NGƯỜI CẦM QUYỀN ĐỨNG ĐẦU
(IL PRINCIPE)
Niccolò Machiavelli
Harvey C. Mansfield dịch và giới thiệu
Bản in thứ hai
NxB đại học Chicago
Lời Phi Lộ
Chính trị học
không phải lĩnh vực tôi am tường, nhưng những cuộc chiến tranh tàn khốc đang đốt
cháy thế giới đã đẩy tôi đến tập sách này. Từ chiến tranh ủy nhiệm Nga–Mỹ ở
Ukraine — dư âm kéo dài của Chiến tranh Lạnh — đến chiến tranh sắc tộc tôn giáo
(Zionism) dẫn tới thảm kịch diệt chủng ở Gaza. Từ tham vọng của dự án “Greater Israel” với chiến lược “Balkan hóa” nhắm triệt hạ quyền
dân tộc tự quyết của những Palestine, Lebanon, Syria, Iraq, Yemen đến Iran, khiến
Trung Đông chìm trong biển lửa. Đồng thời, Realpolitik của giới “Neocon” Mỹ tiếp tục siết chặt
những yết hầu địa chính trị ở Mỹ Latinh, nơi Panama, Venezuela, Cuba lần lượt
rơi vào vòng vây hãm.
Tôi tìm đến Machiavelli để học nhìn thẳng vào thực tại trần trụi: Chính trị — đặc biệt của thế giới phương Tây đế quốc và thực dân cũ mới— không phải nơi vun trồng hay truyền bá những ảo tưởng dân chủ tự do. Thế giới hôm nay vẫn lập lại bi kịch Chiến tranh Peloponnesian, giữa Athens và Sparta, Thucydides từng viết: “Kẻ mạnh làm những gì họ có thể và kẻ yếu phải chịu những gì họ đành chịu”. Đó là tuyên ngôn cô đọng của Chủ thuyết Hiện thực Chính trị (Political Realism) về một đấu trường sắt máu của quyền lực thuần túy. Với Machiavelli, mục tiêu tối thượng của người nắm quyền lãnh đạo chính trị — trước đến nay ở phương Tây — là bảo tồn và mở rộng quyền lực nhà nước, không phải phục vụ những giá trị đạo đức con người dù ở đâu.
Người cầm quyền đứng đầu không được phép hão huyền; họ phải đặt lợi ích và sự bành trướng của đế quốc lên trên hết. “Lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” không phải lời nói ngoa, mà là quy luật vận hành tàn nhẫn: Kẻ chiến thắng định hình lịch sử bằng sức mạnh quân sự, bằng kỹ thuật tuyên truyền — “đạo quân thứ năm” nhằm “nhào nặn sự đồng thuận” (manufacturing of consent) — một sự thao túng dư luận tinh vi — một mạng lưới lũng đoạn trùng điệp — thiên la địa võng — để áp đặt trật tự bá quyền, chia rẽ và khuất phục những dân tộc nhỏ yếu. Machiavelli không cổ vũ sự tàn ác; ông chỉ mô tả — một cách lạnh lùng — cách thế giới (trong đó chúng ta là nạn nhân) thực sự vận hành.
Người Dịch Bản
Tiếng Việt
Mar/01/2026
NGƯỜI CẦM
QUYỀN ĐỨNG ĐẦU
MỤC LỤC
Giới thiệu
Ghi chú về bản dịch
Niên đại
Bản đồ
Thư đề từ
I. Có bao nhiêu loại lãnh địa và bằng những
cách thức nào chúng bị chiếm đoạt II. Về những lãnh địa thừa kế III. Về những
lãnh địa hỗn hợp IV. Tại sao vương quốc của Darius – mà Alexander đã chiếm được
– không nổi loạn chống lại những người kế vị sau khi Alexander qua đời V. Những
thành phố hoặc lãnh địa vốn sống theo luật pháp riêng của mình trước khi bị chiếm
đóng nên được cai trị như thế nào VI. Về những lãnh địa mới bị chiếm đoạt nhờ
quân lực và bản lĩnh chính trị của chính mình VII. Về những lãnh địa mới bị chiếm
đoạt nhờ quân lực và vận may của người khác VIII. Về những người đạt được lãnh
địa qua tội ác IX. Về lãnh địa dân sự X. Bằng cách nào nên đánh giá lực lượng của
mọi lãnh địa XI. Về những lãnh địa thuộc Hội nhà thờ Kitô XII. Có bao nhiêu loại quân đội và về
lính đánh thuê XIII. Về lính phụ viện, lính hỗn hợp và lính của chính mình XIV.
người cầm quyền đứng đầu nên làm gì liên quan đến quân sự XV. Về
những điều khiến con người – đặc biệt là người cầm quyền đứng đầu – được khen
hoặc bị chê XVI. Về sự hào phóng và keo kiệt XVII. Về sự tàn nhẫn và nhân từ,
và liệu được yêu hơn hay bị sợ hơn thì tốt hơn XVIII. người cầm quyền đứng đầu nên
giữ lòng tin như thế nào XIX. Về việc tránh bị khinh miệt và bị ghét XX. Liệu
pháo đài và nhiều thứ khác mà những người cầm quyền đứng đầu làm và thực hiện
hàng ngày có ích hay vô ích XXI. người
cầm quyền đứng đầu nên làm gì
để được kính trọng XXII. Về những người mà những người cầm quyền đứng đầu dùng
làm thư ký (bề tôi thân cận) XXIII. Cách tránh những kẻ nịnh hót XXIV. Tại sao
những người cầm quyền đứng đầu Ý mất nhà nước của mình XXV. Vận may có thể làm
được bao nhiêu trong việc con người, và bằng cách nào có thể chống lại nó XXVI.
Lời kêu gọi chiếm lấy Ý và giải phóng đất nước khỏi người man rợ
Phụ lục Thư của Machiavelli ngày 10 tháng 12
năm 1513
Bảng từ ngữ
Chú thích
Thư mục
Chỉ mục tên riêng
GHI CHÚ VỀ
BẢN DỊCH TIẾNG ANH
(Harvey C. Mansfield)
Trong bản dịch này, tôi đã cố gắng dịch sát
nghĩa và chính xác nhất có thể, trong chừng mực vẫn giữ được tiếng Anh dễ đọc.
Vì tôi tin rằng Machiavelli là một trong những trí thức vĩ đại và tế nhị nhất vốn
chúng ta có thể tiếp cận, tôi xem rất nghiêm túc nghĩa vụ của người dịch: trình
bày tư tưởng của tác giả bằng chính những từ ngữ của ông, trong chừng mực có thể
được. Vì vậy, tôi không cho rằng mình có bổn phận phải tìm một cách diễn đạt
thô ráp tương đương với lời văn của Machiavelli bằng thứ tiếng Anh thời nay,
thông tục, và tránh mọi giá những từ đồng nguyên (cognates). Chẳng hạn, tôi
không ngượng ngùng khi dịch provincia là “province” (tỉnh) và patria
là “fatherland” (quê hương, tổ quốc), bởi những từ tiếng Anh này hoàn toàn dễ
hiểu, dù chúng không phải là cách diễn đạt chúng ta dùng ngày nay. Đáng để cố gắng
giữ lại những hàm ý vốn Machiavelli gắn với những từ ấy, cũng như tránh những
hàm ý của những từ tương đương thời nay, chẳng hạn như “nation” (nhà nước).
Với ý định dịch như vậy, tôi đã cố gắng giữ lại
một phần hương vị của phong cách Machiavelli bằng cách bảo tồn những cách diễn
đạt yêu thích của ông và một số câu văn dài dòng, ngữ pháp phức tạp của ông. Nếu
kết quả trông có vẻ hơi cổ xưa, thì đúng là nên như vậy. Văn bản của
Machiavelli sẽ sống vốn không cần sự giúp đỡ của chúng ta, và nó sẽ chết nếu
chúng ta bóp nghẹt nó bằng kiểu hiếu khách cho phép nó sống cùng chúng ta chỉ
theo điều kiện của chúng ta.
Về tính chính xác, tôi đã muốn không bao giờ
thay đổi cách dịch những từ quan trọng như impresa, modo, và respetto,
nhưng tôi nhận thấy không thể tạo ra một bản dịch dễ đọc nếu tuân thủ quy tắc cứng
nhắc như vậy. Tôi giữ nguyên bản lĩnh chính trị là “virtue” (bản lĩnh
chính trị), để người đọc của bản dịch này có thể theo dõi và tham gia vào tranh
luận về ý nghĩa vốn Machiavelli gán cho từ này. Nếu cách dùng của ông nghe lạ lẫm
– như khi ông viết ra và vẫn còn lạ lẫm ngày nay – thì hãy để người đọc tự ngạc
nhiên khi phát hiện ra điều gì đó lạ lẫm. Việc của người dịch không phải là làm
cho mọi thứ trở nên quen thuộc.
Đối với một số chỗ tôi không giữ nhất quán,
tôi đã ghi chú nghĩa đen trong phần chú thích. Tôi chắc cngười này không thay đổi
cách dịch chỉ vì muốn nghe thanh lịch hơn. Chúng ta không nên quá chắc cngười
này rằng mình đã biết những từ ngữ hoặc khái niệm then chốt của Machiavelli là
gì. Thường thì ông sẽ dùng một từ hoặc cụm từ nhiều lần liên tiếp, và sự dày đặc
ấy có thể cảnh báo chúng ta về sự quan trọng của từ đó trong ngữ cảnh ấy. Đại từ
của ông thường mơ hồ về đối tượng quy chiếu, và đôi khi tôi buộc phải chọn một
cách vốn ông để ngỏ. Tôi đã ghi chú trong phần chú thích những dịp Machiavelli
rời khỏi cách xưng hô thân mật quen thuộc “bạn” (you) để chuyển sang cách xưng
hô trang trọng hoặc số nhiều “ngài” (you), một “ngài” được yêu cầu nhìn thấy,
cân nhắc, hoặc suy nghĩ điều gì đó.
Theo tinh thần chính xác, tôi không cung cấp
những chú thích lịch sử dài dòng để giải thích những thí dụ của Machiavelli. người
cầm quyền đứng đầu không phải là sách lịch sử. Nó được viết, chúng ta tin
là vào năm 1513, và được dâng tặng, chúng ta biết chắc, cho Lorenzo de’ Medici.
Nhưng nó được viết cho tương lai và trên hết nhắm đến “bất kỳ ai hiểu được nó”
(Chương 15), chứ không chỉ riêng Lorenzo. Điều này không có nghĩa là những người
đọc muốn hiểu người cầm quyền đứng đầu có thể bỏ qua những thí dụ của Machiavelli
và chỉ liệt kê những tuyên bố giật gân của ông. Ngược lại, những tuyên bố ấy
luôn được điều chỉnh, đôi khi thậm chí bị mâu thuẫn, bởi chính những thí dụ.
Nhưng những thí dụ sẽ không đóng vai trò thí dụ nếu người đọc không nhìn kỹ vào
thông tin vốn Machiavelli cung cấp. Người đọc có thể bỏ lỡ ý chính nếu để thông
tin ấy bị thay thế bởi kiến thức lịch sử vượt trội hơn của thời đại chúng ta.
Văn bản của người cầm quyền đứng đầu có
nhiều dị bản do không tồn tại bản thảo gốc viết tay của Machiavelli và tác phẩm
không được xuất bản trong đời ông dưới sự giám sát của ông. Những ai muốn xem
xét công trình ngữ văn học nhằm thiết lập một bản văn chuẩn xác nên bắt đầu từ
bài viết của Quaglio được liệt kê trong thư mục. Tôi chủ yếu theo bản văn của
Casella, nhưng có chọn một số dị bản khi chúng dường như thích hợp.
Đó là những nguyên tắc của bản dịch này. Tôi
đã hưởng lợi từ những bản dịch khác, đặc biệt là bản của Leo Paul S. de
Alvarez. Nếu người đọc cho rằng bản dịch của tôi dở, hãy thử dịch lấy một bản của
riêng mình; nếu cho rằng nó hay, hãy học tiếng Ý.
Harvey C. Mansfield
TỔNG QUÁT VỀ MACHIAVELLI VÀ IL PRINCIPE
1. Tiểu Sử
Niccolò Machiavelli
Chúng ta biết
tương đối ít thông tin chắc cngười này về những năm đầu đời của Machiavelli so
với nhiều nhân vật quan trọng khác trong thời Phục hưng Ý (phần sau dựa trên
Capponi 2010; Vivanti 2013; Celenza 2015; Lee 2020). Ông sinh ngày 3 tháng 5
năm 1469 tại Florence và từ nhỏ đã trở thành học trò của một thầy dạy Latin nổi
tiếng, Paolo da Ronciglione. Người ta suy đoán rằng ông có theo học Đại học
Florence, và chỉ cần nhìn lướt qua toàn bộ tác phẩm của ông cũng đủ thấy ông đã
nhận được một giáo dục nhân văn xuất sắc. Tuy nhiên, chỉ khi ông bắt đầu được
ghi nhận trong lịch sử chính trị với việc được bổ nhiệm năm 1498 làm Chánh văn
phòng Thứ nhì (Second Chancellor) của Cộng hòa Florence, chúng ta mới bắt đầu
có được bức tranh đầy đủ và chính xác về cuộc đời ông.
Trong mười bốn
năm tiếp theo, Machiavelli tham gia vào một loạt hoạt động ngoại giao sôi nổi
thay mặt Florence, đi đến những trung tâm lớn của Ý, đến triều đình vương hầu
lãnh chúa Pháp và triều đình hoàng đế của Maximilian. Florence đã sống dưới
chính quyền cộng hòa từ năm 1494, khi gia tộc Medici quyền lực cùng những người
ủng hộ bị đuổi khỏi quyền lực. Sau bốn năm dưới sự lãnh đạo của Savonarola (và
sự sụp đổ cuối cùng của ông), Cộng hòa Florence tìm kiếm một chính quyền ổn định
hơn và cải tổ những thể chế tương ứng. Trong thời gian này, Machiavelli tham
gia công vụ và phát triển mạnh dưới sự bảo trợ của gonfaloniere (tức người đứng
đầu hành chính) trọn đời của thành phố là Piero Soderini – người được bầu vào
chức vụ này năm 1502.
