Saturday, August 25, 2018

Gombrich – Nguồn gốc và Ý nghĩa của những Ý tưởng của đức Phật (12)



Nguồn gốc và Ý nghĩa của những Ý tưởng của đức Phật
(What the Buddha Thought)
Richard Gombrich












Chương 11
Lập trường Thực dụng và Phong thái Trí thức của đức Phật

Đức Phật đã là một người Thực dụng – đến Mức độ nào và trong Chiều hướng nào?

Lập đi lập lại nhiều lần, đức Phật đã nhấn mạnh rằng mục đích của ngài như một người thày dạy học là hoàn toàn thực tiễn [1]. Những người theo ngài đã đi đến hiểu ngài như vị thày thuốc vĩ đại; Dhamma đã là thuốc chữa bệnh ngài đã kê toa, Sańgha là những y tá, họ có sứ mệnh quản lý toa thuốc đó. Mặc dù không có chứng cớ kinh điển cho diễn giải này, những học giả ngày nay đã lập luận vững chắc rằng sự hình thành của Bốn Chân lý Cao quí đã đi theo đặc ngữ diễn đạt y học của thời đại: trước tiên chẩn đoán căn bệnh, tiếp đến thiết lập nguồn gốc hay nguyên nhân của nó, sau đó đưa ra một phương thuốc trị bệnh tương ứng nói rõ sẽ gồm những gì, và cuối cùng quy định cách điều trị để khỏi bệnh. Đức Phật đã tự nói về mình như người y sĩ giải phẫu, người mổ vết thương lấy bỏ mũi tên tham ái [2]

Như thế giảng dạy của ngài là một toa thuốc cho hành động. Trong truyền thống brahmin, từ dharma chỉ định những gì đồng thời vừa là trường hợp xảy ra vừa là phải/nên là trường hợp xảy ra; cách dùng giống như của từ ‘điều tự nhiên’ và ‘tính tự nhiên’ trong tiếng Việt [3], khi chúng ta nói, thí dụ, rằng khi cha mẹ yêu thương con cái là (tính) tự nhiên, nhưng khi họ hành hạ chúng thì (là điều) phản tự nhiên. Tiếng Pali dhamma có một sức mạnh qui định tương tự. Thật vậy, trong một bối cảnh tu viện, nó có thể chỉ đơn giản có nghĩa là ‘luật lệ’. Tuy nhiên, khi từ ngữ này dẫn chỉ về giảng dạy nói chung của ngài, Dhamma (Pháp) của đức Phật mô tả cả hai: cách thức/đường lối mọi sự vật việc là, đồng thời mô tả rằng chúng ta nhìn nó theo cách thức đó và hành động tưng ứng với đường lối đó. [4]

Đức Phật là một người có lập trường thực dụng khi chúng ta dùng thuật ngữ này theo lối diễn đạt của thành ngữ, nhưng không theo nghĩa chuyên môn của triết học thời nay. Điều này có nghĩa rằng, như Paul Williams đã viết, 

Không có gợi ý rằng [giảng dạy] thì chỉ ‘một cách thực tiễn là đúng’, tức là [rằng] nó thì chỉ là một câu hỏi về nó là có ích trong bối cảnh của con đường tinh thần .... Những giảng dạy của đức Phật được truyền thống đạo Phật đã chủ trương để làm vì chúng là đúng thực tại (không phải đúng vì làm chúng được). 
Thêm nữa:
Những ‘nên’ (lợi ích thực dụng) không bao giờ cắt ra xa với ‘là’ (sự thật thực tại nhận thức). Nếu không, nó sẽ dẫn đến rằng đức Phật có lẽ là có khả năng làm phúc lợi cho con người (và thế nên mang họ đến giác ngộ) ngay cả với không nhìn những sự vật việc hoàn toàn trong cách chúng thực sự là. Và đó thì không là đạo Phật. [5]

