âm mưu chống lại ông, và không ai thuộc dòng
dõi ông sống sót ngoại trừ Ngài Giovanni, lúc đó vẫn còn quấn tã. Ngay sau vụ giết
người đó, dân chúng đã nổi dậy và giết sạch toàn bộ nhà Canneschi. Điều này nảy
sinh từ thiện cảm của nhân dân mà nhà Bentivoglio có được trong thời gian đó;
thiện cảm này lớn đến mức dù không còn ai thuộc dòng họ đó ở Bologna có thể cai
quản nhà nước sau cái chết của Annibale, và vì có dấu hiệu
cho thấy ở Florence có một người thuộc dòng dõi Bentivogli (người mà cho đến
lúc đó vẫn được coi là con trai của một thợ rèn), người dân Bologna đã đến
Florence tìm vị ấy và trao quyền cai quản thành phố; vị ấy đã cai trị cho đến
khi Ngài Giovanni đến đủ tuổi. [29] để cai trị.
Do đó, tôi kết
luận rằng, một người cầm quyền đứng đầu nên ít bận tâm đến những âm mưu nếu dân
chúng bày tỏ sự thiện cảm với mình; nhưng nếu họ thù địch và mang lòng oán hận
vị ấy, vị ấy nên sợ hãi mọi sự vật việc và mọi người. Những nhà nước được tổ
chức tốt và những người cầm quyền đứng đầu khôn ngoan luôn dùng mọi sự tận tâm
để suy tính cách không làm cho giới quyền quý tuyệt vọng, cũng như cách làm
thỏa mãn dân chúng và giữ cho họ hài lòng, bởi vì đây là
một trong những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến người cầm quyền đứng đầu.
Trong số những vương
quốc được tổ chức và cai trị tốt trong thời đại chúng ta có Pháp;[30] và trong đó có vô số
thiết chế tốt đẹp mà sự tự do cũng như an ninh của nhà vua phụ thuộc vào. Thiết
chế đầu tiên trong số này là nghị viện và thẩm quyền của nó. Bởi vì người thiết
lập vương quốc đó, [31] biết được
tham vọng và sự hỗn xược của kẻ quyền thế và cho rằng cần thiết phải có một cái
“hàm thiếc” trong miệng chúng để sửa sai; mặt khác, biết được sự oán hận của
đại đa số người dân [32] đối
với giới quý tộc (dựa trên nỗi sợ hãi), nên muốn bảo vệ họ. Ông ta không muốn
điều này trở thành mối bận tâm đặc biệt của nhà vua nhằm tránh những lời khiển
trách từ giới quý tộc khi ưu ái dân chúng, hoặc từ dân chúng khi ưu ái quý tộc;
vì vậy ông đã chỉ định một vị trọng tài thứ ba để đàn áp kẻ mạnh và ưu ái kẻ
yếu mà không đổ lỗi cho nhà vua.
Mệnh lệnh này không thể tốt hơn, thận trọng
hơn, hoặc là nguyên nhân quan trọng hơn đối với sự an toàn của nhà vua và lãnh
địa. Từ đó có thể suy ra một điều đáng chú ý khác: những người cầm quyền đứng
đầu nên để cho những việc gây thù chuốc oán được quản lý bởi người khác, còn tự
mình thực hiện những việc ban ân huệ [33] Một lần nữa tôi kết luận rằng một người cầm quyền đứng đầu nên kính
trọng giới quý tộc, nhưng
đừng khiến bản thân bị dân chúng oán hận.
Có lẽ với nhiều người, xét đến cuộc đời và cái
chết của một số hoàng đế La Mã, sẽ thấy những ví dụ trái ngược với ý kiến của
tôi, vì có những người luôn sống xuất sắc và thể hiện bản lĩnh đạo đức cao quý,
tuy nhiên vẫn mất đế quốc hoặc bị chính thần dân âm mưu giết chết. Để đáp lại
những phản đối này, tôi sẽ thảo luận về phẩm tính của một số hoàng đế, cho thấy
nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của họ không giống như điều tôi đã trình bày;
đồng thời tôi sẽ đề xuất những điều đáng chú ý cho bất kỳ ai đọc về hành động
của thời đó.
