Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT IV.
Những Nghi Ngờ Mang Tính Hoài Nghi Liên
Quan Đến Những Hoạt Động Của Khả Năng Nhận Thức
PHẦN I.
E 4. 1, SBN 25
TẤT CẢ những đối tượng của lý trí hay sự tìm
hiểu của con người có thể tự nhiên chia thành hai loại, cụ thể là, Những
Tương quan Của Những Ý Niệm và Những Sự Kiện Thực Tế. Thuộc loại thứ
nhất là những khoa học như Hình học, Đại số học và Số học; và vắn tắt, tất cả
những khẳng định, vốn chắc chắn. hoặc bằng trực giác hoặc bằng chứng minh. Rằng
bình phương của cạnh huyền thì bằng bình phương của hai cạnh góc vuông, là
một mệnh đề, vốn diễn tả một tương quan giữa những số lượng này. Rằng ba lần
năm bằng một nửa của ba mươi, diễn tả một tương quan giữa những con số này.
Những mệnh đề thuộc loại này đều được tìm thấy chỉ bằng hoạt động của suy nghĩ,
không tùy thuộc trên những gì hiện hữu ở bất kỳ nơi nào trong vũ trụ. Dù chưa
bao giờ có một hình tròn hay một tam giác trong tự nhiên, nhưng những sự thật,
đã được Euclid chứng minh, sẽ mãi mãi giữ vững tính chắc chắn và hiển nhiên của
chúng. [1]
E 4. 2, SBN 25-6
Những Sự Kiện Thực Tế, vốn là những đối tượng thứ hai của lý trí con người, đều không biết
chắc chắn được theo cùng cách thức; và bằng chứng của chúng ta về sự thực của
chúng, dù lớn đến đâu, cũng không có cùng một bản chất giống những gì vừa nói ở
trước. Ngược lại của mọi Sự Kiện Thực Tế vẫn có thể có được, vì nó có thể không
bao giờ hàm ý một mâu thuẫn, và được não thức hình dung với cùng sự dễ dàng và
rõ ràng, như thể nó luôn phù hợp với thực tại. Rằng ngày mai mặt trời sẽ
không mọc không phải là một mệnh đề kém dễ hiểu hơn, và không hàm ý mâu
thuẫn nào hơn, so với sự khẳng định rằng, nó sẽ mọc. Do đó, chúng ta sẽ
hoài công nếu cố gắng chứng minh sự sai lầm của nó. Nếu nó sai lầm chứng minh
được, nó tất hàm ý một mâu thuẫn, và não thức không bao giờ có thể hình dung rõ
ràng được nó
E 4. 3, SBN 26
Do đó, có lẽ đây là một đề tài đáng hiếu kỳ,
để tìm hiểu bản chất của bằng chứng đó là gì vốn bảo đảm cho chúng ta về bất kỳ
sự hiện hữu thực sự và những Sự Kiện Thực Tế nào, vượt ra ngoài chứng thực
trước mắt của giác quan chúng ta, hoặc những ghi chép của trí nhớ chúng ta.
Phần triết học này, có thể thấy rõ, đã ít được vun trồng, dù bởi những người
xưa hay những người nay; và do đó những hoài nghi và sai lầm của chúng ta,
trong việc theo đuổi một tìm hiểu quan trọng như vậy, có thể được tha thứ nhiều
hơn; trong khi chúng ta tiến qua những con đường khó khăn như vậy, nhưng không
có bất kỳ người dẫn đường hay sự hướng dẫn nào. Chúng ngay cả có thể chứng tỏ
là có ích, bằng khơi dậy sự hiếu kỳ tìm hiểu, và phá hủy tin tưởng ngấm ngầm
cùng sự an tâm đó, vốn là mối họa của tất cả những suy luận và tìm hiểu tự do.
Việc tìm ra những thiếu sót trong triết học phổ thông, nếu có bất kỳ gì như
thế, tôi cho rằng, sẽ không là một việc nản lòng, nhưng đúng hơn là một sự thúc
đẩy, như thường vẫn thế, để cố gắng làm ra một gì đó đầy đủ và thỏa đáng hơn
những gì đã từng được đưa ra trước công chúng.
E 4. 4, SBN 26-7
Tất cả những suy luận liên quan đến Sự Kiện
Thực Tế dường như đều được dựng trên tương quan của Nguyên Nhân và Hậu Quả. Chỉ
nhờ tương quan đó, chúng ta có thể vượt xa hơn bằng chứng của trí nhớ và giác
quan chúng ta. Nếu bạn hỏi một người, tại sao người này tin vào bất kỳ Sự Kiện
Thực Tế nào vốn vắng mặt [2]. thí
dụ, rằng bạn của người này sống ở miền quê, hay ở nước Pháp; người này sẽ cho
bạn một lý do; và lý do này sẽ là một sự kiện nào đó khác; như một lá thư đã
nhận được từ người bạn, hay việc biết được ý định và hứa hẹn trước đây của
người bạn đó. Một người, sau khi tìm thấy một đồng hồ hay bất kỳ một máy móc
nào khác trên một đảo hoang, sẽ kết luận rằng đã từng có người trên đảo đó. Tất
cả những lý luận của chúng ta liên quan đến sự kiện đều có cùng bản chất như
vậy. Và ở đây, người ta liên tục giả định rằng có một kết nối giữa sự kiện hiện
tại và những gì vốn được suy ra từ nó. Nếu như không có gì buộc chúng với nhau,
thì suy luận sẽ hoàn toàn bấp bênh. Việc nghe thấy một giọng nói rõ ràng và một
đàm luận hữu lý trong bóng tối bảo đảm cho chúng ta về sự hiện diện của một
người nào đó. Tại sao? Bởi vì đây là những hậu quả từ cấu tạo và bản chất của
con người [3], và
kết nối chặt chẽ với bản chất đó. Nếu chúng ta mổ xẻ tất cả những suy luận khác
có cùng bản chất này, chúng ta sẽ tìm thấy rằng, chúng được xây dựng trên tương
quan giữa Nguyên nhân và Hậu quả, và rằng tương quan này có thể là gần hay xa,
trực tiếp hay gián tiếp. Sức nóng và ánh sáng là những hậu quả song hành của
lửa, và người ta có thể chính đáng suy ra hậu quả này từ hậu quả kia.
E 4. 5, SBN 27
Do đó, nếu chúng ta muốn tự làm rõ bản chất
của bằng chứng đó, vốn bảo đảm cho chúng ta về những Sự Kiện Thực Tế, chúng ta
phải điều tra xem chúng ta đạt được sự hiểu biết về nguyên nhân và hậu quả như
thế nào.
