Người Cầm
Quyền Đứng Đầu
(Il Principe)
Niccolò Machiavelli
Chương I
Về Những Lãnh
Địa
Có bao nhiêu loại
lãnh địa và chúng đã giành được bằng những cách nào [1]
Tất cả những nhà
nước, [2]
tất cả những lãnh thổ đã từng và đang nắm quyền thống trị con người đều là những
cộng hòa, hoặc những lãnh địa.
Những lãnh địa có
thể là thừa kế – tức là dòng dõi [3]
của những chúa tể đã làm người cầm quyền đứng đầu trong thời gian dài – hoặc chúng
là là mới.
Những lãnh địa mới
có thể là hoàn toàn mới, như Milan dưới thời Francesco Sforza, [4]
hoặc chúng giống như những phần được thêm vào nhà nước thừa kế của người
cầm quyền đứng đầu chiếm được chúng, như vương quốc Naples được thêm vào lãnh
thổ của vua Tây Ban Nha.[5]
Những lãnh thổ
chiếm được như vậy hoặc là nơi đã quen sống dưới quyền một người cầm quyền đứng
đầu, hoặc là nơi đã quen sống tự do; và có được chúng bằng một trong bốn
cách: với quân lực của người khác, với quân lực của chính mình, nhờ vận may, hoặc
nhờ bản lĩnh chính trị. [6]
Chương II
Về Những Lãnh
địa Thừa Kế
Tôi sẽ bỏ qua, không
bàn về những nhà nước cộng hòa vì đã trình bày rất kỹ về chúng ở một nơi khác[7]
. Ở đây tôi chỉ nói về những lãnh địa, và sẽ nối tiếp những điều đã nhắc đến ở
trên để bàn cách cai trị và duy trì chúng. [8]
Tôi cho rằng
trong những nhà nước thừa kế đã quen thuộc với dòng máu [9]
của người cầm quyền đứng đầu, những khó khăn trong việc
duy trì chúng ít hơn nhiều so với những nhà nước mới, vì chỉ cần không đi chệch
khỏi trật tự của tổ tiên của
vị này, và sau đó tùy thời ứng phó trước những biến cố rủi ro. Bằng cách
này, nếu một vị vua như vậy có sự siêng năng bình thường [10], vị này sẽ luôn duy
trì được nhà nước, trừ khi có một lực lượng đặc biệt và cực kỳ mạnh mẽ lấy mất nó khỏi tay vị này; và
nếu vị này có bị tước đoạt, nếu có bất kỳ tai họa nào xảy ra với người chiếm đóng, vị này sẽ giành lại được
nó.
Ví dụ, ở Ý, chúng ta có công tước xứ Ferrara,
người mà, chỉ vì dòng dõi của ông đã có từ lâu đời ở lãnh địa đó, đã không khuất
phục trước những tấn công của người Venice vào năm 1484, cũng như trước những tấn
công của vua chiên Julius vào năm 1510. [11] Vì người cai trị tự nhiên ít có lý do và ít cần thiết phải phạm lỗi lầm; [12] do đó, điều thích hợp là vị này được yêu thích hơn. Và nếu những thói hư tật
xấu khác thường không khiến vị này bị ghét bỏ, thì thuận lý là vị này sẽ tự nhiên có
được thiện cảm của dân chúng.
Sự lâu đời và
liên tục của quyền thống trị lãnh địa, những ký ức và
nguyên nhân của những đổi mới đều bị loại bỏ; vì một sự thay đổi luôn để lại một dấu vết như răng cưa [13]
cho việc xây dựng một sự thay đổi khác.
Chương III
Về Những Lãnh Địa
Hỗn Hợp
Những khó khăn thực
sự nằm trong những lãnh địa mới. Trước hết, nếu nó không hoàn toàn mới nhưng chỉ
giống như một thành phần được thêm vào (do đó, xét về tổng thể, có thể gọi nó
là gần như hỗn hợp), thì sự bất ổn của nó bắt nguồn trước hết từ một khó khăn tự
nhiên vốn có trong tất cả những lãnh địa mới. Đây là [14]
do con người sẵn lòng thay đổi những lãnh chúa của họ, tin rằng sẽ được sống tốt
hơn, tin tưởng ấy khiến họ cầm vũ khí chống lại vị này, nhưng họ đã bị lường gạt
vì sau này, qua kinh nghiệm, họ nhận ra rằng họ đã làm thành tồi tệ hơn.
Điều này liên quan đến một thực tế không thể
tránh khỏi khác: bất cứ khi nào một người trở thành người cầm quyền đứng đầu mới,
vị này chắc chắn sẽ làm phật lòng những người mà vị này nắm quyền cai trị. Vị này làm
như vậy bằng cách đưa quân đội đến và bằng nhiều tác hại khác mà việc giành được
một lãnh thổ mới mang lại. Khi chiếm được lãnh thổ, vị này tạo ra kẻ thù từ những
người mà vị này đã làm hại, trong khi vị này không thể hoàn toàn làm hài lòng
những người đã giúp vị này lên nắm quyền, bởi vì vị này không thể đáp ứng những
gì họ mong đợi hoặc dùng những biện pháp mạnh chống lại họ vì còn vướng
nợ họ. Ngay cả đội quân mạnh nhất cũng không đủ: một người
cai trị luôn cần sự ủng hộ của người dân địa phương của một tỉnh [15] để tiến
vào đó. Chính vì những lý do này, Louis XII của Pháp đã nhanh chóng chiếm được
Milan, và cũng nhanh chóng đánh mất nó; và lực lượng của Ludovico đã đủ sức chiếm
lại thành phố này từ tay nhà vua ngay lần đầu tiên. [16]
Đối với những người đã mở cổng thành cho ông, một khi họ nhận ra họ đã bị phản
bội trong hy vọng và tương lai tốt đẹp mà họ mong đợi, họ không thể chịu đựng nổi
những khó khăn và gánh nặng do vị cầm quyền đứng đầu mới. mới áp đặt nữa.