Trong những cương
vị chính thức, Machiavelli đi lại rất nhiều, tạo ra một khối lượng lớn công văn
ngoại giao (gọi là Legations) báo cáo về những sự kiện khắp châu Âu. Ông cũng
sáng tác thư từ cá nhân, thơ ca và những phân tích chính trị ngắn gọn (Nederman
2023). Tuy nhiên, năm 1512, với sự hỗ trợ của quân Tây Ban Nha và Vua chiên,
nhà Medici đánh bại dân quân thành phố (do Machiavelli tổ chức) và giải tán
chính quyền cộng hòa. Machiavelli trực tiếp trở thành nạn nhân của sự thay đổi
chế độ: ông bị cách chức ngay lập tức, rồi khi bị nghi ngờ (một cách sai lầm)
âm mưu chống nhà Medici, ông bị bỏ tù và tra tấn vài tuần vào đầu năm 1513. Sau
đó ông lui về trang trại gia đình ngoài Florence – điều này tạo ra cả cơ hội lẫn
động lực để ông chuyển sang những hoạt động trí thức. [1]
Tác phẩm đầu tiên
ông viết theo hướng suy ngẫm sâu xa hơn cũng chính là tác phẩm gắn liền nhất với
tên tuổi ông: người cầm quyền đứng đầu (Il Principe). Được viết vội vào
cuối năm 1513 (và có thể đầu năm 1514), nhưng chỉ được xuất bản sau khi ông qua
đời vào năm 1532, người cầm quyền đứng đầu được soạn thảo trong tình cảnh
khẩn cấp bởi một tác giả, trong số những mục đích khác, muốn lấy lại vị thế
trong chính trị Florence. (Nhiều đồng nghiệp của ông trong chính quyền cộng hòa
trước đó đã nhanh chóng được phục hồi chức vụ và quay lại phục vụ dưới nhà
Medici.) Ban đầu viết để dâng tặng cho Giuliano de’ Medici (người có lẽ đã đánh
giá cao nó), phần đề từ sau cái chết của Giuliano đã được đổi sang Lorenzo de’
Medici (Lorenzo Trẻ), người gần như chắc cngười này không đọc nó khi nó đến tay
ông vào năm 1516.
Trong khi đó, việc
lui về khỏi chính trị đã dẫn Machiavelli đến những hoạt động văn học khác. Ông
viết thơ, kịch, văn xuôi ngắn, soạn Nghệ thuật Chiến tranh / The Art of
War (xuất bản năm 1521),
và sáng tác những tiểu sử cùng phác thảo lịch sử. Quan trọng nhất, ông hoàn
thành tác phẩm đóng góp lớn thứ hai cho tư tưởng chính trị của mình: Những
Luận Bàn Về Mười Quyển Đầu Của Titus Livy / Discourses
on the Ten Books of Titus Livy (Discorsi sopra la prima deca di Tito Livio) – một trình bày về những
nguyên tắc cai trị cộng hòa dưới hình thức bình luận về tác phẩm của nhà sử học
nổi tiếng về Cộng hòa Roma. Khác với người cầm quyền đứng đầu, Luận
bàn được viết trong một thời gian dài (bắt đầu có lẽ năm 1514 hoặc 1515,
hoàn thành năm 1518 hoặc 1519, dù cũng chỉ xuất bản sau khi ông qua đời vào năm
1531). Quyển sách có thể chịu ảnh hưởng từ những thảo luận không chính thức mà
Machiavelli tham gia cùng một số nhân vật trí thức và chính trị hàng đầu
Florence dưới sự bảo trợ của Cosimo Rucellai.
Gần cuối đời, và
có lẽ nhờ sự giúp đỡ của những người bạn có quan hệ rộng mà ông không ngừng
thúc ép can thiệp, Machiavelli bắt đầu lấy lại được sự ưu ái từ nhà Medici. Năm
1520, Hồng y Giulio de’ Medici ủy thác cho ông viết Lịch sử Florence
(Istorie Fiorentine), công việc hoàn thành năm 1525 và dâng lên Hồng y – người
lúc ấy đã lên ngôi Vua chiên với danh hiệu Clement VII – tại Roma. Một số nhiệm
vụ nhỏ khác được giao từ chính quyền Medici, nhưng trước khi cơ hội để ông trở
lại hoàn toàn với vai trò trong chính quyền, gia nhập hoàn toàn đời sống chính
trị công chúng, ông qua đời ngày 21 tháng 6 năm 1527.
2. IL
PRINCIPE: Phân Tích Quyền Lực
Theo truyền thống,
những nhà triết học chính trị xưa thường đặt ra một quan hệ đặc biệt giữa phẩm
chất đạo đức tốt và quyền uy hợp pháp. Nhiều tác giả (đặc biệt những người viết
sách “gương cho người cầm quyền đứng đầu” hoặc sách khuyên vua trong thời Trung
cổ và Phục hưng) tin rằng việc đem dùng quyền lực chính trị chỉ hợp pháp khi được
thực hiện bởi một người cai trị có phẩm chất đạo đức cá nhân nghiêm khắc là người
tốt. Do đó, những nhà cầm quyền được khuyên rằng nếu muốn thành công – tức là
có một triều đại dài và yên bình, đồng thời truyền ngôi cho hậu duệ – họ phải
chắc cngười này hành xử theo những tiêu chuẩn đạo đức thông thường, tức là những
bản lĩnh chính trị và lòng sùng đạo. Theo nghĩa này, người ta cho rằng những
nhà cai trị làm tốt khi họ làm điều thiện; họ giành được quyền được vâng lời và
kính trọng nhờ sự chính trực về đạo đức và tôn giáo (xem Briggs và Nederman
2022).
Trong người cầm
quyền đứng đầu – tác phẩm nổi tiếng nhất của ông – Machiavelli phê bình triệt để chính quan điểm đạo đức học về quyền lực
này. Đối với Machiavelli, không tồn tại cơ sở đạo đức nào để phân biệt giữa việc
đem dùng quyền lực hợp pháp và bất hợp pháp. Ngược lại, quyền uy và quyền lực về
cơ bản là đồng nhất: ai có quyền lực thì có quyền ra lệnh; nhưng điều tốt
không bảo đảm quyền lực, và người cai trị không có thêm quyền uy nào chỉ vì
mình tốt lành. Do đó, trái ngược hoàn toàn với những lý
thuyết chính trị dựa trên đạo đức, Machiavelli khẳng định rằng trong chính trị
chỉ có một quan tâm thực sự: chiếm đoạt và duy trì quyền lực (dù ông nói ít về
quyền lực thuần túy hơn là về “duy trì nhà nước”). Theo nghĩa này, Machiavelli
đưa ra một phê bình sắc bén đối với khái niệm quyền uy khi lập luận rằng ý niệm
về quyền cai trị hợp pháp không thêm bất kỳ giá trị thực tế nào vào việc sở hữu
quyền lực. người cầm quyền đứng đầu tự nhận là phản ảnh chủ nghĩa hiện
thực chính trị tự giác của một tác giả hoàn toàn nhận thức – dựa trên kinh nghiệm
trực tiếp khi phục vụ chính quyền Florence – rằng điều tốt và điều đúng không đủ
để giành và duy trì vị thế chính trị tối cao. Do đó Machiavelli tìm hiểu và dạy
những quy tắc của quyền lực chính trị. Đối với ông, bất kỳ người cai trị thành
công nào cũng phải biết cách đem dùng quyền lực một cách hiệu quả. Chỉ nhờ áp dụng
đúng cách, Machiavelli tin rằng con người mới có thể bị buộc phải vâng lời và
người cai trị mới duy trì được nhà nước trong an toàn và ổn định.
Vì vậy, lý thuyết
chính trị của Machiavelli loại bỏ những vấn đề về quyền uy đạo đức và tính hợp
pháp ra khỏi việc xem xét trong thảo luận về quyết định chính trị và phán đoán
chính trị. Không đâu thể hiện rõ điều này hơn trong cách ông xử lý quan hệ giữa
luật pháp và vũ lực. Machiavelli thừa nhận rằng luật pháp tốt và quân lực tốt
là hai nền tảng của một hệ thống chính trị được tổ chức tốt. Nhưng ông lập tức
bổ sung rằng vì cưỡng chế tạo ra tính hợp pháp, ông sẽ tập trung vào vũ lực.
Ông viết: “Vì không thể có luật pháp tốt nếu không có quân lực tốt, tôi sẽ
không bàn về luật pháp mà nói về quân lực” (Prince CW 47). Nói cách khác, luật
pháp hợp lệ hoàn toàn dựa trên mối đe dọa của sức mạnh cưỡng chế; quyền uy đối
với Machiavelli là bất khả thi như một quyền tách rời khỏi quyền lực thực thi
nó. Machiavelli đi đến kết luận rằng sợ hãi luôn tốt hơn thương yêu trong thần
dân, giống như bạo lực và lừa dối vượt trội hơn tính hợp pháp trong việc kiểm
soát họ một cách hiệu quả. Ông nhận xét rằng
“người ta có thể
nói chung về con người: họ vô ơn, thất tín, giả dối và lừa lọc, nhát gan trước
nguy hiểm và tham lam lợi lộc… Thương yêu là sợi dây ràng buộc nghĩa vụ mà những
sinh vật đáng thương này phá vỡ bất cứ khi nào điều đó có lợi cho họ; nhưng sợ
hãi giữ họ chặt bằng nỗi kinh hoàng về hình phạt không bao giờ rời bỏ” (Prince
CW 62; bản dịch chỉnh sửa).
Kết quả là,
Machiavelli không thực sự có một lý thuyết về nghĩa vụ tách biệt khỏi việc áp đặt
quyền lực; con người chỉ vâng lời vì họ sợ hậu quả nếu không làm vậy – dù là mất
mạng sống hay mất đặc quyền. Và dĩ nhiên, quyền lực một mình không thể ràng buộc
ai, vì nghĩa vụ là tự nguyện và giả định rằng người ta có thể có lựa chọn khác.
Ai đó chỉ có thể chọn không vâng lời nếu họ có đủ sức mạnh để chống lại người
cai trị hoặc sẵn sàng chấp nhận hậu quả từ sự vượt trội về sức mạnh cưỡng chế của
nhà nước.
Lập luận của
Machiavelli trong người cầm quyền đứng đầu vì thế được thiết kế để chứng
minh rằng chính trị chỉ có thể được định nghĩa đúng đắn qua việc đem dùng hiệu
quả quyền lực cưỡng chế – điều mà Yves Winter (2018) gọi là “các trật tự của bạo
lực”. Quyền uy như một quyền ra lệnh không có vị thế độc lập. Ông củng cố khẳng
định này bằng cách tham chiếu đến những thực tế có thể quan sát – lịch sử và
đương đại – của đời sống chính trị và công cộng, cũng như bằng những lập luận
cho thấy xu hướng tự lợi của mọi hành vi con người. Đối với Machiavelli, việc
nói về bất kỳ yêu sách nào về quyền ra lệnh tách rời khỏi việc sở hữu quyền lực
chính trị vượt trội là vô nghĩa và vô ích. Người cai trị sống chỉ bằng những
quyền được cho là của mình chắc cngười này sẽ héo úa và chết bởi chính những
quyền ấy, vì trong cuộc đấu tranh chính trị khốc liệt, những người ưu tiên quyền
lực hơn quyền uy sẽ dễ thành công hơn. Không ngoại lệ, quyền uy của nhà nước và
luật pháp của nó sẽ không bao giờ được thừa nhận khi không được hỗ trợ bởi biểu
hiện quyền lực khiến sự vâng lời trở nên không thể tránh khỏi.
3. Quyền lực, Bản lĩnh
chính trị và Fortune
Machiavelli trình
bày cho người đọc một tầm nhìn về cai trị chính trị được cho là đã thanh lọc khỏi
những ảnh hưởng đạo đức thừa thãi và hoàn toàn nhận thức rõ nền tảng của chính
trị nằm ở việc thực thi quyền lực hiệu quả. những phương pháp để đạt được sự
vâng lời rất đa dạng và phụ thuộc nặng nề vào sự tiên liệu mà người cầm quyền đứng
đầu thực hiện. Do đó, người cai trị thành công cần được huấn luyện đặc biệt. Từ
ngữ nắm bắt tốt nhất tầm nhìn của Machiavelli về kỹ năng cần học để tham gia
chính trị quyền lực thành công là bản lĩnh chính trị. Dù từ tiếng Ý
này thông thường được dịch sang tiếng Anh là “virtue” (bản lĩnh chính trị) và
thường mang ý nghĩa đạo đức tốt theo nghĩa thông thường, Machiavelli rõ ràng có
ý nghĩa rất khác khi ông nói về bản lĩnh chính trị của người cầm
quyền đứng đầu. Cụ thể, Machiavelli dùng khái niệm bản lĩnh chính trị để
chỉ phạm vi những phẩm chất cá nhân mà người cầm quyền đứng đầu sẽ thấy cần phải
có để “duy trì nhà nước của mình” và “làm nên những việc lớn lao” – hai dấu hiệu
chuẩn mực của quyền lực đối với ông. Điều này làm rõ một cách tàn nhẫn rằng
không thể có sự tương đương giữa những bản lĩnh chính trị thông thường và bản
lĩnh chính trị theo kiểu Machiavellian. Ý nghĩa của việc là người có
bản
lĩnh chính trị theo Machiavelli có thể được tóm tắt bằng lời khuyên
rằng trên hết người cầm quyền đứng đầu phải sở hữu “tính cách linh hoạt”
(Prince CW 66). Người cai trị phù hợp nhất với chức vụ, theo Machiavelli, là
người có khả năng thay đổi cách hành xử từ tốt sang xấu và ngược lại “theo như
vận may và hoàn cảnh đòi hỏi”.
Không phải ngẫu
nhiên, Machiavelli cũng dùng từ ngữ bản lĩnh chính trị trong sách Nghệ
thuật Chiến tranh để mô tả tài năng chiến lược của vị tướng biết thích nghi
với những điều kiện chiến trường khác nhau theo tình cảnh. Machiavelli xem
chính trị như một loại chiến trường ở quy mô khác. Do đó, người cầm quyền đứng
đầu – giống như vị tướng – cần phải sở hữu bản lĩnh chính trị, tức là phải biết
chiến lược và kỹ thuật nào phù hợp với hoàn cảnh cụ thể nào (Wood 1967). Vì vậy
bản
lĩnh chính trị cuối cùng gắn chặt với khái niệm quyền lực của
Machiavelli. Người cai trị có bản lĩnh chính trị tất yếu phải giỏi
trong việc áp dụng quyền lực; sở hữu bản lĩnh chính trị chính là đã làm
chủ tất cả những quy tắc liên quan đến việc áp dụng quyền lực hiệu quả. Bản
lĩnh chính trị đối với chính trị quyền lực cũng giống như bản lĩnh
chính trị thông thường đối với những nhà tư tưởng cho rằng đạo đức tốt là đủ để
trở thành người cai trị hợp pháp: nó là tiêu chuẩn của hiệu quả chính trị.
Mối liên hệ khái
niệm giữa bản lĩnh chính trị và việc thực thi quyền lực hiệu quả là gì đối
với Machiavelli? Câu trả lời nằm ở một khái niệm trung tâm khác của
Machiavelli: Fortuna (thường dịch là “vận may”). Fortuna là kẻ thù của
trật tự chính trị, mối đe dọa tối hậu đối với sự an toàn và ổn định của nhà nước.
Cách Machiavelli đem dùng khái niệm này đã được tranh luận rộng rãi mà chưa có
giải pháp thỏa đáng. Có thể nói ngắn gọn rằng, giống như bản lĩnh chính trị, Fortuna
được ông đem dùng theo cách riêng biệt. Trong khi những biểu tượng truyền thống
coi Fortuna là một nữ thần phần lớn lành tính, dù hay thay đổi, là
nguồn gốc của cả điều tốt lẫn điều xấu cho con người, thì Fortuna của
Machiavelli là một nguồn gốc ác độc và không khoan nhượng của khổ đau, bệnh tật
và tai họa cho loài người. Dù Fortuna có thể chịu trách nhiệm
cho những thành công mà con người đạt được, không người nào có thể hành động hiệu
quả khi trực tiếp đối đầu với Nữ thần (Discourses CW 407–408).