Tôi muốn lấy tất cả những hoàng đế kế vị từ
Marcus nhà triết học đến Maximinus: Marcus, Commodus con trai ông, Pertinax,
Julianus, Severus, con trai ông Antoninus Caracalla, Macrinus, Heliogabalus,
Alexander, [34] và
Maximinus. Cần lưu ý rằng trong khi ở những quốc gia khác người ta chỉ phải đối
mặt với tham vọng của kẻ quyền thế và sự ngạo mạn của dân chúng, thì những
hoàng đế La Mã gặp khó khăn thứ ba: phải chịu đựng sự tàn nhẫn và tham lam của
binh lính. Điều này khó đến nỗi gây ra sự phá sản của nhiều người, vì việc làm
hài lòng cả binh lính và dân chúng là điều khó khăn. Dân chúng yêu sự yên tĩnh
và yêu vị cầm quyền đứng đầu khiêm nhường, trong khi binh lính yêu kẻ có tinh
thần quân phiệt, ngạo mạn, tàn nhẫn và tham lam. Họ muốn hoàng đế thực thi
những điều đó lên dân chúng để họ được tăng lương bổng và thỏa mãn lòng
tham cũng như sự tàn ác của mình. Những sự việc này luôn mang lại sự diệt vong cho những hoàng đế nào, do
bản tính hay do thủ đoạn, không có được uy tín lớn lao để có thể kìm chế cả hai
bên.
Hầu hết trong số họ, đặc biệt là những người
mới lên nắm quyền, một khi nhận ra sự khó khăn từ hai tính khí khác biệt này,
đã chuyển sang làm hài lòng binh lính mà ít bận tâm đến việc gây tổn hại
cho dân chúng. Biện pháp này là tất yếu; vì người cầm quyền đứng đầu không thể
tránh khỏi việc bị ai đó ghét bỏ, nên trước hết họ buộc không bị cộng đồng dân
chúng ghét bỏ; [35] khi
không thể duy trì điều này, họ phải nỗ lực để tránh sự oán hận của những cộng
đồng quyền lực nhất. Vì vậy, những hoàng đế mới cần sự hỗ trợ đặc biệt đã bám
sát binh lính hơn dân chúng; điều này hữu ích hay không tùy thuộc vào việc vị
ấy có biết cách giữ gìn uy tín với họ hay không.
Marcus, Pertinax và Alexander đều sống giản
dị, yêu công lý, ghét sự tàn ác, nhân đạo và tử tế; nhưng ngoại trừ Marcus, tất
cả đều có kết cục bi thảm. Chỉ Marcus sống và chết danh dự nhất, bởi vì ông kế
vị theo quyền thừa kế nên không cần phải mang ơn binh lính hay dân chúng; sau
đó, nhờ những đức tính khiến ông được tôn kính, ông luôn giữ cả hai nhóm trong
giới hạn và chưa bao giờ bị ghét bỏ hay khinh miệt. Nhưng binh lính đã tạo ra Pertinax làm hoàng đế
trái với ý muốn của họ; vì họ đã quen sống phóng túng dưới thời Commodus, họ
không thể chịu đựng cuộc sống nề nếp mà Pertinax muốn họ quay trở lại; do đó, Pertinax khi đã tự
chuốc lấy oán hận cho mình, và thêm vào sự oán hận đó là sự coi thường vì ông
đã già, ông đã bị hủy diệt ngay trong những bước đầu cai trị của mình.
Và ở đây người ta
nên lưu ý rằng người ta chuốc lấy oán hận qua những việc tốt cũng nhiều như qua
những việc xấu; và vì vậy, như tôi đã nói ở trên, [36] một người cầm quyền
đứng đầu muốn duy trì nhà nước của mình thường buộc phải không được làm người
tốt. Bởi vì khi cái cộng đồng [37] mà ngài phán đoán
rằng mình cần họ để duy trì quyền lực đã bị thối nát, dù họ là dân chúng, binh
lính hay giới quyền quý, ngài phải đi theo tư tưởng của họ để làm thỏa mãn họ,
và khi đó những việc tốt chính là kẻ thù của ngài. Nhưng hãy nói về Alexander.
Ông có lòng tốt đến mức trong số những lời ca ngợi dành cho ông có điều này:
trong mười bốn năm nắm giữ đế quốc, ông chưa bao giờ xử tử ai mà không qua xét
xử. Tuy nhiên, vì thiên hạ coi ông là kẻ yếu đuối và là người để mẹ mình chi phối, và vì điều
này mà ông bị khinh miệt, quân đội đã âm mưu chống lại ông và giết chết ông.