Đúng là khi một
nhà nước nổi dậy và sau đó được giành lại lần thứ hai, việc để mất nó lần nữa sẽ
khó khăn hơn. Người cai trị dùng cuộc nổi loạn như một cơ hội: họ hành động thận
trọng hơn [17], trừng phạt những kẻ chịu trách nhiệm, lôi
ra những kẻ bị nghi ngờ và củng cố những điểm yếu nhất trong chính quyền của
ông. Đó là tại sao, lần đầu tiên, chỉ cần Công tước Ludovico gây rối ở biên giới
là đủ để Pháp mất Milan. Nhưng lần thứ hai, cả thế giới phải quay lưng lại với
Pháp, và quân đội của họ phải bị tiêu diệt hoặc bị đánh đuổi khỏi Ý thì họ mới
để mất Milan lần nữa. Điều này xảy ra vì những lý do đã được giải thích ở trên.
Mặc dù vậy, Pháp vẫn để mất Milan cả lần đầu và lần thứ hai.
Những nguyên nhân
phổ quát của vấn đề thứ nhất đã được thảo luận; giờ đây, vẫn còn phải nói về những
nguyên nhân của vấn đề thứ hai, và xem xét những biện pháp khắc phục nào mà một
người trong hoàn cảnh của vị này có thể dùng để duy trì vị thế tốt hơn trong
vùng đất đã chiếm được so những giì nước Pháp đã làm.
Giờ đây, tôi nói
rằng những nhà nước như vậy, khi chiếm được, được sáp nhập vào một nhà nước cổ
xưa của người chiếm được chúng, thì hoặc là cùng tỉnh và cùng ngôn ngữ, hoặc
không. Nếu cùng ngôn ngữ và cùng tỉnh, việc giữ chúng sẽ rất dễ dàng, đặc biệt
khi dân chúng không quen sống tự do. Để giữ vững chỉ cần tiêu diệt dòng dõi của
vị cầm quyền đứng đầu cũ, đồng thời giữ nguyên luật pháp và thuế khóa như cũ.
Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn, vùng đất mới sẽ hòa nhập hoàn toàn vào nhà
nước cổ xưa.
Khi người dân được
phép giữ nguyên những điều kiện cũ trong những vấn đề khác, và không có sự khác
biệt lớn về phong tục tập quán, họ sống hòa bình. Chúng ta có thể thấy điều này
ở Burgundy, Brittany, Gascony và Normandy, những vùng đất từ lâu đã thống nhất
với Pháp. [18] Ngay cả khi có một số khác biệt về ngôn
ngữ, phong tục của họ vẫn tương đồng, vì vậy họ có thể sống chung với nhau nhưng
không gặp nhiều khó khăn. Bất cứ ai giành được những vùng lãnh thổ như vậy và
muốn giữ chúng phải chú ý đến hai điều: thứ nhất, phải loại bỏ dòng máu của gia
đình cai trị cũ; thứ hai, không được thay đổi luật lệ hoặc thuế má của họ. Nếu
làm như vậy, vùng lãnh thổ mới giành được sẽ nhanh chóng trở thành một thể thống
nhất với lãnh địa lâu đời của người cai trị.
Nhưng nếu chiếm
được những vùng đất khác biệt về ngôn ngữ, phong tục và thể chế, thì khó khăn sẽ
rất lớn. Người chiếm lĩnh cần cả vận may lớn lẫn sự cần cù lớn lao để giữ được.
Một trong những cách hiệu quả và nhanh nhất là chính người đó phải đến sống tại
chỗ. Việc này sẽ khiến quyền sở hữu vững chắc và lâu dài hơn – như người Thổ
Nhĩ Kỳ đã làm ở Hy Lạp. Dù có áp dụng mọi biện pháp khác, nếu không sống tại chỗ,
họ cũng không thể giữ được.
Ngay cả khi vị
này thực hiện tất cả những biện pháp cần thiết khác để giữ vững quyền lực, vị
này cũng không thể làm được nếu không đến sống ở đó. Nếu người cai trị sống ở
đó, vị này có thể nhận thấy những vấn đề ngay khi chúng phát sinh và giải quyết
chúng nhanh chóng. Nếu vị này không sống ở đó, vị này chỉ biết về những vấn đề
khi chúng đã trở nên nghiêm trọng và không thể khắc phục được nữa. Hơn nữa, khi
vị này sống ở đó, tỉnh đó không bị những quan lại bóc lột. Người dân hài lòng
vì họ có thể dễ dàng tiếp cận người cầm quyền đứng đầu. Điều này khiến họ có
thêm lý do để yêu mến vị này nếu muốn trung thành, và thêm lý do để sợ hãi vị
này nếu muốn nổi dậy. Bất kỳ thế lực ngoại bang nào có ý định tấn công nhà nước
đó sẽ do dự hơn. Do đó, khi người cai trị sống trong lãnh thổ, rất khó để vị
này mất nó.
Cách khác, tốt
hơn nữa, là gửi những người định cư đến sinh sống tại vùng lãnh thổ mới giành
được. – như những sợi dây neo giữ lãnh thổ – đến một hoặc hai nơi quan trọng.
Hoặc làm vậy, hoặc phải duy trì bằng một lực lượng quân sự rất lớn. Thuộc địa tốn
kém rất ít, thậm chí hầu như không tốn kém, nhưng vẫn giúp giữ vững được lãnh
thổ. Việc này chỉ gây tổn thương cho một số rất ít người – những người bị lấy
ruộng đất và nhà cửa để nhường cho dân thuộc địa mới. Những người bị tổn thương
ấy, vì phân tán và nghèo khó, không thể gây hại. Trong khi đó, những người khác
không bị ảnh hưởng thì yên tâm, còn lo sợ rằng tai họa tương tự có thể xảy ra với
mình nếu họ chống đối.
