Sunday, February 14, 2021

Ronkin - Siêu Hình Học Đạo Phật Ban Đầu (02)

SIÊU HÌNH HỌC ĐẠO PHẬT BAN ĐẦU

Sự Hình Thành Một Truyền Thống Triết Học

Noa Ronkin

(←...tiếptheo)

 


1

SỰ GIẢNG DẠY CAO XA HƠN

Tư Tưởng Abhidhamma Trong Nội Dung

 

1.1

NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG TRƯỜNG PHÁI ĐẠO PHẬT THỜI CỔ

VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA ABHIDHAMMA

 

Lịch sử ban đầu của đạo Phật ở India và của trường phái bây giờ gọi là Theravāda đã ghi nhận là ít được biết, và cố gắng để lập một niên đại nhất quán của lịch sử đó vẫn là bận rộn mê mải của những học giả ngày nay. Tuy nhiên, có một truyền thống được chấp nhận rộng rãi rằng trong tiến trình thế kỷ thứ hai và thứ ba sau thời Đức Phật qua đời, tập thể Sangha đã chia thành một số những dòng truyền thừa (ācariyakula), những học thuyết (vada; ācariyavada) và những hội hữu (nikāya) [1], và đã là đối tượng của nhiều thay đổi, cải tiến và chuyển hướng về học thuyết, vốn đã là phần của sự hệ thống hóa dần dần đạo Phật và sự phát triển của nó từ một giảng dạy truyền khẩu sang một truyền thống có thể chế (śāsana) .[2] Để hiểu tiến trình đang bàn, điều cần thiết đầu tiên là để phân biệt sự hình thành của những giáo phái và dòng truyền thừa khác nhau quanh những vấn đề học thuyết với khái niệm về sự phân chia chính thức trong Saṅgha (saṅgha-bheda).[3] 

 

Không gì nhưng chỉ tự nhiên rằng song song với sự lan rộng của Saṅgha [4] trên miền Bắc, và sau đó trên khắp tiểu lục địa India, nhiều nhóm khác nhau của những nhà sư đã hội họp quanh những vị thầy có uy tín thu hút và đã đi đến chứng thực những lập trường khác nhau về những điểm nhất định của giảng dạy. Tuy nhiên, trong việc giải quyết vấn đề phức tạp của nguồn gốc của những trường phái đạo Phật India thời cổ, chúng ta phải đừng quên rằng chúng ta đang giải quyết với vấn đề thực hành truyền thống hơn là học thuyết truyền thống [5]: việc phân rẽ Saṅgha thì chính xác là một vấn đề kỹ thuật và luôn luôn được đo lường chỉ trong những điều kiện của vinaya mà thôi, như thế khiến việc chủ trương một quan điểm cụ thể về bất kỳ vấn đề học thuyết nào không thể là những nền tảng cho một sự ly khai bên trong Saṅgha hay sự trục xuất khỏi Saṅgha. Những hành động nền tảng của Saṅgha ghi nhận là tương phản trong sự giản dị của chúng với sự khai triển nghi thức gồm trong những nghi lễ cộng đồng tôn giáo của công chúng cư sĩ đạo Phật. Hai hành sự cộng đồng loại như thế là cấu thành của Saṅgha và hình thành đề tài của hai chương đầu của phần Khandhaka của Vinaya-piṭaka: chương thứ nhất là sự thọ giới cao hơn (Upasampadā, trái ngược với Pabbajjā, ‘thọ giới thấp hơn’ của một người mới học) [6]; thứ hai, vốn Đức Phật đã coi là trọng tâm của đời sống tu viện, là buổi tụng đọc hai tuần một lần của pātimokkha, còn được gọi là lễ uposatha. Vì số tối thiểu để tổ chức pātimokkha là bốn người, nên một Saṅgha chỉ có thể phân chia khi có ít nhất bốn phiếu ở mỗi bên, và điều này xảy ra khi một cộng đồng những nhà sư (và những nhà sư nữ) có một bất đồng khiến hai nhóm của nhiều hơn ba nhà sư tổ chức những lễ uposatha riêng biệt (và những lễ khác nữa, nhưng những buổi tụng đọc pātimokkha là thường xảy ra xuyên nhất và quan trọng nhất). Sự bất đồng có nhiều phần xảy ra về một điểm vinaya, nhưng cho dù gốc của bất đồng này là gì, kết quả đo được qua việc tổ chức những lễ pātimokkha riêng biệt. Sau đó, lòng trung thành của một nhà sư nam hay nữ, với một quy luật pātimokkha nào đó nhất định, sẽ quyết định sự kết đoàn của họ. Khi một khối những nhà sư nam hay nữ, có cùng quy luật pātimokkha phát triển như một thực thể riêng biệt bằng việc tổ chức nghi lễ thọ giới cao hơn của riêng họ, nó trở thành một giáo phái hay hội hữu (nikāya), và đây là những gì khởi nên sự hình thành của những dòng truyền thừa khác nhau trong Saṅgha .[7] Vì vậy trong khi sự phân chia thành Sthaviras / Theriyas và Mahāsāṃghikas, chúng ta sẽ đề cập với chi tiết hơn về chúng một chút sau đây, trình bày một phân tách chính thức của Saṅgha thành hai hội đoàn, dưới mỗi nhóm này, xuất hiện nhiều trường phái không chính thức về tư tưởng và dòng truyền thừa theo những người thày. 