E 4. 6, SBN 27
Tôi sẽ đánh bạo để khẳng định, như một mệnh đề
tổng quát, không chấp nhận ngoại lệ nào, rằng sự hiểu biết về tương quan này,
không phải, trong bất kỳ trường hợp nào, đạt được bằng những suy luận tiên
nghiệm; nhưng phát sinh hoàn toàn từ kinh nghiệm, khi chúng ta thấy rằng
bất kỳ những đối tượng cụ thể nào cũng luôn luôn kết hợp với nhau. Hãy đưa một
đối tượng đến trước mặt một người dù có khả năng lý trí mạnh mẽ đến đâu đi nữa;
nếu đối tượng ấy hoàn toàn mới lạ với người này, người này sẽ không thể, dù
bằng sự xem xét chính xác nhất những phẩm chất cảm giác được của nó, để tìm ra
bất kỳ nguyên nhân hay hậu quả nào của nó. A-đam, con người đầu tiên này, dù
giả định có những khả năng lý trí toàn hảo về mọi mặt ngay từ đầu, cũng không
thể suy ra từ tính trôi chảy và trong suốt của nước rằng nó sẽ làm ngạt thở
người này, hay từ ánh sáng và hơi nóng của lửa rằng nó sẽ thieu hủy người này.
Không đối tượng nào từng bộc lộ ra, qua những tính chất xuất hiện trước giác
quan, về những nguyên nhân đã tạo ra nó, hoặc những hậu quả sẽ phát sinh từ nó;
cũng như lý trí của chúng ta, nếu không được kinh nghiệm giúp đỡ, không bao giờ
có thể rút ra được bất kỳ suy diễn nào liên quan đến hiện hữu thực sự, và Sự
Kiện Thực Tế.
E 4. 7, SBN 28
Mệnh đề này, rằng những nguyên nhân và
những hậu quả đều có thể được tìm ra, không bằng lý trí, nhưng bằng kinh nghiệm,
sẽ sẵn sàng được chấp nhận nhìn về những đối tượng như vậy, vốn chúng ta nhớ là
đã từng hoàn toàn xa lạ với chúng ta; bởi vì chúng ta phải ý thức được sự bất
lực hoàn toàn, vốn lúc đó chúng ta rơi vào, trong việc tiên đoán, những gì sẽ
phát sinh từ chúng. Hãy đưa ra hai miếng đá cẩm thạch mặt nhẵn cho một người,
người không có chút hiểu biết nào về triết học tự nhiên; người này sẽ không bao
giờ tìm ra, rằng chúng sẽ dính chặt vào nhau, theo cách cần một lực rất lớn để
tách chúng ra theo đường thẳng đứng, trong khi chúng tkháng cự rất nhỏ với áp
lực đẩy ngang. Những sự kiện như vậy, ít có tương đồng với dòng chảy thông
thường của qui luật tự nhiên, cũng dễ dàng được nhìn nhận là chỉ có thể biết
được qua kinh nghiệm; và không ai tưởng tượng rằng sự phát nổ của thuốc súng,
hoặc sức hút của nam châm, có thể được tìm ra bằng những lập luận tiên
nghiệm. Tương tự như vậy, khi một hậu quả được cho là tùy thuộc vào một cơ
chế phức tạp hay một cấu trúc bí mật gồm những bộ phận, chúng ta không gặp khó
khăn gì khi gán tất cả kiến thức của chúng ta về nó cho kinh nghiệm. Ai sẽ dám
khẳng định, rằng người này có thể đưa ra lý do tối hậu, tại sao sữa hay bánh mì
là dinh dưỡng thích hợp cho một người, nhưng không cho một con sư tử hay một
con hổ?
E 4. 8, SBN 28-9
Nhưng cùng một sự thực đó ngay thoạt nhìn đầu
tiên, có thể không xuất hiện là có cùng bằng chứng với những biến cố đã thành
thân thuộc với chúng ta từ khi chúng ta đầu tiên xuất hiện trên thế giới, vốn
chúng mang một tương đồng chặt chẽ với toàn bộ dòng chảy của tự nhiên, và được
giả định là tùy thuộc vào những phẩm chất đơn giản của những đối tượng không có
cấu trúc bí mật nào của những phần. Chúng ta có khuynh hướng để tưởng rằng
chúng ta có thể tìm ra được những tác động này chỉ thuần bằng hoạt động của lý
trí của chúng ta, không cần kinh nghiệm. Chúng ta võ đoán rằng, nếu bất ngờ
được đưa vào thế giới này, ngay từ đầu chúng ta đã có thể suy luận rằng một quả
bóng bi-a sẽ truyền chuyển động cho quả bi-a khác khác qua đối lực va chạm; và
rằng chúng ta không cần phải chờ đợi sự kiện đó diễn ra mới có thể tuyên bố
chắc chắn về nó. Đó là ảnh hưởng của thói quen, đến nỗi, ở chỗ nó mạnh nhất, nó
không chỉ che giấu sự ngu muội tự nhiên của chúng ta, nhưng còn che giấu chính
nó, và dường như nó không diễn ra, chỉ đơn giản vì nó được tìm thấy ở mức độ
cao nhất. [4]
E 4. 9, SBN 29
Nhưng để thuyết phục chúng ta rằng tất cả
những quy luật của tự nhiên, và tất cả những hoạt động của những vật thể, với
không ngoại lệ nào, đều biết được chỉ qua kinh nghiệm, những suy ngẫm sau đây
có lẽ là đủ. Nếu như có bất kỳ một đối tượng nào được trình bày trước chúng ta,
và nếu đòi hỏi chúng ta để tuyên bố về tác dụng, vốn sẽ là kết quả đến từ nó
nhưng không có việc tham khảo của quan sát quá khứ; tôi xin hỏi bạn, não
thức phải tiến hành hoạt động này theo cách nào? Nó phải tạo ra hay tưởng
tượng ra một sự kiện nào đó, rồi gán sự kiện ấy cho đối tượng như hậu quả của
đối tượng đó; và rõ ràng là việc tạo ra này hoàn toàn tùy tiện. Não thức không
bao giờ có thể tìm thấy hậu quả được trong nguyên nhân đã giả định, dù bằng xem
xét và kiểm tra chi ly nhất. Vì tác dụng hoàn toàn khác biệt với nguyên nhân,
và do đó không bao giờ có thể tìm được trong nguyên nhân ấy. Chuyển động trong
quả bóng bi-a thứ hai là một sự kiện hoàn toàn tách biệt với chuyển động trong
quả bóng thứ nhất; cũng không có bất cứ gì trong quả bóng này gợi lên dù chỉ
một gợi ý nhỏ nhất về quả bóng kia. Một hòn đá hay một miếng kim loại được đưa
lên không trung, và buông ra không có gì nâng đỡ, sẽ lập tức rơi xuống: Nhưng
để xem xét vấn đề theo tiên nghiệm, liệu có bất kỳ một gì chúng ta tìm
ra được trong hoàn cảnh này, vốn có thể sinh ra ý niệm về một chuyển động đi
xuống, thay vì một đi lên, hay bất kỳ chuyển động nào khác của hòn đá hay miếng
kim loại?
