Saturday, March 14, 2009

Và có nắng, gió xuân như sáng nay




Và có nắng, gió xuân như sáng nay









Nghe Tụng Tâm Kinh

Đây là những cảm nhận, lần đầu được nghe Tâm Kinh tụng thật nhanh, trầm hùng cùng tiếng chuông mõ, như đuổi người lao nhanh đến bờ.
Nghe nhưng chưa hiểu gì cả.


1.
Lời chấn động...
Kinh [1] khởi như sấm động, ào ào ý vạn pháp giai không cuộn dậy, để dẫn đến câu thần chú qua bờ bên kia. Như núi lở, triều dâng, mọi lời tan như bọt sóng, vỡ như đá vụn, rồi tắt tuyệt trong chốn của:

không sanh, không diệt, không lão tử, không hết lão tử
Từ vô thủy đến vô chung, chưa có gì sanh ra, không có gì mất đi, Từ trên đỉnh vô cùng của thời gian, ở lúc không gian và thời gian và vật chất còn là một, lúc thời gian chưa cất cánh, lúc không gian chưa thành, lúc vạn vật chưa chuyển hoá,...

không vô minh, không hết vô minh
Mọi vật đều do tương sinh mà có, nên vượt lên cao, không còn cây, chỉ thấy rừng, cao nữa, rừng cũng không còn, chỉ là màu xanh, cao nữa, xanh cũng mất, cái nhìn cũng mất, ai nhìn? có ai đâu!
cái Không trùm lấp, và cũng không có Không, đó chỉ là lời, là ý, là không, là Không, rồi không-Không,...vì không phân biệt,  cũng vì:

không có tự tánh, mọi pháp đều không
Không có cái tự nó, nói chi đến cái Nó
như tiếng hét của sư tử, chấn động
Mọi pháp do duyên mà sinh khởi, vì có cái này nên có cái kia.

Một bàn tay vỗ, tiếng thế nào?
Không ai bên cây lúc đổ trong rừng, tiếng ra sao?
Như giữa bóng đêm thấy ánh sáng, rồi ánh áng cũng không là ánh sáng, cái thấy đột mất, người thấy cũng mất, ngay sự Mất cũng mất.
Lùi, lùi dần, đất chỗ đang đứng xụp, lở, ầm ầm vang dội, rồi rơi vào tuyệt đối im lặng, vào chốn Không.

như màu xanh kia chăng?
vào cõi của Không

cõi người ta? chốn đi về trăm năm của thiên cổ?
Hãi hùng,
Thoát

qua bờ bên kia – đáo bỉ ngạn


2.
Câu hỏi của tục luỵ...
Dưới bóng núi Nam hoa, Trang tử viết Tề Vật Luận, lấy mắt tương đối để nhìn đời sống: Chim bằng sáng ở núi Nam, chiều đã vượt nghìn dặm qua biển Bắc; cũng như chim chiền chiện bay từ đầu tường này qua mái nhà kia, quanh mảnh sân hẹp, niềm vui bằng nhau, nỗi tự phụ như nhau. Thế nên trong Tiêu Dao Du, Trang Tử ôm lấy đời, dù có nghi ngờ về bản thể cuả cuộc nhân sinh, như sau giấc mộng, không biết bướm là mình hay mình đã mơ là bướm. Nhưng ở giữa giấc mộng, bướm vui phận bướm, trở lại đời, Trang lại vui phận tục luỵ người. Và ông dừng ở đấy, những người Tàu sau ông, cũng không đi xa hơn nữa.

Từ Xian, Loyang đến Beijing, Nanking, từ Hoàng hà cát đục xuống Dương Tử liễu xanh. Từ Tần đến Mao, Người Trung Hoa ôm lấy mặt đất, lấy sự sống làm vui. Thoả mãn trong cõi nhân gian tương đối. Cái nghi ngờ về bản thể của hiện tượng chỉ nhắc thoáng đến có một lần đó. Và chưa bao giờ là một câu hỏi rõ ràng. Cũng thấy màu xanh, nhưng của ruộng lúa, vườn dâu, màu của cơm áo, không phải màu xanh của trời cao và biển xa. Màu của những câu hỏi vượt lên trên kiếp người.