Tôi kết luận rằng việc gửi người định cư từ
chính quốc gia của mình đến sinh sống tại vùng lãnh thổ mới chiếm được là cách
tốt nhất để giữ vững nó. Thuộc địa tốn ít chi phí, tạo ra nhiều thần dân trung
thành hơn và gây ít bất ổn cho người dân hơn. Những người bị xúc phạm vì mất đất
đai hoặc nhà cửa không thể làm hại người cai trị, bởi vì họ sống rải rác và
nghèo khó. Điều này minh họa một quy tắc quan trọng: người dân phải được đối xử
nhẹ nhàng - được quan tâm và tôn trọng để họ vẫn trung thành - hoặc bị loại bỏ hoàn toàn, bởi vì
họ sẽ tìm cách trả thù cho những tổn thương nhỏ nhưng không thể trả thù cho những
tổn thương lớn. Bất kỳ hành vi xúc phạm nào của người cai trị cũng phải đủ quyết
liệt để không ai có thể trả đũa.
Ngược lại, nếu một quốc gia được giữ vững bằng
binh lính thay vì người định cư, chi phí sẽ cao hơn nhiều. Người cai trị phải
chi toàn bộ doanh thu của quốc gia để duy trì quân đội, biến chinh phục thành một
thất bại. Binh lính cũng gây xáo trộn toàn bộ dân chúng khi họ di chuyển và chiếm
chỗ ở, điều này làm nhiều người tức giận. Mọi người đều cảm thấy gánh nặng này
và trở thành kẻ thù, và những kẻ thù này thực sự có thể gây hại vì họ vẫn ở
trong quê nhà của họ, ngay cả khi đã bị đánh bại.
Như vậy, xét từ mọi khía cạnh, việc cố gắng giữ
một vùng lãnh thổ chỉ bằng binh lính là không hiệu quả, trong khi việc giữ vùng
lãnh thổ đó bằng những người dân định cư trung thành lại mang lại hiệu quả tốt,
an toàn và ít gây ra sự bất mãn.
Bất cứ ai cai trị
một tỉnh bị chia cắt hoặc bao gồm nhiều thế lực nhỏ hơn phải tự mình trở thành
người đứng đầu và người bảo vệ những lân cận nhỏ hơn đó. vị này nên tìm cách làm suy yếu bất kỳ thế lực
mạnh nào trong tỉnh và đảm bảo rằng không có thế lực ngoại quốc nào mạnh bằng vị này có thể xâm nhập. Thông thường, một thế
lực ngoại quốc được chính người dân trong tỉnh đưa vào, hoặc vì tham vọng hoặc
vì sợ hãi—giống như người Aetolia từng mời người La Mã vào Hy Lạp. Ở mỗi tỉnh
mà người La Mã đặt chân đến, chính người dân đã cho phép điều đó.
Khi một thế lực
ngoại quốc hùng mạnh tiến vào một tỉnh, những thế lực địa phương yếu hơn thường
sẽ liên minh với ông, vì ghen tị hoặc oán giận đối với những người đã cai trị họ
trước đây. Do đó, việc giành được lòng trung thành của những thế lực nhỏ hơn
này rất dễ dàng: họ nhanh chóng liên kết với quyền lực mới của người cai trị.
Người cai trị chỉ cần đảm bảo rằng những thế lực nhỏ hơn không trở nên quá mạnh.
Với lực lượng của riêng mình và sự hỗ trợ của họ, vị này có thể kiểm soát những phe phái mạnh
hơn và duy trì vai trò trọng tài của tỉnh. Bất cứ ai không thực hiện tốt chính
sách này sẽ sớm mất những gì đã chiếm được, và trong khi còn giữ được thì sẽ gặp
vô số khó khăn và phiền nhiễu.
Người La Mã đã thực
hiện những chính sách này rất khéo léo ở những vùng họ chiếm: gửi dân thuộc địa,
nuông chiều những thế lực nhỏ nhưng không để chúng lớn mạnh, dẹp bỏ những thế lực
lớn, và không cho phép ngoại bang nào tạo dựng uy tín ở đó. Chỉ riêng Hy Lạp
cũng đủ làm thí dụ: người La Mã nuông chiều người Achaeans và Aetolians, đánh đổ
vương quốc Macedonia, đuổi Antiochus ra khỏi vùng. Họ không để công trạng của
Achaeans hay Aetolians khiến mình cho phép họ mở rộng quyền lực; không vì lời
thuyết phục của Philip mà làm bạn với ông nhưng không dẹp ông; cũng không vì sức
mạnh của Antiochus mà cho phép ông giữ bất kỳ vùng đất nào ở đó.
Vì người La Mã
trong những trường hợp này đã làm điều mà tất cả những người cầm quyền đứng đầu
khôn ngoan nên làm: họ không chỉ phải quan tâm đến những rắc rối hiện tại [19]
nhưng còn cả những rắc rối trong tương lai, và họ phải tránh những rắc rối này
bằng tất cả sự cần mẫn của mình, bởi vì khi nhìn xa trông rộng, người ta có thể
dễ dàng tìm ra phương thuốc chữa trị, nhưng khi chờ đến khi chúng đến gần, thuốc
sẽ không còn kịp thời nữa vì bệnh đã trở nên nan y. Và điều này cũng xảy ra như
những bác sĩ nói về bệnh lao phổi, rằng lúc đầu bệnh dễ chữa nhưng khó nhận biết,
nhưng theo thời gian, bệnh tiến triển nhưng không được phát hiện và chữa trị sớm,
thì bệnh trở nên dễ nhận biết nhưng khó chữa trị. Điều đó cũng xảy ra trong
công việc nhà nước, vì khi người ta nhận ra từ xa những tệ nạn phát sinh trong
một quốc gia (điều này chỉ có người khôn ngoan mới làm được), thì chúng sẽ sớm
được chữa lành; nhưng khi chúng bị bỏ mặc cho phát triển vì không được nhận ra,
đến mức mọi người đều nhận ra, thì không còn cách nào để khắc phục nữa.