E 4. 10, SBN 29-30
Và vì trí tưởng tượng hay nghĩ ra đầu tiên về
một tác dụng cụ thể, trong tất cả những hoạt động tự nhiên, là tùy tiện, ở đó
chúng ta không tham khảo kinh nghiệm; vì vậy, chúng ta cũng phải coi trọng ràng
buộc hay liên hệ được cho là giữa nguyên nhân và hậu quả, vốn buộc chúng lại
với nhau và khiến cho bất kỳ tác dụng nào khác có thể là quả của hoạt động của
nhân đó. Thí dụ, khi tôi thấy một quả bóng bi-a chuyển động theo đường thẳng về
phía một quả bóng khác; ngay cả giả định chuyển động ở quả bóng thứ hai tình cờ
được gợi ý cho tôi, do hậu quả của sự tiếp xúc hay xung lực của chúng; tôi
không thể hình dung rằng hàng trăm sự kiện khác nhau cũng có thể xảy ra từ
nguyên nhân đó sao? Cả hai quả bóng này không thể giữ nguyên trạng thái đứng
yên tuyệt đối sao? Quả bóng thứ nhất không thể quay trở lại theo đường thẳng,
hay nhảy khỏi quả bóng thứ hai theo bất kỳ đường thẳng hay hướng nào sao? Tất
cả những giả định này đều nhất quán và có thể hình dung được. Vậy tại sao chúng
ta lại ưu tiên một giả định, vốn không nhất quán hơn hay có thể hình dung được
hơn những giả định còn lại? Tất cả những lý luận tiên nghiệm của chúng
ta sẽ không bao giờ có thể cho chúng ta thấy bất kỳ nền tảng nào cho sự ưu tiên
này.
E 4. 11, SBN 30
Tóm lại, khi đó, mỗi tác dụng là một sự
kiện riêng biệt với căn nguyên của nó. [5] Do đó,
không thể được tìm thấy nó được trong nguyên nhân, và việc nghĩ ra hay khái
niệm đầu tiên về nó, theo à priori, phải là hoàn toàn tùy tiện. Và ngay
cả sau khi nó được nêu lên, sự liên kết của nó với nguyên nhân cũng phải có vẻ
tùy tiện như vậy; bởi vì luôn có nhiều tác dụng khác, vốn theo lý trí, phải có
vẻ cũng hoàn toàn nhất quán và tự nhiên. như vậy. Do đó, chúng ta sẽ uổng công
nếu cố gắng xác định bất kỳ sự kiện đơn lẻ nào, hoặc suy ra bất kỳ nguyên nhân
hay kết quả nào, không có sự hỗ trợ của quan sát và kinh nghiệm.
E 4. 12, SBN 30-1
Do đó, chúng ta có thể tìm ra lý do không một
triết gia nào, có lý trí và khiêm tốn, lại từng tự phụ gán gán cho bất kỳ hoạt
động tự nhiên nào một nguyên nhân cuối cùng, hay chỉ ra rõ ràng tác động của
năng lực tạo ra bất kỳ tác dụng đơn lẻ nào trong vũ trụ. Người ta nhìn nhận
rằng nỗ lực tối đa của lý trí con người là giản lược những nguyên lý tạo ra
những hiện tượng tự nhiên về một đơn giản hơn, và phân tích nhiều kết quả riêng
biệt thành một vài nguyên nhân tổng quát, bằng cách suy luận từ sự tương đồng,
kinh nghiệm, và quan sát. Nhưng về nguyên nhân của những nguyên nhân tổng quát
này, chúng ta sẽ chỉ hoài công nếu cố gắng tìm ra chúng; cũng như sẽ không bao
giờ có thể tự hài lòng bằng bất kỳ giải thích cụ thể nào về chúng. Những nguồn
mạch và nguyên lý cuối cùng này hoàn toàn bị đóng kín trước sự hiếu kỳ và sự
tìm tòi của con người. Tính đàn hồi, trọng lực, sự gắn kết của những bộ phận,
việc truyền chuyển động bằng va chạm; đây có lẽ là những nguyên nhân và nguyên
lý cuối cùng vốn chúng ta có thể tìm ra trong tự nhiên; và chúng ta có thể coi
mình là đủ hạnh phúc nếu qua tìm tòi và suy luận chính xác, chúng ta có thể
truy nguyên những hiện tượng riêng biệt về đến, hay gần đến, những nguyên lý
tổng quát này. Thứ triết học tự nhiên hoàn hảo nhất cũng chỉ xua đuổi tạm thời
sự ngu muội của chúng ta thêm một chút: Có lẽ, cũng như đạo đức học hay siêu
hình học hoàn hảo nhất cũng chỉ giúp tìm ra những phần lớn hơn của sự ngu muội
đó. Như vậy, việc quan sát thấy sự mù quáng và yếu đuối của con người là kết
quả của tất cả những triết học, và gặp chúng ta ở mọi khúc quanh, bất chấp
những cố gắng lẩn trốn hay tránh né nó.
E 4. 13, SBN 31-2
Hơn nữa, ngay cả hình học, khi đem dùng trong
việc hỗ trợ triết học tự nhiên, cũng chưa từng có thể khắc phục khiếm khuyết
này, hay dẫn chúng ta vào trong kiến thức của những nguyên nhân sau cùng, dù
nhờ vào tất cả sự chính xác trong suy luận vốn giúp nó được chính đáng ca ngợi.
Mọi phần của toán học hỗn hợp [6] đều
tiến hành trên giả định rằng tự nhiên đã thiết lập một số định luật nhất định
trong những hoạt động của nó; và những lập luận trừu tượng được dùng, hay để hỗ
trợ kinh nghiệm trong việc tìm ra những định luật này, hay để xác định ảnh
hưởng của chúng trong những trường hợp cụ thể, nơi nó tùy thuộc vào bất kỳ mức
độ chính xác nào về khoảng cách và số lượng. Như vậy, đó là một luật của chuyển
động, được kinh nghiệm tìm ra, rằng động lực hay lực của bất kỳ vật thể nào
trong chuyển động thì nằm ở tỷ lệ phức hợp (tích số) giữa khối lượng riêng và
vận tốc của nó; và do đó, một lực nhỏ có thể vượt qua vật chướng ngại lớn nhất
hoặc nâng được trọng lượng lớn nhất, nếu nhờ bất kỳ cơ cấu hay máy móc nào,
chúng ta có thể tăng vận tốc của lực đó lên, đến mức áp đảo lực đối kháng. Hình
học hỗ trợ chúng ta trong việc áp dụng định luật này, bằng cách cung cấp cho
chúng ta kích thước chính xác của tất cả những bộ phận và hình dạng có thể cấu
thành nên bất kỳ loại máy móc nào; nhưng việc tìm ra chính định luật ấy vẫn hoàn
toàn nhờ vào kinh nghiệm, và tất cả những suy luận trừu tượng trên thế giới
cũng không thể đưa chúng ta tiến thêm một bước nào đến tri thức về nó. Khi
chúng ta suy luận tiên nghiệm, và chỉ xem xét bất kỳ đối tượng hay
nguyên nhân nào như nó hiện ra trước não thức, độc lập với mọi quan sát, nó
không bao giờ có thể gợi cho chúng ta khái niệm về bất kỳ đối tượng riêng biệt
nào khác, loại như tác động của nó; huống chi, cho chúng ta thấy sự liên hệ
không thể tách rời và không thể vi phạm giữa chúng. Một người phải rất sáng
suốt mới có thể dùng lý luận để tìm biết được rằng pha lê là tác động của
nhiệt, và băng là tác động của lạnh, vốn trước đó không biết về hoạt động của
những thuộc tính này.
PHẦN II.