Thảo luận nổi tiếng
nhất của Machiavelli về Fortuna xuất hiện ở Chương 25 của người
cầm quyền đứng đầu, nơi ông đưa ra hai hình ảnh so sánh để hiểu tình trạng
con người trước những sự kiện. Ban đầu, ông khẳng định rằng vận may giống như
“một trong những
dòng sông dữ dội của chúng ta, khi nó nổi giận, biến đồng bằng thành hồ, quật
ngã cây cối và nhà cửa, cuốn đất từ chỗ này đặt sang chỗ khác; mọi người chạy
trốn trước lũ; mọi người nhường đường cho cơn cuồng nộ của nó và không ai có thể
cản lại chút nào” (Prince CW 90).
Tuy nhiên, cơn giận
của một dòng sông dữ dội không có nghĩa là những phá hoại của nó nằm ngoài tầm
kiểm soát của con người: trước khi mưa đến, người ta có thể chuẩn bị bằng cách
xây đê điều và đập cngười này để khi nó dâng cao sau này, hoặc nó đi theo kênh
đào hoặc sức mạnh của nó không còn quá hung hãn hay gây hại. “Những điều tương
tự xảy ra với Fortuna”, Machiavelli nhận xét,
“Nàng thể hiện sức
mạnh ở nơi bản lĩnh chính trị và trí thức không chuẩn bị để chống lại
nàng và hướng cơn giận của nàng đến nơi nàng biết rằng không có đê điều hay đập
cngười này nào được dựng lên để ngăn nàng” (Prince CW 90).
Fortuna có thể bị con người chống lại, nhưng chỉ
trong những hoàn cảnh mà “bản lĩnh chính trị và trí thức” đã
chuẩn bị sẵn cho sự xuất hiện tất yếu của nàng.
Machiavelli củng
cố mối liên hệ giữa Fortuna và sức mạnh mù quáng của tự
nhiên bằng cách giải thích rằng thành công chính trị phụ thuộc vào việc nhận thức
được những nguyên tắc vận hành của Fortuna. Kinh nghiệm của chính ông
dạy ông rằng
“tốt hơn là bốc đồng
hơn thận trọng, vì Fortuna là phụ nữ và cần thiết, nếu
muốn chế ngự nàng, phải đánh và đập nàng” (Prince CW 92).
Nói cách khác, Fortuna
đòi hỏi một phản ứng mạnh mẽ, thậm chí bạo lực từ những ai muốn kiểm soát nàng.
“Nàng thường để mình bị chinh phục bởi những người dùng phương pháp như vậy hơn
là những người hành xử lạnh lùng”, Machiavelli tiếp tục, “vì vậy luôn luôn, như
một người phụ nữ, nàng là bạn của người trẻ, vì họ ít thận trọng hơn, hung dữ
hơn, và với sự táo bạo lớn hơn chế ngự nàng” (Prince CW 92). Hành vi phóng túng
của Fortuna đòi hỏi phản ứng mạnh mẽ, thậm chí bạo lực, kẻo nàng lợi
dụng những người quá rụt rè hoặc “nữ tính” để thống trị nàng.
Những nhận xét của
Machiavelli chỉ ra một số kết luận nổi bật về Fortuna và vị trí của
nó trong vũ trụ trí thức của ông. Trong toàn bộ tác
phẩm của ông, Fortuna được mô tả như một nguồn gốc nguyên thủy của bạo lực
(đặc biệt hướng vào loài người) và đối lập với lý trí. Do đó, Machiavelli nhận
ra rằng chỉ có sự chuẩn bị để đưa ra phản ứng cực đoan với những biến đổi của Fortuna
mới bảo đảm chiến tngười nàyg trước nàng. Đó chính là điều bản lĩnh chính trị
mang lại: khả năng phản ứng với vận may bất kỳ lúc nào và bằng bất kỳ cách nào
cần thiết.
4. Đạo đức, Tôn giáo và
Chính trị
Những khối xây dựng
cơ bản này trong tư tưởng của Machiavelli đã gây ra tranh luận đáng kể giữa những
người đọc của ông từ thế kỷ XVI, khi ông bị lên án là tông đồ của Quỷ dữ, nhưng
cũng được những tác giả (và chính trị gia) đọc và áp dụng một cách đồng cảm khi
họ trình bày học thuyết “lý do nhà nước” (Meinecke 1924 [1957]). Nguồn tranh luận
chính liên quan đến thái độ của Machiavelli đối với những tiêu chuẩn đạo đức và
tôn giáo thông thường của hành vi con người, chủ yếu liên quan đến người cầm
quyền đứng đầu. Đối với nhiều người, lời dạy của ông tán thành chủ nghĩa vô đạo đức hoặc ít nhất là phi đạo đức. Những phiên bản cực đoan nhất của cách
đọc này coi Machiavelli là “người thầy của cái ác”, theo lời nổi tiếng của Leo
Strauss (1958: 9–10), với lý do ông khuyên những nhà lãnh đạo tránh những giá
trị thông thường như công lý, lòng thương xót, tiết độ, trí thức và thương yêu
dành cho dân chúng để thay bằng sự tàn nhẫn, bạo lực, sợ hãi và lừa dối. Một
trường phái ôn hòa hơn, gắn với Benedetto Croce (1925), xem Machiavelli đơn giản
là một “người hiện thực” hoặc “người thực dụng” chủ trương tạm gác những đạo đức
thông thường trong những vấn đề chính trị. những giá trị đạo đức không có chỗ đứng
trong những quyết định mà những nhà lãnh đạo chính trị phải đưa ra, và việc
nghĩ khác đi là một sai lầm nghiêm trọng về phạm trù. Có lẽ phiên bản nhẹ nhất
của giả thuyết phi đạo đức được Quentin Skinner (1978) đề xuất, khi ông cho rằng
việc nhà cai trị phạm phải những hành vi bị coi là xấu xa theo thông lệ chỉ là
“lựa chọn tốt nhất cuối cùng”. Tập trung vào câu nói trong người cầm quyền đứng
đầu rằng người đứng đầu nhà nước nên làm điều tốt nếu có thể nhưng phải sẵn
sàng làm điều ác nếu cần (Prince CW 58), Skinner lập luận rằng Machiavelli ưu
tiên tuân thủ bản lĩnh chính trị đạo đức trong những điều kiện khác bằng không.
Sự không quan tâm
đến những vấn đề đạo đức cũng thấm vào quan điểm – phổ biến vào đầu và giữa thế
kỷ XX – rằng Machiavelli đơn giản áp dụng lập trường của một nhà khoa học – một
loại “Galileo của chính trị” – trong việc phân biệt giữa “sự thật” của đời sống
chính trị và “giá trị” của phán đoán đạo đức (Olschki 1945; Cassirer 1946;
Prezzolini 1954 [1967]). Ông vì thế được đặt vào bối cảnh của cuộc cách mạng
khoa học nói chung. Điểm của “khoa học” Machiavellian không phải là phân biệt
giữa hình thức chính quyền “công bằng” và “bất công”, mà là giải thích cách những
chính trị gia đem dùng quyền lực để lợi ích cá nhân. Do đó, Machiavelli được
nâng lên vị thế người sáng lập “khoa học chính trị thời nay”, đối lập với tầm
nhìn chuẩn mực cổ điển của Aristotle về một khoa học chính trị của bản lĩnh
chính trị. Gần đây hơn, cách giải thích Machiavelli-là-nhà-khoa-học phần lớn đã
mất uy tín (Viroli 1998: 1–3), dù một số người gần đây tìm thấy giá trị trong
phiên bản sửa đổi của luận điểm (thí dụ, Dyer và Nederman 2016).
Những người đọc
khác của Machiavelli không tìm thấy chút dấu vết nào của phi đạo đức hay phi đạo
đức trong tư tưởng của ông. Jean-Jacques Rousseau từ lâu đã cho rằng bài học thực
sự của người cầm quyền đứng đầu là dạy dân chúng sự thật về cách những
người cầm quyền đứng đầu hành xử và do đó phơi bày, chứ không ca ngợi, sự phi đạo
đức ở cốt lõi của chế độ một người cai trị (trích trong Connell 2005, 178). Nhiều
phiên bản của luận điểm này đã được lan truyền gần đây hơn. Một số học giả, như
Garrett Mattingly (1958), tuyên bố Machiavelli là nhà châm biếm tối cao, chỉ ra
những thói hư tật xấu của những người cầm quyền đứng đầu và cố vấn của họ. Việc
Machiavelli sau này viết những vở kịch hài dân gian châm biếm được viện dẫn như
bằng chứng cho khuynh hướng châm biếm mạnh mẽ của ông. Do đó, chúng ta không
nên lấy bất kỳ điều gì Machiavelli nói về hành vi đạo đức theo nghĩa đen, mà
nên hiểu những nhận xét của ông như lời bình luận hài hước sắc sảo về đời sống
công cộng. Hoặc, Mary Deitz (1986) khẳng định rằng chương trình nghị sự của
Machiavelli được thúc đẩy bởi mong muốn “bẫy” người cầm quyền đứng đầu bằng
cách đưa ra những lời khuyên được soạn thảo cẩn thận (như trang bị quân lực cho
dân chúng) nhằm phá hủy người cai trị nếu được thực hiện nghiêm túc và tuân
theo.
Một phạm vi quan
điểm tương tự tồn tại liên quan đến thái độ của Machiavelli đối với tôn giáo
nói chung, và đạo Kitô nói riêng. Machiavelli không phải là bạn của Hội nhà thờ
Kitô đạo Kitô được tổ chức như ông biết. Luận bàn làm rõ rằng đạo Kitô
thông thường làm cạn kiệt sức sống mà con người cần cho đời sống công dân tích
cực (CW 228–229, 330–331). Và người cầm quyền đứng đầu nói về tình trạng
đương thời của Hội nhà thờ Kitô và Vua chiên với cả sự khinh miệt lẫn ngưỡng mộ
(CW 29, 44–46, 65, 91–92). Nhiều học giả đã lấy bằng chứng này để cho rằng
Machiavelli bản thân là người chống đạo Kitô sâu xa, ưu tiên những tôn giáo
công dân ngoại giáo của những xã hội cổ đại như Roma, mà ông coi là thích hợp
hơn cho một thành phố-nhà nước có bản lĩnh chính trị. Anthony Parel
(1992) lập luận rằng vũ trụ của Machiavelli, được chi phối bởi chuyển động của
những vì sao và cân bằng của những dịch thể, mang tính ngoại giáo và tiền-đạo
Kitô một cách cơ bản. Đối với những người khác, Machiavelli có thể được mô tả tốt
nhất là người có lòng đạo thông thường, dù không nhiệt thành, sẵn sàng cúi đầu
trước những hình thức bề ngoài của thờ phượng nhưng không thực sự tận hiến
trong tinh thần hay trí óc cho những tín điều của lòng tin tôn giáo đạo Kitô. Một
số tiếng nói bất đồng, nổi bật nhất là Sebastian de Grazia (1989) và Maurizio
Viroli (2006 [2010]), đã cố gắng cứu danh tiếng của Machiavelli khỏi những người
xem ông thù địch hoặc thờ ơ với đạo Kitô. Grazia chỉ ra cách những đề tài Kinh
Thánh trung tâm chạy xuyên suốt những tác phẩm của Machiavelli, tìm thấy trong
đó một quan niệm nhất quán về một vũ trụ được định hướng và sắp xếp bởi Gót,
trong đó những lực lượng khác (“trời”, “vận may”, v.v.) bị quy phục dưới ý chí
và kế hoạch của Gót. Cary Nederman mở rộng và hệ thống hóa những nhận thức của
Grazia bằng cách chỉ ra cách những học thuyết thần học đạo Kitô trung tâm như
ân sủng, ý chí tự do và cầu nguyện hình thành những yếu tố quan trọng trong
khung khái niệm của Machiavelli (2009: 28–49; Nederman và Lahoud 2023). Viroli
xem xét, ngược lại, những thái độ lịch sử đối với tôn giáo đạo Kitô như được thể
hiện trong cộng hòa Florence thời Machiavelli.
5. Nhà nước và người cầm
quyền đứng đầu: Ngôn ngữ và Khái niệm
Machiavelli cũng
được ghi nhận (gần đây nhất bởi Skinner 1978) là người đầu tiên hình thành
“khái niệm thời nay về nhà nước”, được hiểu theo nghĩa rộng kiểu Weber về một
hình thức cai trị phi cá nhân sở hữu độc quyền quyền lực cưỡng chế trong một
biên giới lãnh thổ cố định. Chắc cngười này, từ ngữ lo stato xuất hiện rộng
rãi trong những tác phẩm của Machiavelli, đặc biệt trong người cầm quyền đứng
đầu, liên quan đến việc chiếm đoạt và áp dụng quyền lực theo nghĩa cưỡng chế,
khiến ý nghĩa của nó khác biệt với từ ngữ Latin status (tình trạng
hoặc địa vị) mà nó bắt nguồn. Hơn nữa, những học giả viện dẫn ảnh hưởng của
Machiavelli trong việc định hình những tranh luận đầu thời cận đại xung quanh
“lý do nhà nước” – học thuyết rằng lợi ích của nhà nước tự nó được đặt lên trên
mọi cân nhắc khác, dù là đạo đức hay lợi ích của công dân – như bằng chứng rằng
ông được những người cùng thời tiếp nhận như một nhà lý luận về nhà nước
(Meineke 1924 [1957]).
Tuy nhiên, như
Harvey Mansfield (1996) đã chỉ ra, việc đọc cẩn thận cách Machiavelli đem dùng lo
stato trong người cầm quyền đứng đầu và những tác phẩm khác
không ủng hộ cách giải thích này. “Nhà nước” của Machiavelli vẫn là một tài sản
cá nhân, một sở hữu phù hợp hơn với quan niệm thời Trung cổ về dominium
như nền tảng của cai trị. (Dominium là từ ngữ Latin có thể dịch
với sức mạnh ngang nhau là “tài sản tư” và “quyền thống trị chính trị”.) Do đó,
“nhà nước” thực sự thuộc sở hữu của bất kỳ người cầm quyền đứng đầu nào tình cờ
kiểm soát nó. Hơn nữa, tính cách của việc cai trị được quyết định bởi những phẩm
chất và đặc điểm cá nhân của người cai trị – do đó nhấn mạnh của Machiavelli
vào bản lĩnh chính trị như yếu tố không thể thiếu cho sự thành
công của người cầm quyền đứng đầu. Những khía cạnh này của việc đem dùng lo
stato trong người cầm quyền đứng đầu làm giảm tính “thời nay”
của ý tưởng của ông. Machiavelli tốt nhất chỉ là một nhân vật chuyển tiếp trong
quá trình ngôn ngữ về nhà nước xuất hiện ở châu Âu thời cận đại, như Mansfield
kết luận.