Thế nên, người La
Mã sau khi nhìn thấy những bất tiện từ xa, luôn tìm cách khắc phục và không bao
giờ để chúng tiếp tục kéo dài nhằm tránh chiến tranh – vì họ biết chiến tranh
không thể tránh hẳn mà chỉ có thể hoãn lại, và khi hoãn thì lợi thường thuộc về
người khác. Vì thế họ quyết định đánh Philip và Antiochus ngay ở Hy Lạp để
không phải đánh ở Ý. Họ có thể hoãn cả hai cuộc chiến ấy một thời gian, nhưng họ
không muốn. Họ cũng không bao giờ tán đồng câu nói mà người khôn ngoan thời nay
hay nhắc: “hưởng lợi từ thời gian”. Ngược lại, họ hưởng lợi từ bản lĩnh chính
trị và sự thận trọng của chính họ. Bởi thời gian cuốn trôi tất cả sự vật việc
trước nó, có thể mang đến với nó điều tốt cũng như điều xấu, và điều xấu cũng
như điều tốt.
Nhưng hãy quay lại
với nước Pháp để xem nhà vua đã làm được những gì đã bàn hay không. Tôi sẽ nói
về Louis chứ không nói về Charles, [20]
vì thời gian Louis giữ được sở hữu ở Ý lâu hơn, nên những bước đi của ông rõ
ràng hơn.
Ngài [21]
sẽ thấy ông đã làm hoàn toàn ngược lại những sự việc đáng lẽ nên làm để giữ một
nhà nước trong vùng đất phân tán.
Vua Louis được
người Venice mời vào Ý vì tham vọng của họ muốn chiếm nửa vùng Lombardy nhờ sự
trợ giúp của ông. Tôi không trách con đường ông chọn, vì khi muốn đặt chân vào
Ý nhưng không có bạn bè nào trong vùng, lại bị mọi cánh cửa đóng chặt do hậu quả
từ thời Charles, ông buộc phải nắm lấy bất kỳ hứu nghị nào có được. Nếu kiên định
theo con đường ấy nhưng không phạm sai lầm trong những việc khác, ông đã thành
công.
Khi đã chiếm được
Lombardy, ông nhanh chóng lấy lại danh tiếng mà Charles đã làm mất. Genoa đầu
hàng, Florence trở thành bạn, những người cầm quyền đứng đầu Mantua, Ferrara,
Bentivoglio, bà Madonna Forlì, chúa Faenza, Pesaro, Rimini, Camerino, Piombino,
cùng người Lucca, Pisa, Siena – tất cả đều đến tìm cách kết thân với ông. Người
Venice khi ấy mới nhận ra sự liều lĩnh của mình: chỉ để chiếm hai vùng đất ở
Lombardy, họ đã giúp vua Pháp trở thành chúa tể của hai phần ba nước Ý. [22]
Nếu Louis tuân
theo những nguyên tắc đã nêu và bảo vệ vững chắc tất cả những đồng minh yếu –
những người đông đảo, sợ hãi, một số thuộc Hội nhà thờ Kitô, một số thuộc
Venice, luôn cần phải ở bên ông – thì ông có thể dễ dàng bảo vệ mình trước bất
kỳ thế lực lớn nào trong vùng.
Nhưng ngay khi vừa
vào Milan, ông đã làm ngược lại: giúp Vua chiên Alexander chiếm Romagna. Ông
không nhận ra rằng quyết định này đang làm suy yếu chính mình, tước bỏ bạn bè,
đẩy những người từng nhảy vào lòng mình ra xa, đồng thời làm Hội nhà thờ Kitô
trở nên cực kỳ mạnh mẽ bằng cách thêm vào quyền lực thế tục một lượng lớn uy
quyền tinh thần vốn đã rất lớn.
Sau sai lầm đầu
tiên, ông buộc phải tiếp tục. Để ngăn Alexander chiếm Tuscany và chấm dứt tham
vọng của vị này, Louis lại phải đưa quân vào Ý lần nữa. Việc làm Hội nhà thờ
Kitô lớn mạnh và đánh mất bạn bè chưa đủ, ông còn muốn vương quốc Naples nên đã
chia cắt nó với vua Tây Ban Nha.
Trong khi ban đầu vị này đang là trọng tài tối
cao của đất Ý, thì chính ông lại tự rước về một kẻ đồng hành để những kẻ tham vọng và những kẻ bất
mãn trong vùng có nơi nương tựa. Và thay vì để lại tại vương quốc đó một vị vua
bù nhìn vốn là kẻ chịu ơn ông [23], ông lại hất cẳng vị vua đó để đưa vào một kẻ khác đủ sức mạnh để trục xuất
chính ông.
Mong muốn chiếm
đoạt là điều rất tự nhiên và bình thường. Khi người ta có khả năng thực hiện
thì thường được khen, ít bị trách. Nhưng khi không có khả năng mà vẫn cố làm
thì đó là sai lầm và đáng trách. Nếu Pháp có thể đánh Naples bằng lực lượng của
mình thì nên làm; nếu không thể thì không nên chia cắt Naples. Việc chia
Lombardy với Venice còn có thể được tha thứ vì nhờ đó Pháp đặt được chân vào Ý,
nhưng việc chia Naples thì không có lý do nào biện minh.
Tóm lại, Louis đã
phạm năm sai lầm: tiêu diệt những thế lực nhỏ, tăng quyền lực cho một thế lực lớn
trong Ý, đưa một ngoại bang cực mạnh vào, không đến sống tại chỗ, và không đặt những
người định cư vào làm thực dân ở đó.
