Saturday, November 7, 2009

Yếu tính của tôn giáo

Yếu tính của tôn giáo


The essence of religion
Bertrand Russell (1872-1970)








Lời dẫn của người dịch bản tiếng Việt

Yếu tính của tôn giáo, bản in đầu tiên trong The Hibbert Journal, Oct 1912, một tạp chí ra ba tháng một kỳ, chuyên về tôn giáo, thần học và triết học, tại London, nước Anh. Người bạn tình của Russell lúc ấy là bà Ottoline Morell rất mộ đạo, nên Russell viết bài này, đưa cho bà đọc, rồi sau đó cho các hội viên hội The Heretics tại đại học Cambridge thảo luận. Ông trình bày một quan điểm về tôn giáo – của cá nhân ông – không cần đến giáo điều, giáo chủ, giáo hội, là những điều ông lên án phản lý trí, phản đạo đức điển hình trong một luận văn nổi tiếng khác về tôn giáo Tại Sao Tôi Không là người Kitô?”

Lúc ấy, có nhiều phản ứng trái ngược về bản văn. Trong thư riêng gửi Russell, Tagore thú vị cho biết nó nhắc người đọc như ông đến hai câu của Upanishad về tiểu ngã, đại ngã.

Nhưng Wittgenstein, lúc ấy đang còn là sinh viên của Russell tại Cambridge (sau thành đồng nghiệp và cũng là một triết gia nổi tiếng), không hài lòng. Theo Russell, Wittgenstein cho bài văn này quá riêng tư, đáng lẽ không nên cho phổ biến, Wittgenstein còn cho là bài văn “tối mò”, “ngang ngạnh dùng các từ có nghĩa mập mờ”. Thời gian này Russell coi trọng ý kiến của Wittgenstein, và nói ông cũng đồng ý một nửa với người học trò này. Do thế, Russell giữ bài văn lại, không cho in nữa. Phải đợi đến 1961, mới đồng ý đưa vào tuyển tập The Basic Writings of Bertrand Russell (1903-1959).

Ở một bài viết khác, về sau này: Yếu tính và hiệu quả của tôn giáo (The Essence and effect of religion); cho thấy Russell phân biệt hai loại tôn giáo: tôn giáo có tổ chức (institutional religion) trong xã hội và sinh hoạt công cộng, và tôn giáo cá nhân (personal religion). Trong bài sau đây – Yếu tính của tôn giáo – Ông đã khai triển quan niệm của ông về một tôn giáo cá nhân như thế. Gạt bỏ vai trò của niềm tin, Russell cho rằng yếu tính của tôn giáo là tình cảm, phát sinh khi con người chợt ý thức được sự hữu hạn của đời người rồi theo hướng tìm lên vô hạn, vươn ra nhân loại, lớn dậy cùng lý tưởng.

Đây là một điểm rất đáng chú ý. Trong truyền thống văn hóa phương Tây, niềm tin vẫn được xem là yếu tính của tôn giáo. Đức tin, như cách gọi đề cao vai trò của nó, là cánh cửa mở vào thế giới tín ngưỡng phương Tây. Từ phiếm thần đến đa thần, đến độc thần – sự khác nhau của chúng nằm trong sự khác biệt những nội dung tin tưởng. Hãy cho tôi biết anh tin những gì, tôi có thể đoán anh theo tôn giáo nào.

“Anh tin gì?” Là câu hỏi để xác định, đưa vào các tôn giáo như Do thái, Kitô, Muslim (Đúng, tin thế là đúng, là không đúng, phải tin như thế này, không như thế kia, …). Thế nên, sau khi biết được những tin tưởng, người ta có thể có khái niệm khá rõ rệt về các tôn giáo này. Tin tưởng làm nên nền tảng của chúng.

Nhưng không thể định nghĩa một tôn giáo phương Đông, như trường hợp đạo Phật, chỉ bằng cách đưa ra các tin tưởng của nó. Trong Phật giáo, câu hỏi cơ bản hoàn toàn khác, nó là: “Anh muốn trở thành gì?” và rồi là để thành như thế (giải thoát, giác ngộ, vượt đau khổ, thoát sinh tử, …) Anh phải thực tập như vầy, học hiểu như vầy (tu học). Cũng có thể dẫn đến nên tin như vầy (ADiĐà, Tây phương cực lạc, ...) nhưng tin như thế vẫn chỉ có vai trò thứ yếu (tin như thế vì chủ yếu mong thêm có cơ hội tu tập để trở thành giải thoát, giác ngộ, ..). Trong tiến trình tu tập đó, nhìn thu gọn và tổng quát hoá, có thể thấy ngay ở những bước chập chững (không có nghĩa là đơn giản) là phá bỏ tự ngã.

Điểm đáng chú ý thứ hai – khi nhấn mạnh – yếu tính của tôn giáo là tình cảm, phát sinh khi con người chợt ý thức được sự hữu hạn của đời người rồi theo hướng tìm lên vô hạn, vươn ra nhân loại, lớn dậy cùng lý tưởng. Thiết yếu theo ý nguyên bản – rất phảng phất một con đường bồ tát, khởi từ lòng từ bi. Tuy thế nào là “vô hạn” (infinite), Russell không nói rõ, có lẽ vì thế đọc xong bài văn, Wittgenstein vùng vào phòng Russell phản đối “vì cảm thấy Russell đã phản bội sự chính xác vốn vẫn xưng tụng!”. Nhưng khi liên hệ với bodhisattvamārga, tôi hiểu Russell khó lòng nói cho rõ hơn, về những gì mình đang trên đường đi đến, dẫu biết có ở trước mặt, ở quanh đây giữa đời thường, trong vật thường; nhưng vì tính vô bến bờ, pha trộn một cảm xúc huyền bí, nên làm sao định nghĩa “vô hạn” cho được.

Trở về với thông điệp rõ rệt hơn, bất ngờ và cảm động của Russell trong bài: "Phá bỏ tự ngã hữu hạn"; theo chính ông, là điểm khởi của hành trình tự giải phóng. Để nhận "ánh sáng chiếu vỡ qua từ một thế giới lớn hơn ngoài xa kia", rồi có được: “Cái đẹp chợt thấy đang giữa xung đột, tình yêu không toan tính, hay cơn gió đêm dịu mát qua khóm cây, xem dường nhắc đến sự có thể có một đời thoát ngoài những tranh chấp và nhỏ nhoi của thế giới chúng ta hàng ngày, một đời sống có an bình không bất hạnh nào có thể khuấy động.” Và vì “Yếu tính của tôn giáo nằm trong sự tùng phục phần hữu hạn của đời sống chúng ta, với phần vô hạn”. Nên “Không phải trong thế giới nào khác mà cái đẹp như thế, cái an bình như thế có thể tìm gặp; chính trong thế giới thực của mọi thường ngày này, ngay trong giữa hành động và công việc của cuộc sống. Thế giới của mọi ngày nhưng nhìn bằng linh hồn phổ quát, và trong giữa hành động và công việc khởi hứng bởi thị kiến của nó.” Tôi thấy các ý tưởng này rất quen thuộc với những người đến từ phương Đông như chúng ta, và chỉ vào nội dung đó thôi, nghĩ cũng đã làm nên giá trị bản văn này.

Nên dịch bài này để trân trọng chia xẻ.

Người dịch
Lê Dọn Bàn
(Nov/2009)



Lời dẫn của người biên tập bản tiếng Anh 

Những trí óc tinh nhuệ nhất sẽ mãi lôi cuốn bởi những câu hỏi tận cùng chưa giải đáp. Những trí óc thấp hơn hài lòng với những “trả lời” cho những câu hỏi trong ấy không chứng cớ.