Một yếu tố khác cần
ghi nhớ khi đánh giá tính áp dụng chung của lý thuyết Machiavelli trong người
cầm quyền đứng đầu xuất phát từ chính tình cảnh mà người cầm quyền đứng đầu
có bản lĩnh chính trị của ông hoạt động. Người cai trị như vậy
lên nắm quyền không phải do thừa kế triều đại hay nhờ sự ủng hộ của dân chúng,
mà hoàn toàn nhờ sáng kiến, kỹ năng, tài năng và/hoặc sức mạnh của chính mình
(tất cả đều là những từ tiếng Anh tương đương với bản lĩnh chính trị,
tùy vào chỗ xuất hiện trong văn bản). Do đó, người cầm quyền đứng đầu
Machiavellian không thể trông cậy vào bất kỳ cấu trúc hợp pháp nào có sẵn, như
đã thảo luận ở trên. Để “duy trì nhà nước của mình”, ông chỉ có thể dựa vào nguồn
phẩm chất cá nhân của chính mình để định hướng việc đem dùng quyền lực và thiết
lập yêu sách cai trị của mình. Đây là một vị trí bấp bênh, vì Machiavelli khẳng
định rằng những biến động của vận may và âm mưu của những người khác khiến người
cầm quyền đứng đầu luôn dễ bị mất nhà nước. Ý tưởng về một chế độ hiến pháp ổn
định phản ảnh tinh thần của tư tưởng chính trị thời nay (và thực tiễn) không hề
xuất hiện trong quan niệm của Machiavelli về chính quyền người cầm quyền đứng đầu.
Thật vậy, người
ta có thể tự hỏi liệu Machiavelli, dù với tất cả chủ nghĩa hiện thực được cho
là của mình, có thực sự tin rằng một người cầm quyền đứng đầu có bản
lĩnh chính trị hoàn toàn có thể tồn tại hay không. Ông đôi khi dường
như tưởng tượng rằng một người cầm quyền đứng đầu thành công sẽ phải phát triển
một tâm lý hoàn toàn khác với những gì loài người từng biết, vì vị người cầm
quyền đứng đầu “mới” này sẵn sàng thay đổi cách hành xử từ tốt sang xấu và ngược
lại “theo như gió vận may và hoàn cảnh thay đổi buộc phải” (Prince CW 66) và
“không lệch khỏi con đường ngay chính nếu có thể, nhưng có khả năng bước vào
con đường sai trái khi điều đó trở nên cần thiết”. Tính linh hoạt này tạo nên cốt
lõi của “lời khuyên thực tiễn” mà Machiavelli đưa ra cho người cai trị muốn duy
trì nhà nước: không loại trừ bất kỳ hành động nào trước, nhưng luôn sẵn sàng thực
hiện bất kỳ hành động nào mà hoàn cảnh chính trị đòi hỏi.
Tuy nhiên, chính
Machiavelli dường như mang trong mình những nghi ngờ nghiêm trọng về việc con
người có khả năng tâm lý để tạo ra những tính cách linh hoạt như vậy trong bản
thân hay không. Dù có rất nhiều thí dụ lịch sử, Machiavelli trong người cầm
quyền đứng đầu không thể chỉ ra một người cai trị duy nhất nào thể hiện loại
bản
lĩnh chính trị biến đổi mà ông cho là cần thiết để kiểm soát hoàn
toàn vận may. Thay vào đó, những nghiên cứu trường hợp về những người cai trị
thành công của ông liên tục chỉ ra tình cảnh của một người cầm quyền đứng đầu
có đặc điểm phù hợp với thời đại của mình nhưng tính kiên định trong hành vi
(như trường hợp Vua chiên Julius II) “sẽ dẫn đến sự sụp đổ của ông” nếu hoàn cảnh
thay đổi (Prince CW 92). Ngay cả Hoàng đế Severus – người mà Machiavelli ca ngợi
kỹ thuật – thành công vì ông đem dùng “những cách thức cần thiết để thiết lập
mình trong quyền lực”; tuy nhiên, ông không phải là người để bắt chước phổ quát
(Prince CW 73). Đánh giá của Machiavelli về khả năng tạo ra một loại tính cách
linh hoạt tâm lý hoàn toàn mới là cực kỳ thận trọng, và thường được diễn đạt ở
dạng điều kiện và ở cách thức giả định: “Nếu có thể thay đổi bản tính của mình
để phù hợp với thời thế và hoàn cảnh, người ta sẽ luôn thành công” (Prince CW
91, bản dịch chỉnh sửa). Những nhận xét như vậy phải khiến chúng ta tự hỏi liệu
lời khuyên của Machiavelli rằng những người cầm quyền đứng đầu nên có những
tính cách thay đổi theo hoàn cảnh có thực sự “thực tiễn” (ngay cả trong suy
nghĩ của chính ông) như ông đã khẳng định hay không.
6. Luận bàn về Livy: Tự
do và Xung đột
Trong khi người
cầm quyền đứng đầu chắc cngười này là tác phẩm được đọc nhiều nhất của ông,
Luận bàn về mười quyển đầu của Titus Livy có lẽ thể hiện trung thực nhất
tin tưởng và cam kết chính trị cá nhân của Machiavelli, đặc biệt là thiên hướng
cộng hòa của ông. Luận bàn chắc cngười này rút ra từ cùng kho ngôn ngữ
và khái niệm chảy vào người cầm quyền đứng đầu, nhưng tác phẩm trước dẫn
chúng ta đến những kết luận rất khác – nhiều học giả nói là mâu thuẫn – với tác
phẩm sau. Đặc biệt, xuyên suốt hai tác phẩm, Machiavelli liên tục và rõ ràng
phân biệt giữa một trật tự “chính trị” hay “dân sự” tối thiểu và một trật tự đầy
đủ, và do đó xây dựng một hệ thống thứ bậc những mục tiêu trong lời giải thích
tổng quát của ông về đời sống cộng đồng. Một trật tự hiến pháp tối thiểu là một
trật tự trong đó thần dân sống an toàn (vivere sicuro), được cai trị bởi một
chính quyền mạnh mẽ kiềm chế tham vọng của cả giới quý tộc (grandi)
lẫn dân chúng (Popolo), nhưng chính nó lại được cân bằng bởi những cơ chế
pháp lý và thể chế khác. Tuy nhiên, trong một chế độ hiến pháp đầy đủ, mục tiêu
của trật tự chính trị là tự do của cộng đồng (vivere libero), được
tạo ra bởi sự tham gia tích cực và xung đột giữa giới quý tộc và dân chúng
(Pedullà 2011 [2018]). Như Quentin Skinner (2002, 189–212) đã lập luận, tự do
hình thành một giá trị neo giữ lý thuyết chính trị của Machiavelli và hướng dẫn
những đánh giá của ông về giá trị của những chế độ khác nhau. Chỉ trong một cộng
hòa – mà Machiavelli bày tỏ sự ưu tiên rõ ràng – mục tiêu này mới có thể đạt được.
Machiavelli chấp
nhận lập trường này cả trên cơ sở thực dụng lẫn nguyên tắc. Trong sự nghiệp làm
thư ký và ngoại giao của Cộng hòa Florence, ông đã tích lũy kinh nghiệm rộng lớn
về cách thức hoạt động nội bộ của chính quyền Pháp, trở thành mô hình cho chế độ
“an toàn” (nhưng không tự do) của ông. Dù Machiavelli ít bình luận về chế độ
quân chủ Pháp trong người cầm quyền đứng đầu, ông dành rất nhiều sự chú
ý cho nước Pháp trong Luận bàn.
Tại sao
Machiavelli lại ca ngợi nhiệt tình (thậm chí phân tích) một chế độ quân chủ thừa
kế trong một tác phẩm được cho là nhằm thúc đẩy sự ưu việt của cộng hòa? Câu trả
lời xuất phát từ mục đích của Machiavelli khi muốn đối chiếu kịch bản tốt nhất
của một chế độ quân chủ với những thể chế và tổ chức của một chế độ cộng hòa.
Ngay cả chế độ quân chủ xuất sắc nhất, theo quan điểm của Machiavelli, cũng thiếu
một số phẩm chất nổi bật vốn có trong chính quyền cộng hòa được tổ chức đúng
cách và khiến chế độ sau đáng mong muốn hơn chế độ trước.
Machiavelli khẳng
định rằng bản lĩnh chính trị lớn nhất của vương quốc Pháp và vua của nó là sự tận
tụy với luật pháp. “Vương quốc Pháp được điều chỉnh bởi luật pháp nhiều hơn bất
kỳ vương quốc nào mà chúng ta biết vào thời điểm này”, Machiavelli tuyên bố
(Discourses CW 314, bản dịch chỉnh sửa). Giải thích cho tình trạng này
Machiavelli nhắc đến chức năng của Nghị viện. “Vương quốc Pháp”, ông viết, “sống dưới luật pháp và trật tự nhiều hơn bất kỳ vương quốc nào khác. Những
luật pháp và trật tự này được duy trì bởi những Nghị viện, đặc biệt là Nghị viện
Paris: nhờ nó chúng được làm mới bất cứ khi nào nó hành động chống lại một người
cầm quyền đứng đầu của vương quốc hoặc trong những phán quyết của nó kết án nhà
vua. Và cho đến nay nó đã duy trì mình bằng việc là người thực thi kiên quyết
chống lại giới quý tộc ấy” (Discourses CW 422, bản dịch chỉnh sửa).
Những đoạn văn
này trong Luận bàn cho thấy Machiavelli có sự ngưỡng mộ lớn đối với những
sắp xếp thể chế tồn tại ở Pháp (Nederman 2023: 52–55). Cụ thể, vua Pháp và giới
quý tộc – những người có quyền lực đến mức có thể áp bức dân chúng – bị kiềm chế
bởi luật pháp của vương quốc, được thực thi bởi quyền lực độc lập của Nghị viện.
Do đó, cơ hội cho hành vi bạo ngược không bị kiềm chế phần lớn bị loại bỏ, khiến
chế độ quân chủ ôn hòa và “dân sự”.
Tuy nhiên, chế độ
như vậy, dù được tổ chức tốt và tuân thủ luật pháp đến đâu, vẫn không tương
thích với vivere libero. Khi bàn về khả năng của một người cầm quyền đứng
đầu đáp ứng mong muốn tự do của dân chúng, Machiavelli nhận xét rằng
“về phần mong muốn
phổ biến của dân chúng muốn lấy lại tự do của mình, người cầm quyền đứng đầu,
vì không thể làm hài lòng họ, phải xem xét những lý do nào khiến họ mong muốn
được tự do” (Discourses CW 237).
Ông kết luận rằng
một vài cá nhân muốn tự do chỉ để cai trị người khác; những người này, ông tin,
đủ ít để có thể bị tiêu diệt hoặc mua chuộc bằng danh dự. Ngược lại, phần lớn
dân chúng nhầm lẫn tự do với an toàn, tưởng rằng cái trước đồng nhất với cái
sau: “Nhưng tất cả những người khác, vô số người, mong muốn tự do để sống an
toàn (vivere sicuro)” (Discourses CW 237). Dù nhà vua không thể trao
tự do như vậy cho quần chúng, ông có thể cung cấp sự an toàn mà họ khao khát:
“Về phần còn lại,
đối với những người chỉ cần sống an toàn (vivere sicuro), họ dễ dàng được
làm hài lòng bằng cách ban hành những trật tự và luật pháp mà, cùng với quyền lực
của nhà vua, bao gồm an toàn của mọi người. Và một khi người cầm quyền đứng đầu
làm điều này, và dân chúng thấy rằng ông không bao giờ phá vỡ những luật pháp ấy,
họ sẽ sớm bắt đầu sống an toàn (vivere sicuro) và mãn nguyện”
(Discourses CW 237).
Machiavelli sau
đó áp dụng nguyên tắc chung này trực tiếp vào trường hợp nước Pháp, nhận xét rằng
“dân chúng sống
an toàn (vivere sicuro) không vì lý do nào khác ngoài việc những vua của
nó bị ràng buộc bởi vô số luật pháp trong đó an toàn của toàn thể dân chúng được
bao gồm” (Discourses CW 237).
Tính tuân thủ luật
pháp của chế độ Pháp bảo đảm an toàn, nhưng sự an toàn ấy, dù đáng mong muốn,
không bao giờ nên bị nhầm lẫn với tự do. Đây là giới hạn của cai trị quân chủ:
ngay cả vương quốc tốt nhất cũng không thể làm gì hơn ngoài việc bảo đảm cho
dân chúng một chính quyền yên bình và trật tự.
Machiavelli cho rằng
một trong những hệ quả của vivere sicuro là việc tước quân lực
của dân chúng. Ông nhận xét rằng bất kể “vương quốc của ông lớn đến đâu”, vua
Pháp “sống như một chư hầu” đối với lính đánh thuê ngoại quốc.
“Tất cả điều này
đến từ việc ông đã tước quân lực của dân chúng và thích… hưởng lợi ích tức thì
của việc có thể cướp bóc dân chúng và tránh một nguy hiểm tưởng tượng thay vì
nguy hiểm thực sự, thay vì làm những việc sẽ bảo đảm cho họ và khiến nhà nước của
họ mãi mãi hạnh phúc. Rối loạn này, nếu tạo ra một số thời kỳ yên bình, thì
theo thời gian sẽ là nguyên nhân của hoàn cảnh khó khăn, tổn hại và sự diệt
vong không thể cứu vãn” (Discourses CW 410).
Một nhà nước đặt
an toàn lên hàng đầu không thể trang bị quân lực cho dân chúng, vì sợ rằng quần
chúng sẽ dùng quân lực chống lại giới quý tộc (hoặc có lẽ chống lại vương quyền).
Tuy nhiên cùng lúc đó, chế độ như vậy bị suy yếu không thể cứu vãn, vì nó phải
phụ thuộc vào người ngoại quốc để chiến đấu thay mình. Theo nghĩa này, bất kỳ
chính quyền nào lấy vivere sicuro làm mục tiêu đều tạo
ra một dân chúng thụ động và bất lực như một kết quả tất yếu. Theo định nghĩa,
xã hội như vậy không bao giờ có thể tự do theo nghĩa vivere libero của
Machiavelli, và do đó chỉ là chính trị hay dân sự ở mức tối thiểu, chứ không phải
đầy đủ.
Xác nhận cách giải
thích này về giới hạn của chế độ quân chủ đối với Machiavelli có thể tìm thấy
trong phần thảo luận tiếp theo của ông về việc tước quân lực của dân chúng và
những hệ quả của nó trong Nghệ thuật Chiến tranh. Khi bàn về câu hỏi liệu
một đạo quân công dân có đáng ưu tiên hơn đạo quân đánh thuê hay không, ông khẳng
định rằng tự do của một nhà nước phụ thuộc vào sự chuẩn bị quân sự của thần
dân. Thừa nhận rằng “vua [Pháp] đã tước quân lực của dân chúng để có thể cai trị
họ dễ dàng hơn”, Machiavelli vẫn kết luận “rằng chính sách như vậy là… một khiếm
khuyết trong vương quốc ấy, vì không chú ý đến vấn đề này là điều duy nhất khiến
nó yếu kém” (Art CW 584, 586–587). Theo quan điểm của ông, bất kỳ lợi ích nào
có thể mang lại cho một nhà nước bằng cách tước vai trò quân sự của dân chúng đều
ít quan trọng hơn sự vắng mặt của tự do tất yếu đi kèm với việc tước quân lực
như vậy. Vấn đề không chỉ là người cai trị một nhà nước bị tước quân lực nằm
trong tay sức mạnh quân sự của người ngoại quốc. Quan trọng hơn, Machiavelli
tin rằng một dân quân công dân mang quân lực vẫn là sự bảo đảm tối hậu rằng cả
chính quyền lẫn một người soán ngôi nào đó sẽ không bạo ngược dân chúng: “Vì vậy
Roma tự do bốn trăm năm và có vũ trang; Sparta, tám trăm năm; nhiều thành phố
khác đã không có vũ trang và tự do chưa tới bốn mươi năm” (Art CW 585).