Xem xét lại [38] phẩm tính
của Commodus, Severus, [39]
Antoninus Caracalla và Maximinus, ngài [40] sẽ thấy
họ rất
tàn nhẫn và tham lam. Để làm hài lòng binh lính, chúng không nương tay với bất
kỳ loại tổn thương nào gây ra cho dân chúng; tất cả trừ Severus đều có kết cục
bi thảm. Severus sở hữu bản lĩnh lớn đến nỗi, bằng cách giữ binh lính thân thiện, dù đè nén dân chúng quá mức, ông vẫn có thể cại
trị hạnh phúc vì bản lĩnh khiến ông trở nên đáng ngưỡng mộ
trong mắt binh lính và dân
chúng đến mức phe sau thì kinh ngạc và sững sờ, còn phe trước thì tôn kính và
thỏa mãn.
Và vì những hành
động của người này rất lớn lao và đáng chú ý đối với một người cầm quyền đứng
đầu mới, tôi muốn chỉ ra ngắn gọn vị ấy đã biết cách sử dụng vai diễn con cáo
và con sư tử tốt thế nào, những bản tính mà tôi nói ở trên là cần thiết để một
người cầm quyền đứng đầu bắt chước. Vì Severus biết sự bạc nhược của Hoàng đế
Julianus, ông đã thuyết phục đội quân của mình, vốn ông đang là đội trưởng ở
Slavonia, rằng sẽ thật tốt nếu đi đến Rome và trả thù cho cái chết của
Pertinax, người đã bị những binh lính cận vệ giết chết. Dưới cái cớ này, mà
không để lộ rằng mình khao khát nắm quyền đế quốc, ông đã điều động quân đội
chống lại Rome; và vị ấy đã ở Ý trước khi việc khởi hành bị phát hiện. Khi vị
ấy đến Rome, Thượng viện vì sợ hãi đã bầu ông làm hoàng đế và giết chết
Julianus.
Sau đó, Severus còn hai khó khăn nếu muốn trở
thành lãnh chúa của toàn bộ quốc gia: một ở châu Á, nơi Pescennius Niger tự
xưng hoàng đế; và một ở phía Tây, nơi Albinus cũng khao khát quyền cai trị. Vì phán xét
rằng việc công khai là kẻ thù của cả hai bên là nguy hiểm, ông quyết định tấn
công Niger và lừa dối Albinus. Ông viết thư cho Albinus rằng vì mình đã được
Thượng viện bầu nên muốn chia sẻ vinh quang; ông phong cho Albinus tước hiệu
Caesar và chấp nhận làm làm người cùng trị vì. Albinus đã tin điều đó là
đúng. Nhưng sau khi Severus đánh bại Niger và ổn định phương Đông, ông trở về
Rome phàn nàn trước Thượng viện rằng Albinus đã bội bạc tìm cách giết mình, vì
vậy ông buộc phải đi trừng phạt sự vô ơn của người này. Sau đó, ông đến gặp
người này ở Pháp, lấy đi lãnh thổ và mạng sống của người này.
Bất cứ ai xem xét kỹ lưỡng hành động của người
này sẽ thấy một con sư tử hung dữ và một con cáo tinh ranh; vị ấy được mọi
người kính sợ, tôn sùng và không bị quân đội oán hận. Sẽ không ngạc nhiên khi
một con người mới như vị ấy lại có thể giữ vững nhiều quyền lực đến thế, [41] vì
danh tiếng lớn lao luôn bảo vệ vị ấy khỏi lòng oán hận của dân chúng do những
vụ cướp bóc gây ra. Nhưng con trai vị này, Antoninus Caracalla, là người sở hữu
phẩm tính xuất sắc khiến ông trở nên kỳ diệu trong mắt dân chúng và làm hài
lòng binh lính. Vì là một quân nhân có khả năng chịu đựng mọi gian khổ, khinh
rẻ mọi thứ cao lương mỹ vị cùng lối sống ủy mị, vị ấy đã thu phục được lòng tin
và sự yêu mến của binh lính. Tuy nhiên, sự hung bạo và tàn ác của vị ấy thật
kinh khiếp – bởi sau vô số vụ sát hại cá nhân, vị ấy còn tàn sát phần lớn dân
chúng thành Rome và toàn bộ dân chúng thành Alexandria – điều này khiến vị ấy
chuốc lấy sự oán hận của toàn thế giới. Ngay cả những kẻ thân cận cũng bắt đầu
khiếp sợ vị ấy, đến mức một viên đội trưởng đã ra tay kết liễu vị ấy ngay giữa
quân đội của chính vị này. [42]
Ở đây cần lưu ý
rằng những cái chết như thế này, vốn nảy sinh từ quyết định của một tinh thần
ngoan cố, không thể bị tránh né bởi những người cầm quyền đứng đầu bởi vì bất
kỳ ai không màng cái chết đều có thể làm hại vị ấy; nhưng người cầm quyền đứng
đầu có thể ít sợ chúng hơn vì chúng rất hiếm. Vị ấy chỉ nên canh chừng việc
không gây ra tổn thương nghiêm trọng cho bất kỳ ai trong số những kẻ mà vị ấy
sử dụng và vây quanh mình để phục vụ quyền cai trị, như Antoninus đã làm. Ông
ta đã giết chết một cách nhục nhã một người anh em của viên đội trưởng đó, và
đe dọa hắn mỗi ngày; vậy mà ông ta vẫn giữ hắn trong đội cận vệ của mình, đó là
một chính sách liều lĩnh có khả năng mang lại sự diệt vong, như đã xảy ra với
ông ta.