Từ thuở còn trẻ, Russell đã thấy không có lý do để thay đổi quan điểm bất khả tri của mình trong tôn giáo. Năm mười tám tuổi, chính là khi đọc tự truyện của Stuart Mill, ông thành quả quyết luận chứng về Nguyên Nhân Đầu Tiên là ngụy biện. Với các vấn đề tôn giáo và triết học tôn giáo, sự quan tâm của ông từ đấy vẫn sống động qua năm tháng.

Bất cứ phê bình tôn giáo nào, dĩ nhiên hay bị tấn công từ mọi phía. Điều đáng chú ý nhất, có lẽ, là các nhà lý thuyết bảo vệ tôn giáo đặc biệt rất sôi sục khi tấn công những trí thức lỗi lạc. Các triết gia trong thế kỷ XX, phần đông có khuynh hướng tránh phát biểu bất kỳ quan điểm nào có động chạm đến cái lõi nhạy cảm của tôn giáo. Những nhà tư tưởng như Russell, đúng hay sai có lẽ chỉ lịch sử mới có thể quyết định. Những ai có giữ một trí óc cởi mở, hay được cho phép giữ một trí óc cởi mở, có thể thu hoạch được thật nhiều từ các bài viết thẳng thắn và dũng cảm Russell đã đóng góp cho chủ đề của lĩnh vực nhiều tranh cãi này.

(Lời dẫn Phần XV, Nhà triết học về tôn giáo, trong The Basic Writings of Bertrand Russell (1903-1959), ed. Robert. E. Egner và Lester E Denonn)





Yếu tính của tôn giáo

Bertrand Russell


Trước sự suy xụp của các tin tưởng tôn giáo truyền thống, những người chủ trì các giáo hội cay đắng than vãn, còn những người xem các tín ngưỡng già cũ vốn chẳng qua chỉ là mê tín, vui vẻ chào mừng, là một sự kiện không chối cãi. Tuy nhiên, khi ném bỏ xong các giáo điều, câu hỏi về vị trí của tôn giáo trong đời người vẫn chưa hẳn đã ngã ngũ. Các giáo điều [1] đã được đề cao, phần nhiều không vì chúng đáng giá, nhưng vì đã tin là chúng thuận giúp cho có một thái độ nào đó về thế giới, một định hướng quen sẵn cho các suy tưởng của chúng ta, một đời sống trong toàn bộ, không bị ràng buộc với các chi ly của tự ngã [2], và chu cấp một lối thoát khỏi sự chuyên chế của dục vọng và những bận tâm hàng ngày. Một đời sống trong toàn bộ như thế, có thể có được không kèm theo tín lý giáo điều, và phải đừng nên để tàn lụi vì sự lãnh đạm của những ai mà những tin tưởng từ các thời xa xưa, với họ nay không còn tin được nữa. Những hành động khởi hứng từ tôn giáo có một vài phẩm chất của vô hạn trong chúng. Chúng như đã thực hiện trong sự tuân phục một mệnh lệnh, và dẫu chúng có thể thành tựu được các mục đích lớn lao, hiểu biết về những mục đích xem thật truyền khiến này vẫn chưa rõ ràng. Những tin tưởng nằm chìm dưới các hành động như thế, thường quá sâu và quá bản năng, đến mức những người có đời sống xây dựng trên chúng vẫn còn không biết. Quả thực, có thể không phải là tin tưởng nhưng cảm xúc mới làm nên tôn giáo: một cảm xúc khi đem vào vùng trời của tin tưởng, có thể kéo theo xác đoán cái này hay điều kia là tốt, nhưng có thể, nếu giữ nó yên, trí thức không đụng chạm gì đến, nó chỉ là một cảm xúc, dẫu chủ động trong hành động. Chính là cái phẩm chất của vô hạn làm tôn giáo, sự quên mình, đời sống không xiềng xích như một toàn thể, phóng thích con người khỏi nhà tù của những ước vọng háo hức và những tư tưởng nhỏ hẹp. Sự giải phóng này, khỏi nhà tù, do tôn giáo đem lại, nhưng chỉ từ một tôn giáo không có giáo điều xích trói; và giáo điều thành xích trói liền ngay khi đồng ý với chúng trở nên không tự nhiên.

Linh hồn [3] con người là một pha trộn kỳ lạ giữa siêu phàm [4] và thú vật, một chiến địa giữa hai bản tính [5] một thì đặc thù, hữu hạn, tự kỷ, còn cái kia phổ quát, vô hạn và không tư vị. Cái đời sống hữu hạn, mà con người chung phận với các thú vật, thì buộc vào thân xác, và nhìn thế giới từ điểm đứng của ở-đây và bây-giờ. Tất cả những yêu và những ghét đó dựa trên dăm ba phục vụ cho tự ngã, thuộc về đời sống hữu hạn. Tình yêu của nam nữ, tình yêu của cha mẹ và con cái, khi chúng còn chưa qua khỏi mức những khởi động của bản năng, vẫn còn là phần của bản tính loài vật: chúng không tiến vào được trong đời sống vô hạn cho đến chừng nào chúng vượt thắng được bản năng và thôi không làm thuộc cấp chỉ cho những mục đích của tự ngã hữu hạn. Ghét địch thủ và yêu đồng đội ngoài chiến trường là thuộc vào phần con người chia xẻ với các thú vật bầy đàn: chúng nhìn vũ trụ như thu vào chừng một điểm: cái tự ngã đấu tranh đơn độc. Như thế, cái phần hữu hạn của cuộc đời chúng ta chứa đựng tất cả những gì làm mỗi người tách biệt với những người khác, và với tất cả vũ trụ còn lại, tất cả những suy tưởng và những ước vọng đó không thể chia xẻ, do trong bản chất của chúng, với ngụ cư một thân xác khác, tất cả những lệch lạc đã làm nên sai nhầm, và tất cả những đòi hỏi khăng khăng đã dẫn đến xung đột.

Cái phần vô hạn của đời sống chúng ta không thấy thế giới từ một điểm nhìn: nó tỏa sáng vô tư, như ánh sáng khuếch tán chiếu trên một biển mây phủ. Các thời xa cách xưa, các vùng không gian hẻo lánh, đối với nó cũng rõ thật như những gì trong hiện tại và ở gần kề. Trong suy tưởng, nó cao lên trên đời sống của các giác quan, luôn tìm những gì tổng quát và mở chung với tất cả mọi người. Trong thèm và muốn, nó chỉ hướng đến cái tốt, không màng là tốt của mình hay của người. Trong cảm xúc, nó đem yêu thương cho tất cả, không chỉ với những ai rồi sẽ đẩy xa thêm cho những mục đích của cái ngã. Khác với đời sống hữu hạn, nó không tư vị, sự không tư vị của nó đưa đến sự thật trong tư tưởng, công lý trong hành đông, và yêu thương phổ quát trong cảm xúc. Khác với bản tính mà con người chia xẻ chung với thú vật, nó có một đời sống không rào cản, ôm hết trọn toàn thể vũ trụ của hiện hữu và yếu tính trong quán sát của nó; không gì trong đó là có yếu tính riêng tư, nhưng những tư tưởng và thèm muốn của nó trong cách thức có thể chia xẻ với tất cả, bởi không có cái nào tùy thuộc vào sự loại trừ của ở-đây và bây-giờ  tôi. Như thế, cái bản tính vô hạn là nguyên lý của hợp nhất trong thế giới, trong khi cái bản tính hữu hạn là nguyên lý của phân chia. Giữa bản tính vô hạn của một người này và bản tính vô hạn của một người khác, không thể có xung đột yếu tính; nếu các phần trong mỗi người chưa trọn vẹn, chúng bổ túc lẫn cho nhau; sự phân bối của nó giữa người ta thì ngẫu nhiên tùy vào cá tính, và tất cả những vô hạn trong mỗi một tạo nên một vô hạn phổ quát. Như thế có sự hợp nhất của tất cả bản tính vô hạn của mọi người khác nhau đối theo cái nghĩa của không có sự hợp nhất của tất cả những bản tính hữu hạn. Cùng tăng trưởng tỷ lệ thuận với cái vô hạn lớn mạnh trong chúng ta, chúng ta sống càng thêm đầy đời sống của một vô hạn phổ quát, nó toả ôm cái là phần vô hạn trong mỗi chúng ta.