 

Theo lưu truyền, vào thời những học thuyết Mahāyāna nổi lên, khoảng thế kỷ thứ nhất TCN, đã có mười tám giáo phái-phụ hay những trường phái của Sthaviras, truyền thống có trước và truyền xuống Theravāda, mặc dù những nguồn Phật học khác nhau giữ những danh sách khác nhau của những trường phái, vốn cộng lại hơn mười tám. Con số mười tám thì có tính tượng trưng và rõ ràng đã thành quy ước trong lịch sử đạo Phật.[8] Thực sự, như LS Cousins ​​ghi chú, con số này thì vừa quá nhỏ lẫn quá lớn: một mặt, những bản văn dường như phải khó khăn để xác định mười tám trường phái chính khác nhau, mặt khác, trong khi điều có thể xảy ra là Saṅgha buổi đầu đã chỉ tổ chức lỏng lẻo và đã phải có một số lượng lớn gồm những nhóm nhà sư và tu viện địa phương độc lập.[9] ‘Mười tám trường phái’ thực sự gắn liền với những quan điểm học thuyết riêng biệt – thường là tranh luận về những điểm trong Abhidhamma – nhưng quan điểm về học thuyết không chắc đã gây ra sự chia rẽ của họ. Cho đến chừng nào những nhóm nhà sư khác nhau tuân thủ giống nhau về yếu tính và công nhận sự hợp thức của dòng truyền thừa của nhau, sự di chuyển giữa những nhóm không đem đến vấn đề gì, và không là nền tảng cho một sự phân rẽ chính thức bên trong Saṅgha. Hơn nữa, không phải mỗi trường phái đều có bản văn truyền thống đặc biệt của riêng nó: Thực sự, truyền thống vinaya cho thấy rằng có khoảng sáu truyền thống kinh điển riêng biệt thêm với truyền thống Pali. Đó là Mahāsāṃghika, Vātsīputrīya-Sammatiya, Sarvāstivāda, Kāśyapīya, Dharmaguptaka và Mahimsāsaka.[10]

 