Machiavelli tin chắc rằng công dân sẽ luôn chiến đấu cho tự do của mình – chống
lại người áp bức bên trong cũng như bên ngoài. Thật vậy, đây chính xác là lý do
những vua Pháp liên tiếp để dân chúng không có quân lực: họ tìm cách duy trì an
ninh và trật tự công cộng, điều đối với họ có nghĩa là loại bỏ mọi cơ hội để thần
dân cầm vũ khí. Chế độ Pháp, vì đặt an toàn lên trên hết (cho cả dân chúng lẫn
người cai trị), không thể cho phép điều mà Machiavelli coi là phương tiện chính
để thúc đẩy tự do.
Trường hợp tước
quân lực là một minh họa cho sự khác biệt lớn hơn giữa những hệ thống hiến pháp
tối thiểu như Pháp và những cộng đồng chính trị đầy đủ như Cộng hòa Roma, tức
là vị thế của những giai cấp trong xã hội. Ở Pháp, dân chúng hoàn toàn thụ động
và giới quý tộc phần lớn phụ thuộc vào nhà vua, theo quan sát của chính
Machiavelli. Ngược lại, trong một cộng hòa phát triển đầy đủ như Roma, nơi việc
hiện thực hóa tự do là tối quan trọng, cả dân chúng lẫn giới quý tộc đều đóng
vai trò tích cực (và đôi khi xung đột) trong tự quản (McCormick 2011; Holman
2018). Tự do của toàn thể, đối với Machiavelli, phụ thuộc vào tự do của những
thành phần cấu thành nó. Trong phần thảo luận nổi tiếng về đề tài này trong Luận
bàn, ông nhận xét,
“Với tôi, những
người lên án sự hỗn loạn giữa giới quý tộc và dân chúng dường như đang chỉ
trích chính điều đã là nguyên nhân chính khiến Roma giữ được tự do… Và họ không
nhận ra rằng trong mọi cộng hòa đều có hai khuynh hướng khác nhau, khuynh hướng
của dân chúng và khuynh hướng của giới quý tộc, và rằng mọi luật pháp ủng hộ tự
do đều xuất hiện từ sự bất đồng của họ” (Discourses CW 202–203).
Machiavelli biết
rằng ông đang chấp nhận một quan điểm bất thường ở đây, vì thông thường người
ta đổ lỗi cho sự sụp đổ của Cộng hòa Roma là do những phe phái giao tranh cuối
cùng xé nát nó. Nhưng Machiavelli cho rằng chính những xung đột tương tự đã tạo
ra một “căng thẳng sáng tạo” là nguồn gốc của tự do Roma. Vì “những hỗn loạn mà
rất nhiều người vô ý thức lên án” trực tiếp tạo ra luật pháp tốt của Roma và
hành vi bản lĩnh chính trị của công dân (Discourses CW 202). Do đó,
“Sự thù địch giữa
dân chúng và Thượng viện nên được nhìn nhận như một bất tiện cần phải chịu đựng
để đạt đến sự vĩ đại của Roma” (Discourses CW 211).
Machiavelli cho rằng
những mô hình cộng hòa khác (như của Sparta hay Venice) sẽ tạo ra những hệ thống
chính trị yếu hơn và ít thành công hơn, hoặc trì trệ hoặc dễ suy thoái khi hoàn
cảnh thay đổi.
7. Tự do của dân chúng
và ngôn ngữ của dân chúng
Machiavelli thể
hiện tin tưởng đặc biệt vào khả năng của dân chúng đóng góp vào việc thúc đẩy tự
do cộng đồng. Trong Luận bàn, ông gán cho quần chúng một năng lực khá rộng
trong việc phán đoán và hành động vì lợi ích công cộng trong nhiều bối cảnh, rõ
ràng đối lập “sự khôn ngoan và ổn định” của công dân bình thường với sự phán
đoán không vững chắc của người cầm quyền đứng đầu. Nói đơn giản, “Dân chúng
khôn ngoan hơn, ổn định hơn, và có phán đoán tốt hơn một người cầm quyền đứng đầu”
(Discourses CW 316). Đây không phải là biểu hiện tùy tiện của sở thích cá nhân
từ phía Machiavelli. Ông khẳng định rằng dân chúng quan tâm nhiều hơn và sẵn
sàng bảo vệ tự do hơn cả người cầm quyền đứng đầu lẫn giới quý tộc (Discourses
CW 204–205). Trong khi giới sau nhầm lẫn tự do của họ với khả năng thống trị và
kiểm soát popolo, quần chúng quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ mình khỏi
áp bức và coi mình “tự do” khi không bị kẻ mạnh hơn lạm dụng hay bị đe dọa lạm
dụng (Discourses CW 203). Đổi lại, khi họ sợ sự khởi đầu của áp bức như vậy,
công dân bình thường dễ phản đối và bảo vệ tự do chung hơn.
Một trong những
lý do chính khiến an toàn và tự do cuối cùng không tương thích đối với
Machiavelli – và tự do là điều nên được ưu tiên – chắc cngười này có thể truy về
tính “tu từ” của chủ nghĩa cộng hòa của ông. Machiavelli rõ ràng xem ngôn ngữ
là phương thức thích hợp nhất để giải quyết xung đột trong không gian công cộng
cộng hòa; xuyên suốt Luận bàn, tranh luận được nâng lên thành phương tiện
tốt nhất để dân chúng xác định hướng hành động khôn ngoan nhất và những nhà
lãnh đạo đủ tư cách nhất. Truyền thống tu từ cổ điển, mà ông rõ ràng quen thuộc,
gắn trực tiếp việc nói trước công chúng với sự đối đầu: việc áp dụng đúng ngôn
ngữ trong những thể loại pháp lý và tham luận là trong một bối cảnh đối kháng,
mỗi diễn giả tìm cách thuyết phục khán giả về tính đúng đắn của lập trường mình
và sự không xứng đáng của đối thủ. Đề tài này được những nhà thực hành và lý luận
tu từ Ý thời Trung cổ muộn tiếp nối, những người nhấn mạnh rằng đề tài của nghệ
thuật là lite (xung đột). Do đó, sự nhấn mạnh của Machiavelli về xung đột
như điều kiện tiên quyết của tự do cũng phản ảnh khuynh hướng tu từ của ông
(Viroli 1998). Ngược lại, những chế độ quân chủ – ngay cả những chế độ quân chủ
an toàn nhất như Pháp – loại trừ hoặc giới hạn diễn ngôn công cộng, do đó đặt
mình vào vị thế bất lợi rõ rệt. Dễ thuyết phục một người cai trị duy nhất thực
hiện một hành động tai hại hoặc thiếu suy nghĩ hơn là thuyết phục một đám đông.
“Hỗn loạn” bề ngoài do sự tự do không chắc cngười này của thảo luận công cộng
cuối cùng khiến quyết định có lợi cho lợi ích chung trở nên khả dĩ hơn so với
cuộc trò chuyện kín đáo trong triều đình vương hầu lãnh chúa.
Điều này liên kết
với luận điểm trong Luận bàn rằng những yếu tố dân chúng trong cộng đồng
tạo thành sự bảo đảm tốt nhất cho tự do công dân cũng như nguồn ra quyết định
đáng tin cậy nhất về lợi ích công cộng. Lời ca ngợi của Machiavelli về vai trò
của dân chúng trong việc bảo đảm cộng hòa được hỗ trợ bởi tin tưởng của ông vào
những tác động soi sáng nói chung của diễn ngôn công cộng đối với thân thể công
dân. Gần đầu Luận bàn quyển thứ nhất, ông ghi nhận rằng một số người có
thể phản đối sự tự do rộng rãi mà dân chúng Roma được hưởng để tụ họp, phản đối
và phủ quyết luật pháp và chính sách. Nhưng ông đáp lại rằng người Roma có thể
duy trì tự do và trật tự nhờ khả năng của dân chúng nhận ra lợi ích chung khi
nó được chỉ cho họ. Vào những lúc công dân Roma bình thường sai lầm cho rằng một
luật hay thể chế được thiết kế để áp bức họ, họ có thể được thuyết phục rằng
tin tưởng của họ là sai lầm… [qua] biện pháp là những cuộc hội họp, trong đó một
người có ảnh hưởng đứng lên và diễn thuyết cho họ thấy họ đang tự lừa mình. Và
như Tully nói, dân chúng, dù có thể ngu dốt, vẫn có thể nắm bắt sự thật, và dễ
dàng chấp nhận khi được một người đáng tin cậy nói cho biết điều gì là thật
(Discourses CW 203).
Sự tham chiếu đến
Tully, tức Cicero (một trong số ít người được nhắc trong Luận bàn), xác
nhận rằng Machiavelli đang nghĩ đến một đặc điểm chủ chốt của chủ nghĩa cộng
hòa cổ điển: năng lực của dân chúng đáp ứng và ủng hộ lời nói của nhà hùng biện
tài năng khi ông nói thật về lợi ích công cộng.
Machiavelli trở lại
đề tài này và bàn luận rộng hơn ở cuối quyển Luận bàn thứ nhất. Trong một
chương nhằm chứng minh sự ưu việt của chính quyền dân chúng so với chính quyền
người cầm quyền đứng đầu, ông lập luận rằng dân chúng được tổ chức tốt, do đó
“khôn ngoan, ổn định và biết ơn”, miễn là có chỗ cho diễn ngôn và tham luận
công cộng trong cộng đồng. Trích dẫn công thức vox populi, vox dei,
Machiavelli khẳng định rằng
“dư luận công
chúng đáng kinh ngạc chính xác trong những dự đoán của nó… Về phán đoán của nó,
khi hai diễn giả có kỹ năng ngang nhau được nghe tranh luận cho hai phương án
khác nhau, rất hiếm khi dân chúng không chọn quan điểm tốt hơn hoặc không thể
nhận ra sự thật của những gì họ nghe” (Discourses CW 316).
Không chỉ dân
chúng có năng lực nhận ra hướng hành động tốt nhất khi những nhà hùng biện
trình bày những kế hoạch cạnh tranh, mà họ thực sự có tư cách tốt hơn để đưa ra
quyết định, theo quan điểm của Machiavelli, so với những người cầm quyền đứng đầu.
Thí dụ,
“dân chúng không
bao giờ bị thuyết phục rằng việc bổ nhiệm một người có thói quen xấu xa hoặc
tham nhũng vào một chức vụ là tốt, trong khi một người cầm quyền đứng đầu dễ
dàng và bằng vô số cách bị thuyết phục làm điều đó” (Discourses CW 316).
Tương tự, nếu dân
chúng rời khỏi con đường tuân thủ luật pháp, họ có thể dễ dàng được thuyết phục
khôi phục trật tự:
“Vì một dân chúng
không kiểm soát và hỗn loạn có thể được một người tốt nói chuyện và dễ dàng dẫn
về con đường tốt. Nhưng không ai có thể nói chuyện với một người cầm quyền đứng
đầu xấu xa, và biện pháp duy nhất là gươm… Để chữa bệnh của dân chúng, lời nói
là đủ” (Discourses CW 317).
Sự đối lập mà
Machiavelli vẽ ra rất rõ nét. Cộng hòa được cai trị bằng lời nói và thuyết phục
– tóm lại, được cai trị bằng diễn ngôn công cộng – hầu như chắc cngười này sẽ
hiện thực hóa lợi ích chung của công dân; và ngay cả khi sai lầm, vẫn luôn có
thể dùng thêm diễn ngôn để sửa chữa. những chế độ không cộng hòa, vì loại trừ
hoặc giới hạn những thực hành diễn ngôn, cuối cùng dựa trên sự thống trị cưỡng
chế và chỉ có thể được sửa chữa bằng bạo lực.
8. Tính cách của những
nhà lãnh đạo cộng hòa
Những lập luận của
Machiavelli ủng hộ những chế độ cộng hòa cũng viện dẫn đến lập trường hoài nghi
của ông đối với việc một cá nhân duy nhất đạt được bản lĩnh chính trị,
và do đó hàm ý rằng một lãnh địa thực sự ổn định có thể không bao giờ đạt được.
Hiệu quả của nhị nguyên Machiavellian giữa nhu cầu linh hoạt và tính bất biến
không tránh khỏi của tính cách là chứng minh một giới hạn thực tiễn nội tại
trong những chế độ một người cai trị. Vì người đọc dễ dàng bị dẫn đến kết luận
rằng, chỉ vì hành vi con người bắt nguồn từ một tính cách kiên định và bất biến,
nên sự cai trị của một người duy nhất vốn dĩ bất ổn và bấp bênh. Trong Luận
bàn, Machiavelli đưa ra một lập luận tâm lý rằng thực tế của tính cách con
người có xu hướng ủng hộ cộng hòa hơn quân chủ, vì cái trước “có khả năng thích
nghi tốt hơn với những hoàn cảnh đa dạng hơn một người cầm quyền đứng đầu nhờ sự
đa dạng có trong công dân” (Discourses CW 253).
Machiavelli minh
họa luận điểm này bằng sự tiến hóa của chiến lược quân sự Roma chống Hannibal.
Sau những chiến tngười nàyg ban đầu của vị tướng Carthage ở Ý, hoàn cảnh của
Roma đòi hỏi một nhà lãnh đạo thận trọng và cẩn trọng, người sẽ không đưa quân
đoàn vào hành động quân sự hung hãn mà chúng chưa sẵn sàng. Sự lãnh đạo như vậy
xuất hiện dưới dạng Fabius Maximus, “một vị tướng nhờ sự chậm rãi và thận trọng
của mình đã giữ kẻ thù ở thế phòng thủ. Ông cũng không thể gặp phải hoàn cảnh
nào phù hợp hơn với cách thức của mình” (Discourses CW 452). Tuy nhiên khi một
lập trường tấn công hơn được đòi hỏi để đánh bại Hannibal, Cộng hòa Roma có thể
chuyển sang lãnh đạo của Scipio, người có phẩm chất cá nhân phù hợp hơn với thời
thế. Cả Fabius lẫn Scipio đều không thể thoát khỏi “cách thức và thói quen của
mình” (Discourses CW 452), nhưng việc Roma có thể gọi mỗi người vào đúng thời
điểm gợi ý cho Machiavelli một sức mạnh nội tại của hệ thống cộng hòa.
“Nếu Fabius là
vua của Roma, ông có thể dễ dàng thua cuộc chiến này, vì ông không có khả năng
thay đổi phương pháp theo hoàn cảnh thay đổi. Nhưng vì ông sinh ra trong một cộng
hòa nơi có những công dân đa dạng với những tính cách đa dạng, nên đã xảy ra rằng,
cũng như nó có một Fabius – người tốt nhất để kéo dài cuộc chiến khi hoàn cảnh
đòi hỏi – thì sau đó nó có một Scipio vào thời điểm thích hợp cho sự hoàn thành
chiến tngười nàyg của nó” (Discourses CW 452).