Nhưng hãy nói về
Commodus, người nắm giữ đế quốc một cách rất dễ dàng vì ông ta có nó theo quyền
thừa kế, là con trai của Marcus. Chỉ cần ông ta đi theo bước chân của cha mình
thì đã làm thỏa mãn cả binh lính lẫn dân chúng. Nhưng vì ông ta có một tinh
thần tàn nhẫn và thú tính, để thực thi sự tham tàn lên dân chúng, ông ta quay
sang nuông chiều những đạo quân và khiến chúng trở nên phóng túng. Mặt khác,
bằng việc không giữ gìn phẩm giá của mình, bằng việc thường xuyên xuống những nhà
hát để chiến đấu với những võ sĩ giác đấu, và bằng việc làm những thứ rất hèn
hạ khác khó lòng xứng đáng với sự uy nghiêm hoàng đế, ông trở nên bị khinh miệt
trong mắt binh lính. Và vì ông bị oán hận một bên và bị coi thường một bên, ông
bị âm mưu chống lại và bị giết chết.
Bây giờ còn lại
việc kể về những phẩm chất của Maximinus. Ông ta là một người rất hiếu chiến;
và vì quân đội đã chán ghét sự ủy mị của Alexander, người mà tôi đã thảo luận ở
trên, nên khi ông ta bị giết, họ đã bầu Maximinus lên ngôi đế quốc. Ông ta
không nắm giữ nó được lâu vì hai điều đã khiến ông ta bị oán hận và bị khinh
miệt: một là việc ông ta có nguồn gốc rất hèn mọn [43] vì trước đây ông ta
từng chăn cừu ở Thrace (điều này vốn rất nổi tiếng ở khắp mọi nơi và mang lại
sự coi thường lớn lao cho ông ta trong mắt mọi người); điều kia là vì ngay khi
bắt đầu quyền cai trị của mình, ông đã trì hoãn việc đến Rome để tiếp quản ngai
vàng đế quốc, ông đã thiết lập một dư luận về bản thân là kẻ rất tàn nhẫn, vì ông
đã thực hiện nhiều hành vi tàn bạo qua những tổng trấn của mình ở Rome và ở mọi
nơi trong đế quốc. Vì vậy, khi cả thế giới sục sôi phẫn nộ trước dòng máu hèn
mọn của ông và bởi sự oán hận nảy sinh từ nỗi sợ hãi sự hung bạo của ông, Châu
Phi đã nổi loạn trước tiên, sau đó là Thượng viện cùng toàn thể nhân dân Rome;
và toàn bộ nước Ý đã âm mưu chống lại ông. Những lực lượng này có thêm sự tham
gia của chính quân đội của ông, những kẻ trong khi bao vây Aquileia và gặp khó
khăn trong việc đánh chiếm nó, đã trở nên chán ghét sự tàn nhẫn này, và vì ít
sợ hãi ông hơn khi thấy ông có quá nhiều kẻ thù, họ đã giết chết ông.