Tự ngã hữu hạn, bị khát vọng tự bảo toàn đẩy tới, xây những bức tường tù ngục vây quanh phần vô hạn của bản tính chúng ta, và hết sức kềm giữ nó xa khỏi cái đời tự do đó trong toàn thể vốn là phần tạo nên sự sống chính nó. Tự ngã hữu hạn nhắm đến thống trị, nó nhìn thế giới trong những vòng đồng tâm quanh ở-đây và bây-giờ và tự nó như là chủ tể [6] của cái thứ “ước-tới-thiên-đàng” [7] đó. Linh hồn phổ quát chế nhạo thị kiến này, nhưng tự ngã hữu hạn luôn luôn hy vọng làm nó thành sự thực, và như thế làm im tiếng các phê phán khiến nó khó chịu đi. Trong nhiều người, tự ngã hữu hạn cứ mãi mãi là quản ngục của linh hồn phổ quát; trong những người khác, có một đào thoát hiếm hoi và ngắn ngủi; trong một số ít, những bức tường tù ngục bị phá hết, và để lại linh hồn phổ quát tự do suốt đời. Chính sự thoát ra khỏi nhà tù đưa đến vài khoảnh khắc và vài tư tưởng một phẩm chất của vô hạn, như ánh sáng chiếu vỡ qua từ một thế giới lớn hơn ngoài xa kia. Cái đẹp chợt thấy đang giữa xung đột, tình yêu không toan tính, hay cơn gió-đêm cám dỗ [8] trong khóm cây, xem dường nhắc gợi có thể có một đời thoát ngoài những tranh chấp và nhỏ nhoi của thế giới chúng ta hàng ngày, một đời sống có an bình không bất hạnh nào có thể khuấy động. Những điều có phẩm chất này của vô hạn dường như đưa đến một thị kiến sâu xa hơn thứ kiến thức manh vụn từ đời sống thường ngày chúng ta. Một đời chi phối bởi thị kiến sâu xa này, chúng ta cảm thấy, sẽ thành một đời thoát khỏi tranh giành, một đời hoà điệu với cái chung thể, ngoài những bức tường tù ngục xây bởi những khát vọng bản năng của tự ngã hữu hạn.

Chính là kinh nghiệm về thứ sáng xuốt đột nhiên này là nguồn gốc của cái là yếu tính trong tôn giáo. Chủ nghĩa huyền bí giải thích kinh nghiệm này như một tiếp xúc với một thế giới xâu hơn, thật hơn, hợp nhất hơn là so với thế giới của những tin tưởng phổ thông của chúng ta. Đằng sau một màn mỏng, nó thấy huy hoàng của tối thượng [9] lệ thường là không rõ, chỉ đôi khi chói lọi rực sáng. Tất cả những tà ác [10] của thế giới thường nhật chúng ta, nó xem chỉ như là bóng in trên màn, toàn ảo ảnh, không là gì, tan mất khỏi cái nhìn của những ai trông thấy sự rực rỡ phía xa bên kia. Nhưng trong cách hiểu này, chủ nghĩa huyền bí làm giảm đi giá trị của kinh nghiệm mà chính kinh nghiệm này dựng nên. Phẩm chất của vô hạn, mà chúng ta cảm nhận, thì không kể là có bởi cảm thức về các đối tượng mới, khác với các đối tượng mà trong hầu hết mọi lần đều xem là hữu hạn, nhưng phẩm chất của vô hạn có là do, đúng hơn, bởi một cách thức nhìn khác biệt về vẫn cùng các đối tượng, một trầm tư vô tư hơn, lao la hơn, đầy hơn với yêu thương, hơn là chiêm nghiệm vụn mảnh, ồn ào chúng ta dành cho sự vật khi nhìn chúng như phương tiện giúp thêm hay cản trở các mục đích của chúng ta. Không phải trong thế giới nào khác mà cái đẹp như thế, cái an bình như thế có thể tìm gặp; chính trong thế giới thực của mọi thường ngày này, ngay trong giữa hành động và công việc của cuộc sống. Thế giới của mọi ngày nhưng nhìn bằng linh hồn phổ quát [11], và trong giữa hành động và công việc mà khởi hứng bởi thị kiến của nó. Những xấu ác và ti tiện không phải là ảo ảnh, nhưng linh hồn phổ quát tìm thấy từ chính nó một yêu thương, qua đó các bất toàn thôi không còn là chướng ngại, và như thế hợp nhất thế giới bằng sự hợp nhất các trầm tưởng của chính nó.

Chuyển tiếp từ đời sống của tự ngã hữu hạn sang đời sống vô hạn trong toàn bộ, đòi hỏi một thời điểm của tự đầu hàng tuyệt đối, lúc toàn thể cá nhân sẽ như thôi không còn nữa, và linh hồn cảm thấy chính nó phủ phục thụ động dâng mình trước vũ trụ. Sau mê mải tranh đấu cho một vài điều thiện nào đó, có từ trong ra, hay ngoài vào, một nhu cầu đòi buông bỏ sự theo đuổi những đối tượng vốn đã thu hút hết tất cả dục vọng chúng ta, và không còn dục vọng nào khác ở vị trí sẵn sàng thay chỗ những cái vừa bị buông xả. Như thế, thành nên một trạng thái tắt ngừng ý chí, khi linh hồn không còn áp đặt nó lên trên thế giới, nhưng mở ra với tất cả những ấn tượng từ thế giới đến với nó. Chính trong thời gian như thế mà cái nhìn trầm ngâm đầu tiên thành hình, đem theo với nó tình yêu phổ quát và sự thờ phụng phổ quát. Từ thờ phụng phổ quát, có hoan hỉ đến; từ tình yêu phổ quát, có ước vọng mới đến, và trong thế ấy, khai sinh ra sự theo đuổi cái thiện phổ quát vốn là cấu phần tạo nên cái ước vọng của bản tính vô hạn của chúng ta. Như thế, từ lúc tự ngã tự đầu hàng, lúc ấy cái tự ngã hữu hạn hiện ra như chết, một đời sống mới bắt đầu, với tầm nhìn xa rộng hơn, một hạnh phúc mới, và những hy vọng lớn rộng hơn.