Những sự kiện
thay đổi đòi hỏi sự linh hoạt trong phản ứng, và vì về mặt tâm lý khó có thể
thay đổi tính cách con người theo thời thế, cộng hòa mang lại một giải pháp khả
thi: những người có phẩm chất khác nhau phù hợp với những tình cảnh khác nhau.
Sự đa dạng đặc trưng của những chế độ dân sự – vốn bị những tiền nhân của
Machiavelli ghét bỏ – hóa ra lại là một lợi thế lâu dài của cộng hòa so với
quân chủ.
Điều này không có
nghĩa là tin tưởng của Machiavelli vào khả năng của chính quyền cộng hòa trong
việc khắc phục những khiếm khuyết chính trị của tính cách con người là không giới
hạn. Sau cùng, ông không cho chúng ta dấu hiệu thực sự nào về cách những cộng
hòa quản lý để nhận diện và ủy quyền cho những nhà lãnh đạo có phẩm chất phù hợp
với hoàn cảnh. Nhận xét rằng sự biến đổi như vậy đã xảy ra trong những cộng hòa
là một chuyện, chứng minh rằng đây là đặc điểm cần thiết hay bản chất của hệ thống
cộng hòa lại là chuyện khác. Tốt nhất, Machiavelli chỉ đưa ra một loại quy luật
thực nghiệm, mà nền tảng lý thuyết của nó ông để bỏ ngỏ. Và Luận bàn chỉ
ra rằng những cộng hòa có giới hạn nội tại riêng liên quan đến sự linh hoạt phản
ứng cần thiết để chinh phục vận may. Vì cũng như với từng cá nhân con người,
khó (nếu không muốn nói là bất khả thi) để thay đổi đặc điểm cá nhân của họ,
thì “các thể chế trong cộng hòa không thay đổi theo thời
gian… mà thay đổi rất chậm vì thay đổi chúng đau đớn hơn vì cần phải chờ đến khi
toàn bộ cộng hòa rơi vào trạng thái hỗn loạn; và để làm điều đó, không đủ một
người duy nhất thay đổi cách thức của mình” (Discourses CW 453).
Nếu sự sụp đổ của
những quân chủ là do cấu trúc cố định của tính cách con người, thì sự thất bại
của cộng hòa là sự tận tụy với việc duy trì những sắp xếp thể chế đã hết thời.
Liệu có khả thi hơn khi hy vọng tạo ra những thể chế cộng hòa phản ứng nhanh
hơn so với việc đòi hỏi sự linh hoạt trong phẩm chất cá nhân của những người cầm
quyền đứng đầu hay không thì không được Machiavelli trực tiếp xem xét.
Machiavelli do đó
dường như kiên định với một lập trường cộng hòa chân chính. Nhưng làm sao để
dung hòa điều này với những phát biểu của ông trong người cầm quyền đứng đầu?
Thật hấp dẫn khi coi người cầm quyền đứng đầu là một biểu hiện không
chân thực của quan điểm “thực sự” và sở thích của Machiavelli, được viết trong
một khoảng thời gian ngắn để chứng minh giá trị chính trị của ông đối với những
chủ nhân Medici trở lại của Florence. (Điều này đối lập với quá trình sáng tác
dài của Luận bàn.) Tuy nhiên Machiavelli không bao giờ chối bỏ người
cầm quyền đứng đầu, và thực tế còn nhắc đến nó trong Luận bàn theo
cách gợi ý rằng ông xem tác phẩm trước là người bạn đồng hành của tác phẩm sau.
Dù đã có nhiều tranh luận về việc Machiavelli thực sự là bạn của những người cầm
quyền đứng đầu và lãnh tụ độc tài hay của những cộng hòa, và do đó liệu chúng
ta có nên loại bỏ một khía cạnh hay khía cạnh khác của tác phẩm của ông như thứ
yếu hay ngoại vi hay không, câu hỏi dường như không thể giải quyết. Gợi ý của
Mark Hulliung rằng “cả hai” Machiavelli đều cần được đặt ngang bằng nhau do đó
có một mức độ hợp lý nhất định (Hulliung 1983).
9. Vị trí của
Machiavelli trong tư tưởng phương Tây
Điều gì là “thời
nay” hay “độc đáo” trong tư tưởng của Machiavelli? “Vị trí” của Machiavelli
trong lịch sử tư tưởng phương Tây là gì? Thể loại văn học tranh luận câu hỏi
này, đặc biệt liên quan đến người cầm quyền đứng đầu và Luận bàn,
đã phát triển đến mức thực sự choáng ngợp. John Pocock (1975), thí dụ, đã truy vết sự lan tỏa
của tư tưởng cộng hòa của Machiavelli khắp thế giới Đại Tây Dương và cụ thể vào
những ý tưởng hướng dẫn những người soạn thảo hiến pháp Mỹ. Paul Rahe (2008) lập
luận cho một tập hợp ảnh hưởng tương tự, nhưng với nội dung trí thức và ý nghĩa
khác với Pocock. Đối với Pocock, chủ nghĩa cộng hòa của Machiavelli thuộc loại truyền thống nhân văn đặt trọng tâm vào đời sống công cộng (civic humanism) có nguồn gốc từ cổ đại;
đối với Rahe, chủ nghĩa cộng hòa của Machiavelli hoàn toàn mới và thời nay. Những
nhà tư tưởng “tân-La Mã” (nổi bật nhất là Pettit, Skinner và Viroli) tiếp nhận
Machiavelli như nguồn gốc của nguyên tắc “tự do như không bị thống trị”, trong
khi ông cũng được đem dùng để bảo vệ những nguyên tắc và giá trị dân chủ
(McCormick 2011). Tương tự, đã có những lập luận cho đạo đức chính trị của
Machiavelli, quan niệm của ông về nhà nước, quan điểm tôn giáo của ông, và nhiều
đặc điểm khác trong tác phẩm của ông như cơ sở đặc trưng cho tính độc đáo của
đóng góp của ông.
Tuy nhiên, ít kết
luận chắc cngười này nào xuất hiện trong học thuật. (Tình trạng chưa ổn định
trong nghiên cứu hiện tại về Machiavelli được đại diện tốt trong Johnston et
al. 2017.) Một lời giải thích hợp lý cho việc không thể giải quyết những vấn đề
“thời nay” và “độc đáo” này là Machiavelli theo một nghĩa nào đó bị kẹt giữa sự
đổi mới và truyền thống, giữa via antiqua và via
moderna (theo cách dùng của Janet Coleman 1995), theo cách tạo ra những
căng thẳng khái niệm nội tại trong toàn bộ tư tưởng của ông và thậm chí trong từng
văn bản riêng lẻ (Nederman 2009). Sự mơ hồ lịch sử này cho phép những học giả
đưa ra những lập luận thuyết phục ngang nhau cho những tuyên bố mâu thuẫn về lập
trường cơ bản của ông nhưng không có vẻ phạm sai lầm nghiêm trọng đối với học
thuyết của ông. Điểm này khác với lời buộc tội của một số học giả rằng
Machiavelli về cơ bản không nhất quán (xem Black 2022) hoặc đơn giản bị chi phối
bởi những chương trình nghị sự “địa phương” (Celenza 2015). Thay vào đó, những
đặc điểm nổi bật của cách tiếp cận chính trị đặc trưng Machiavellian nên được
ghi nhận cho sự không phù hợp giữa hoàn cảnh lịch sử và khả năng trí thức. Điều
khiến Machiavelli trở thành một nhà tư tưởng gây phiền nhiễu nhưng kích thích
là việc, trong nỗ lực rút ra những kết luận khác với những kỳ vọng thông thường
của khán giả, ông vẫn tiếp nhận những đặc điểm quan trọng của chính những quy ước
mà ông đang thách thức. Dù có những tuyên bố lặp lại về tính độc đáo của mình
(thí dụ, Prince CW 10, 57–58), sự chú ý cẩn thận của ông đến những truyền thống
có sẵn có nghĩa là ông không bao giờ hoàn toàn thoát khỏi giới hạn trí thức của
mình. Do đó, Machiavelli không thực sự nên được phân loại là hoàn toàn “cổ đại”
hay “thời nay”, mà xứng đáng được đặt ở khoảng giao thoa giữa hai bên (một điểm
gần đây được nhấn mạnh bởi Pedullà 2023, người cho rằng “Machiavelli giống như
vị thần Janus huyền thoại, vị thần Roma của sự mở đầu và kết thúc…” [xi]).
(Nederman, Cary, “Niccolò
Machiavelli”, The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Spring
2025 Edition), Edward N. Zalta & Uri Nodelman (eds.))
GHI CHÚ VỀ BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT
Niccolò
Machiavelli (1469–1527) là nhà tư tưởng chính trị nổi tiếng nhất thời Phục
hưng, và có lẽ là người được bàn luận nhất trong lịch sử tư tưởng chính trị
phương Tây. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Người Cầm Quyền Đứng Đầu (Il
Principe), thường được coi là quyển sách chính trị thực tiễn nhất đã từng viết.
Nó dạy những nhà lãnh đạo cách giành và giữ quyền lực, thường bằng những phương
pháp vốn người đời thường coi là phi đạo đức. Machiavelli dường như khuyên rằng
trong chính trị, kết quả quan trọng hơn nguyên tắc; rằng người cai trị thành
công phải sẵn sàng làm điều ác khi cần thiết; và rằng nền tảng cho đường lối
chính trị truyền thống (như nhân từ, trung thực, tôn giáo) có thể là trở ngại
cho việc duy trì quyền lực. Chính vì thế, từ thế kỷ XVI, ông đã bị lên án là
“người thầy của cái ác” (teacher of evil), kẻ cổ xúy cho chủ thuyết phi đạo đức,
hoặc ít nhất là chủ thuyết hiện thực lạnh lùng loại bỏ mọi ràng buộc đạo đức khỏi
chính trị.
Tuy nhiên, cách
hiểu đơn giản này không hoàn toàn chính xác. Machiavelli không phải là người vô
đạo đức một cách ngây thơ. Ông không phủ nhận giá trị của những bản lĩnh chính
trị truyền thống; ông chỉ cho rằng trong thế giới thực của chính trị – đầy rẫy
nững tham vọng, lừa dối, bạo lực và vận may bất định – việc tuân thủ nghiêm ngặt
những chuẩn mực đạo đức thường dẫn đến thất bại, thậm chí diệt vong. Ông viết
trong bối cảnh nước Ý thời Phục hưng bị chia cắt thành nhiều nhà nước nhỏ, liên
tục bị ngoại bang xâm lược (Pháp, Tây Ban Nha, Đế quốc Thần thánh), và những
người cai trị những chính quyền trong nhũng nhà nước nhỏ hoặc là phong kiến hoặc
cộng hòa thường xuyên bị lật đổ bởi âm mưu nội bộ hoặc ngoại xâm. Trong hoàn cảnh
ấy, Machiavelli cho rằng người cai trị phải học cách “không tốt lành” khi cần
thiết, không phải vì ông ưa thích cái ác, nhưng vì ông nhận ra rằng chính trị
là lĩnh vực của sự sống còn, nơi lý tưởng đạo đức thường phải nhường chỗ cho thực
tế quyền lực.
Người Cầm Quyền
Đứng Đầu không phải là một
quyển sách ca ngợi lãnh tụ độc tài hay khuyến khích tội ác vì bản thân tội ác.
Nó là một phân tích thực tế về bản chất của quyền lực chính trị và những điều
kiện cần thiết để duy trì nó. Machiavelli viết với mục đích thực tiễn: ông muốn
dâng tặng tác phẩm cho một thành viên nhà Medici (ban đầu là Giuliano, sau là
Lorenzo) để lấy lại vị thế chính trị sau khi bị nhà Medici giam cầm và tra tấn
năm 1513, khi họ tái chiếm Florence và lật đổ Cộng hòa vốn ông từng phục vụ.
Tuy nhiên, nội dung quyển sách vượt xa mục đích cá nhân ấy. Nó trở thành một
trong những phân tích sâu xa nhất về bản chất của chính trị quyền lực – một tác
phẩm vừa thực dụng vừa triết học, vừa tàn nhẫn vừa sâu cay.
Machiavelli không
chỉ phân tích quyền lực; ông còn thay đổi cách chúng ta nghĩ về nó. Trước ông,
những nhà tư tưởng chính trị (từ Plato, Aristotle đến những nhà thần học Trung
cổ và những tác giả “gương cho vươnh hầu “ thời Phục hưng) thường cho rằng quyền
lực hợp pháp phải dựa trên đạo đức: người cai trị tốt sẽ cai trị tốt, và người
cai trị tốt sẽ được Gót ủng hộ. Machiavelli đảo ngược quan điểm này. Ông cho rằng
quyền lực không cần đạo đức để hợp pháp; quyền lực tự nó tạo ra tính hợp pháp.
Ai nắm được quyền lực thì có quyền ra lệnh; ai không nắm được thì không có quyền
gì cả. Đây là một bước ngoặt lớn trong tư tưởng chính trị phương Tây: lần đầu
tiên, chính trị được tách khỏi đạo đức và tôn giáo một cách triệt để.
Tuy nhiên,
Machiavelli không phải là người vô thần hay vô đạo đức hoàn toàn. Ông vẫn tin
vào một trật tự vũ trụ, vào vận may (Fortuna) và vào bản lĩnh chính trị
(bản
lĩnh chính trị) – nhưng ông hiểu hai khái niệm này theo cách rất
khác. Fortuna không còn là nữ thần nhân từ của thời cổ đại, nhưng là
một lực lượng hung dữ, bất định, cần phải bị “đánh đập” và chế ngự. Bản
lĩnh chính trị không phải là bản lĩnh lãnh đạo theo như đạo đức truyền
thống, nhưng gồm tất cả năng lực, linh hoạt, tài trí và dũng cảm để thích nghi
với hoàn cảnh và chinh phục vận may. người cầm quyền đứng đầu thành công là người
biết “thay đổi bản tính” theo thời thế, biết làm điều tốt khi có thể và làm điều
ác khi cần thiết.
Người Cầm Quyền
Đứng Đầu vì thế không phải
là quyển sách dạy cách làm độc ác, nhưng là quyển sách dạy cách sống sót và
thành công trong một thế giới chính trị đầy phản trắc nguy hiểm, nơi đạo đức
truyền thống thường là thứ xa xỉ không thể chi trả. Nó là một lời cảnh báo cay
đắng về bản chất thật của quyền lực – và đồng thời là một lời kêu gọi hành động
để thống nhất và giải phóng nước Ý khỏi ách thống trị ngoại bang (như phần cuối
chương XXVI thể hiện rõ ràng).
Bản dịch này của
Harvey C. Mansfield cố gắng giữ nguyên tính mạch lạc, sắc bén và đôi khi tàn nhẫn
của văn phong Machiavelli. Ông dịch sát nghĩa, không làm mượt mà hóa những câu
văn gồ ghề, đôi khi thô ráp của nguyên tác, để giữ được sức mạnh và tính khiêu
khích của nó.