Tôi không muốn bàn luận về Heliogabalus,
Macrinus hay Julianus, những kẻ vì hoàn toàn khinh miệt bỉ nên đã bị loại bỏ
ngay lập tức. Kết luận lại: những người cầm quyền đứng đầu thời nay ít gặp khó
khăn hơn trong việc làm hài lòng binh lính bằng những biện pháp đặc biệt trong
chính phủ của họ. Dù phải thể hiện sự quan tâm đến họ, nhưng vấn đề này nhanh
chóng được giải quyết vì không vị nào có quân đội hợp nhất và ăn sâu vào bộ máy
những tỉnh như của Đế quốc La Mã. Nếu vào thời đó cần làm hài lòng binh lính hơn
dân chúng vì binh lính có thể làm được nhiều việc hơn, thì ngày nay, tất cả
(ngoại trừ người Thổ Nhĩ Kỳ và Sultan) [44] cần làm
hài lòng dân chúng hơn vì dân chúng có quyền lực lớn hơn.
Tôi loại trừ người Thổ ra khỏi đây, vì vị này
luôn giữ mười hai nghìn bộ binh và mười lăm nghìn kỵ binh mà an ninh và sức
mạnh của lãnh địa phụ thuộc vào đó; vị lãnh chúa đó cần phải gạt bỏ mọi sự quan
tâm khác để giữ họ làm thân hữu. Tương tự, vì lãnh địa của Sultan nằm trong tay
binh lính, ông cũng có nghĩa vụ phải giữ họ làm thân hữu mà không cần tôn trọng
dân chúng. Và ngài [45] cần
lưu ý rằng nhà nước của Sultan được hình thành khác biệt so với tất cả những
quốc gia khác, vì nó tương tự như chức vụ Vua chiên của Kitô giáo: không thể gọi là lãnh địa thừa kế hay lãnh
địa mới. Bởi không phải con trai của vị cầm quyền đứng đầu
cũ thừa kế, mà là người được bầu vào chức vụ đó bởi những kẻ có thẩm quyền. Vì
đây là một mệnh lệnh cổ xưa, người ta không thể gọi đó là một lãnh địa mới;
những khó khăn của lãnh địa mới không tồn tại ở đó, vì những mệnh lệnh đã có từ
lâu và chuẩn bị sẵn để tiếp nhận vị ấy như thể là lãnh chúa thừa kế.
Nhưng hãy quay
lại vấn đề của chúng ta. Tôi nói rằng bất kỳ ai xem xét bài nghị luận đã viết ở
trên sẽ thấy rằng hoặc sự oán hận hoặc sự coi thường đã là nguyên nhân dẫn đến
sự diệt vong của những hoàng đế đã nêu tên trước đó, và cũng sẽ biết nó nảy
sinh từ đâu mà ra, rằng mặc dù một số người trong họ tiến hành theo một phương
thức và một số theo phương thức ngược lại, thì dù ở phương thức nào, một người
trong số họ đã đi đến kết cục hạnh phúc và những người khác đến kết cục bất
hạnh. Bởi vì đối với Pertinax và Alexander, vì họ là những người cầm quyền đứng
đầu mới, việc muốn bắt chước Marcus (người nắm giữ quyền lãnh đạo theo quyền
thừa kế) là vô ích và gây hại; và tương tự, đối với Caracalla, Commodus và
Maximinus, việc bắt chước Severus là một điều tai hại, bởi vì họ không có đủ
bản lĩnh để cho phép họ bước theo dấu chân của vị ấy.
Do đó, một người
cầm quyền đứng đầu mới trong một lãnh địa mới không thể bắt chước những hành
động của Marcus, và lại càng không cấp thiết phải làm theo những hành động của
Severus; nhưng vị ấy nên lấy từ Severus những phần cần thiết để thiết lập nhà
nước của mình và từ Marcus những phần phù hợp và vẻ vang để bảo tồn một nhà
nước vốn đã được thiết lập và vững chắc.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Feb/2026)
(Còn
tiếp. →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
https://chuyenxgan.blogspot.com/
[1] [pietoso có hàm ý của sự “sùng đạo”.
Việc Machiavelli gắn
sự nhân ái với lòng sùng đạo cho thấy ông đang ngầm phê phán những đức tính đạo
Kitô truyền thống. Đối với ông, sự “nhân ái” mù quáng đôi khi lại là nguyên
nhân dẫn đến sự hỗn loạn và sụp đổ của quốc gia.
[2] [Nghĩa đen: dễ dãi.
[3] [Hoặc: một cách trung thực.