Sự tự đầu hàng, qua đó sự sống vô hạn ra đời, có thể thực hiện dễ dàng hơn với vài người, bằng sự tin tưởng vào một Gót-hoàn-toàn-khôn-ngoan, mà thuận tòng vị này là bổn phận. Nhưng trong yếu tính (sự sống vô hạn), nó không tùy thuộc trên tin tưởng này, hay trên bất kỳ gì khác. Những tôn giáo trong quá khứ, có đúng vậy, đều hoàn toàn tùy thuộc, ở mức nhiều hay ít, trên tín điều, trên vài thuyết lý như là bản tính và mục đích của vũ trụ. Nhưng sự suy thoái các tin tưởng truyền thống đã làm cho mọi tôn giáo dựa trên tín điều thành bấp bênh, và ngay cả thành bất khả với nhiều người bản tính nặng về tôn giáo. Do thế, những ai không thể chấp nhận các tín ngưỡng của quá khứ, và lại đã tin rằng nhãn quan tôn giáo đòi hỏi kèm giáo điều, họ mất đi cái là vô hạn trong đời sống, và trở thành hạn hẹp trong suy tưởng trước nội dung mọi chuyện thường ngày; họ đánh mất đi nhận thức về đời sống như một toàn bộ, họ đánh mất cái ý nghĩa hợp nhất không thể giải thích được, cái này làm nảy sinh lòng thương và sự không lưỡng lự phụng sự nhân loại. Họ không nhìn thấy cái đẹp trong sự phác lược của một huy hoàng, mà với một cái nh́n giàu hơn sẽ thấy đẹp trong tất cả những sự vật thông thường, hay thấy trong thương yêu một thông lộ mở sang cái thế giới biến dạng đó, nơi ấy sự hợp nhất của chúng ta với vũ trụ được thực hiện. Thế nên, cái nhìn hướng ngoại của họ nghèo nàn đi, và đời sống của họ biểu hiện nhỏ nhoi đi ngay trong những phần hữu hạn của nó. Với những hành động đúng, họ bị ném trở lại trên đạo đức trơ trụi; chỉ đạo đức trơ trụi thì rất là không đủ để làm động cơ cho những ai đói và khát đuổi theo vô hạn. Như thế, đã thành một chuyện quan trọng hàng đầu để giữ lấy thứ tôn giáo không lệ thuộc vào những tín điều mà một lương thiện trí thức ngày càng khó chấp nhận.

Trong đạo Kitô có ba thành tố đáng mong giữ lại nếu được: thờ phụng, thuận tòng [12] và thương yêu. Sự thờ phụng, với đạo Kitô là dành cho Gót; thuận tòng đối với cái không-tránh-được vì đó là ý muốn của Gót, thương yêu là bắt buộc với láng giềng của mình, thù địch của mình, và thực tế, với tất cả mọi người. Yêu thương đạo Kitô ra lệnh, và thực sự, bất kỳ yêu thương nào phổ quát và mạnh mẽ, cách thức nào đó, xem ra tùy thuộc vào sùng bái và thuận tòng. Đã vậy, những thứ này, trong thể dạng chúng xuất hiện trong đạo Kitô, tùy thuộc trên niềm tin vào Gót, và do đấy không còn khả hữu với những ai không thể tán thành niềm tin này. Trong thờ phụng, điều gì đó phải mất đi khi chúng ta mất tin tưởng vào một hiện hữu hợp chung cả tối thiện và toàn năng. Nhưng còn có thể giữ lại được nhiều, và những gì có thể giữ lại xem ra đủ để tạo nên một đời sống tôn giáo rất mạnh mẽ. Sự thuận tòng, cũng vậy, diễn bày ra khó khăn hơn vì mất niềm tin vào Gót, vì nó lấy mất đi sự bảo đảm rằng cái xem dường là tà ác trong cấu thành của thế giới thì thực là cái thiện lành. Nhưng không là không thể diễn bày được và trong hệ quả của khó khăn lớn lao, khi đạt được, nó trở nên cao thượng hơn, sâu xa hơn, tràn đầy hơn vì tự hàng phục, hơn là sự thuận tòng mà đạo Kitô tạo ra được. Trong nhiều cách, do đó, tôn giáo không kèm tín điều thì cao cả hơn và đầy tín mộ hơn cái tôn giáo nằm nghỉ trên lưng niềm tin rằng đến cùng, những lý tưởng của chúng ta rồi sẽ thành tựu ở thế giới ngoài cao vời kia.

1. Thờ phụng  sự thờ phụng thì không dễ định nghĩa, vì nó nẩy nở và thay đổi theo người sùng mộ trưởng thành. Trong các tôn giáo thô sơ, nó có thể khơi dựng chỉ từ sợ hãi thôi, và thờ phụng bất kỳ gì là quyền năng. Yếu tố này còn rơi rớt trong sự thờ phụng Gót, trong đó, gồm phần rất lớn từ sợ hãi và thể hiện phần nhiều từ kính sợ trước quyền năng. Nhưng yếu tố sợ hãi có hướng dần dần bị yêu thương xua đuổi, và trong tất cả các thờ phụng cao đẳng, sợ hãi hoàn toàn biến mất. Liền khi vượt quá khỏi mức thờ phụng bởi sợ hãi, thờ phụng đem lại hân hoan trong chiêm nghiệm những gì là đối tượng của sùng bái. Nhưng chỉ hân hoan mà thôi không tạo thành thờ phụng, còn phải có một vài sùng kính và một huyền cảm không dễ định rõ. Ba thứ này, trầm tưởng với hân hoan, sùng kính, và cảm giác về huyền bí, xem như thiết yếu để tạo dựng bất kỳ những hình thức nào cao hơn của thờ phụng.

Trong phạm vi của thờ phụng với nghĩa rất rộng này, có những biến thái mà phân biệt chúng thì quan trọng. Có một thứ thờ phụng lựa chọn, nó đòi hỏi đối tượng của nó phải tốt, và thừa nhận một thái độ đối nghịch với đối tượng xấu; và có thứ thờ phụng vô tư không thiên vị, có thể phân phát cho bất kỳ hiện hữu bất kể sự tốt hay xấu của đối tượng. Ngoài thứ phân chia này, còn một thứ nữa, cũng quan trọng như thế. Có một thứ thờ phụng chỉ có thể có với một đối tượng thực hữu, và một thứ thờ phụng khác có thể cho những gì chỉ đơn thuần có chỗ nó đứng trong thế giới các lý tưởng; hai thứ này có thể phân biệt như là thờ phụng cái thực hữu và thờ phụng cái lý tưởng. Cả hai cộng hợp trong sự thờ phụng Gót, vì Gót được quan niệm như vừa là thực vừa là hiện thân hoàn toàn của lý tưởng.

Thờ phụng Gót là có lựa chọn, bởi vì nó tùy thuộc vào lòng tốt của Gót, Cũng thế, tất cả sự thờ phụng các vĩ nhân hay kỳ tích lớn lao, và tất cả mọi thứ thờ phụng trong đó tùy thuộc vào một một vài phẩm chất ưu việt gọi ra sự ngưỡng mộ của chúng ta. Thờ phụng loại này, mặc dù nó có thể cho thật nhiều những gì hiện hữu trong thế giới thực tại, nó không thể đem cho mà không dè dặt, và như thế nếu như có một thái độ tôn giáo hướng tới vũ trụ như một tổng thể, chỉ trừ những ai tin vào một đấng Sáng Tạo toàn năng hay vào một hợp nhất tinh thần phiếm thần [13] ở cùng khắp. Với những ai, không có các tin tưởng như thế, thờ phụng có chọn lựa tìm thấy trọn khách thể của nó chỉ trong lý tưởng thiện mà suy nghiệm sáng tạo tưởng tượng ra. Lý tưởng thiện tạo nên phần thiết yếu của đời sống tôn giáo, bởi nó cung cấp động lực cho hành động bằng cách đem nội dung cho ước vọng cái thiện phổ quát mà nó lại là tạo phần của lòng thương phổ quát. Không có sự hiểu biết và không có sự phụng thờ cái lý tưởng thiện lành, thương yêu của con người thì mù lòa, không biết hướng về đâu để tìm phúc lợi cho những người nó yêu thương. Tất cả những hiện thân của cái thiện trong thế giới thực hữu thì bất toàn, nếu chỉ bằng vào sự ngắn ngủi của nó. Chỉ có cái thiện lý tưởng mới thỏa mãn trọn vẹn đói khát của chúng ta về sự toàn bích. Chỉ có cái thiện lý tưởng mới đòi hỏi không đầu hàng sức mạnh, không hy sinh khát vọng cho khả hữu, và không nô lệ tư tưởng cho sự kiện. Chỉ có viễn ảnh của cái thiện lý tưởng mới đem vô hạn vào sự đeo đuổi của chúng ta, chạy theo những mảnh vụn của cái thiện mà hành động trong thế giới này cho phép chúng ta được tạo, dầu vậy, qua sự thờ phụng cái thiện lý tưởng đem theo niềm vui nảy sinh từ chiêm nghiệm những gì toàn hảo, cũng đem đến với chúng đau đớn, là hậu quả từ sự bất toàn của thế giới thực hữu. Khi sự thờ phụng này đứng riêng một mình, nó tạo ra một cảm giác bị lưu dày trong một thế giới của những hình bóng, của cô đơn vô hạn giữa những sức mạnh xa lạ. Như thế, sự thờ phụng này, mặc dù cần thiết cho mọi hành động tôn giáo, một mình không đủ, bởi vì nó không tạo ra cái cảm giác đồng nhất với thế giới thực hữu, nó buộc chúng ta phải xuống khỏi cái thế giới của trầm tưởng và đi tìm, dù với ít ỏi thành công dẫu bao nhiêu, để có thể hình dung được cái gì là có thể về sự thiện trên mặt đất này.