Đức Phật đã nói rằng cũng giống như biển lớn chỉ có một vị, đó là của muối, giảng dạy của ngài chỉ có một vị, đó là của giải thoát.[6] Trong khi sự so sánh đập mạnh vào chúng ta như nói một gì tự nhiên, đức Phật và những người nghe của ngài sống rất xa biển lớn. Có thể là ngài đã được lấy cảm hứng từ Chāndogya Upaniṣad, ở đoạn 6.10 so sánh cách mà những con sông nhập vào đại dương với cách mà tất cả sinh vật kết nhập thành hữu thể, vốn đồng thời là sự thật và tự ngã, và sau đó ở đoạn 6.13 so sánh khi một cục muối đã bị hòa tan trong nước như thế nào, nước thấm vào trong vị của nó với sự thật, tự ngã, thâm nhập thế giới thế nào. [7]

Thế nên tôi tin rằng đức Phật tất sẽ hoàn toàn chấp thuận những gì Paul Williams đã viết: 

Mỗi khi bạn tình cờ gặp một gì đó mới lạ, hoặc ngay cả khác thường, trong nghiên cứu về đạo Phật, hãy hỏi chính bạn ... ‘Làm thế nào một người đạo Phật có thể chủ trương hay thực hành điều đó cân nhắc rằng làm như thế dẫn đến sự giảm thiểu hoặc tẩy xóa những trạng thái tinh thần tiêu cực, và làm tăng lên hay hoàn thành những trạng thái tinh thần tích cực? [8]

Điều này giải thích tại sao, khi chúng ta nhìn vào khối bản văn trong kinh tạng Pali, trong đó nội dung có thể hợp lý gán về được chính đức Phật – tôi chủ yếu đề cập đến những phần của Vinaya Pitaka và phần lớn của bốn bộ Nikāya của Sutta Pitaka – chúng ta thấy rằng Vinaya là về những nhà sư nam và nữ phải sống như thế nào và Sutta Pitaka về cách mọi người có thể và nên đi tới về hướng nirvāṇa.  Phần kể sau được thể hiện trong những thuật ngữ về đạo đức và thiền định.  Rất ít được nói về những ý tưởng chống đỡ tất cả khuyên dạy này; và điều này dĩ nhiên là lý do nội dung của quyển sách này thì rất khác với bàn luận về giảng dạy của đức Phật thường được tìm thấy trong hầu hết những sách giới thiệu đạo Phật. Những gì đức Phật suy nghĩ, trong chiều hướng về những ý tưởng ngầm dưới, thì phần lớn phải được tách gỡ ra từ tài liệu. Được kể trong kinh điển [9] ngài nói rằng những gì ngài đã giải thích so sánh với những gì ngài chưa giải thích thì giống như một nắm lá trên tay so với toàn thể lá rừng. Ngài đã giải thích chỉ Bốn Chân lý Cao quí, nhưng có thể đã giải thích thêm rất nhiều nữa! [10]

Có phải đức Phật Toàn trí?

Trong Tevijja-Vacchagotta Sutta, khi hỏi đức Phật không biết có phải ngài cả thức lẫn ngủ, lúc nào ngài cũng luôn luôn có kiến ​​thức hoàn toàn và thị lực tuyệt đối. Đức Phật nói không: những gì ngài có là ba tầng tri thức. Tri thức ba tầng này, như chúng ta biết từ nhiều bản văn, là sự nhớ lại về những lần ra đời trước đây của ngài, là khả năng nhìn thấy tất cả chúng sinh được tái sinh theo như nghiệp của họ, và là sự hủy diệt của ngài sạch những ‘nhơ bẩn tinh thần’ (āsava), vốn có nghĩa là ngài đã được giải thoát [11]. Mặc dù chúng ta có thể đọc điều này như là một phủ nhận sự toàn trí – đó là những gì chúng ta ngày nay mong đợi từ một trí tuệ vĩ đại – đó không phải là giải thích được chấp nhận bởi bất kỳ truyền thống đạo Phật nào mà tôi được biết. ‘Theo truyền thống diễn giải kinh sách của Theravada, đức Phật thì toàn tri theo nghĩa là tất cả mọi sự vật việc có thể hiểu được thì đều có khả năng có thể tiếp cận được với ngài. Tuy nhiên, ngài không đồng thời biết tất cả mọi sự vật việc và phải gọi đến sự chú ý về bất cứ gì ngài muốn biết !’ [12]