Một tường thuật về hai lần tụng đọc cộng đồng đạo Phật hay Hội đồng (saṅgīti) đầu tiên, được thấy trong tất cả những phiên bản sửa đổi còn tồn tại của Vinaya-piṭaka, và theo tất cả những phiên bản này, những quyết định đưa ra trong lần tụng đọc cộng đồng thứ hai, gọi là Hội đồng Vaiśāli (khoảng 70–80 TCN), đã được tất cả những phe phái chấp nhận.[11] Tuy nhiên, những nguồn sau này gợi ý rằng ở một thời điểm nào đó theo sau Hội đồng Vesali, Saṅgha nguyên thủy đã chính thức phân thành hai phái, phái của những Sthavira và phái của những Mahāsāṃghika,[12] và từ đó về sau mỗi phái giữ truyền thống thọ giới riêng của họ. Những tường thuật lưu truyền về biến cố này đều có rất muộn hơn sau này, và do đó đã là những sản phẩm của sự phân chia giáo phái đang bàn luận, vốn có những hệ lý tưởng nền tảng riêng của chúng. Có hai tường thuật không nhất quán về sự xuất hiện của sự phân chia đầu tiên này của Saṅgha. Thuật kể thứ nhất, nguồn gốc từ trường phái Sarvāstivāda, dựa trên Mahāvibhāṣa (thế kỷ thứ ba CN) và trên Samayabhedoparacanacakra (T 49) – một luận thuyết phương Bắc được gán cho một *Vasumitra (thế kỷ thứ ba hay thứ tư sau CN) [13], hiện có trong ba bản dịch tiếng Tàu và một bản dịch tiếng Tibet. – cũng như trên nhiều nguồn chép theo chúng sau này. Theo cách suy nghĩ này, sự phân chia của Saṅgha đã khởi động bởi sự tranh chấp về ‘Năm điểm’, đã do một nhà sư tên là Mahādeva [14] đưa ra, liên quan đến phẩm hạnh của một arahat, và không biết vị này có thể được những người khác cung cấp những sự việc vật chất hay thông tin trần tục, do sự không chắc chắn và thiếu hiểu biết của vị này, và không biết vị này có thể nói và nghe những âm thanh trong một trạng thái nhập định không.[15]

 

Tường thuật thứ hai, về nguồn gốc của Theravāda và Mahāsāṃghika, gán sự phân chia với một bất đồng trên một số những vấn đề nhất định của vinayaDīpavaṃsa (V 30ff.) (đầu thế kỷ thứ tư CN) [16] như thế truy gốc của Mahāsāṃghika như bắt nguồn từ phái đã thua tại Hội đồng Vesali, và điều này được chép theo trong những sử biên niên Sri Lanka sau này của. Thế nhưng, như Cousins ​​nhận xét, truyền thống bình luận của Mahāvihāra đã không chắc chắn là đã gìn giữ một giải thích về nguồn gốc của ‘mười tám trường phái’, vì Samantapāsādikā [17] thì không giải thích vấn đề này, trong khi bình luận với Kathāvatthu thì có, liên quan trong nội dung này với những tường thuật của DīpavaṃsaMahāvaṃsa.[18] Nguồn vốn chứng thực cho phiên bản Mahāsāṃghika về sự phận chia thứ nhất của Saṅgha là Śāriputra paripṛcchā (T 1465: 900b) [19]– một bản văn dựa trên nhiều nguồn của một băn văn gốc Magadha còn sống sót trong tiếng Tàu và có năm tháng khoảng thế kỷ III CN. Không giống truyền thống Ceylon, luận văn này coi Mahāsāṃghika không là phái thua tại Vesali, nhưng là phái bảo thủ đã giữ lại vinaya gốc, đã không thay đổi trước những cố gắng cải cách của Sthaviras, nhằm tạo ra một phiên bản có tổ chức lại và chặt chẽ hơn.[20] Tuy nhiên, xét theo quan điểm chủ quan của nguồn này, điều có nhiều phẩn đã xảy ra là những Mahāsāṃghika đã không gì khác một phái lớn hơn, chống lại một thay đổi của những người cải cách kỷ luật, hơn là những người ôm giữ vinaya ‘nguyên bản’.[21]

 

Bức tranh nổi lên như được học giới mô tả gần đây là sự phân chia sớm nhất của Saṅgha đã chủ yếu là một vấn đề của kỷ luật tu viện, mặc dù phái Mahāsāṃghika không thể truy gốc trực tiếp được qua phe đã thất bại ở Hội đồng Vesali.[22] Theo quan điểm đồng thuận ngày càng tăng trong học giới rằng ngày Đức Phật nhập diệt là vào cuối thế kỷ thứ năm TCN, [23] sự phân chia cơ bản này của những Sthavira và những Mahāsāṃghika đã xảy ra vào khoảng đầu thế kỷ thứ ba TCN. Trong suốt hai thế kỷ sau đó, những tranh chấp về học thuyết đã nảy sinh giữa hai trường phái này, dẫn đến việc hình thành những trường phái phụ. 