Cho mục đích này, chúng ta cần thứ thờ phụng chỉ cho những gì hiện hữu. Thờ phụng như thế, ở chỗ nào có sự tin tưởng vào Gót, có thể thuộc loại có chọn lựa, vì Gót hiện hữu và toàn thiện. Ở chỗ nào không có sự tin tưởng vào Gót, thờ phụng như thế, có thể thuộc loại có chọn lựa, đối với những vĩ nhân và những kỳ tích, nhưng hướng tới những đối tượng như thế, thờ phụng có chọn lựa thì luôn luôn bị cản vướng bởi thiếu sót và giới hạn của nó về thời gian tồn tại và phạm vi. Sự thờ phụng có thể cho những gì hiện hữu, phải là không tuyển chọn, nó phải không dính líu gì đến bất cứ phán đoán nào như về sự thiện của những gì được phụng thờ, nhưng nó phải là một cảm xúc trực tiếp không thiên lệch. Thứ thờ phụng như thế cho bởi một thị kiến trầm tư, nó tìm thấy huyền bí và niềm vui trong tất cả gì sống thực, và theo nó đem tình thương đến tất cả những gì có sự sống. Sự phụng thờ không thiên vị này đã thường nghĩ, nhầm lẫn, là phải đòi có tin tưởng vào Gót, bởi vì nó đã bị lầm tưởng là có liên hệ với phán đoán phân định xem cái gì là thiện lành. Thực sự, tuy nhiên, nó không có dính gì vào bất kỳ phán đoán nào; nên thế, nó không thể nào nhầm lẫn một cách trí thức, và không thể trong bất kỳ cách nào lệ thuộc vào tín điều. Như thế sự phối hợp của thứ phụng thờ này với lý tưởng thiện lành, đem lại một lòng tin hoàn toàn độc lập với những tin tưởng như với bản tính của thế giới thực tại, và như thế không thể bị tấn công được bởi các luận chứng đã phá hủy các giáo lý của tôn giáo truyền thống.

Tôn giáo, như thế, là những kết quả của sự kết hợp của hai loại thờ phụng khác nhau – có chọn lựa, cho cái thiện trên kết toán sự thiện của nó, và không phân biệt, cho tất cả những gì hiện hữu. Cái trước là gốc của sự tin tưởng vào hữu thần, cái sau là của tin tưởng vào phiếm thần, nhưng không trong cái nào mà một tin tưởng như thế là cần thiết cho sự thờ phụng vốn đã tạo thành hữu hay phiếm thần. Đối tượng của sự thờ phụng có chọn lựa là cái thiện lý tưởng, nó thuộc về thế giới của những phổ quát. Do quên đi mất thế giới những phổ quát, con người đã tưởng rằng cái thiện lý tưởng không thể thành hình, hay không thể thờ phụng nếu nó không là phần của thế giới thực tại; do thế, họ phải tin rằng nếu không có Gót, sự phụng thờ này không thể tồn tại được. Nhưng nghiên cứu thế giới những phổ quát cho thấy đây đã là một sai lầm; đối tượng của thờ phụng này không cần phải thực hữu, dẫu một yếu tính của sự thờ phụng là muốn nó thành thực hữu vẹn đầy đến mức có thể. Đối tượng của sự thờ phụng không phân biệt, mặt khác, là cái gì hiện hữu; trong trường hợp này, dù đối tượng thì biết là hiện hữu, nhưng không biết có là có thiện hay không, nhưng là yếu tính của sự thờ phụng, ước muốn nó có thể cũng thiện như đến mức có thể. Phiếm thần, từ cái vui trầm tư của sự thờ phụng không phân biệt và từ sự hợp nhất của cái nhìn về vũ trụ, suy ra, một cách lầm lẫn, rằng một sự thờ phụng như thế dính líu với tin tưởng rằng vũ trụ thì thiện và là Một [14] . Sự tin tưởng này thì cũng không còn là cần thiết cho sự thờ phụng không phân biệt, hơn là niềm tin vào Gót cho sự thờ phụng phân biệt. Hai loại thờ phụng tồn tại bên cạnh nhau, không có giáo điều nào: một cái dự can vào thiện nhưng không vào hiện hữu trong đối tượng của nó, cái kia can dự vào sự hiện hữu nhưng không vào sự thiện trong đối tượng của nó. Hành động tôn giáo là một sự cố gắng liên tục để bắc cầu nối vực ngăn giữa đối tượng của hai sự thờ phụng này, bằng cách làm cái có tốt thêm, và thêm cái tốt có. Chỉ trong sự hợp nhất toàn diện cả hai, linh hồn mới có thể tìm được sự nghỉ ngơi vĩnh viễn.

2. Sự thuận tòng – Mặc dầu, trong một thế giới ở đấy nhiều tà ác có mặt và nhiều thiện lành vắng mặt, không một tôn giáo nào đúng thực có thể để linh hồn nghỉ ngơi vĩnh viễn hay cho nó được tự do, mà tránh khỏi không phải hành động, ấy thế tôn giáo có thể đẩy ra thuận tòng với tà ác vốn cứu chữa nằm ngoài khả năng của chúng ta. Đạo Kitô thực hiện điều này bằng sự tin tưởng rằng, bởi cái tà ác biểu hiện là ứng tòng với ý chí của Gót, nó không thể là tà ác thực. Cái nhìn này, nhiên thế, đòi một sự bóp méo các tiêu chuẩn của chúng ta về thiện và ác, bởi vì nhiều cái có trong đời là tà ác dưới bất kỳ suy xét không thành kiến nào. Hơn nữa, nếu dõi cho tận đến một kết luận, nó phá mất tất cả động lực hành động, bởi lý do cho sự thuận tòng ấy là điều gì đi nữa có xảy ra, phải là vì sự tốt lành nhất, là một lý do làm cho những cố gắng của chúng ta thành ra chạy theo những gì thừa thãi vô bổ nhất. Nếu, để tránh cái hậu quả này, chúng ta rút bỏ đi sự toàn năng hay toàn thiện của Gót, thuận tòng không còn được dục dã từ cùng một chỗ đứng nữa, vì điều xảy ra có thể không hợp ý Gót, hoặc không thiện mặc dù thuận ý Ngài. Vì những lý do này, mặc dù đạo Kitô trong thực tế, rất hiệu quả trong cả hai: tạo thuận tòng và cung cấp một động cơ tôn giáo cho hành động, thế nhưng sự hữu hiệu này từ một tư tưởng mập mờ mà ra, và thường ngưng dứt khi người ta trưởng thành nhìn-sáng-rõ hơn.