Nếu ông còn sống,
những sai lầm này chưa chắc đã hại ông nếu không phạm thêm sai lầm thứ sáu:
tiêu diệt quyền lực của người Venice. Nếu không làm Hội nhà thờ Kitô lớn mạnh
và không đưa Tây Ban Nha vào Ý, thì việc dẹp người Venice là hợp lý và cần thiết.
Nhưng sau khi đã làm hai việc ấy, ông không nên đồng ý để họ bị diệt vong. Khi
còn mạnh, người Venice sẽ luôn là rào cản ngăn những thế lực khác tấn công
Lombardy – hoặc vì họ không chấp nhận trừ phi chính mình làm chúa, hoặc vì những
thế lực khác không muốn lấy Lombardy từ Pháp để trao cho Venice, và cũng không
đủ can đảm tấn công cả hai cùng lúc.
Nếu có người nói
rằng Louis nhượng Romagna cho Alexander và Naples [24]
cho Tây Ban Nha để tránh chiến tranh, tôi trả lời: không được để rối loạn kéo
dài chỉ vì muốn tránh chiến tranh – đó không phải tránh mà là hoãn lại để chịu
thiệt thòi về sau.
Nếu có người viện
dẫn lời hứa với Vua chiên để đổi lấy việc hủy hôn và chức hồng y cho Rouen [25]
, tôi sẽ trả lời ở phần sau về lòng tin của những người cầm quyền đứng đầu và
cách nên giữ lời hứa ấy như thế nào. [26]
Tóm lại, Louis đã
mất Lombardy vì không tuân thủ bất kỳ nguyên tắc nào mà những người chiếm và muốn
giữ được những vùng đất đã làm. Đây không phải chuyện kỳ lạ, mà là điều rất thường
tình và hợp lý.
Tôi đã bàn về việc
này ở Nantes với hồng y Rouen, [27]
khi Valentino (tức Cesare Borgia, con trai Vua chiên Alexander) đang chiếm giữ
Romagna. Khi hồng y Rouen nói rằng người Ý không hiểu chiến tranh, tôi đáp lại
rằng người Pháp không hiểu nhà nước – vì nếu hiểu thì họ đã không để Hội nhà thờ
Kitô đạt đến sự vĩ đại như vậy.
Kinh nghiệm cho
thấy chính Pháp đã tạo ra sự vĩ đại của Hội nhà thờ Kitô và Tây Ban Nha ở Ý, và
cũng chính Hội nhà thờ Kitô cùng Tây Ban Nha đã gây ra sự suy vong của Pháp.
Từ đây người ta
có thể rút ra một quy luật tổng quát, hầu như không bao giờ sai: người nào là
nguyên nhân khiến người khác trở nên quyền lực thì người đó tự chuốc lấy sự diệt
vong; bởi vì quyền lực do người đó giúp đỡ tạo ra bằng bằng bản lãnh chính trị
hay bằng vũ lực, và cả hai yếu tố này đều khiến người trở nên quyền lực nghi ngờ.
Chương IV
Tại Sao Vương
Quốc Của Darius – Alexander Đã Chiếm Được – Không Nổi Loạn Chống Lại Những Người
Kế Vị Của Alexander Sau Khi Alexander Qua Đời
Sau khi đã xem
xét những khó khăn trong việc giữ vững một nhà nước mới chiếm được, người ta có
thể ngạc nhiên rằng Alexander Đại đế đã trở thành chúa tể toàn châu Á chỉ trong
vài năm, rồi ngay sau khi chiếm được thì qua đời – điều này khiến người ta nghĩ
rằng toàn bộ nhà nước ấy sẽ nổi dậy. Thế nhưng những người kế vị Alexander vẫn
giữ được nó, và họ không gặp khó khăn nào khác ngoài những xung đột nội bộ do
tham vọng của chính họ gây ra.[28]
Tôi trả lời rằng
những lãnh địa mà ký ức vẫn còn lưu truyền đều được cai trị theo hai cách rất
khác nhau: hoặc bởi một người cầm quyền đứng đầu duy nhất, còn những người khác
chỉ là bề tôi – những người làm quan giúp cai trị vương quốc theo sự bổ nhiệm
và ân sủng của vị ấy; hoặc bởi một người cầm quyền đứng đầu cùng với những quý
tộc lãnh chúa – những người giữ địa vị không nhờ ân sủng của chúa tể mà nhờ
dòng dõi cổ xưa. Những quý tộc lãnh chúa ấy có lãnh địa riêng và thần dân
riêng, những người công nhận họ là chúa tể và yêu mến họ một cách tự nhiên.
Những nhà nước được
cai trị bởi một người cầm quyền đứng đầu và những bề tôi của vị ấy thì người cầm
quyền đứng đầu nắm quyền uy lớn hơn, vì trong toàn bộ lãnh thổ của vị ấy không
ai được công nhận là cao hơn vị ấy; nếu thần dân vâng lời ai khác thì cũng chỉ
vì người ấy là quan lại hoặc bề tôi, chứ không có tình cảm đặc biệt nào dành
cho họ.
Thời nay, hai thí
dụ điển hình cho hai kiểu cai trị khác nhau này là người Thổ Nhĩ Kỳ và vua
Pháp. Toàn bộ đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ được cai trị bởi một chúa tể duy nhất; những
người khác chỉ là bề tôi của ông. Ông chia vương quốc thành những phân khu (sanjak),
[29] cử những quan cai trị khác nhau đến đó,
và thay đổi, điều chuyển họ tùy ý. Ngược lại, vua Pháp ở giữa một đám đông những
quý tộc cổ xưa, những người được thần dân trong lãnh thổ của họ công nhận và
yêu mến; họ có đặc quyền riêng, và vua không thể tước bỏ những quyền đó nhưng
không gặp nguy hiểm cho chính mình.