[4] [Một số bản thảo dùng từ infamia (tai
tiếng).
infamia Sự lựa chọn giữa “mang tiếng” (fame) và “tai
tiếng” (infamy) phản ánh nỗi lo lớn nhất của một người lãnh đạo: không phải là
việc trở nên xấu xa, mà là việc để danh tiếng bị hủy hoại đến mức mất đi quyền
kiểm soát.
[5] [Nghĩa đen: gây hại/xúc phạm (offends).
Machiavelli lập luận
rằng sự hào phóng quá mức sẽ buộc người cầm quyền đứng đầu phải đánh thuế nặng
thần dân, điều này “gây hại” cho số đông để làm hài lòng số ít.
[6] [Louis XII.
[7] [Ferdinand the Catholic
Về Louis XII và
Ferdinand: Đây là hai ví dụ điển hình. Louis XII của Pháp nổi tiếng vì sự tiết
kiệm, nhờ đó ông có thể tiến hành những cuộc chiến tranh mà không cần áp thuế
đặc biệt lên dân chúng. Ferdinand của Tây Ban Nha cũng tương tự, nếu ông quá
“hào phóng” theo nghĩa thông thường, ông đã không thể thực hiện được nhiều cuộc
chinh phạt lẫy lừng đến thế.
[8] [Hoặc lòng sùng đạo (piety), xuyên suốt tác
phẩm Người Cầm Quyền Đứng Đầu.
[9] [Từ năm 1500 đến 1502, Pistoia, một thành phố lệ
thuộc vào Florence, đã bị xâu xé bởi những cuộc tranh chấp phe phái và bạo
loạn. NM đã có mặt ở đó với tư cách là đại diện của người Florence trong nhiều
dịp vào năm 1501.
Đây là ví dụ then chốt
để Machiavelli lập luận rằng sự “tàn nhẫn” của Cesare Borgia thực chất là nhân
từ, vì nó mang lại trật tự; trong khi sự “nhân từ” của người Florence (không
muốn mang tiếng tàn nhẫn nên không can thiệp mạnh) lại dẫn đến sự hủy diệt cho
cả một thành phố.
[10] [Nghĩa đen: gây hại/xúc phạm (offend).
[11] [Nghĩa đen: một sự phổ quát toàn vẹn (a whole
universality).
Về “Sự phổ quát toàn
vẹn” (4): Cách dùng từ này cho thấy sự quan tâm của Machiavelli đến sự ổn định
của toàn thể cộng đồng thay vì lợi ích của một vài cá nhân.
[12] [Nghĩa đen: gây hại/xúc phạm (offend).
[13] [Virgil, Aeneid I 563–64.
[14] [Xem Chương 9.
[15] [Nghĩa đen: máu (blood).
[16] [Nghĩa đen: máu (blood).
[17] [Về việc so sánh giữa Hannibal và Scipio, xem thêm
Luận bàn về Livy III 19–21. Nguồn của NM nằm trong Livy, XXIX 19, 21.
Một so sánh kinh điển
để thảo luận liệu việc được yêu thương (Scipio) hay bị sợ hãi (Hannibal) mang
lại hiệu quả quân sự và chính trị tốt hơn.
[18] [Từ “Ngài” (you) ở dạng trang trọng hoặc số
nhiều
[19] [Một nguồn khả dĩ cho điều này: Cicero, De
Officiis I. 11.34; 13.41.
Việc viện dẫn Cicero
cho thấy Machiavelli đang đối thoại trực tiếp (và lật ngược) những giá trị kinh
điển. Cicero cho rằng việc hành xử như thú vật (cáo hay sư tử) là phi nhân
tính, nhưng Machiavelli lại coi đó là một kỹ năng bắt buộc để sinh tồn.
[20] [Nghĩa đen: một cách phổ quát (universally).
[21] [Nghĩa đen: chạm tới (touches).
Chú thích về từ “chạm
tới” (touches) làm rõ lập luận: dân chúng chỉ thấy vẻ bề ngoài (nhìn),
chỉ những người thân cận mới “chạm” được bản chất thực của người cầm quyền đứng
đầu.
[22] [Một bản thảo chép rằng “số ít không có chỗ đứng ở
đó...”; và những học giả đã chia rẽ ý kiến, Casella, Russo và Sasso chấp nhận
cách hiểu “không có chỗ đứng”, trong khi Chabod và Bertelli chọn “có chỗ đứng”.]
[23] [Rõ ràng là Ferdinand the Catholic, người mà NM đã
không ngần ngại nêu đích danh trong Chương 21.]