 


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Jan/2021)

(Còn tiếp... )

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com



[1] Nikāya, (Sanskrit và Pāli: “nhóm”, “lớp” hoặc “kết hợp”) từ trong Phật học, chỉ bất kỳ một nào gọi là “Mười tám trường phái” của đạo Phật India. Theo A.K. Warder, 18 trường phái ban đầu (theo thứ tự thời gian gần đúng) gồm: Sthaviravada, Mahasamghika, Vātsīputrīya, Ekavyavaharika, Gokulika (còn gọi là Kukkutika, v.v.), Sarvastivada, Lokottaravāda, Dharmottariya, Bhadrayaniya, Sammitiya, Sannagariya , Prajnaptivada, Mahimsāsaka, Haimavata (còn gọi là Kasyapiya), Dharmaguptaka, Caitika, và Apara và Uttara (Purva) Saila. Theo Warder đây là những trường phái đạo Phật đầu tiên, khoảng năm 50 TCN, cùng với thời những kinh điển Pali lần đầu được ghi chép.

ācariyakula = thày dạy + kula= một gia đình; gia tộc; giai cấp: gia tộc của thày dạy, gia đình hoặc nơi ở của một người thày. vada; ācariyavada; vāda(m.) học thuyết; phát ngôn,; tín điều tranh chấp. nikāya(m.) một nhóm, một giáo phái, một tập hợp

[2] [Kv-a 2–5; Dip V 51–4; Mhv V 12–13. See Cousins 1991: 27–8; Frauwallner 1956: 5ff.and 130ff.; Lamotte 1988: 271ff.]

Śāsana (Sanskrit: शासन, śāsana; Pali: sāsana): một từ những người theo đạo Phật trong những nước theo Theravada, đạo Hindu thờ Shiva ở India, dùng chỉ triết lý và thực hành tôn giáo của họ (thay vì ‘đạo Phật như ở VN). Thế nên sāsana có thể dịch là giảng dạy, thực hành, giáo lý, và “lời dạy của Đức Phật”. Śāsana cũng có thể dung chỉ khoảng thời gian 5000 năm của một vị Phật cụ thể. Tức là chúng ta đang sống trong śāsana của Phật Śakyamuni. Trong từ điển Pali-Việt của HT Bửu Chơn – Sasanagiáo pháp của đức Phật

[3] bhēda: phân chia, tách biệt, cắt đứt, tách rời, chia xa

[4] Từ saṅgha có nghĩa là “tập hợp lại” thành một nhóm và là từ chung chỉ “cộng đồng” trong Pali và Sanskrit. Nó có thể dùng chỉ một bầy quạ hoặc một bầy nai, nhưng trong văn học Đạo Phật, chủ yếu dùng để chỉ cộng đồng của những người đạo Phật. Ngày nay từ sangha dùng để chỉ cộng đồng chính thức của những nhà sư nam nữ, và do đó nó thường viết hoa (Bhikkhu-Saṅgha). Những thành viên sangha ở India thời cổ họp hai lần mỗi tháng, cùng đọc những bài kinh đã thuộc lòng. Đặc biệt họ cũng thú nhận công khai những vi phạm giới luật, theo những quy định chi tiết trong Vinaya. (227 với nhà sư nam, 331 với nhà sư nữ).

[5] orthopraxy & orthodoxy: hiểu trong nội dung đạo Phật

[6] Pabbajjā:(Skt. Pravrajyā): Nghĩa tổng quát trong những tôn giáo India là việc bỏ nhà để đi vào đời sống không nhà. Trong đạo Phật chỉ việc xuất gia: việc từ bỏ thế gian để nhận sống đời khổ hạnh của một nhà sư đạo Phật; Thế nên Pabbajjā cũng là lễ thọ giới cho người mới xuất gia, trong đạo Phật, thành một Sa-di/ Sa-di ni (sāmaṇera). Những sa-di chưa được tham dự lễ tụng đọc những qui luật tu viện (patimokkha). Đây là bước đầu sẽ dẫn đến upasampadā, lễ thọ giới cao hơn, qua đó một sa di (hay sa di ni) trở thành một Tỳ khưu/ Tỳ khưu ni, chính thức là thành viên của saṅgha. (thọ cụ túc giới của vị tỳ khưu.)