Bài toán chúng ta đối diện với, khó khăn hơn bài toán của đạo Kitô. Chúng ta phải học thuận tòng sự không-thể-tránh-được mà vẫn không phán đoán là cái không-thể-tránh ấy nhất định phải là thiện lành, và giữ cái cảm xúc nó đẩy người Kitô nói “ý cha sẽ thành” [15], trong khi thừa nhận cái-được-thành có thể là tà ác.

Sự thuận tòng, dẫu tôn giáo nào của chúng ta đi nữa, phải luôn đòi một phần tử lớn của kỷ luật đạo đức. Nhưng kỷ luật này có thể làm nên dễ hơn, và thấy rõ xứng đáng hơn với sự khổ đau liên hệ, bằng những suy xét tôn giáo. Có hai thứ thuận tòng khác biệt dẫu chúng liên hệ chặt chẽ với nhau, một thứ trong các thương tiếc riêng tư của chúng ta, và một thứ kia trong những tà ác cơ bản của thế giới. Mặc nhận trong thương tiếc riêng tư của chúng ta xảy đến trong thời điểm phục tùng, nó dắt tới sự ra đời của cái ý chí không thiên vị. Đời sống riêng tư của chúng ta, một khi hấp thụ những suy nghĩ và ước muốn của chúng ta, nó trở thành một nhà tù, từ đấy, trong những lúc tiếc thương, không có lối nào thoát khác ngoài sự phục tùng. Bằng phục tùng, những suy nghĩ của chúng ta được tự do, và ý chí của chúng ta được dẫn đến những mục tiêu mới, mà trước đó, đã bị che dấu vì những của cải cá nhân vốn đã được ước ao một cách vô ích. Một suy nghiệm lớn, hay là sự lớn dậy của yêu thương phổ quát, sẽ tạo nên một hổ thẹn về mê mải nào đó có trong đời riêng chúng ta, từ đấy, ý chí được dẫn xa khỏi sự phản đối cái không thể tránh, hướng về sự theo đuổi những của cải tổng quát hơn vốn chúng không hoàn toàn là không thể đạt được. Như thế thuận tòng trong thương tiếc riêng tư là một yếu tố thiết yếu trong sự phát triển của thương yêu phổ quát và ý chí không thiên vị.

Mặc nhận không có trong phán đoán rằng sự vật không tệ hại trong khi thực tế nó là tệ hại. Nó cốt ở trong sự tự do không tức giận, và không căm phẫn, và không bận tâm tiếc nối. Tức giận và căm phẫn với những gì gây nên tiếc hận cho chúng ta, sẽ không cảm nhận thấy nữa, nếu thương yêu phổ quát thành mạnh mẽ; bận tâm tiếc nối sẽ tránh được ở chỗ có ước ao được tự do trầm tưởng. Người mà đã thành thói quen có suy tưởng lớn rộng, sẽ không sẵn để bị kéo lâu ra khỏi những tư tưởng nó đem hơi thở lại cho đời sống của anh: thiếu vắng những tư tưởng như vậy, anh ta sẽ thấy cái gì đó nhỏ nhoi và bất xứng, một chất keo của vô hạn gắn với hữu hạn. Trong cách này, cả hai – trầm tưởng và yêu thương phổ quát – sẽ đẩy mạnh thuận tòng tăng tiến về phương diện mà sầu muộn chúng ta quan tâm đến.

Tuy nhiên, có thể từ phản kháng riêng tư nổi bật rõ nét lên, không đi đến thuận tòng hoàn toàn, nhưng đi đến một thứ phẫn nộ thách thức sáng tạo [16] kình chống vũ trụ. Suy tưởng có thể chỉ phổ quát hóa các buồn khổ của chúng ta, nó có thể cho chúng ta thấy tất cả đời sống như là một thảm kịch, đầy ứ đau đớn làm chúng ta ước rằng giá như ý thức có thể tiêu tan hoàn toàn khỏi thế giới. Tin tưởng rằng điều này có thể là đáng mong, nếu nó đã có thể xảy ra được, là một điều không thể phủ nhận, dẫu rằng không thể chỉ ra cho xem là nó đúng. Nhưng dẫu có thế chăng nữa, tin tưởng này không phải là không phù hợp với thuận tòng. Cái không phù hợp là căm phẫn, và là một mối bận tâm với những tà ác nó làm cho những thiện lành thành vô hình hay chỉ thấy từng phần, không trọn. Căm phẫn xem ra hiếm có thể có đối với những tà ác mà không là trách nhiệm của ai cả. Những ai cảm thấy căm phẫn về phần những tà ác cơ bản của vũ trụ, cảm thấy nó ngược chống với Gót, hay với Ma quỉ [17], hay với một Số phận [18] tưởng tượng được nhân hóa. Khi nhận được ra rằng những tà ác cơ bản là từ cái vương quốc vật chất mù lòa mà ra, và chúng hoàn toàn là những hiệu quả tất yếu của những sức mạnh không có ý thức, và do đấy trong chính chúng, không tốt chẳng xấu, phẫn nộ trở nên phi lý, như Xerxes đánh đập, trừng phạt tại cầu Hellespont [19]. Như thế nhận thức về cái tất yếu là sự giải thoát khỏi căm phẫn. Chỉ vào riêng điều này thôi, tuy nhiên, sẽ không tránh được một bận tâm không đáng với tà ác. Hiển nhiên là có dăm vài những sự vật hiện hữu thì tốt, dăm vài thì xấu, và chúng ta không có cách nào biết trước chuyện xấu hay tốt cho được. Trong hành động, thiếu yếu là có hiểu biết về thiện lành và tà ác; như thế, trong tất cả những nội dung vấn đề đối với ý chí chúng ta, câu hỏi cái gì là thiện lành cái gì là tà ác phải đinh ninh trong tâm trí. Nhưng trong những nội dung nằm ngoài khả năng của chúng ta, câu hỏi về tốt hay xấu, dẫu là có trí thức trong ấy, như tất cả các trí thức, thì đáng thu nhập, nhưng đã không có được sự quan trọng tôn giáo nền tảng như thế nếu các thảo luận của hữu thần và chủ nghĩa lạc quan đã không qui gắn cho nó. Quan niệm lưỡng nguyên về tốt hay xấu, khi nó hiện ra quá mạnh trong tâm trí chúng ta, ngăn trở trầm tưởng vô tư và thọc gậy vào sự yêu thương phổ quát và thờ phụng. Thưc sự, có một điều gì đó hữu hạn và quá đỗi con người về sự thực hành trong nhấn mạnh tốt hay xấu với những nội dung không là mối quan tâm của hành động. Như thế thuận tòng trong tà ác cơ bản, cũng giống thuận tòng trong những buồn khổ cá nhân, được tiếp thêm nữa bởi sự vô tư của trầm tưởng, và yêu thương phổ quát, và thờ phụng, và phải đã hiện hữu trong một mức nào đó, trước khi những điều này trở nên khả hữu. Mặc nhận thì đồng thời vừa là nguyên nhân và hiệu quả của niềm tin, cũng giống một cách như khi niềm tin reo rắc với giáo điều cũng là lúc nó nằm dựa trên một tin tưởng vào Gót. Chừng nào mà thuận tòng là nguyên nhân của niềm tin, nó nằm dựa trên kỷ luật đạo đức, một sự ngăn cấm tự ngã và các đòi hỏi của nó, vốn là cần thiết cho bất kỳ đời sống nào trong hòa điệu với vũ trụ, và với bất kỳ sự trỗi dậy nào từ hữu hạn đi vào vô hạn. Kỷ luật này thì càng nghiêm khắc hơn trong sự vắng mặt tất cả các giáo điều lạc quan, nhưng trong tỉ lệ với khi, nó càng nghiêm khắc, kết quả của nó càng lớn, càng không lay chuyển, càng có khả năng đẩy cao rộng những giới hạn của tự ngã, làm nó được nghênh đón với yêu thương, bất kể dẫu thiện lành hay tà các có thể đến trước nó.