Do đó, bất kỳ ai xem xét loại hình này và loại hình kia của những
nhà nước này sẽ thấy sự khó khăn trong việc thâu tóm nhà nước của người Thổ,
nhưng nếu nó bị chinh phục, sẽ thấy sự dễ dàng to lớn trong việc giữ vững nó.
Ngược lại, ngài [30]
sẽ thấy ở một vài khía cạnh, việc đánh chiếm nhà nước Pháp
có phần dễ dàng hơn, nhưng lại gặp khó khăn to lớn trong việc giữ vững nó.
Nguyên nhân khiến
việc chiếm đoạt vương quốc Thổ Nhĩ Kỳ khó khăn là vì không thể được những người
cầm quyền trong vương quốc ấy mời gọi vào, cũng không thể hy vọng sẽ dễ dàng
hơn nhờ sự nổi loạn của những người xung quanh chúa tể. Điều này xuất phát từ
những lý do đã nêu: vì tất cả đều là nô lệ và bị ràng buộc bởi nghĩa vụ, nên rất
khó mua chuộc họ; và dù có mua chuộc được thì cũng chẳng lợi lộc gì nhiều, vì họ
không thể kéo theo thần dân của mình theo những lý do đã nói. Vì vậy, người nào
tấn công người Thổ Nhĩ Kỳ phải chuẩn bị tinh thần rằng sẽ gặp đối phương hoàn
toàn đoàn kết, và nên đặt hy vọng nhiều hơn vào lực lượng của chính mình thay
vì vào sự rối loạn của người khác.Nhưng một khi đã đánh bại
và khuất phục vị chúa tể người Thổ Nhĩ Kỳ trên chiến trường đến mức vị này không thể tập hợp
lại quân đội, thì chỉ còn phải lo ngại dòng dõi của vị chúa tể. Nếu tiêu diệt được
dòng dõi ấy, thì không còn ai đáng sợ nữa, vì những người khác không có uy tín
với dân chúng; và giống như người chiến tngười nàyg trước kia không thể hy vọng
gì vào họ, thì sau chiến tngười nàyg cũng không cần sợ họ.
Ngược lại hoàn
toàn với những vương quốc được cai trị như nước Pháp, vì ngài có thể dễ dàng
xâm nhập bằng cách lôi kéo được một quý tộc trong vương quốc; luôn luôn có những
người bất mãn và những người muốn thay đổi. Nhờ những lý do đã nêu, họ có thể mở
đường cho ngài vào nhà nước ấy và giúp ngài giành chiến tngười nàyg dễ dàng
hơn.
Nhưng sau khi
giành được chiến tngười nàyg, mong muốn giữ vững chiến tngười nàyg ấy lại mang
theo vô số khó khăn – cả từ những người đã giúp đỡ lẫn từ những người đã bị áp
bức. Việc tiêu diệt dòng dõi của người cầm quyền đứng đầu [nhà vua] là chưa đủ,
vì vẫn còn những quý tộc khác đứng lên dẫn dắt những thay đổi mới; và vì ngài
không thể vừa làm hài lòng họ vừa tiêu diệt họ, nên cứ khi nào họ có cơ hội là
ngài mất nhà nước ngay
Bây giờ, nếu ngài
[31]
xem xét bản chất chính quyền của Darius, [32]
ngài [33]
sẽ thấy nó giống với vương quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Vì vậy, Alexander buộc phải tấn
công toàn lực vào vị ấy và đánh bại vị ấy trên chiến trường; sau chiến tngười
nàyg ấy, khi Darius đã chết, nhà nước ấy trở nên an toàn với Alexander nhờ những
lý do đã bàn ở trên. Và nếu những người kế vị của ông đoàn kết với nhau, họ có
thể hưởng thụ nó một cách thong thả, nhưng không xảy ra bất kỳ cuộc nổi loạn
nào trong vương quốc ấy ngoài những cuộc do chính họ gây ra. Nhưng việc chiếm
giữ những nhà nước được tổ chức như nước Pháp một cách yên bình là điều bất khả
thi. Chính vì thế mà xảy ra những cuộc nổi dậy thường xuyên ở Tây Ban Nha, Pháp
[34]
và Hy Lạp chống lại người La Mã, do số lượng lớn những lãnh địa tồn tại trong
những nhà nước ấy. Chừng nào ký ức về họ còn tồn tại, người La Mã luôn bất an về
quyền sở hữu; nhưng khi ký ức ấy bị xóa sổ nhờ sức mạnh và thời gian dài của đế
quốc, người La Mã trở thành những chủ nhân an toàn.
Sau khi xem xét tất
cả những điều này, không ai còn ngạc nhiên về việc Alexander dễ dàng giữ được
châu Á, trong khi những người khác như Pyrrhus [35]
và nhiều người tương tự gặp vô vàn khó khăn để giữ những gì đã chiếm được. Điều
này không xuất phát từ bản lĩnh chính trị nhiều hay ít của người chiến tngười
nàyg, mà từ sự khác biệt trong bản chất của đối tượng [bị
cai trị].
Chương V
Cách Quản Trị
Những Thành phố-Nhà nước Hoặc Lãnh địa Từng Sống Theo Luật Lệ Riêng Trước Khi Bị
Chiếm Đóng
Khi những nhà nước
được thâu tóm, như đã nói, đã quen sống theo luật lệ riêng và trong tự do, có
ba phương thức cho những kẻ muốn nắm giữ chúng: thứ nhất, phá hủy chúng; thứ
hai, đích thân đến đó sinh sống; thứ ba, để họ sống theo luật lệ của họ, thu cống
nạp và thiết lập bên trong đó một chính thể thiểu số để giữ cho họ thân thiện với
ngài. Bởi vì một chính thể như vậy do chính người cầm quyền đứng đầu đó tạo ra,
nó biết rằng nó không thể tồn tại nếu thiếu tình hữu nghị và quyền lực của vị ấy,
và nó phải làm mọi cách để duy trì vị ấy. Một thành thị đã quen sống tự do sẽ
được nắm giữ dễ dàng hơn qua chính những công dân của nó hơn là bằng bất kỳ
phương thức nào khác, nếu người ta muốn bảo tồn nó.