Ferdinand của Tây Ban
Nha chính là hình mẫu thực tế cho việc rao giảng tôn giáo và hòa bình trong khi
liên tục dùng mưu kế và vũ lực để mở rộng bờ cõi.
[24] [Xem Chương 17 ở trên.
[25] [Nghĩa đen: tính phổ quát (universality).
[26] [Xem Chương 9 ở trên, nơi Nabis được khắc họa như
một người cầm quyền của một chính thể dân sự. Tại đây, Machiavelli không tiết
lộ rằng Nabis thực tế đã bị giết bởi một âm mưu, điều mà ông đã viết trong cuốn
Luận thuyết về Livy (III, 6).
[27] [Các Chương 16, 17.
[28] [Nghĩa đen: bởi cái phổ quát (by the universal)
[29] [Xem Machiavelli, Lịch sử Florence VI,
9–10.
[30] [Về vương quốc Pháp, xem thêm Luận thuyết về
Livy I, 16, 17, 55; và tác phẩm Ritratto di cose di Francia của
Machiavelli.
[31] [Có lẽ ám chỉ Louis IX, người đã tổ chức Nghị viện
Paris từ triều đình của vị vua tiền nhiệm. những Nghị viện trong chế độ quân
chủ Pháp là những cơ quan tư pháp (tòa án), không phải cơ quan lập pháp.
[32] [Nghĩa đen: của cái phổ quát.
[33] [Nghĩa đen: những việc thuộc về ân huệ (things
of grace).
[34] [Alexander Severus.
[35] [Università ở đây là số ít theo một số bản
chép tay mà Chabod chấp nhận; nó là số nhiều và được dịch là “các cộng đồng”
trong mệnh đề tiếp theo; università bắt nguồn từ thuật ngữ Latinh trung
cổ universitas, có nghĩa là một pháp nhân hoặc tập đoàn, và (đôi khi) là
cộng đồng mà những thực thể đó phụ thuộc vào. Cách dùng của Machiavelli thiếu
tính pháp lý so với cách dùng thời trung cổ.
Việc lặp lại thuật ngữ
“cái phổ quát” cho thấy Machiavelli coi “dân chúng” là một khối chung đồng nhất
mà người cầm quyền đứng đầu phải xoa dịu bằng mọi giá để tránh sự thù ghét.
[36] [Chương 15.
[37] [Xem chú thích 12 ở trên.
[38] [Nghĩa đen: bàn luận về (discoursing on).
[39] [Septimius Severus, người mà trong cuốn Luận
thuyết về Livy (I, 10) bị Machiavelli gọi là một kẻ tội đồ
Chú thích 3 và 16 cho
thấy Machiavelli rất “khéo léo “ trong việc trình bày sự kiện . Trong tác phẩm
này, ông ca ngợi Severus và Nabis như những hình mẫu của bản lãnh chính trị (virtù),
nhưng trong những tác phẩm khác, ông lại gọi họ là tội đồ hoặc thừa nhận họ
thất bại trước âm mưu. Điều này chứng tỏ trong tập sách này, ông ưu tiên
tính hiệu quả thực dụng hơn là sự toàn diện về sự kiện lịch sử.
[40] [Từ “Ngài” (you) ở dạng trang trọng hoặc số
nhiều.
[41] [Nghĩa đen: đế quốc (empire).
[42] [Xem thêm Luận thuyết về Livy III, 6, nơi
Machiavelli nói rằng viên đội trưởng chỉ là công cụ hoặc kẻ thực thi của một kẻ
âm mưu khác là Macrinus (tổng đốc của Caracalla); Macrinus không hề phải chịu
“tổn thương nghiêm trọng” nào từ Caracalla. Macrinus tự xưng đế vào năm 217 và
bị lật đổ năm 218.
[43] [Nghĩa đen: cực kỳ thấp kém (being very base).
[44] [Rõ ràng “người Thổ” là Selim I, sultan của Thổ
Nhĩ Kỳ Ottoman từ 1512 đến 1520, và “Sultan” là vị sultan cuối cùng của vương
triều Mamelukes ở Ai Cập, Tuman Bey, người bị Selim I lật đổ năm 1517. Selim I
được Machiavelli gọi là “Đại Thổ” trong cuốn Luận thuyết về Livy: xem I,
1, 19, 30; II, 17; III, 6, 35.
[45] [Từ “Ngài” (you) ở dạng trang trọng hoặc số
nhiều.