Với tôi, về điểm này kinh tạng Pali có vẻ như đã cho phép người ta đi đến những kết luận khác nhau. Phần cuối của chương này sẽ cho thấy rằng trong nội dung của Vinaya, đức Phật thì rõ ràng không được biểu hiện như toàn trí, và tuyên bố rằng ngài đã chỉ giả vờ không biết mọi sự vật việc trước cầu xin đặc biệt mà chúng ta không thể thấy được là hợp lý, như đã nhắc đến ở cuối chương 7. Ở những quan điểm cực đoan khác, lấy thí dụ, Maha Sihanada Sutta. [13] Vào đầu bản kinh này đức Phật nghe được rằng ai đó đang lan truyền lời nói rằng ngài dạy một học thuyết về sự tuyệt diệt đau khổ, và quả thực đã làm được điều đó, và rằng ngài đã hoàn thành học thuyết đó bằng khả năng của lý trí của riêng ngài và đã không có cái nhìn ‘cao diệu’ nào vượt trên định mức con người. Thoạt nhìn đầu tiên, có vẻ như với chúng ta đức Phật sẽ là khá hài lòng để được mô tả trong những lời này. Nhưng quay ra là đức Phật phản đối mạnh mẽ với gán buộc rằng ngài đã không có cái nhìn cao diệu vượt trên định mức con người, và tiến hành liệt kê một chuỗi dài những khả năng phi thường của ngài, làm cho người ta nghĩ nhiều đến lý luận rất lâu về sau này thấy trong Nghiên cứu Phật tính. [14]

Tôi hy vọng để viết về điều này ở nơi khác và để cho thấy rằng bản kinh này không thể phản ảnh những lời của chính đức Phật, nhưng phải phản ánh sự bất đồng giữa những học trò của ngài về liệu ngài có thể được xem như một con người thực hay không. Ngài đã tuyên bố, chúng ta đã thấy, rằng ngài có thể nhớ tất cả những kiếp sống trước đây của ngài và thấy được sự tái sinh của tất cả những sinh vật khác. Nhưng những khả năng này là một phần vốn có của sự chứng ngộ; nói khác đi, của tất cả những người đã giác ngộ, tất cả những arahant, họ cũng đã có chúng nữa. Theo quan điểm của đạo Phật, câu hỏi thú vị đáng chú ý là do đó không biết và đến mức độ nào đức Phật đã tự xem mình cao hơn những người giác ngộ khác như thế nào – sau khi nhận rằng có khác biệt khi ngài đã phải tìm đường cho chính mình, nhưng những học trò của ngài đã có dễ dàng hơn vì chỉ phải đi theo hướng dẫn của ngài. 

Nói tóm lại: những người theo đức Phật nhìn ngài như vị có toàn trí, và chúng ta thì không: nhưng chính ngài đã nghĩ gì? Tôi có ý kiến rằng một lần nữa tốt nhất là hãy nhìn vào câu hỏi một cách thực tiễn. Cũng đúng như chúng ta có thể không biết ngài thực sự có tin vào những đối tượng vẫn gọi là thần thánh và quỉ thần khác hay không, chúng ta cũng không thể biết liệu ngài đã nghĩ mình có thể biết bất cứ điều gì nếu ngài muốn hay không; nhưng ngài tất đã thấy đó một câu hỏi ngớ ngẩn, vì tất cả những gì đã khiến ngài bận tâm là liệu ngài đã biết hay không những gì liên hệ đến nirvāṇa. 