E 4. 14, SBN 32
Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa đạt được bất kỳ
sự hài lòng thỏa đáng nào liên quan đến câu hỏi ban đầu đã đề ra. Mỗi giải đáp
lại khơi lên một câu hỏi mới khó khăn không kém phần trước, và dẫn chúng ta đến
những điều tra xa hơn. Khi được hỏi: Bản chất của tất cả những suy luận của
chúng ta về những sự kiện thực tế là gì? Có thể trả lời bằng một từ: Kinh
nghiệm. Nhưng nếu chúng ta tiếp tục giữ thái độ sàng lọc nghiêm ngặt, và hỏi: Nền
tảng tất cả những kết luận từ kinh nghiệm là gì? Thì đây hàm chứa một câu
hỏi mới, một câu hỏi có lẽ còn khó giải đáp và diễn giải hơn nữa. Những triết
gia tự tỏ ra có vẻ ưu việt về trí tuệ và năng lực, sẽ gặp phải một nhiệm vụ khó
khăn khi đối mặt với những người có thiên hướng hiếu kỳ, những người dồn ép họ
vào mọi ngóc ngách vốn họ định rút lui, và là những người chắc chắn cuối cùng
sẽ đưa họ tới một tình thế lưỡng nan hiểm nghèo nào đó. Phương kế tốt nhất để
ngăn chặn sự rối loạn này là hãy khiêm tốn trong những kỳ vọng của chúng ta; và
ngay cả tự mình tìm ra khó khăn trước khi có người phản đối. Nhờ đó, chúng ta
có thể tạo nên một phần công trạng từ chính sự thiếu hiểu biết của mình.
E 4. 15, SBN 32
Trong phần này, tôi sẽ tự hài lòng với một
nhiệm vụ dễ dàng, và chỉ dám đưa ra một trả lời phủ định cho câu hỏi đã được
đặt ra ở đây. Tôi nói rằng, ngay cả sau khi chúng ta đã có kinh nghiệm về những
hoạt động của nguyên nhân và kết quả, những kết luận của chúng ta từ kinh
nghiệm đó vẫn không dựa trên suy luận, hay bất kỳ tiến trình của khả
năng hiểu biết nào. Chúng ta phải cố gắng để vừa giải thích, vừa bảo vệ trả lời
này.
E 4. 16, SBN 32-4
Chắc chắn phải nhìn nhận rằng, tự nhiên đã giữ
chúng ta ở một khoảng cách rất xa với tất cả những bí mật của nó, và chỉ ban
cho chúng ta sự hiểu biết về một vài tính chất thấy được bên ngoài của những
đối tượng; trong khi nó che giấu chúng ta những sức mạnh và nguyên lý vốn tác
dụng của những đối tượng này hoàn toàn tùy thuộc vào chúng. Những giác quan của
chúng ta cho chúng ta biết màu sắc, sức nặng và độ rắn mềm của bánh mì; nhưng
cả giác quan lẫn lý trí đều không bao giờ có thể cho chúng ta biết những đặc
tính nào khiến nó phù hợp để nuôi dưỡng và duy trì một cơ thể con người. Thị
giác hay xúc giác truyền đạt cho chúng ta một ý niệm về chuyển động thực sự của
những vật thể; nhưng về sức mạnh kỳ diệu hay động lực ấy – vốn sẽ khiến một vật
thể mãi mãi chuyển động trong liên tục thay đổi vị trí, và những gì những vật
thể chỉ mất đi khi truyền nó cho những vật thể khác; thì chúng ta không thể
hình thành dù chỉ một khái niệm mơ hồ nhất. Tuy nhiên bất chấp sự thiếu hiểu
biết này về những sức mạnh và nguyên lý tự nhiên [7], chúng ta luôn giả định
rằng, khi chúng ta thấy những đặc tính cảm giác giống nhau, rằng chúng cũng có
những sức mạnh bí mật giống nhau, và mong đợi rằng những tác dụng, tương tự như
những tác dụng vốn chúng ta đã kinh nghiệm, sẽ theo sau chúng. Nếu một vật thể
có màu sắc và độ rắn mềm tương tự như ổ bánh mì vốn chúng ta đã ăn trước
đây,đưa cho chúng ta, chúng ta không ngần ngại lập lại thí nghiệm và đoán trước
chắc chắn rằng nó cũng cung cấp chất dinh dưỡng và hỗ trợ như vậy.
Bây giờ, đây là một tiến trình của não thức
hay suy nghĩ, vốn tôi rất muốn biết nền tảng của nó. Mọi người đều nhìn nhận
rằng không có liên hệ nào được biết giữa những phẩm chất cảm nhận được và những
năng lực bí mật; và do đó, não thức không được dẫn dắt để hình thành nên kết
luận về sự kết hợp thường xuyên và đều đặn của chúng bởi bất kỳ một gì vốn nó
biết về bản chất của chúng. Về phần Kinh nghiệm quá khứ, nó chỉ có thể
cho thông tin trực tiếp và chắc chắn về những đối tượng chính xác đó, và
khoảng thời gian chính xác đó, nằm trong nhận thức của nó: Nhưng tại sao kinh
nghiệm này lại được mở rộng sang những thời điểm trong tương lai và với những
đối tượng khác, vốn theo như chúng ta biết, có thể chỉ tương tự về bề ngoài;
đây là câu hỏi chính yếu vốn tôi muốn nhấn mạnh. Ổ bánh mì tôi ăn trước đây đã
nuôi dưỡng tôi; nghĩa là, một vật thể có những phẩm chất cảm nhận được như vậy,
vào thời điểm đó, được ban cho những năng lực bí mật như vậy: Nhưng liệu có suy
ra được rằng, những ổ bánh mì khác cũng phải nuôi dưỡng tôi vào một thời điểm
khác, và rằng những phẩm chất cảm nhận tương tự phải luôn đi kèm với những năng
lực bí mật tương tự? Hệ quả dường như không hề tất yếu. Ít nhất, phải nhìn
nhận, rằng ở đây có một hệ quả do não thức rút ra; rằng có một bước nhất định
được thực hiện; một tiến trình suy nghĩ và một suy luận cần được giải thích.
Hai mệnh đề này không hề giống nhau:
tôi thấy rằng
một đối tượng như vậy luôn có tác dụng như vậy, và
tôi thấy trước
rằng những đối tượng khác, xét về bề ngoài, có vẻ tương tự, sẽ có tác dụng
tương tự.
Tôi sẵn sàng nhìn nhận, nếu bạn muốn, rằng một
mệnh đề có thể được suy ra một cách chính đáng từ mệnh đề kia: Tôi biết Trong
thực tế rằng nó luôn luôn được suy ra như vậy. Nhưng nếu bạn khăng khăng rằng
sự suy luận ấy được một chuỗi suy luận thực hiện, thì tôi yêu cầu bạn hãy đưa
ra chuỗi suy luận ấy. Liên hệ giữa những mệnh đề này không là trực giác. Cần có
một trung gian nào đó để não thức có thể rút ra suy luận như vậy, nếu quả thực
nó được rút ra bằng lý luận và lập luận. Còn trung gian ấy là gì, tôi phải nhìn
nhận rằng nó vượt quá sự hiểu biết của tôi; và trách nhiệm thuộc về những ai
khẳng định rằng nó thực sự hiện hữu, và là nguồn gốc của mọi kết luận của chúng
ta về những sự kiện thực tế, để đưa bằng chứng về nó.