Phải vượt Himalayas, xuống delta sông Ganges, trong một dân tộc khác, không gian văn hoá khác, và thời gian khác; Và phải đợi đến bồ tát Nāgārjuna (Long Thọ) thuyết “Vạn pháp không có tự tánh”. Sự chứng nghiệm về tánh Không của người khất sĩ chân đất dòng Sakya mới triển khai. Từ đó, nửa phần nhân loại sống bên những dòng sông có nước phát nguồn từ các đỉnh Tibet được san sẻ chân lý cao nhất của trí huệ con người về sự sống.


3.
Cách hỏi khác...
Con người ở phương đông quay về mình, điều chỉnh mình cho hợp với tạo vật và thế giới bên ngoài. Trái lại với con người ở phương tây, quay ra bên ngoài, thay đổi ngoại giới, làm cho thế giới bên ngoài hợp với mình, phục vụ mình. Hạnh phúc đi tìm nằm trong sự tương hợp của đôi bên, giữa trong và ngoài, giữa Ta và không-Ta, nhưng đến từ những chiều khác biệt.

Khi không có sự phân biệt chủ thể và đối tượng nhận thức, cái biết nào cũng là của một người, trong một thời. Chân lý bao giờ cũng mở đầu bằng “Như thị ngã văn – Tôi có nghe rằng,..” Không hề có “tuyệt đối đúng, duy nhất đúng, cái đúng bao trùm tất cả từ alpha đến omega.” Do đó không dẫn đến quá khích, giáo điều bạo động, ý thức hệ đổ máu, sai lầm cuồng tín diệt chủng, ... Cái đúng bao giờ cũng là thuộc, cho, tìm thấy, chứng nghiệm,  ... với một người. Có thể chia sẻ với số đông, rất đông, trong rất lâu, nhưng vẫn chỉ là một pháp trong vạn pháp giai không, vốn vô thường. Chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng của một người.

Nhìn đoá hoa cúc nở rộ ngoài bờ dậu, có bao nhiêu ngưòi nhìn là có bấy nhiêu hoa, mỗi lúc nhìn hoa một khác. Đoá hoa anh nói tới chỉ có trong anh. Có thể cắt xén, cô đọng lại trong để tìm “essence” tưởng có thể có Hoa tự thân, nhưng đó không phải là hoa nữa, đoá hoa tôi-nhìn, lúc-đó ngoài hàng dậu.

Dù loài người, theo phương Tây, đang đi lên, không phải chỉ đi ngang, cái Đúng bao giờ cũng là đúng của/với/ở,.., ít nhất, là hàm số theo thời gian. Ngày mai, năm sau, thời khác, về sau này, sẽ có cái đúng khác, hay đúng hơn, sao quyết định số phận một người, nhóm người, dân tộc, nhân loại, sao gây những quyết định tác động đến muôn người, muôn sau,... trên cái đúng của ngày nay?

Chân lý tuyệt đối, nếu có, chỉ có thể ở cuối đường thời gian, lúc tận cùng của lịch sử.
Chân lý nơi mỗi người, chỉ có thể có, khi con người thực hiện mình toàn vẹn.

Hiểu biết là hiểu-biết-của, hiểu-biết-về, ở-tại, trong-lúc...
Nếu cái biết là b, thời gian là t, như thế có thể tạm viết  b = f(t)


4.
Nên lời đáp cũng lạ thường...
Tư tuởng Phật có một sự quay về, trở lại và khởi đi từ chỗ bắt đầu của mọi suy tưởng nhân sinh: Tự Ngã [2], và tự thân là ngũ uẩn thực nghiệm, là giả hợp, Cái sở-vọng tưởng-tuyệt-đối: Chứng nghiệm về con người, phá bỏ mọi giới hạn về kiếp sống: Không còn không gian nữa, theo dõi sự sống và những thể dạng của nó muôn kiếp trong vạn cõi Ta Bà thế giới, xóa những phân đoạn, các khoang thời gian không còn nữa, khát vọng sống chảy trong liên tục thời gian. Chạy vòng trong cõi luân hồi. Cuối cùng chính chủ thể suy nghiệm cũng không còn nữa. Những attributesproperties của đối tượng cũng là của chủ thể, chìm trong micro univers, những suy tưởng thực nghiệm. Lúc đó nhìn mình nhưng không còn thấy mình, thấy tất cả, thấy xuyên xuốt không bến bờ của không-thời, thấy thuở chưa thành, chưa có – bản lai diện mục.