[7] [Cho một thảo luận về kỷ luật của Saṅgha, xem Gombrich 1988: Ch. 4, đặc biệt. trang 106–12 và những tài liệu tham khảo trong đó; Frauwallner 1956: Ch. 1; Wijayaratna 1990: 104–6.]

[8] [Xem Obeyesekere 1991: 152–82]

[9] [Cousins ​​2001: 147. Chúng ta cũng phải ghi nhận rằng tên của một trường phái A phân chia thường được giữ lại cùng với tên của những trường phái B và C liên kết với nó, trong khi tài liệu có khuynh hướng coi đây là ba trường phái, mặc dù chỉ hai trường phái sau vẫn tiếp tục tồn tại: sđd.147–8. Les Sectes bouddhiques du Petit Véhicule (1955) của André Bareau, đối chiếu những nguồn hiện có về những trường phái Sthavira.]

[10] [Frauwallner 1956: 7–10.]

Mahā-sāṅghika (s, p); Đại chúng bộ . ; Vātsīputrīya (s); Độc Tử bộ . ; Sarvāstivāda (s); Nhất thiết hữu bộ ; ; Kāśyapīya (s); Ẩm quang bộ . ; Dharmaguptaka (s); Pháp Tạng bộ . ; Mahīśāsaka (s) Hoá địa bộ

[11] [Vin II 294–307; Cousins 1991: 29–31 and the references therein.]

[12] sthaviravāda (s); Thượng tọa bộ .; mahā-sāṅghika (s, p); Đại chúng bộ

[13] Vasumitra: Thế Hữu .

[14] Mahādeva (摩訶 提婆 hay ): Một nhà sư India có thân thế lịch sử đáng ngờ, đã xuất hiện trong nhiều tường thuật về lịch sử Saṅgha ban đầu. Theo Abhidharma-mahāvibhāshā-shāstra (阿毘達磨大毘婆沙論) trước khi trở thành một người đạo Phật, Mahādeva, người thành Mathurā, sống sau đức Phật khoảng một trăm năm, đã phạm tội loạn luân với mẹ và giết cha. Ông cũng giết một arahat. Sau đó, biết mẹ có quan hệ với một người đàn ông khác, ông cũng đã giết bà. Tuy nhiên, ông vô cùng hối hận về những việc làm xấu xa của mình và đã gia nhập Saṅgha. Thông thạo ba tạng kinh điển và là một diễn giả hùng hồn, ông đã khiến nhiều người ở thành Pātaliputra theo đạo Phật.

Mahādeva được cho là người đưa ra “năm điểm” tai tiếng. đưa đến sự phân chia đầu tiên của Saṅgha. Năm điểm hay luận đề (pañcavastūni) này là (1) một vị arahat có thể bị quyến rũ bởi một vị khác (para-upahta –  ngụ ý rằng có thể có mộng tinh trong giấc mơ gợi dục – do những vị thần mang hình dạng phái nữ gây nên ban đêm); (2) rằng vô trí (ajñāna) không hoàn toàn vắng mặt trong một arahat (sự sáng suốt tinh thần của ông không cung cấp cho ông kiến thức về những vấn đề phàm tục); (3) rằng một arahat có thể hoài nghi (kaṃkṣā); (4) rằng một arahat có thể bị người khác vượt qua (para-vitīrṇa – một thuật ngữ khó hiểu – có thể nhận kiến thức, thông báo từ người khác?, ý thức được mức giác ngộ của mình khi được một người khác chỉ cho?); và (5) một arahat có thể bước vào những giai đoạn cao hơn của con đường giác ngộ bằng cách thốt ra một cụm từ (vacibheda) chẳng hạn như "Ôi, đau khổ”, và tiếng kêu đó có thể được coi là một kỹ xảo nhằm tạo ra sự xuất hiện của con đường giải thoát.