E 4. 17, SBN 34-5
Lập luận phủ định này chắc chắn phải, theo
tiến trình thời gian, trở nên hoàn toàn thuyết phục, nếu nhiều triết gia sắc
sảo và tài giỏi hướng những nghiên cứu của họ theo hướng này; và không ai có
thể tìm ra bất kỳ mệnh đề liên kết hay bước trung gian nào hỗ trợ cho khả năng
hiểu biết trong kết luận này. Nhưng vì vấn đề vẫn còn mới mẻ, nên không phải
người đọc nào cũng có thể tin tưởng quá mức vào sự thấu hiểu của mình đến mức
kết luận rằng, chỉ vì một lập luận thoát khỏi sự tìm hiểu của họ, nên nó không
thực sự tồn tại. Vì lý do này, có thể cần thiết để bạo dạn thực hiện một nhiệm
vụ khó khăn hơn; và liệt kê tất cả những nhánh của tri thức con người, cố gắng
chỉ ra rằng, không nhánh nào trong số chúng có thể cung cấp một lập luận như
vậy.
E 4. 18, SBN 35
Tất cả những suy luận đều có thể chia thành
hai loại, cụ thể là suy luận chứng minh, hay loại liên quan đến những tương
quan của những ý niệm và suy luận duy nghiệm [7], hay loại
liên quan đến sự kiện thực tế và sự hiện hữu. Rằng không có suy luận chứng minh
nào trong trường hợp này dường như hiển nhiên; bởi lẽ nó không bao hàm sự mâu
thuẫn nào khi giả định rằng tiến trình của tự nhiên có thể thay đổi, và rằng
một đối tượng dù bên ngoài giống hệt những đối tượng chúng ta từng kinh nghiệm,
lại có thể đi kèm với những kết quả khác biệt hoặc trái ngược. Chẳng lẽ tôi
không thể hình dung một cách rõ ràng và minh bạch rằng một vật thể rơi xuống từ
những đám mây, trông giống hệt tuyết về mọi mặt, nhưng lại có vị muối hoặc gây
cảm giác nóng như lửa sao? Có mệnh đề nào dễ hiểu hơn việc khẳng định rằng, tất
cả những cây cối sẽ nở rộ vào tháng Mười hai và tháng Giêng, và tàn úa vào
tháng Năm và tháng Sáu? Bây giờ bất cứ một gì dễ hiểu, và có thể được hình dung
một cách rành mạch, đều không hàm chứa mâu thuẫn, và do đó không bao giờ có thể
có thể chứng minh được là sai bằng bất kỳ suy luận chứng minh hay suy luận trừu
tượng tiên nghiệm nào.
E 4. 19, SBN 35-6
Do đó, nếu những lập luận lôi kéo chúng ta để
đặt tin cậy trong kinh nghiệm quá khứ và làm thành tiêu chuẩn của phán đoán
tương lai của chúng ta, thì những lập luận này phải chỉ là xác suất, hay nói
cách khác, chỉ thuộc loại liên quan đến sự kiện thực tế và sự hiện hữu thực
tại, theo như phân chia đã đề cập ở trên. Nhưng nếu giải thích của chúng ta về
loại suy luận ấy được chấp nhận là vững chắc và thỏa đáng, thì sẽ rõ ràng rằng
không tồn tại bất kỳ lập luận nào thuộc loại này. Chúng ta đã nói rằng: tất cả những
lập luận liên quan đến sự hiện hữu thực tại đều dựa trên tương quan của nguyên
nhân và hậu quả; rằng kiến thức của chúng ta về tương quan ấy hoàn toàn bắt
nguồn từ kinh nghiệm; và rằng tất cả những kết luận thực nghiệm của chúng ta
đều tiến hành trên giả định, rằng tương lai sẽ tiếp tục giống như quá khứ. Vì
vậy, việc cố gắng chứng minh chính giả định cuối cùng này bằng những lập luận
có tính xác suất, hay những lập luận liên quan đến sự sự hiện hữu thực tại, rõ
ràng là phải đang đi vào một vòng luẩn quẩn, và lấy chính điều đang cần chứng
minh làm điều đã được nhìn nhận.
E 4. 20, SBN 36
Trong thực tế, tất cả những lập luận từ kinh
nghiệm đều dựng trên sự giống nhau, vốn chúng ta tìm ra giữa những đối tượng tự
nhiên, và qua sự giống nhau này chúng ta được dẫn dắt để mong đợi những hiệu
quả tương tự với những gì chúng ta đã thấy xảy ra từ những đối tượng như vậy.
Và dù không ai trừ một kẻ ngốc hay người điên sẽ bao giờ dám tranh luận về thẩm
quyền của kinh nghiệm, hay bác bỏ sự dẫn đường vĩ đại đó của đời sống con
người; chắc chắn một nhà triết học có thể được phép có ít nhất là sự hiếu kỳ như
thế, để xem xét nguyên lý của bản chất con người – nguyên lý đã trao cho kinh
nghiệm quyền lực to lớn ấy, và khiến chúng ta rút ra ích lợi từ sự giống nhau
vốn tự nhiên đã đặt giữa những đối tượng khác nhau. Từ những nguyên nhân trông
có vẻ giống nhau, chúng ta mong đợi những kết quả giống nhau. Đây chính
là tổng kết của tất cả những kết luận thực nghiệm của chúng ta. Bây giờ có vẻ
hiển nhiên rằng, nếu kết luận này được lý trí hình thành, thì nó sẽ hoàn hảo
ngay từ đầu, và sau chỉ một trường hợp duy nhất, cũng như sau cả một quá trình
kinh nghiệm lâu dài. Nhưng thực tế xảy ra lại hoàn toàn khác. Không gì giống
như những quả trứng; tuy nhiên không ai, sựa trên sự giống nhau bên ngoài này,
mong đợi cùng hương vị và sự ngon miệng như nhau trong chúng tất cả. Chỉ sau
một tiến trình dài những thí nghiệm đồng nhất trong bất kỳ loại nào, vốn chúng
ta đạt được một sự tin cậy và an tâm vững chắc với một sự kiện cụ thể. Bây giờ
đâu là tiến trình suy luận đó, vốn từ một trường hợp duy nhất lại rút ra kết
luận khác hẳn so với kết luận từ một trăm trường hợp – dù những trường hợp ấy
chẳng khác gì trường hợp đơn lẻ kia? Câu hỏi này tôi nêu lên, vừa để tìm hiểu,
vừa với ý định nêu lên những khó khăn cần suy ngẫm. Tôi không thể tìm ra, tôi
không thể tưởng tượng được bất kỳ suy luận nào như vậy. Nhưng tôi vẫn giữ não
thức mở rộng để đón nhận chỉ dẫn, nếu có bất kỳ ai hạ cố ban nó cho tôi.