Bản dịch này của
Mansfield dựa trên bản văn tiếng Ý chuẩn do Sergio Bertelli và Giorgio Inglese
hiệu đính (trong bộ Opere của Machiavelli do Mario Martelli chủ biên). Tôi giữ
nguyên cấu trúc chương và đoạn của bản gốc, không thêm thắt hay lược bỏ. Một số
từ then chốt được giữ nguyên hoặc dịch theo cách cố định để phản ảnh ý nghĩa đặc
thù của Machiavelli, Tôi hiểu và dịch sang tiếng Việt như sau
virtù → dịch là “bản lĩnh chính trị” hoặc “bản
lĩnh chính trị” tùy ngữ cảnh, nhưng luôn mang nghĩa năng lực, tài trí, sự linh
hoạt, chứ không phải bản lĩnh chính trị đạo đức thông thường. Fortuna
→ “vận may” hoặc “Fortuna” (nhân cách hóa). stato → “nhà nước”, “lãnh địa”, hoặc
“quyền lực” tùy ngữ cảnh. principato → “lãnh địa”
(principality). vivere sicuro / vivere libero → “sống an toàn” / “sống tự do”.
Những chú thích
trong bản dịch (tiếng Anh Notes)của Mansfield sẽ giải thích những tham chiếu lịch
sử, nhân vật và ngữ cảnh khi cần. Bản dịch này dành cho người đọc muốn tiếp cận
Machiavelli một cách trực tiếp, không qua lăng kính diễn giải thời nay hóa hoặc
làm dịu đi tính tàn nhẫn của ông.
Khi cầm trên tay
tác phẩm kinh điển của Niccolò Machiavelli, người đọc thời nay thường dễ nhầm lẫn
tiêu đề IL PRINCIPE với hình ảnh một vị “Vương hầu” trong những sách lịch
sử hay những truyện cổ. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ chính trị của thời Phục hưng,
từ ngữ này mang một sức nặng triết học và lịch sử hoàn toàn khác biệt.
1. Từ Il Principe → “Người Cầm Quyền Đứng Đầu”
Trong Il
Principe, Machiavelli không bàn về “hoàng tử” hay “vương hầu” theo nghĩa
phong kiến, mà về một người cầm quyền đứng
đầu—người nắm giữ quyền lực tối cao trên thực tế và phải biết vận dụng bản
lãnh chính trị để chế ngự may rủi trong tất cả những bối cảnh
chính trị bất ổn.
Về mặt từ nguyên,
prince không bắt nguồn từ một tước hiệu quý tộc thừa kế. Từ ngữ này xuất
phát từ gốc La-tinh princeps, được cấu thành bởi hai yếu tố: primus
(đứng đầu) và capere (nắm giữ). Nghĩa nguyên thủy của nó là “người
nắm vị trí thứ nhất”, tức người đứng đầu quyền lực trong một thực thể
chính trị, bất kể nguồn gốc quyền lực.
Trong lịch sử La
Mã, Hoàng đế Augustus chọn danh hiệu princeps civitatis (“công dân đứng
đầu”) thay vì rex (“vua”). Đây là một lựa chọn ngôn ngữ chiến lược:
Augustus vừa khẳng định quyền lực tối cao, vừa duy trì bề ngoài của thể chế Cộng
hòa, tránh kích động những người tôn sùng tự do. Machiavelli, một người ngưỡng
mộ sâu xa lịch sử La Mã, mượn sắc thái này để xây dựng hình tượng người
cầm quyền đứng đầu trong Il Principe.
virtù = bản lãnh chính trị,
virtù Không
phải bản lĩnh chính trị đạo đức (virtue theo nghĩa phổ thông). Nhưng Là năng lực, bản lĩnh, tài trí, khả
năng hành xử hiệu quả trong chính trị. Bao gồm cả: quyết đoán, dũng
cảm, khôn khéo, tính toán chiến lược, linh hoạt trong hành động để đạt mục
tiêu.Mục tiêu của virtù là chế ngự fortuna – tức biến biến động, may rủi trong chính trị
thành cơ hội cho bản thân.
fortuna = may rủi,
Còn fortuna trong Il Principe / Fortuna
không chỉ là “vận may” hay “số phận” theo nghĩa trừu tượng. Nó là những
biến động, tình thế ngoài tầm kiểm soát của con người trong chính trị:
chiến tranh, âm mưu, thay đổi chính trị, thiên tai, lòng dân…Vai trò của fortuna
là thách thức cho người cầm quyền đứng đầu: cần bản lãnh chính
trị (virtù) để đối phó và tận dụng. Fortuna = may rủi
Lưu ý rằng trong
bối cảnh Machiavelli, tôi nghĩ không nên dịch Il Principe thành “quân
vương” hay “hoàng tử” hay một từ gần hơn như “vương hầu”. Những từ này gợi liên hệ với tước vị
phong kiến, quyền lực cha truyền con nối và trật tự chính thống, trong khi
Machiavelli bàn về quyền lực thực tiễn, bao gồm cả những
người lên nắm quyền bằng vũ lực, sáng lập chính thể mới, hay kế thừa quyền lực
qua tình thế chính trị. Dịch sai như vậy sẽ làm mất trọng tâm tư tưởng
Machiavelli, khiến người đọc hiểu nhầm rằng ông chỉ nói về danh xưng quý tộc,
trong khi bản chất chính trị vốn ông phân tích là nghệ thuật nắm và giữ quyền lực
trong thực tế, dùng bản lãnh chính trị để đối phó với may
rủi của thời cuộc.
2. Bối cảnh thực tiễn của
nước Ý
Vào thế kỷ 16, nước
Ý là một “bàn cờ” hỗn loạn của những tiểu quốc và thành phố-nhà nước. Nhiều nhà
cai trị lúc bấy giờ—như gia tộc Medici ở Florence hay Cesare Borgia ở
Romagna—không phải lúc nào cũng có dòng dõi quân chủ chính thống. Họ có thể là
những người cầm quyền đứng đầu, tướng lĩnh, hoặc những người dùng mưu lược để
vươn lên từ con số không.
Machiavelli chọn
từ “Il Principe” vì tính bao quát của nó. Nó không chỉ dành cho
những người “sinh ra đã làm vua”, mà còn dành cho những “người cầm quyền đứng đầu mới”—những
người phải dùng năng lực cá nhân (Bản lĩnh chính trị) để khuất phục
sự biến ảo của vận mệnh (Fortuna). Đối với ông, một Nhà
cai trị đứng đầu không được định nghĩa bằng dòng máu, nhưng bằng khả năng nắm
giữ và duy trì quyền lực một cách hiệu quả.
3. Sự tế nhị của một
chính trị gia
Việc chọn từ ngữ
này còn là một chiến lược ngoại giao. Khi Machiavelli đề tặng tác phẩm cho
Lorenzo de' Medici, ông không thể gọi Lorenzo là “Vua”, bởi Florence về lý thuyết
vẫn là một nước Cộng hòa. Gọi là “người cầm quyền đứng đầu” (Người đứng đầu)
cho phép Machiavelli tôn vinh quyền lực thực tế của Lorenzo nhưng không phạm
vào những giá trị chính trị truyền thống của thành phố.
Hiểu về từ nguyên
của IL PRINCIPE giúp chúng ta nhận ra rằng: Machiavelli không viết một
quyển sách dạy bảo vương hầu lãnh chúa. Ông đang viết một cuốn cẩm nang về bản
chất của quyền lực. Trong thế giới của Machiavelli, “người cầm quyền
đứng đầu” là bất kỳ ai có đủ bản lĩnh để đứng ở vị trí cao nhất nắm quyền cai
trị và giữ vững nó giữa giông bão của lịch sử.
Người Dịch Bản
Tiếng Việt
TÓM LƯỢC TƯ TƯỞNG NGƯỜI
CẦM QUYỀN ĐỨNG ĐẦU
1. Bản lãnh chính trị
(Virtù) vs. Vận may (Fortuna)
- Vận may: Giống như một dòng sông hung dữ, có thể mang
lại quyền lực bất ngờ nhưng cũng có thể nhấn chìm tất cả.
- Bản lãnh chính trị: Là khả năng xây đê, đắp đập để kiểm soát
dòng sông đó. Người cầm quyền không được dựa vào may mắn mà phải dựa vào
năng lực tự thân.
- Triết lý: Thà bốc đồng, táo bạo để chế ngự vận may còn
hơn quá thận trọng mà để cơ hội trôi qua.
2. Sự thực dụng trong
cai trị (Cáo và Sư tử)
- Sư tử: Để dọa sói (sức mạnh quân sự, sự uy dũng).
- Cáo: Để nhận biết bẫy rập (sự mưu mô, khôn
ngoan).
- Đạo đức: Người cầm quyền đứng đầu cần biết cách
“không lương thiện” khi cần thiết để bảo vệ sự tồn vong của quốc gia. Kết
quả cuối cùng (sự ổn định, thịnh vượng) sẽ biện minh cho phương tiện.
3. Nghệ thuật chiếm lòng
dân: Đáng yêu hay Đáng sợ?
- Lý tưởng: Là được cả hai.
- Thực tế: Nếu phải chọn một, thà đáng sợ còn hơn
đáng yêu. Thương yêu là sợi dây mong manh dựa trên lòng biết ơn (dễ bị cắt
đứt khi có tư lợi), còn sợ hãi dựa trên sự trừng phạt (luôn luôn hiệu quả).
- Lưu ý: Đáng sợ nhưng tuyệt đối không được để bị ghét
bỏ. Tránh đụng đến tài sản và phụ nữ của thần dân là cách tốt
nhất để không bị thù ghét.
4. Quân đội và Cộng sự
- Quân đội tự thân: Chỉ có binh lính là dân chúng cai trị mới
đáng tin cậy. Quân đánh thuê và quân tiếp viện là mầm mống của sự sụp đổ.
- Cố vấn: Phải biết lắng nghe sự thật từ những người khôn ngoan, nhưng chỉ
khi người cầm quyền muốn hỏi. Bản lãnh của người cầm quyền thể hiện qua việc
chọn đúng người giúp việc và không để bị những người nịnh hót thao túng.
Xuyên suốt tác phẩm,
Machiavelli không dạy chúng ta trở thành những người ác độc, nhưng dạy chúng ta
nhìn thẳng vào sự thật nghiệt ngã của quyền lực. Như ông đã viết trong thư gửi
Vettori, khi bước vào “triều đình của những vĩ nhân cổ đại”, ông không còn thấy
nghèo khó hay cái chết đáng sợ nữa. Đó chính là sức mạnh của tri thức chính trị.
Những ý tưởng cốt
lõi nhất của từng chương trong “Người cầm quyền đứng đầu”. được
xem như những “quy luật thép” của Machiavelli:
PHẦN I: Những Loại Hình
Quốc Gia (Chương I - XI)
- Chương I-III: Di sản và Xâm chiếm: Lãnh địa kế thừa thì dễ giữ, nhưng
lãnh địa mới chiếm thì cực khó. Sai lầm lớn nhất là chiếm đất nhưng không
diệt tuyệt dòng máu cũ hoặc để những cường quốc lân cận can thiệp.
- Chương IV-V: Cách cai trị: Để giữ một nước đã quen sống tự do,
có ba cách: Phá hủy nó, đến ở đó trực tiếp, hoặc để họ sống với luật cũ
nhưng phải nộp thuế. Tốt nhất là phá hủy hoặc trực tiếp cai quản.
- Chương VI-VII: Bản lãnh (Virtù) vs. Vận may
(Fortuna): Những người
lên ngôi bằng năng lực tự thân thì gian nan lúc đầu nhưng bền vững về sau.
Những người lên ngôi nhờ vận may hay tiền bạc thì dễ dàng lúc đầu nhưng sụp
đổ ngay khi sóng gió nổi lên.
- Chương VIII-IX: Tội ác và Sự ủng hộ: Có thể dùng bạo lực để đoạt quyền,
nhưng phải thực hiện “tàn ác một lần” rồi thôi. Người cầm quyền nên dựa
vào dân chúng hơn là giới quý tộc, vì dân chúng chỉ muốn không bị áp bức,
còn quý tộc thì muốn áp bức người khác.
- Chương X-XI: Sức mạnh và Hội nhà thờ Catô: Một quốc gia mạnh là quốc gia có đủ
quân đội để ra trận thay vì chỉ biết trốn sau thành lũy. những quốc gia hội
nhà thờ Catô là trường hợp đặc biệt: được duy trì bởi những định chế tôn
giáo lâu đời nên không cần phòng thủ vẫn an toàn.
PHẦN II: Nghệ Thuật Quân
Sự (Chương XII - XIV)
- Chương XII-XIII: Quân đội tự thân: Nền tảng của quốc gia là luật pháp tốt
và quân đội tốt. Quân đánh thuê và quân tiếp viện là vô dụng và nguy hiểm;
chúng chỉ biết cướp bóc khi hòa bình và tháo chạy khi có chiến tranh.
- Chương XIV: Nhiệm vụ hàng đầu: Người cầm quyền đứng đầu không được
rời xa suy nghĩ về chiến tranh. Trong thời bình, phải rèn luyện thân thể
qua săn bắn và rèn luyện trí tuệ qua việc đọc lịch sử.
PHẦN III: Bản Lĩnh Của
Người Cầm Quyền (Chương XV - XIX)
- Chương XV: Sự thực tế: Đừng theo đuổi những hình mẫu đạo đức
hão huyền. Để tồn tại, người cầm quyền phải học cách không lương thiện
khi cần thiết.
- Chương XVI: Rộng rãi và Keo kiệt: Thà mang tiếng là người keo kiệt để
có ngân khố phòng thủ quốc gia, còn hơn rộng lượng để rồi phải vắt kiệt sức
dân bằng sưu cao thuế nặng.
- Chương XVII: Đáng sợ vs. Đáng yêu: Thương yêu là sợi dây có thể đứt,
nhưng sợ hãi là sự trừng phạt nhưng không ai dám phớt lờ. Người cầm quyền
phải khiến dân chúng sợ mình nhưng tuyệt đối không được để bị thù ghét.
- Chương XVIII: Giữ lời hứa: Phải biết kết hợp bản chất của Cáo
(để nhận biết bẫy) và Sư tử (để dọa sói). Người cầm
quyền không cần có mọi đức tính, nhưng cần “tỏ ra” là có chúng.
- Chương XIX: Tránh bị khinh bỉ: Cách tốt nhất để không bị thù ghét
là không đụng đến tài sản và phụ nữ của thần dân.
PHẦN IV: Củng Cố Quyền Lực
Và Giải Phóng (Chương XX - XXVI)
- Chương XX-XXI: Xây dựng uy tín: Xây thành lũy không bằng xây dựng
lòng dân. Người cầm quyền phải thể hiện mình là người ủng hộ tài năng, nghệ
thuật và luôn có quan điểm rõ ràng (không trung lập nửa vời).
- Chương XXII-XXIII: Cận thần và Cố vấn: Trí tuệ của người lãnh đạo thể hiện
qua những người xung quanh họ. Phải cho phép thuộc hạ nói sự thật, nhưng
chỉ khi mình hỏi.