3. Thương yêu – Thương yêu thuộc về hai loại, thương yêu trần tục chọn lựa, thứ tình đem đến cho những gì thú vị, xinh đẹp, hay thiện lành, và thương yêu siêu thế không chọn lựa, đem cho tất cả không phân biệt. Thương yêu trần tục quân bình với một đối nghịch là căm ghét: với bạn là thù, với thánh thần là tội đồ, với Gót là ma quỉ. Như thế thứ thương yêu này đưa phân tán vào thế giới, kèm với những phe phái thù nghịch và một chiến tranh đáng ngờ. Nhưng thương yêu siêu thế không đòi đối tượng của nó phải là thú vị, xinh đẹp, hay thiện lành; nó có thể cho đến khắp với tất cả mọi thứ có sự sống, với cái thượng đẳng và cái hạ đẳng, với cái vĩ đại nhất và cái thứ yếu nhất. Nó không phải chỉ là lòng thương trắc ẩn, bởi vì nó không chỉ là ước muốn làm dịu bất hạnh, nhưng nó thấy vui trong cái nó yêu, và đến cho kẻ may mắn cũng như kẻ không may mắn. Mặc dù nó bao gồm lòng nhân từ, nó lớn hơn lòng nhân từ; nó trầm tưởng cũng như hoạt động, và nó có thể đem cho ở chốn không có cơ hội làm ích lợi cho đối tượng. Nó là thương yêu, gốc từ suy tưởng, nhưng trở nên hoạt động khi nào hành động thì khả hữu, và nó là thứ tình thương yêu không kèm thù ghét đối nghịch.

Với thương yêu siêu thế, sự phân chia thế giới thành tốt và xấu, mặc dù còn đúng, xem ra mất chiều sâu; so với sự vô bờ của thương yêu, xem ra nó hữu hạn và giới hạn. Sự phân chia thành hai phe thù nghịch xem ra thành không thực; cái được cảm nhận là thực, là cái nhất tính của thế giới trong thương yêu.

Chính trong sự khai sinh thương yêu siêu thế mà linh hồn phổ quát bắt đầu đời sống xúc cảm. Trầm tưởng là thế nào với trí tuệ của của linh hồn phổ quát, thì thương yêu siêu thế là như thế với những xúc động của nó. Hơn tất cả những gì khác, thương yêu siêu thế giải phóng linh hồn ra khỏi ngục tù của nó và kéo xuống những tường thành của tự ngã đã ngăn nó hợp nhất với thế giới. Ở những chỗ nó mạnh, nhiệm vụ thành dễ dàng, và tất cả phục vụ được làm trọn với hân hoan. Đau đớn, thực vậy, còn đó, có lẽ sâu đậm hơn và rộng lớn hơn trước, bởi vì những cuộc đời hầu hết sinh linh thì phần lớn bi thảm. Nhưng cái cay đắng của thảm bại cá nhân thì tránh được, và mục tiêu trở nên thật rộng, thành ra có thể không có mất hết sạch những hy vọng. Những tình yêu với đời sống thiên nhiên tồn tại, nhưng hòa điệu với tình yêu phổ quát, và những tường ngăn cách giữa cái yêu và cái không yêu không còn thiết lập nữa. và trên hết, qua sự gắn chặt với tình yêu phổ quát, linh hồn thoát ra khỏi cái cô độc riêng rẽ mà từ đó nảy sinh ra nó, và từ trong đó, không một giải thoát vĩnh viễn nào thành tựu được khi nào nó còn vẫn trong vòng những bức tường ngục tù của chính nó.

Đạo Kitô ra lệnh phải yêu Gót và yêu con người như hai điều răn lớn. Yêu Gót, tuy nhiên, khác với yêu con người, vì chúng ta không thể làm lợi cho Gót, trong khi chúng ta không thể xem con người cũng toàn thiện như vậy. Như thế yêu Gót thì có phần suy tưởng nhiều hơn và đầy thờ phụng, trong khi yêu người thì hoạt động nhiều hơn và đầy dịch vụ. Trong một tôn giáo không hữu thần, yêu Gót được thay thế bằng thờ phụng cái thiện lý tưởng. Giống như trong đạo Kitô, sự thờ phụng này thì hoàn toàn cũng cần thiết như thương yêu con người, vì không có nó, tình yêu con người bị bỏ mặc không hướng dẫn trong cái ước vọng của nó muốn tạo ra cái thiện trong những đời người. Thờ phụng Gót quả thực là điều lớn hơn cả trong hai điều răn, vì nó đưa chúng ta đến hiểu biết rằng yêu con người thì tốt, và chính sự hiểu biết này giúp chúng ta cảm được tình yêu của con người. Hơn thế nữa, nó làm chúng ta ý thức về thế nào có thể là đời người, và cái vực sâu giữa cái có thể là và cái thực là; như thế nẩy lên một lòng trắc ẩn vô hạn, nó là cái phần lớn của tình thương yêu của con người, và nó dễ nhanh thành nguyên nhân tạo nên toàn thể. Sự thuận tòng, cũng thế, đẩy xa thêm rất nhiều nữa lòng yêu con người, vì trong sự thiếu vắng nó, tức giận và phẫn nộ và xung đột đến chen giữa linh hồn và thế giới, ngăn cản sự hợp nhất mà trong đó đã sinh ra lòng thương yêu con người. Ba yếu tố của tôn giáo, ấy là thờ phụng, tùng phục và yêu thương, son sắt liên kết nhau. Mỗi cái giúp đem lại những cái kia, và cả ba tạo thành một đơn nhất, trong đó, không thể nói cái nào đến trước tiên, cái nào sau cùng. Cả ba có thể hiện hữu không cần tới giáo điều, trong một thể mà nó có thể chi phối đời người và đem vô hạn đến cho hành động và cho cảm xúc; và đời sống trong cái vô hạn, nó là tổng hợp của cả ba, chứa đựng tất cả những gì là thiết yếu của tôn giáo, dẫu cho vắng mặt các tin tưởng giáo điều.