E 4. 21, SBN 36-8
Có thể nói rằng, từ một số những thí nghiệm
đồng nhất, chúng ta suy diễn một liên kết giữa những phẩm tính cảm nhận
được và những năng lực bí ẩn; điều này, tôi phải nhìn nhận, dường như là một
cùng khó khăn, nhưng che đậy dưới những từ ngữ khác nhau. Câu hỏi vẫn đặt ra, suy
diễn này dựng trên tiến trình lập luận nào? Đâu là trung gian, những ý niệm
xen kẽ nào kết nối những mệnh đề dường như xa rời nhau đến vậy? Phải nhìn nhận
rằng, màu sắc, độ rắn mềm và những những phẩm tính cảm nhận được khác của bánh
mì dường như không hề có bất kỳ liên kết nào với những năng lực bí ẩn của nuôi
dưỡng và hỗ trợ cơ thể. Bởi nếu không thế, chúng ta đã có thể suy diễn
được những năng lực bí ẩn này từ sự xuất hiện đầu tiên của những những phẩm
tính cảm nhận được này, vốn không cần đến kinh nghiệm; trái ngược với quan điểm
của tất cả những triết gia, và trái ngược với sự thật hiển nhiên. Ở đây, khi đó
chính là trạng thái vô tri tự nhiên của chúng ta về những năng lực và ảnh hưởng
của tất cả những đối tượng. Làm thế nào để khắc phục điều này bằng kinh nghiệm?
Nó chỉ cho chúng ta thấy một số tác dụng đồng nhất, xuất phát từ một số đối
tượng nhất định, và dạy chúng ta rằng những đối tượng cụ thể đó, tại thời điểm
cụ thể đó, đã được ban cho những năng lực và sức mạnh như vậy. Khi một đối
tượng mới, được ban cho những những phẩm tính cảm nhận được tương tự, được tạo
ra, chúng ta kỳ vọng những năng lực và sức mạnh tương tự, và tìm kiếm một tác
dụng tương tự. Từ một đối tượng có màu sắc và độ rắn mềm tương tự như bánh mì,
chúng ta kỳ vọng sự nuôi dưỡng và hỗ trợ tương tự. . Nhưng đây chắc chắn là một
bước đi hay sự tiến bộ của não thức, vốn cần được giải thích.
Khi một người nói, “Tôi đã tìm thấy, trong
tất cả những trường hợp trước đây, những những phẩm tính cảm nhận được như vậy
kết hợp với những sức mạnh bí ẩn như vậy”: Và khi người này nói, những
những phẩm tính cảm nhận được tương tự sẽ luôn được kết hợp với những sức mạnh
bí ẩn tương tự; người này không hề mắc lỗi lặp ý [8], và những
mệnh đề này cũng không giống nhau về bất kỳ mặt nào. Bạn nói rằng một mệnh đề
là một suy diễn từ mệnh đề kia. Nhưng bạn phải nhìn nhận rằng suy luận đó không
là trực giác; nó cũng không là chứng minh: Vậy bản chất của nó là gì? Nói rằng
nó là suy luận thực nghiệm, thì đó chính là cầu xin điều cần chứng minh [9]. Bởi
vì tất cả những duy diễn từ kinh nghiệm đều giả định, như nền tảng chủ chúng,
rằng tương lai sẽ giống với quá khứ, và những sức mạnh tương tự sẽ được kết hợp
với những những phẩm tính cảm nhận được tương tự. Nếu có bất kỳ nghi ngờ nào
rằng tiến trình của tự nhiên có thể thay đổi, và quá khứ không thể là quy luật
cho tương lai, thì tất cả những kinh nghiệm đều trở nên vô ích, và không thể
đưa ra bất kỳ suy diễn hay kết luận nào. Do đó, không thể có bất kỳ lập luận
nào từ kinh nghiệm có thể chứng minh sự giống nhau này giữa quá khứ và tương
lai; bởi vì tất cả những lập luận này đều dựng trên giả định về chính sự giống
nhau đó. Hãy để cho tiến trình của tất cả những sự vật việc cho đến nay được
cho là luôn đều đặn; chỉ riêng sự vật việc đó, nếu không có một lập luận hay
suy diễn mới nào, thì không chứng minh được rằng, trong tương lai, nó sẽ tiếp
tục như vậy. Thật vô ích khi bạn làm ra như đã học được bản chất của những đối
tượng từ kinh nghiệm quá khứ của bạn. Bản chất bí ẩn của chúng, và do đó, tất cả
những tác động và ảnh hưởng của chúng, có thể thay đổi, nhưng không có bất kỳ
thay đổi nào trong những đặc tính cảm quan của chúng. Điều này đôi khi xảy ra
với một số đối tượng; Tại sao nó không thể xảy ra luôn luôn với tất cả những
đối tượng? Lôgích nào, tiến trình lập luận nào bảo đảm cho bạn chống lại giả
định này? Bạn nói rằng việc làm thường ngày của tôi bác bỏ những nghi ngờ của
tôi. Nhưng bạn đã lầm lẫn mục đích câu hỏi của tôi. Với tư cách là một người
hành động, tôi hoàn toàn hài lòng về điểm này; nhưng với tư cách là một triết
gia, người có phần nào đó hiếu kỳ, tôi sẽ không nói là thuyết hoài nghi, tôi
muốn tìm hiểu nền tảng của suy diễn này. Không một sách đọc nào, không một điều
tra nào cho đến nay có thể gỡ bỏ được khó khăn của tôi, hay mang lại cho tôi sự
thỏa mãn trong một vấn đề quan trọng đến như vậy. Tôi có thể làm gì tốt hơn là
nêu lên khó khăn này với công chúng, ngay cả khi, có lẽ, tôi chỉ có rất ít hy
vọng đạt được một giải đáp? Ít nhất, bằng cách này, chúng ta sẽ ý thức rõ ràng
về sự không biết của chính cúng ta, nếu chúng ta không làm tăng thêm kiến thức
của chúng ta được.
E 4. 22, SBN 38-9
Tôi phải nhìn nhận, rằng một người phạm vào sự
kiêu ngạo không thể tha thứ, nếu kết luận rằng một lập luận không thực sự hiện
hữu. chỉ vì lập luận đã vượt khỏi khả năng điều tra của chính người này. Tôi
cũng phải nhìn nhận, rằng dù tất cả những học giả qua nhiều thế hệ đã dành thời
gian tìm kiếm trong vô vọng về một đề tài nào đó, thì có lẽ vẫn có thể coi là
vội vàng nếu kết luận dứt khoát rằng đề tài ấy phải vượt khỏi tất cả khả năng
nhận thức của con người. Ngay cả khi chúng ta xem xét tất cả những nguồn kiến
thức của chúng ta, và kết luận rằng chúng không thích đáng với một đề tài loại
như vậy, vẫn có thể còn tồn tại một nghi ngờ, rằng danh sách liệt kê chưa đầy
đủ, hoặc sự kiểm tra chưa đủ chính xác. Nhưng liên quan đến đề tài hiện tại, có
một số lý do cân nhắc dường như xóa bỏ tất cả cáo buộc về sự kiêu ngạo hay nghi
ngờ về sai lầm.