- Chương XXIV-XXV: Đối mặt với Vận may: những nước Ý mất quyền độc lập là do
lười biếng và thiếu chuẩn bị. Vận may quyết định 50% cuộc đời, 50% còn lại
do bản lãnh chính trị định đoạt. Hãy táo bạo vì “vận may như một phụ nữ”.
- Chương XXVI: Lời kêu gọi cuối cùng: Machiavelli thúc giục gia tộc Medici
đứng lên thống nhất và giải phóng nước Ý khỏi ngoại bang.
Kho tàng của những
phát biểu gây bàn luận nhưng cực kỳ thực tế. Dưới đây là những câu nói nổi tiếng
nhất, được coi là “kinh điển” trong tư tưởng của Machiavelli mà tôi đã hiệu
đính lại theo văn phong nhất quán của chúng ta:
1. Về Bản chất Quyền lực
“Kết quả sẽ biện minh
cho phương tiện.”
(The end justifies
the means)
- Ý nghĩa: Đây là câu nói nổi tiếng nhất (dù là cách diễn đạt tóm tắt ý tưởng
của ông). Machiavelli cho rằng nếu mục tiêu cuối cùng là bảo vệ sự tồn
vong và ổn định của quốc gia, thì mọi phương pháp (dù tàn nhẫn) đều được
coi là chính đáng.
2. Về Nghệ thuật Cai
trị
“Thà được đáng sợ còn
hơn được yêu thương, nếu không thể có cả hai.”
- Ý nghĩa: Thương yêu dựa trên lòng biết ơn, vốn rất dễ bị phản bội khi con
người gặp tư lợi. Nhưng sợ hãi dựa trên sự trừng phạt, và sự trừng phạt
thì không bao giờ khiến người ta quên nhiệm vụ. Tuy nhiên, ông dặn thêm:
“Đáng sợ nhưng đừng để bị thù ghét.”
3. Về Sự Khôn ngoan
và Sức mạnh
“Người cầm quyền đứng
đầu phải biết cách học tập bản chất của cả Cáo và Sư tử.”
- Ý nghĩa: Sư tử không thể tự bảo vệ mình khỏi bẫy rập, còn Cáo thì không thể
chống lại sói. Vì thế, phải là Cáo để nhận ra những cái bẫy và là Sư tử để
làm khiếp sợ những người thù.
4. Về Sự Tàn nhẫn cần
thiết
“Những sự tàn bạo phải
được thực hiện cùng một lúc, để sự đau đớn diễn ra ngắn hơn và ít gây phẫn nộ
hơn.”
- Ý nghĩa: Nếu phải trừng phạt hay dùng bạo lực để ổn định quyền lực, hãy làm
thật nhanh và dứt điểm ngay từ đầu. Ngược lại, những đặc ân nên được ban
phát nhỏ giọt, từng chút một, để dân chúng có thời gian tận hưởng và ghi
nhớ lâu hơn.
5. Về Vận may và Bản
lãnh
“Vận may là một người
phụ nữ, và nếu muốn chế ngự bà ta, cần phải mạnh mẽ và táo bạo.”
- Ý nghĩa: Machiavelli cổ xúy cho sự chủ động. Đừng ngồi chờ định mệnh, hãy
dùng bản lãnh chính trị (virtù) để cưỡng đoạt lấy cơ hội.
6. Về Quân đội
“Không có quân đội tốt
thì không thể có luật pháp tốt.”
- Ý nghĩa: Mọi nền tảng pháp lý hay đạo đức của quốc gia đều vô nghĩa nếu
không có sức mạnh vũ lực đủ để bảo vệ chúng.
7. Về Tài sản của Thần
dân
“Con người mau quên
cái chết của cha mình hơn là việc mất đi gia sản.”
- Ý nghĩa: Đây là lời cảnh báo thực dụng nhất: Người cầm quyền có thể giết
người để răn đe, nhưng tuyệt đối không được tịch thu tài sản của dân, vì
đó là nguồn cơn dẫn đến sự thù ghét bền bỉ nhất.
8. Về Sự Khôn ngoan của
Cố vấn
“Cách đầu tiên để
đánh giá trí tuệ của một người cầm quyền là nhìn vào những người xung quanh vị
này.”
- Ý nghĩa: Một lãnh đạo giỏi không nhất thiết phải biết tuốt, nhưng nhất định
phải biết dùng người giỏi hơn mình.
Những câu nói này
chính là “xương sống” tạo nên sự khác biệt giữa Machiavelli và những nhà triết
học đạo đức cùng thời.
Nước Ý và Florence thời Machiavelli
Người Cầm
Quyền Đứng Đầu [2]
(Il Principe)
Niccolò Machiavelli
Thư Dâng Tặng
Niccolò
Machiavelli kính gửi Đức Ông Lorenzo de’ Medici vĩ đại:
Thông tục hầu hết
mọi thời, ai là người ao ước có được sự ưu ái [3]
của một người cầm quyền đứng đầu thường đến yết kiến vị này mang theo những gì
vốn họ trân quý nhất trong những gì họ có, hoặc những gì vốn họ thấy làm hài
lòng vị này nhất. Thế nên, nhiều lần người ta thấy họ [4]
dâng tặng vị này ngựa, khí giới, vải thêu chỉ vàng, đá quý và những đồ trang
hoàng xứng đáng với sự cao sang của những vị này. Vậy nên, vì tôi cũng mong muốn
dâng lên Đức Ông [5] một minh
chứng cho lòng kính trọng của tôi [6]
, tôi đã xét thấy trong số những thứ tôi có, chẳng có gì tôi quý trọng và trân
trọng hơn là sự hiểu biết về việc làm của những bậc vĩ nhân – sự hiểu biết mà
tôi đã học được từ kinh nghiệm lâu dài với những sự việc đời nay và từ việc đọc
không ngừng nghỉ những sự việc đời xưa. Sau khi đã suy ngẫm và xem xét rất kỹ
lưỡng những điều ấy trong một thời gian dài, nay tôi đã gom chúng lại thành một
quyển sách nhỏ và xin dâng lên Đức Ông.
Dù tôi tự thấy
tác phẩm này không xứng đáng được Đức Ông đón nhận, song tôi vẫn đặt nhiều tin
tưởng rằng nhờ lòng nhân từ của Đức Ông, nó sẽ được chấp nhận, khi nghĩ rằng
tôi không thể dâng tặng Đức Ông món quà nào lớn lao hơn việc giúp Đức Ông thấu
hiểu trong một khoảng thời gian rất ngắn tất cả những gì tôi đã phải mất bao
năm trời, bao gian khổ và hiểm nguy mới học được và thấu hiểu. Tôi không tô điểm
cho tác phẩm này, cũng không chất đầy nó bằng những lời lẽ kêu căng hay những từ
ngữ phô trương, lộng lẫy, cũng không thêm bất kỳ sự tâng bốc hay màu mè thừa
thãi nào – những những gì vốn nhiều người thường dùng để mô tả và làm đẹp cho sản
phẩm của họ. Bởi tôi muốn nó được trọng vọng vì bất cứ điều gì, nhưng chỉ vào sự phong phú của
nội dung và sự nghiêm trọng, sâu xa của đề tài, không phải
vì những lời lẽ hoa mỹ tô điểm. Tôi cũng không muốn ai cho rằng tôi quá phận khi một người xuất thân thấp
hèn lại dám bàn luận và đưa ra quy tắc về cách cai trị của những người cầm quyền
đứng đầu. Bởi cũng giống như những người vẽ cảnh quan thường đứng dưới đồng bằng
để quan sát bản chất của núi cao và những nơi cao vời, còn để quan sát bản chất
của những nơi thấp bé thì họ lại đứng trên đỉnh núi cao; tương tự như vậy, muốn
hiểu rõ bản chất của dân chúng thì phải là người cầm quyền đứng đầu, còn muốn
hiểu rõ bản chất của người cầm quyền đứng đầu thì phải là người trong dân.
Vì vậy, thưa Đức
Ông, xin hãy nhận món quà nhỏ này với ý định [7]
chân thành tôi gửi gắm. Nếu Đức Ông, suy ngẫm và đọc kỹ, Đức Ông, sẽ hiểu được
ước muốn sâu xa của tôi mong sao Đức Ông, sẽ đạt được sự vĩ đại vốn vận may và
những phẩm chất khác của Đức Ông đã hứa hẹn. Và nếu có lúc nào đó, từ đỉnh cao
vinh quang của vị thế của đức ông, Và nếu Đức Ông,, vào một lúc nào đó, hướng mắt
từ đỉnh cao vinh quang xuống những nơi thấp hèn này, Đức Ông sẽ hiểu tôi đang
phải chịu đựng một cách oan uổng sự vùi dập lớn lao và liên tục của vận mệnh
như thế nào. [8]
Lê Dọn Bàn tạm
dịch – bản nháp thứ nhất
(Feb/2026)
(Còn tiếp...
→)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
https://chuyenxgan.blogspot.com/
[1] Sau khi Medici bị lật
đổ (1494), Florence lập lại cộng hòa. Machiavelli bắt đầu nổi bật từ 1498 với
chức vụ Thư ký thứ hai. Đến năm 1502, khi Piero Soderini được bầu làm
gonfaloniere suốt đời, Machiavelli trở thành “người thân cận” (right-hand man),
được trao nhiều quyền lực và trách nhiệm, giúp ông thực hiện những ý tưởng cải
cách quân sự (dân binh thay lính đánh thuê). Ông “thrive” (phát triển rực rỡ)
trong 14 năm này (1498–1512), cho đến khi Medici trở lại nắm quyền năm 1512, dẫn
đến Machiavelli bị tù và lưu đày.
[2] Dịch theo bản tiếng
Anh Machiavelli,
Niccolò. The Prince.
Translated and with an Introduction by
Harvey C. Mansfield. 2nd ed. Chicago: University of Chicago Press, 1998.
Những chú thích trong [ ] hay mở đầu với [
của người dịch bản tiếng Anh
Những chú thích khác là của người dịch bản
tiếng Việt
[3] [Nghĩa đen: “Có được
ân sủng”. “Có được” (Acquire) là một thuật ngữ kinh tế mà Machiavelli
thường dùng để chỉ những thành quả không thuộc về kinh tế, đặc biệt là sự chinh
phục — ở đây ý chỉ sự ưu ái hoặc ân sủng được ban tặng từ một lãnh chúa/vương hầu/người
cầm quyền tối cao
[4] [NM chuyển đổi từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ hai, một thủ pháp mà ông
thường xuyên sử dụng.
[5] [Lorenzo de' Medici (1492–1519), cháu trai của Lorenzo Đại đế (1449–92); Ông trở thành công
tước xứ Urbino vào năm 1516. Ban đầu, NM dự định dành tặng cuốn “Người cầm quyền
đứng đầu” cho.. Giuliano de' Medici, con trai của Lorenzo Đại đế và công tước xứ
Nemours, người đã qua đời vào năm 1516. Xem thư của NM gửi Vettori ngày 10 tháng 12 năm 1513, được
in trong Phụ lục.
[6] [servitù, một thuật ngữ phong kiến chỉ sự phục tùng, thường được dịch là “thân phận
tôi tớ” hoặc “sự nô dịch”.
[7] [Animo đề cập đến “tinh thần” mà con người dùng
để tự vệ, chứ không phải để khả năng tách rời bản thân (anima, “linh hồn,” không xuất hiện
trong cuốn Người Cầm Quyền Đứng Đầu). Nó cũng có thể như Từ “tâm trí” ở
đây được hiểu theo nghĩa “ý định”, chứ không phải theo nghĩa “trí tuệ”.
[8] Lorenzo de’ Medici
(1492–1519), tức Lorenzo II, Công tước Urbino, cháu trai của Lorenzo il
Magnifico, là người đứng đầu thực tế của Firenze (Florence) năm 1513.
Machiavelli dâng Il Pricipe cho ông với hy vọng được phục hồi chức vụ
sau thời gian bị lưu đày và mong Lorenzo sẽ trở thành vị cứu tinh thống nhất nước
Ý. Thư đề tặng vừa bày tỏ lòng kính trọng sâu xa, vừa là lời cầu khẩn khéo léo,
nhưng không mang lại kết quả như Machiavelli mong đợi. Lorenzo II không hồi
đáp, không triệu hồi Machiavelli, và cũng không thực hiện giấc mơ thống nhất Ý.
Lorenzo qua đời sớm năm 1519, và tác phẩm của Machiavelli chỉ được xuất bản sau khi Machiavelli mất.
Niccolò
Machiavelli từng là viên chức cao cấp của chính quyền cộng hòa Firenze
(1498–1512), giữ chức Thư ký thứ hai của Hội đồng Mười (Second Chancery) và
tham gia nhiều sứ mệnh ngoại giao quan trọng. Trong vai trò này, ông thường đại
diện cho cộng hòa đối đầu với những thế lực thân cận nhà Medici.
Chính quyền cộng
hòa Firenze (1494–1512) là chế độ cộng hòa thực sự, do dân chúng và những cơ
quan đại diện (Signoria, Gonfaloniere, Hội đồng Mười, Hội đồng Lớn) cai quản,
không thuộc nhà Medici hay bất kỳ dòng họ nào. Đây là giai đoạn nhà Medici bị
trục xuất và sống lưu vong, còn Machiavelli phục vụ trung thành cho chính quyền
cộng hòa.
Năm 1512, quân đội
Tây Ban Nha – đồng minh của nhà Medici – đánh bại lực lượng cộng hòa tại Prato
(tháng 8/1512). Nhà Medici ngay lập tức trở lại nắm quyền, giải tán cộng hòa và
bắt giữ những người từng phục vụ chính quyền cũ, trong đó có Machiavelli, vì
nghi ngờ ông trung thành với phe cộng hòa và có thể âm mưu chống lại họ.
Chính quyền
Medici mới – dưới sự lãnh đạo thực tế của Cardinal Giovanni de’ Medici (sau này
là Vua chiên Leo X) – ra lệnh bắt giữ và tra tấn ông. Machiavelli bị giam tại
Bargello và chịu tra tấn strappado (trói tay ra sau, kéo lên cao rồi thả rơi đột
ngột) tổng cộng 6 lần trong tháng 2/1513, nhưng ông không khai nhận bất kỳ tội
nào.
Sau khi không tìm
được bằng chứng, nhà Medici ân xá ông vào tháng 3/1513, chủ yếu nhờ Giovanni
de’ Medici được bầu làm Vua chiên Leo X (9/3/1513). Theo phong tục thời Phục
Hưng, khi một Vua chiên mới lên ngôi (đặc biệt từ dòng họ quyền lực như
Medici), Firenze thường ban hành lệnh đại xá chính trị để thả tù nhân, xóa tội
danh chính trị và triệu hồi người lưu đày. Ân xá này giúp nhà Medici thể hiện
lòng khoan dung, củng cố hình ảnh nhân từ và ổn định quyền lực mới.
Tuy nhiên,
Machiavelli vẫn bị lưu đày về trang trại nhỏ ở Sant’Andrea in Percussina (gần
San Casciano, cách Firenze khoảng 15 km). Đây là nơi ông sống lưu vong, sáng
tác Il Principe (1513) cùng nhiều tác phẩm khác, với hy vọng lấy lại lòng tin của
nhà Medici – nhưng không thành công.