Lấy ví dụ về người
Sparta và người La Mã. Người Sparta nắm giữ Athens và Thebes bằng cách thiết lập
tại đó các chính thể thiểu số; vậy mà họ đã để mất chúng một lần nữa. [36]
Người La Mã, để nắm giữ Capua, Carthage và Numantia, đã phá hủy chúng và không
để mất chúng.[37] Họ từng muốn nắm giữ Hy Lạp theo cách tương tự như người Sparta đã nắm giữ,
bằng cách để vùng đất này tự do và giữ lại luật lệ riêng của nó. Nhưng họ đã
không thành công; vì thế họ buộc phải phá hủy nhiều thành thị trong tỉnh đó để
nắm giữ nó.
Bởi vì trong thực
tế, không có phương thức nào an toàn để chiếm hữu chúng ngoại trừ việc phá hủy
chúng. Và kẻ nào trở thành chủ nhân của một thành thị đã quen sống tự do mà
không tiêu diệt nó, kẻ đó nên chuẩn bị tinh thần bị nó tiêu diệt; vì nơi ấy
luôn lấy danh nghĩa tự do và những định chế cổ xưa của mình làm điểm tựa cho cuộc
nổi dậy, những những gì vốn thời gian dài đằng đẵng hay những lợi ích nhận được
cũng không bao giờ khiến họ lãng quên. Bất kể người ta làm gì hay dự phòng ra
sao, trừ khi cư dân bị chia rẽ hoặc bị phân tán, họ sẽ không quên danh nghĩa đó
và những định chế đó, và họ sẽ ngay lập tức khôi phục chúng khi có bất kỳ biến
cố nào, giống như Pisa đã làm sau khi bị người Florence kìm kẹp trong kiếp nô lệ
suốt một trăm năm.[38]
Nhưng, khi các
thành thị hoặc vùng đã quen sống dưới quyền một người cầm quyền đứng đầu, và
dòng máu của vị ấy đã bị xóa sổ—vì một mặt họ đã quen phục tùng, mặt khác họ
không còn vị cầm quyền cũ —họ sẽ không thể đồng thuận để bầu ra một người từ
chính hàng ngũ của họ và họ cũng không biết cách sống tự do. [39]
Do đó, họ chậm trễ hơn trong việc cầm vũ khí, và một người cầm quyền đứng đầu
có thể thâu tóm họ dễ dàng hơn cũng như có thể bảo đảm an toàn cho mình trước họ.
Nhưng trong những
nước cộng hòa, sức sống mãnh liệt hơn, lòng thù hận lớn hơn, khát vọng trả thù
quyết liệt hơn; ký ức về nền tự do xưa cũ không và không thể để họ yên nghỉ, vì
vậy con đường an toàn nhất là tiêu diệt chúng hoặc đích thân đến sống tại đó.
Lê Dọn Bàn tạm
dịch – bản nháp thứ nhất
(Feb/2026)
(Còn tiếp...
→)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
https://chuyenxgan.blogspot.com/
[1] [Tên những chương trong cuốn “Người Cầm Quyền Đứng Đầu” được viết bằng
tiếng Latinh, ngôn ngữ của giới học thuật truyền thống và của Hội nhà thờ.
[2] [stato: vừa
có nghĩa là địa vị, vừa có nghĩa là quốc gia. Ý nghĩa của chúng liên
quan chặt chẽ: stato là địa vị của một cá nhân hay nhóm người khi thống trị kẻ
khác. Dù NM đôi khi nói về “nhà nước”, ông luôn ám chỉ quốc gia của một ai đó cụ
thể chứ không phải một thực thể vô nhân tính.
[3] [ Nghĩa đen: “Máu”
(huyết thống).
[4] [Francesco Sforza
(1401–66): thủ lĩnh lính đánh thuê, chiếm được Milan bằng cách phản bội và lật
đổ Cộng hòa Ambrosian năm 1450. Ông tuyên bố quyền sở hữu Milan một cách tôn trọng
huyết thống cũ thông qua cuộc hôn nhân với Bianca, con gái Filippo Maria
Visconti (Công tước Milan bấy giờ).
[5] [Ferdinand the Catholic,, sau khi đồng ý bằng hiệp ước năm 1500 để chia
sẻ lãnh địa của Naples, dưới thời Louis XII của Pháp, đã đánh đuổi quân Pháp
vào năm 1504 và sáp nhập vào lãnh địa đó. đến Tây Ban Nha.
[6] [Trong bản dịch này, virtù luôn được dịch là “bản lãnh chính trị”.
[7] [Tham khảo tác phẩm chính khác của NM, Luận về Livy, trong đó ông
lý giải. với việc sử dụng những tài liệu từ sử sách về cộng hòa La Mã của Livy,
cùng với những nguồn khác. nguồn. NM thực sự có thảo luận về những nước cộng
hòa trong cuốn “Người cầm quyền đứng đầu” (ví dụ, về “người La Mã,” (Chương 3
bên dưới), nhưng không “chi tiết”.
[8] Về bản chất, khuôn
khổ nhị nguyên của Machiavelli là những tiểu quốc với thể chế quân chủ (lãnh địa
chuyên quyền, trọng tâm của tác phẩm “Il Principe”) đối lập với những tiểu quốc
với thể chế cộng hòa (những thành phố- nhà nước – polis - tự do, tự trị dựa
trên nền tảng tự do và sự hình thành thói quen độc lập của công dân). Sự phân
biệt này là nền tảng cho phân tích của ông về quyền lực, sự ổn định và những
thách thức của việc cai trị.