E 4. 23, SBN 39
Chắc chắn rằng ngay cả những nông dân dốt nát
và chậm hiểu nhất, ngay cả cả trẻ nhỏ, hay ngay cả loài thú hoang, cũng tiến bộ
nhờ kinh nghiệm và học được những đặc tính của những đối tượng tự nhiên bằng
quan sát những tác dụng chúng gây ra. Khi một đứa trẻ cảm thấy cảm giác đau do
chạm tay vào lửa một cây nến, nó sẽ cẩn thận không đưa tay lại gần bất kỳ cây
nến nào; và nó sẽ mong đợi một tác dụng tương tự từ một nguyên nhân giống như
thế về những đặc tính có thể cảm nhận được và về vẻ bề ngoài. Do đó, nếu bạn
khẳng định rằng sự hiểu biết của đứa trẻ được dẫn đến kết luận này bằng bất kỳ
tiến trình lập luận hay suy luận có bước có nấc nào, tôi có quyền yêu cầu bạn
đưa ra tiến trình lập luận đó; và bạn không có lý do gì để từ chối một yêu cầu
công bằng như vậy. Bạn không thể nói rằng lập luận đó rắc rối khó hiểu và có
thể vượt quá khả năng hiểu biết của bạn; vì chính bạn nhìn nhận rằng nó hiển
nhiên với khả năng của một đứa trẻ nhỏ. Do đó, nếu bạn do dự chỉ một khoảnh
khắc,, hoặc nếu sau khi suy ngẫm, bạn đưa ra bất kỳ lập luận rắc rối hay sâu xa
nào, thì theo một nghĩa nào đó, bạn đã tự bỏ câu hỏi, và nhìn nhận rằng không
phải lý luận khiến chúng ta cho rằng quá khứ giống với tương lai, hay khiến
chúng ta mong đợi những kết quả giống nhau từ những nguyên nhân có vẻ bề ngoài
giống nhau.
Đây chính là luận điểm mà tôi muốn nhấn mạnh
trong phần này. Nếu tôi đúng, thì tôi không dám nhận đã có một khám phá vĩ đại
nào. Còn nếu tôi sai, tôi phải nhìn nhận chính tôi quả thực là một học giả rất
lạc hậu; vì hiện giờ tôi không thể tìm ra một lập luận nào, vốn nó có vẻ rất quen
thuộc với tôi, từ lâu trước cả khi tôi rời nôi vào đời.
E 4. 16n7, SBN 33
7. Từ “Quyền lực” ở đây được dùng theo nghĩa
rộng và phổ biến. Giải thích chính xác hơn về nó sẽ đem cho thêm bằng chứng cho
lập luận này. Xem Mục 7.
Lê
Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Jan/2026)
(Còn
tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Hume’s Fork (Chiếc nĩa của Hume) là cách gọi hiện đại cho sự phân chia
nổi tiếng của David Hume về toàn bộ những đối tượng của tri thức con người
thành hai loại cơ bản, loại trừ lẫn nhau và bao quát toàn bộ phạm vi của những
mệnh đề có ý nghĩa. Ẩn dụ “chiếc nĩa” (fork) được dùng vì mọi mệnh đề, theo
Hume, chỉ có thể rơi vào một trong hai “ngạnh”, không tồn tại một loại thứ ba
trung gian.
1. Relations of Ideas (Tương quan giữa những ý
niệm) — ngạnh thứ nhất
- Là những chân lý tiên nghiệm (a priori), được xác lập bằng
tư duy thuần túy, không cần kinh nghiệm.
- Mang tính tất yếu lôgích: phủ định chúng dẫn đến mâu thuẫn nội
tại.
- Không phụ thuộc vào thế giới thực: ngay cả khi không có bất kỳ đối
tượng vật lý nào tương ứng, chúng vẫn đúng.
- Chủ yếu thuộc về toán học, lôgích và định nghĩa khái niệm.
Ví dụ:
- “2 + 2 = 4”
- “Tổng ba góc của một tam giác bằng 180°
trong hình học Euclid”
- “Mọi người độc thân là người chưa kết hôn”
Đây là loại tri thức
mang tính chắc chắn tuyệt đối, nhưng chỉ làm rõ quan hệ giữa những khái niệm, không mở
rộng hiểu biết về thế giới.
2. Matters of Fact (Sự
kiện thực tế) — ngạnh thứ hai
- Là những mệnh đề hậu nghiệm (a
posteriori), chỉ được biết thông qua kinh nghiệm và quan sát.
- Không mang tính tất yếu lôgích: phủ định
chúng không tạo ra mâu thuẫn.
- Luôn có thể hình dung điều ngược lại một
cách nhất quán về mặt logic.
- Chỉ mang tính khả hữu và xác suất, không
thể đạt đến chắc chắn tuyệt đối.
Ví dụ:
- “Lửa làm nóng kim loại”
- “Mặt trời sẽ mọc vào ngày mai”
- “Napoléon đã từng tồn tại”
Theo Hume, niềm tin
vào loại mệnh đề này không đến từ suy luận tất yếu, mà từ thói quen (habit) và
tập quán (custom) hình thành qua kinh nghiệm lặp lại.
Vì sao gọi là
“hai ngạnh của chiếc nĩa”?
Hình ảnh “chiếc
nĩa hai ngạnh” nhấn mạnh ba điểm cốt lõi trong lập luận của Hume:
- Tính phân đôi tuyệt đối: mọi mệnh đề
có ý nghĩa phải thuộc một trong hai loại trên.
- Không tồn tại vùng trung gian: không
có loại thứ ba nằm giữa lý tính thuần túy và kinh nghiệm (quan niệm này
sau này trở thành điểm tranh luận với Immanuel Kant).
- Tính loại trừ lẫn nhau: một mệnh đề
hoặc là chân lý tất yếu của tư duy, hoặc là sự kiện phụ thuộc kinh nghiệm
— không thể đồng thời là cả hai theo cùng một nghĩa.
Ý nghĩa triết học
Hume’s Fork trở thành một công cụ phân loại và đồng
thời là tiêu chuẩn phê phán triết học: bất kỳ mệnh đề nào không thuộc một trong
hai loại trên đều bị xem là không có nội dung nhận thức rõ ràng.
Chính vì vậy, nó
được xem là một trong những cơ sở quan trọng dẫn đến những
phê phán của Hume đối với
siêu hình học truyền thống, đồng thời đặt nền cho những tranh luận hiện đại về
giới hạn của lý trí, kinh nghiệm và tính hợp lệ của tri thức
[2] không hiện diện trực tiếp trước giác quan hoặc ký
ức
[3] cấu trúc tâm sinh lý của con người.
[4] Thí dụ về hai quả bóng bi-a là luận điểm nổi tiếng và quan trọng nhất
trong triết học của David Hume, nhằm lật đổ tin tưởng rằng con người có thể
thấu hiểu bản chất thế giới chỉ bằng lý trí thuần túy (a priori), nhưng không
cần dựa vào kinh nghiệm.
● Sự tách biệt tuyệt đối giữa nguyên nhân và hậu quả: Khi quả bóng thứ nhất va chạm vào quả bóng thứ hai (đang đứng yên) và
khiến nó chuyển động, chúng ta chỉ quan sát được hai sự kiện riêng biệt xảy ra
liên tiếp: va chạm rồi chuyển động. Giác quan không hề phát hiện ra bất kỳ “sức
mạnh nội tại”, “liên kết tất yếu” (necessary connection) hay “nguyên nhân sâu
xa” nào gắn chặt hai sự kiện lại với nhau. Hậu quả luôn là một sự kiện hoàn
toàn khác biệt, không nằm sẵn trong bản thân nguyên nhân – dù ta xem xét kỹ
lưỡng đến đâu.