Ý nghĩa những luận điểm này khó có thể hiểu được rõ ràng. Ngay cả ý định tổng quát cũng không minh bạch; người ta có thể hỏi: có phải những luận điểm này có ý rằng môt arahat thì vẫn là ‘con người’ hơn, không như những gì những trường phái khác nghĩ, hay arahat thì yếu đuối hơn những gì người khác tin tưởng. Hay ngụ ý bodhisattva thì cao siêu hơn? Đặt năm luận điểm này về bối cảnh lịch sử  đạo Phật, hiển nhiên buổi đầu rất khác với ngày nay. Có nhiều những Saṅgha lớn nhỏ, ở những địa phương khác nhau. Trong những thế kỷ đầu của đạo Phật, người ta lan truyền khá công khai rằng người như vậy và như vậy là môt arhat. Có rất nhiều arhat, hàng trăm vị, ở mọi thị trấn, và thậm chí ở mọi làng theo những nguồn nhất định. Như thế, giới xuất gia, hoặc giới cư sĩ, có rất nhiều cơ hội thấy và gặp những arhat, hoặc những người được cho là arhat. Rồi dần dần phát sinh tình trạng có nhiều những người được cho là một arhat dường như không phải là một arhat, ‘vàng thau lẫn lộn’ trong mắt của những người mới xuất gia, hay đã xuất gia nhưng ở mức thấp và đông đảo những cư sĩ. Nhìn trong một hướng nào đó, có vẻ như lý thuyết liên quan đến quả arhat cần được điều chỉnh. Vào thời điểm đó, năm luận điểm này có thể đã được đưa ra, và rất có thể cũng còn nhiều sự việc đằng sau chúng.

[15] [Cousins 1991: 31 và 34ff. Để có một giải thích khác về ‘Năm điểm’, xem Lamotte 1988: 274ff. Quan điểm của Theravāda về ‘Năm Điểm’ được đem cho ở Kv 163–203 (II 1–5). ’Năm điểm’ lần đầu tiên được La Vallée Poussin xác định: ‘‘Năm điểm” của Mahādeva và Kathavatthu’, Journal of the Royal Asiatic Society, 1910: 413–23. Bareau chấp nhận rằng đây là nguyên nhân của sự chia rẽ (e.g. ‘Trois traités sur les sectes bouddhiques attribués à Vasumitra, Bhavya et Vinitadeva’ (1954) and Les Premiers conciles bouddhiques (1955))]

[16] Dīpavaṃsa (‘Biên niên sử của Đảo’). Đây là ghi chép lịch sử lâu đời nhất của Sri Lanka. Mahāvaṃsa, (‘Đại Biên niên sử’), lịch sử theo niên đại của Ceylon (Sri Lanka), viết vào thế kỷ thứ 5 hoặc 6, có lẽ do vị sư Mahānām

[17] Samantapāsādikā: tên bộ sưu tập những bình luận tiếng Pali về Tipitaka Vinaya Theravada. Đó là bản dịch những bình luận, dịch từ tiếng Sinhala sang tiếng Pali của Buddhaghosa vào thế kỷ thứ 5.

[18] [Kv-a 2–5 như Cousins đã kể 1991: 32.]

[19] 舍利弗問經 

[20] [Lamotte 1988: 172; Nattier và Prebish 1976: 265–70.]

[21] [Cousins 1991: 48.]

[22] [Prebish 1974: 251–3.

[23] [Dựa trên dữ liệu của Dīpavaṃsa về sự xuất gia cả đức PhậtGombrich (1992: 246 và 258–9) đã suy luận rằng cái chết của đức Phật xảy ra trong vòng năm hay sáu năm của 404 TCN và Cộng Đồng Thứ Hai diễn ra khoảng 60 năm sau khi ngài qua đời, tức là, khoảng năm 345 TCN. Cousins (1991: 59) có năm tháng hơi khác một chút, đặt ngày Đức Phật qua đời vào năm 413 TCN và Cộng Đồng Thứ Hai 70 đến 80 năm sau đó, tức là giữa năm 343 và 333 TCN.]