Đừng quên sự sống và cái chết cùng trên một tiến trình, không phải là những tai nạn riêng lẻ, đột biến.

Cái tưởng-là-Ta nào đâu phải là-Ta. Đừng nhìn trong khoảng trăm năm, từ sống đến chết, hãy nhìn từ vô cùng đến vô tận. Đừng nhìn phân biệt trong ngoài, Ta và không-Ta, Mình và kẻ-khác, Tâm và Vật, Hãy nhìn từ sâu thẳm nơi mọi đối tượng chưa khởi dựng. Ở chỗ gần ban đầu đó, mọi ranh giới nhoà nhạt. Tất cả rồi tựa vào nhau mà thành, trong chuỗi luân hồi và vòng sinh tử bất tận.

Dưới gốc cây, bên dòng sông, và nhìn xuống, mắt nhắm một nửa.
Vì chứng nghiệm nên những lý giải về những cái trong Ta (micro – tiểu vũ trụ) hợp với những lý giải về thế giới ngoài Ta (macro)

Nhưng Phật học không đi tìm chân lý tuyệt đối (như Hylạp) cho nhận thức và vũ trụ hình thể, thế giới hiện tượng. Sự hiểu biết không là cứu cánh, nhưng là phương tiện. Giải thoát mới là cứu cánh. Tìm để hiểu, hiểu để giải thoát. Hạnh phúc không đong bằng sự chiếm hữu thế gian, nhưng bằng sự vượt bỏ thế gian. qua sông quên đò, Sự hiểu biết là chứng ngộ, đến từ tự nghiệm.


5.
Và đến từ lòng xót thương, từ khổ đế...
Từ Quán thế âm, không phải Văn thù Sư Lợi. Từ lòng xót thương vô hạn không phải trí huệ vô cùng. Tâm kinh trả lời cho câu hỏi thống thiết của tục luỵ trầm luân, đi tới giải thoát mọi khổ đau ách nạn. Những giọt nước cành dương đã thành kim cương trí huệ.

Không màng tới tri thức luận (biết là gì? biết tới đâu?)
Không bận tâm với nhận thức luận (biết gì? được gì?)

Là giải thoát luận: Nước đại dương chỉ có một vị – vị mặn. Đạo ta chỉ có một vị – Vị giải thoát.

Dùng hữu hạn đưa tới vô hạn
Từ ta-trong ba-chiều đưa tới Ta ngoài mọi chiều, rồi xóa nốt cái Ta trống rỗng, chiều-ảo mất.

Dùng lời đưa đến cửa của không lời.

Chỉ tựa trên ý lực của con người, phá vỡ hết tất cả chướng ngại, mộng tưởng, điên đảo để đạt tới vô cùng
Không hẳn là chân lý tuyệt đối, làm gì còn chân lý ở chốn ấy!
Chắc là giải thoát...

Và có nắng, gió xuân như sáng nay...


Thấy sông
Phải thấy đời là một giòng trôi chảy, không có gì vĩnh cửu, mọi sự vật chỉ là bóng nước, chuyển dịch. trong chu trình thành trụ hoại không.

Dựng đò
Dùng hiểu biết thực nghiệm dựng con đò trí huệ, vượt qua dòng sông hiện tượng, phá bỏ sự phân biệt Ta và Vật, chủ thể và đối tượng, nhận thức và đối tượng của nhận thức. Tất cả là một, thể tính của cõi ngoài và trong là như nhau, Ngoài là Không, Trong là Hư, Ngoài là Trong. Con sông và người ngồi bên bờ sông là một. Rồi không còn là một. Như ánh nắng xuân, trải dần trước mắt, phủ lên cảnh vật. Tới đâu, cây cỏ, sinh vật tự xoá đến đó, chỉ còn nắng. Chan hoà nắng xuân.