[9] [nghĩa đen: máu.
[10] [industria đối với NM có nghĩa là sự siêng năng
kết hợp với kỹ năng hoặc sự khéo léo, điều này không phải là
nhất thiết phải nhìn thấy được.
[11] [NM nhắc đến hai công tước xứ Ferrara như thể họ là một: Ercole d'Este
(1431–1505) và con trai ông là Alfonso d'Este (1476–1534). Ercole bị người
Venice đánh bại vào năm 1484. và Alfonso đã tạm thời bị Vua chiên Julius tước bỏ
tước vị công tước của ông vào năm 1510.
[12] [Hành vi xúc phạm không chỉ đơn thuần là coi thường, mà còn là gây tổn hại
đến mức gây ra sự xúc phạm.
[13] [Một vết lõm là một phần tường có răng cưa còn sót lại trên cạnh của một
tòa nhà để một tòa nhà khác có thể đi qua. có thể được gắn liền với nó. Phép ẩn
dụ của NM so sánh tính di truyền, hay “tự nhiên,” Lãnh địa ấy giống như một dãy
nhà liên tục được xây thêm nhưng không bao giờ hoàn thiện, và có thể nói là không bắt đầu từ đầu.
[14] [Nghĩa đen: Đây là những
[15] [“Tỉnh” dùng để chỉ
một quốc gia hoặc khu vực có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn một “đất nước”.
[16] [Ludovico Sforza, il
Moro, là công tước Milan từ năm 1494 cho đến khi Milan bị Louis XII chiếm đoạt
vào tháng 9 năm 1499. Ông tái chiếm Milan vào tháng 2 năm 1500 nhưng bị lính
đánh thuê người Thụy Sĩ phản bội tại Novara, khi người Pháp chiếm lại thành phố
này vào tháng 4 “lần thứ hai”. Sau đó, người Pháp mất Milan vào năm 1512 sau trận
Ravenna vào tay Liên minh Thần thánh do Giáo hoàng Julius II lãnh đạo, “toàn thế
giới”.
[17] [respettivo cũng được
dịch là “thận trọng”; đặc biệt xem Chương 25.
[18] [Burgundy từ năm
1477, Brittany năm 1491, Gascony năm 1453 và Normandy năm 1204.
[19] [Nghĩa đen: những vụ
bê bối.
[20] [Của Louis XII,
không phải của Charles VIII; cuộc xâm lược Ý của Charles VIII vào tháng 9 năm
1494 chỉ kéo dài đến tháng 10 năm 1495.
[21] [Đại từ nhân xưng số
nhiều hoặc trang trọng (ngài).
[22] [Một số bản thảo ghi là một phần ba.
[23] [Vương quốc Naples, trước đây do Frederick xứ Aragon nắm giữ.
[24] [Vương quốc Naples,
thường được gọi là “Vương quốc”.
[25] [Louis XII đã nhận được sự hủy bỏ hôn nhân của mình với Jeanne de từ vua
chiên. Valois và chức hồng y (mũ) cho vị bộ trưởng của ông, Georges d' Amboise,
giám mục của Rouen.
[26] [Xem Chương 18 bên dưới.
[27] [Trong chuyến công tác ngoại giao đầu tiên của NM tới Pháp; xem thư của
ông ngày 21 tháng 11, 1500.
[28] [NM dường như đề cập
đến việc Alexander nhanh chóng chiếm đóng “Châu Á” trong bảy năm, từ năm 334 đến
327 trước Công nguyên, và việc chia nó cho bảy vị tướng, cuối cùng thành mười một
vương quốc, sau khi ông qua đời.
[29] [Các đơn vị hành
chính.
[30] [Đại từ nhân xưng “ngài”
(số nhiều hoặc trang trọng).
[31] [Đại từ nhân xưng “ngài”
(số nhiều hoặc trang trọng).
[32] [Darius III (380–330
trước Công nguyên) là vua của Ba Tư, người đã mất đế chế của mình vào tay
Alexander Đại đế.
[33] [Đại từ nhân xưng “ngài”
(số nhiều hoặc trang trọng).
[34] [NM hài lòng khi gọi
xứ Gaul cổ đại bằng tên hiện đại của nó; xem Discourses on Livy II 4
[35] [Pyrrhus (319–272
trước Công nguyên), vua của Epirus, đã chiếm được Sicily và nhanh chóng để mất
nó.
[36] [Tại Athens, chính
thể của Ba mươi Bạo chúa được thiết lập dưới sự chỉ đạo của người Sparta vào
năm 404 TCN, sau đó bị lật đổ vào năm 403 TCN. Tại Thebes, những người Sparta
chiến tngười nàyg đã thiết lập một chính thể thiểu số vào năm 382 TCN, chính thể
này bị Pelopidas lật đổ vào năm 378 TCN.
[37] [Người La Mã đã phá hủy Capua sau cuộc nổi
loạn của thành phố này vào năm 211 TCN; phá hủy Carthage vào năm 146 TCN; và
Numantia vào năm 133 TCN.
[38] [Florence thâu tóm được Pisa vào năm 1405
và để mất vào năm 1494 do cuộc xâm lược của vua Pháp, Charles VIII.
[39] “Không biết cách sống tự do” (non sanno vivere liberi): Không chỉ là việc
thiếu vắng xiềng xích, mà ám chỉ sự xói mòn năng lực chính trị của một dân tộc
sau thời gian dài dưới chế độ chuyên chế. Do quen với tâm lý phục tùng, họ mất
khả năng tự trị, không biết cách thiết lập định chế mới hay tự tổ chức cầm vũ
khí bảo vệ vận mệnh chung khi thiếu vắng một quân chủ chỉ huy.