Tôi đã thảo luận thái độ của đức Phật đối với triết học, nghĩa là, với sự lý thuyết hoá, ở đầu Chương 2 của Đạo Phật đã Bắt đầu Thế nào, và như thế sẽ không lập lại những gì ở đó. Nhưng về một vấn đề quan trọng tôi đã đổi ý kiến ​​của mình. Tôi đã mở đầu bàn luận của tôi viết rằng: “Một điều mà tôi cảm thấy khá không chắc chắn là bản thân đức Phật đã có quan tâm thế nào trong việc trình bày một học thuyết mang tính triết học chặt chẽ ... Có phải chúng ta trình bày ngài sai lầm nếu chúng ta gán cho ngài một lâu đài gồm những luận chứng gây thán phục sững sờ?’Sau một vài nghiên cứu và suy nghĩ nhiều hơn (và tôi ước ao biết chừng nào là ngay cả có thể đã có nhiều hơn!) Tôi thôi không cảm thấy không chắc chắn nữa. Một mặt, tôi không nghĩ rằng đức Phật có quan tâm về việc trình bày học thuyết một cách triết lý chặt chẽ : bằng chứng cho thấy quan tâm của ngài là thực dụng, cốt để hướng dẫn hành động của những người nghe ngài là tràn ngập áp đảo. Mặt khác, tôi có cũng đã kết luận rằng bằng chứng cho thấy ngài đã khai triển một cấu trúc của tư tưởng như vậy và rằng nó củng cố lời khuyên thực tiễn của ngài thì không kém phần thuyết phục.







Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Mar/2018)
(Còn tiếp...   )