Qua bờ bên kia, bỏ lại dòng sông và con đò
Có cái gì ở bờ bên kia? Những người qua không trở lại.

(Hay họ ở đâu đó quanh ta, như những con cua, sau chuyến lạc lên bờ, không còn có thể nói chuyện về cây cỏ núi sông, với cá vốn còn trầm luân trong biển cả chỉ có sóng nước?)

Gate gate Paragate Parasamgate Bodhi Svaha!


Lê Dọn Bàn
(Xuân 2009)






[1] Tâm Kinh

Bồ tát quán tự tại
Khi quán chiếu thâm sâu
Bát Nhã Ba La Mật
(Tức diệu pháp trí độ)
Bỗng soi thấy năm uẩn
Đều không có tự tánh.
Thực chứng điều ấy xong
Ngài vượt thoát tất cả
Mọi khổ đau ách nạn.

“ Nghe đây Xá lợi Tử:
Sắc chẳng khác gì không
Không chẳng khác gì sắc
Sắc chính thực là không
Không chính thực là sắc
Còn lại bốn uẩn kia
Cũng đều như vậy cả.

Xá lợi Tử, nghe đây:
Thể mọi pháp đều không
Không sanh cũng không diệt
Không nhơ cũng không sạch
Không thêm cũng không bớt.
Cho nên trong tánh không
Không có sắc, thọ, tưởng
Cũng không có hành, thức
Không có nhãn, nhĩ, tỷ
Thiệt, thân, ý (sáu căn)
Không có sắc, thanh, hương
Vị, xúc, pháp (sáu trần)
Không có mười tám giới
(Từ nhãn đến ý thức)
Không hề có vô minh
Không có hết vô minh
Cho đến không lão tử
Cũng không hết lão tử
Không khổ, tập, diệt, đạo
Không trí cũng không đắc
Vì không có sở đắc.

Khi một vị Bồ Tát
Nương diệu pháp Trí Độ
(Bát Nhã Ba La Mật)
Thì tâm không chướng ngại
Vì tâm không chướng ngại
Nên không có sợ hãi
Xa lìa mọi mộng tưởng
Xa lìa mọi điên đảo
Đạt Niết bàn tuyệt đối
Chư Bụt trong ba đời
Y diệu pháp Trí Độ
(Bát Nhã Ba La Mật)
Nên đắc vô thượng giác.

Vây nên phải biết rằng
Bát Nhã Ba La Mật
Là linh chú đại thần
Là linh chú đại minh
Là linh chú vô thượng
Là linh chú tuyệt đỉnh
Là chân lý bất vọng
Có năng lực tiêu trừ
Tất cả mọi khổ nạn
Cho nên tôi muốn thuyết
Câu thần chú trí độ
Bát Nhã Ba La Mật”.

Nói xong đức Bồ Tát
Liền đọc thần chú rằng:

Gate gate Paragate Parasamgate Bodhi Svaha!
Gate gate Paragate Parasamgate Bodhi Svaha!
Gate gate Paragate Parasamgate Bodhi Svaha!
(bản Việt dịch của ThíchNhấtHạnh - Lá Bối)
[2] Thiên thượng địa hạ duy Ngã độc tôn: lời huyền thoại (hay mật ngôn?) như oracle của phương Đông – Khắp các cõi trời cao và đất thấp, con người và thần linh của nó (Brahman, Krishna, Zeus, Apollo, Mazda, Thor, Quetzalcoatl, ... thuở ấy – và thêm sau này – Allah, YAHWEH, Jehovah, Baal, God, ...) thảy thảy đều phụng thờ một cái Ngã thường hằng, đều cúng dường một Ego, hay sùng bái một Super-ego.
Nghĩa là đều đắm chìm trong biển sinh tử, đều bị trầm luân khổ đau, đều chưa biết đến, hay chưa đi đến được giác ngộ giải thoát.