● Sự bất lực của lý trí tiên nghiệm: Ngay cả một
trí tuệ hoàn hảo như Adam (người đầu tiên trong Kinh Thánh, được giả sử có lý
trí toàn diện từ ban đầu) cũng không thể suy luận ra rằng quả bóng thứ hai sẽ
chuyển động chỉ từ việc quan sát hình dạng, độ cứng hay những phẩm chất đơn
giản của quả bóng. Lý trí thuần túy không tìm thấy bất kỳ manh mối logic nào
trong nguyên nhân để dự đoán hậu quả – vì hậu quả không phải là hệ quả tất yếu
từ ý niệm về nguyên nhân.
● Cơ chế của thói quen (custom/habit): Tin tưởng
rằng “va chạm sẽ dẫn đến chuyển động” không xuất phát từ logic hay lý trí, mà
chỉ từ sự đi kèm liên tục (constant conjunction) trong kinh nghiệm quá
khứ. Vì đã chứng kiến vô số lần hai sự kiện này xảy ra cùng nhau (luôn luôn,
theo thứ tự thời gian và tiếp cận không gian), tâm lýhình thành thói quen tự
động mong đợi và dự đoán hậu quả tương tự trong tương lai. Đây chính là nền
tảng của mọi suy luận về Sự Kiện Thực Tế (matters of fact).
● Màn sương che phủ của thói quen: Thói quen
mạnh mẽ đến mức nó không chỉ che đậy sự ngu muội tự nhiên của chúng ta (về việc
không có cơ sở lý tính cho nhân quả), mà còn che giấu chính bản thân nó. Chúng
ta lầm tưởng mình “biết chắc chắn” bằng lý trí, trong khi thực chất chỉ là “tin
tưởng” dựa trên bản năng và kinh nghiệm về sự lập đi lập lại – đến nỗi ta không
nhận ra sự phụ thuộc hoàn toàn vào thói quen.
Kết luận: Qua thí
dụ kinh điển về quả bóng bi-a, Hume xác lập một luận điểm chấn động triết học
và khoa học: Tương quan nhân quả không phải là quy luật khách quan, tất yếu
của tự nhiên mà lý trí có thể nhận hiểu trực tiếp. Nó chỉ là một thói
quen tâm lý hình thành từ kinh nghiệm quá khứ, không có cơ sở logic vững
chắc. Đây chính là hạt nhân của “vấn đề quy nạp” (problem of induction):
Chúng ta không có lý do hợp lý để tin rằng tương lai sẽ giống quá khứ, dù kinh
nghiệm cho thấy điều đó luôn xảy ra. Luận điểm này buộc triết học phải khiêm
tốn trước những giới hạn của trí thức con người, đồng thời mở đường cho những
nhà tư tưởng sau, như Kant (với tổng hợp tiên nghiệm) và triết học khoa
học hiện đại.
[5] every effect is a distinct event from its cause = mỗi
tác dụng là một sự kiện riêng biệt với căn nguyên/lý do của nó > Hume
cho thấy minh ở trên không thực có Nhân và Quả , nên không thể hiểu/dịch
là mỗi kết quả là một sự kiện riêng biệt với nguyên nhân của nó.
[6] mixed mathematics: toán học hỗn hợp / toán học ứng
dụng / toán học pha trộn (thuật ngữ cổ chỉ toán học kết hợp với vật lý tự
nhiên, như cơ học, quang học)
[7] demonstrative reasoning = Suy luận minh chứng:
Liên quan đến nhữngtương quan giữa những ý niệm. ; moral reasoning = suy luận
từ kinh nghiệm / suy luận duy nghiệm / suy luận thực nghiệm: dựa trên kinh
nghiệm, về sự kiện thực tế (matters of fact), không chắc chắn tuyệt đối.
[8] tautology
[9] Petitio principii : Begging the question (ngụy biện cầu
xin điều cần chứng minh, thường gọi là lập luận vòng tròn) là một kiểu lập
luận trong đó kết luận đã được giả định sẵn ngay trong một tiền đề. Nói cách
khác, người lập luận âm thầm coi điều cần chứng minh là đã đúng, rồi dùng chính
giả định đó để “chứng minh” nó.
Vì giả định trung tâm không được nâng đỡ bởi
bất kỳ bằng chứng hay lý do độc lập nào, nên lập luận này không thực sự mang
lại tri thức mới. Nó chỉ tạo ra ấn tượng của suy luận hợp lý, trong khi nội
dung chỉ lặp lại chính điều cần được chứng minh, dưới một cách diễn đạt khác.
Ví dụ The belief in God is universal. After
all, everyone believes in God. → Niềm tin vào Gót là phổ quát, bởi vì ai cũng
tin vào Gót. Phân tích: Kết luận: Niềm tin vào Gót là phổ quát. Tiền đề: Ai
cũng tin vào Gót. Kết luận “đúng” chỉ vì tiền đề đã nói cùng một điều, chỉ bằng
cách diễn đạt khác. Không có thông tin mới, không có chứng cứ độc lập. Vì sao
đây là ngụy biện? Lập luận không mở rộng tri thức Không chứng minh gì cả, chỉ
lặp lại điều cần chứng minh Mang hình thức suy luận, nhưng nội dung là vòng tròn
khép kín
Như vậy, Begging the question là một
sai lầm logic, trong đó lập luận giả định sẵn điều cần chứng minh: kết luận đã
bị “cài” vào tiền đề, nên lý trí chỉ xoay vòng trong chính những giả định của
nó mà không dựa trên chứng cứ độc lập. Cách Hume phê phán siêu hình học, tuy
không được trình bày như một ngụy biện hình thức, nhưng về bản chất mang cùng
một chẩn đoán. Theo Hume, nhiều lập luận siêu hình—về bản thể, nguyên nhân tất
yếu, linh hồn bất tử, hay Gót—ngầm giả định ngay từ đầu chính những nguyên lý
mà chúng tuyên bố chứng minh. Lý trí được yêu cầu phải suy ra điều gì đó vượt
khỏi kinh nghiệm, nhưng lại không có ấn tượng (impression) tương ứng để làm nền
tảng. Trong cả hai trường hợp, vấn đề không nằm ở hình thức suy luận, mà ở tính
chính đáng của điểm xuất phát. Với begging the question, tiền đề không được
biện minh; với siêu hình học theo Hume, ý niệm nền tảng không có nguồn gốc kinh
nghiệm. Do đó, lý trí chỉ “vận hành trên không”, tạo ra vẻ ngoài của chứng minh
trong khi thực chất chỉ tái diễn những giả định ban đầu. Vì vậy, phê phán của
Hume có thể được hiểu như một phiên bản triệt để và sâu hơn của việc bác bỏ
begging the question: không chỉ chỉ ra vòng tròn trong lập luận, mà còn cắt bỏ
tận gốc những khái niệm khiến vòng tròn ấy có thể hình thành.