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com




[1] Pragmatism: chủ nghĩa thực dụng, ở đây tôi dè dặt, và không nghĩ đức Phật đã theo bất kỳ ‘chủ nghĩa/học thuyết (ism)’ nào cả, hiểu chúng đều là những dựng lập về sau và trong bàn luận tư tưởng phương Tây. Nhưng chúng ta có thể coi ngài là một người có lập trường thực dụng: hiểu như đã không nêu/đưa những vấn đề cốt chỉ để bàn luận đúng sai, hay xây dựng những giải pháp lý thuyết nhưng chủ yếu trình bày những vấn đề của thực tại, để đi đến giải quyết thực hành, hay ít nhất hướng đến thể hiện, ứng dụng giải pháp lý thuyết tương ứng của nó vào thực tại.
Thực tiễn, tôi dùng ở đây hiểu theo nghĩa một gì đó mang tính chất thực hành hơn là tính chất học thuật, và theo tôi hiểu, như tác giả, là những giảng dạy của đức Phật.
[2] [MN 11,260. Từ ngữ chỉ ‘tham ái’ ở đây là tanhā, nghĩa đen là ‘khát nước’, như thế chúng ta đối mặt với một ẩn dụ đã cứng chặt. Có vẻ rằng tanhā đã trở nên được chấp nhận như một thuật ngữ chuyên môn (Phật học) và tính chất ẩn dụ đã bị mất, không còn được hiểu với ý nghĩa ban đầu nữa.]
[3] Tác giả dùng ‘nature’ và ‘natural’
[4] [Điều này nhắc lại côn thức của Clifford Geertz, rằng tôn giáo đem đến cả hai: một mẫu thức và đồng thời một mãu thức cho gì đó: (Xem Clifford Geertz, ‘Religion as a cultural system', in The Interpretion of Cultures, 1976, p. 123). Tôi đã ứng dụng điều này trong dharma của đạo Brahma trong ‘Is Dharma a good thing?’ (1997).]
[5] [Paul Williams, Buddhist Thought (2000), p. 40. Tôi đề nghị rất nên đọc hết phần 'The Buddha's attitude to his teaching: the arrow and the raft', pp. 34-40.]
[6] [AN IV, 203.]
[7]
“…giống như những con sông đi vào đại dương. những con sông trở thành đại dương và chúng không biết chúng ở đâu, thế nhưng chúng ở trong đó. Chúng ta không thể nói rằng những con sông vắng mặt trong đại dương. Chúng đang ở đó. Vì vậy, nó không phải là một phủ định của Cá thể, nhưng là một siêu vượt của Cá thể. Nó không phải là những con sông bị phá hủy ở đó, nhưng chúng được hấp thu vào một Hữu thể lớn hơn, vào trong một thực tại lớn hơn của chính chúng, vốn đó là Tự ngã của chúng. Chúng ta có thể nói theo nghĩa nào đó, đại dương là tự ngã của những con sông, hướng về đó chúng đi tới và được thu nạp, vốn cuối cùng chúng trở thành.
… ‘Mang theo một ít muối và cho vào một cốc nước,’ Uddalaka nói. Cậu bé mang một cốc nước và cho một ít muối vào. “Sáng mai đến gặp ta,” người cha nói. Sa ha tatha chakara — cậu bé làm như thế. Sáng hôm sau cậu bé đến và chào cha và người cha nói, ‘Hôm qua con bỏ muối vào trong nước; đem muối đó lai đây’ Cậu bé đến đó và thấy trong cốc không có muối. Điều gì đã xảy ra với muối? Nó đã trở thành một với nước….”. (Chāndogya Upaniṣad)
[8] [Williams, op. cit., p. 245 (n. 1 to Chapter 1).]
[9] [SN V, 437-8.]
[10] (Tương Ưng Bộ - Phẩm Rừng Simsapà - Thích Minh Châu)
…Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỷ-kheo: -- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?
-- Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà. -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra! … Nhưng tại sao, này các Tỷ-kheo, Ta lại không nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy.
…Và này các Tỷ-kheo, điều gì mà Ta nói? “Ðây là Khổ”, này các Tỷ-kheo, là điều Ta nói. “Ðây là Khổ tập”, là điều Ta nói. “Ðây là Khổ diệt”, là điều Ta nói. “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, là điều Ta nói….
[11] [MN I, 482.]
“Này Vaccha, những ai nói như sau: 'Sa-môn Gotama là bậc nhứt thiết trí, là bậc nhứt thiết kiến. Ngài tự cho là có tri kiến hoàn toàn: “Khi Ta đi, khi Ta đứng, khi Ta ngủ và khi Ta thức, tri kiến luôn luôn tồn tại, liên tục”'. Thì đấy là họ nói về Ta không đúng với điều đã được nói, ...
Ông phải giải thích: “Sa-môn Gotama là bậc có ba minh (tevijja)…
…  khi nào Ta muốn, Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, ... Như vậy Ta sẽ nhớ đến những đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
..  nếu Ta muốn, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh, Ta tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
 ... Này Vaccha, với sự đoạn diệt các lậu hoặc, Ta ngay trong hiện tại, tự mình với thượng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. (Kinh Dạy Vacchagotta về Tam Minh Thích Minh Châu)
[12] [Bhikkhu Namoli & Bhikkhu Bodhi, The Middle Length Discourses of the Buddha (2001), p. 1276, n. 714.]
[13] [MN, sutta 12.]
‘… Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, …  nói lời nói như sau …: “Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, và thuyết cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau” ….
…-- Này Sariputta, Sunakkhatta phẫn nộ và ngu si, do phẫn nộ nên nói lên lời ấy. Này Sariputta, Ông ta nghĩ: “Ta sẽ nói xấu”. Thế mà kẻ ngu Sunakkhatta lại nói lời tán thán Như Lai. Này Sariputta, ai nói như sau là tán thán Như Lai: “Pháp ấy được thuyết giảng cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”.
.. Này Sariputta, Như Lai có đầy đủ mười Như Lai lực, chính nhờ thành tựu mười lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân. Thế nào là mười?
… Ở đây, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri xứ là xứ, phi xứ là phi xứ … đoạn trừ các lậu hoặc tự mình chứng tri, chứng ngộ, thành tựu và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. ….
… Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri Niết-bàn, con đường đưa đến Niết-bàn và hành lộ đưa đến Niết-bàn. Tùy theo hành nghiệp, do đoạn trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, sự việc này, ….
…Này Sariputta, những ai nói một cách chân chánh ….  sẽ nói về Ta một cách chân chánh như sau: “Một vị hữu tình không bị Si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người”. (Đại Kinh Sư Tử Hống - Thích Minh Châu)
(trong bản dịch của Thanissaro Bhikkhu – từ ‘con thú đầu đàn’ đứng thay cho ‘Ngưu vương’ của TMChau (‘Sariputta, the Tathagata has these ten Tathagata's powers, possessing which he claims the herd-leader's place, roars his lion's roar in the assemblies’)
[14] Buddhology