Tôn giáo rút lấy được sức mạnh của nó từ cái ý về hợp nhất với vũ trụ, mà nó có thể cho được. Trước đây, sự hợp nhất thành tựu bằng sự đồng hóa vũ trụ với ý niệm riêng của chúng ta về sự thiện lành; hợp nhất với Gót đã là dễ dàng vì Gót là thương yêu. Nhưng sự thối rữa của các tin tưởng truyền thống đã làm lối hợp nhất này không còn là lối có thể dựa vào được nữa; chúng ta phải tìm một cách hợp nhất không đòi hỏi gì ở thế giới và chỉ tùy thuộc trên chúng ta mà thôi. Cách hợp nhất như thế có thể có được bằng sự thờ phụng không thiên vị và thương yêu phổ quát, nó làm ngơ các khác biệt của tốt và của xấu, và đem cho như nhau cùng tất cả. Để giải phóng tôn giáo khỏi tất cả các tùy thuộc trên giáo điều, phải cần thiết kiêng tránh bất kỳ đòi hỏi nào rằng thế giới sẽ tuân chiều theo tiêu chuẩn của chúng ta. Mỗi một đòi hỏi như thế là một gắng gỏi áp đặt tự ngã lên trên thế giới. Tôn giáo mà có thể tồn tại sau khi các giáo điều đổ nát phải được phóng thích khỏi chính sự gắng gỏi này. Và trong sự tháo gỡ ra khỏi gắng gỏi này, tôn giáo được giải phóng khỏi một yếu tố, xa lạ với tinh thần của nó và không tương hợp vói sự phát triển không ngăn trở của nó. Tôn giáo tìm kiếm sự hợp nhất với vũ trụ bằng cách giảm tầm quan trọng những đòi hỏi của tự ngã; nhưng sự hạ thấp tầm quan trọng thì không hoàn tất nếu nó tùy thuộc vào một niềm tin rằng vũ trụ thỏa mãn một vài, ở mực tối thiểu, các đòi hỏi của tự ngã . Kể từ đó, vì lợi ích của chính tôn giáo, cũng như vì một tin tưởng như thế xem ra không có sơ sở, là điều quan trọng để khám phá ra một cách thức hợp nhất với vũ trụ, độc lập với tất cả các tin tưởng cũng như với bản tính của vũ trụ. Bằng sự sống trong vô hạn, một thể thức hợp nhất như thế tỏ ra có thể có được; và với những ai thành tựu được nó, nó cho đi hầu như tất cả, và trong vài cách thức, cho đi nhiều hơn tất cả những gì mà các tôn giáo quá khứ đã cho được.

“Yếu tính của tôn giáo, như vậy, nằm trong sự tùng phục phần hữu hạn của đời sống chúng ta, với phần vô hạn. Trong hai bản tính của con người, cái cá biệt hay phần con người thú vật sống trong bản năng, và tìm kiếm phúc lợi cho xác thân và cho dòng dõi kế tục của nó, trong khi cái phổ quát hay linh thiêng cố tìm cho được sự đồng nhất với vũ trụ, và ước ao được vượt thoát tất cả những gì chắn đường nó tìm kiếm. Con người thú vật thì tự nó không tốt không xấu; tốt hay xấu chỉ thuần vì giúp đỡ hay cản trở con người thiêng liêng trên đường tìm hợp nhất với thế giới. Trong sự hợp nhất với thế giới, linh hồn tìm được tự do của nó. Có ba loại hợp nhất: hợp nhất trong tư tưởng, hợp nhất trong cảm xúc và hợp nhất trong ý chí. Hợp nhất trong tư tưởng là kiến thức, hợp nhất trong cảm xúc là thương yêu, hợp nhất trong ý chí là phục vụ. Có ba loại phân nhất: lầm lẫn, oán ghét và xung đột. Cái thúc đẩy sự không hợp nhất là bản năng bất nhất, nó là phần thú vật của con người; cái thúc đẩy sự hợp nhất là sự tổng hợp của kiến thức, thương yêu và kết quả của phục vụ là sự khôn ngoan, cái tốt đẹp tối thượng của con người.

Đời sống của bản năng nhìn thế giới như là những phương tiện cho những cứu cánh của bản năng; như thế nó làm thế giới kém giá trị hơn tự ngã. Nó nhốt kiến thức vào những gì hữu ích, thích có được đồng minh trong xung đột của những bản năng kình địch, phục dịch cho những gì có với một liên hệ bản năng. Thế giới mà trong đó nó tìm thấy một chỗ ở là một thế giới hạn hẹp, vây quanh bởi kẻ lạ và có lẽ những lực thù địch; nó bị cầm tù trong một pháo đài bị vây hãm, biết rằng sự đầu hàng cuối cùng là không thể thoát được.

Đời sống của khôn ngoan tìm một cứu cánh không thiên tư, trong đó không có tranh chấp, không yếu tính thù địch. Sự hợp nhất nó tìm không có những giới hạn; nó ước biết được tất cả, yêu thương tất cả, và phụng sự tất cả. Như thế nên nó tìm thấy chỗ ở khắp nơi, sự tiến bộ của nó không có thành lũy nào ngăn cản. Trong kiến thức, nó không phân biệt hữu ích hay không hữu ích, trong thương yêu, nó không chia thành bạn hay thù, trong dịch vụ nó không phân chia thành xứng đáng hay không xứng đáng.

Phần thú vật của con người, biết rằng đời sống cá nhân thì ngắn ngủi và bất lực, kinh hoảng trước thực tại cái chết, và, không muốn thú nhận sự vô vọng của đấu tranh sinh tồn, nó giả định một sự kéo dài trong đó những bại vong của nó rồi sẽ chuyển thành những đắc thắng. Phần thiêng liêng của con người, cảm nhận cái cá nhân là không gì khác hơn chỉ một nhúm nhỏ, nghĩ nhẹ cái chết, và tìm thấy những hy vọng của nó độc lập với sự tồn tục cá nhân.

Phần thú vật của con người, làm đầy bằng sự quan trọng của các khát vọng của chính nó, thấy thật là quá đỗi không chịu nổi, nếu phải giả định rằng vũ trụ thì biết ít đến sự quan trọng này; một sự lãnh đạm trắng trơn trước các hy vọng và sợ hãi của nó, thì thật quá đau khổ phải suy nghiệm, và như thế không thể xem là chấp nhận được. Phần thiêng liêng của con người, không đòi hỏi thế giới sẽ thuận hợp với một mẫu thức; nó chấp nhận thế giới, và trong khôn ngoan nó tìm được một hợp nhất mà không đòi gì của thế giới cả. Năng lực của nó không bị xét ngăn bởi những gì xem dường thù nghịch, nhưng nhập vào sâu trong nó và hòa thành một với nó. Không phải là sức mạnh, nhưng là sự yếu đuối của các lý tưởng của chúng ta, làm chúng ta khiếp sợ sự chấp nhận của chính mình, không phải của thế giới. Chúng ta và các lý tưởng của chúng ta phải đứng một mình, và chinh phục, hướng vào trong, sự lãnh đạm của thế giới. Chính là bản năng, không phải là khôn ngoan, tìm thấy sự khó khăn này và rùng mình trước sự cô độc như theo nó liền gót. Khôn ngoan không cảm thấy sự cô độc này, vì nó có thể đạt được hợp nhất với cả những gì xem ra xa lạ nhất. Sự một mực đòi hỏi rằng các lý tưởng chúng ta rồi sẽ được nhận thức trong thế giới, là cái nhà tù cuối cùng khôn ngoan phải từ đó được phóng thích. Mỗi một đòi hỏi là một nhà tù, và khôn ngoan chỉ được tự do khi nó đòi hỏi không gì cả.

Bertrand Russell
(Lần đầu trong the Hilbert Journal, Vol II, Oct 1912)

Lê Dọn Bàn tạm dịch  bản nháp thứ nhất
(Nov/2009)

Dịch từ Bertrand Russell, “The essence of religion” (1912), trong The Basic Writings of Bertrand Russell (1903-1959), Part XV, The Philosopher of Religion, ed. Robert. E. Egner và Lester E Denonn với Bertrand Russell giúp chọn (London: Routledge, 2001), pp. 565-576






[1] Dogma: Trong tôn giáo, chỉ các quan điểm, lý thuyết về đạo đức và niềm tin, thường là nền tảng của tôn giáo và do các nhà thờ đặt định như nguyên tắc sống, đòi hỏi tín đồ phải tuân theo, và phải xem là chân lý tuyệt đối.
Tàu dịch là giáo nghĩa (教義); giáo điều (教條). Dịch trọn là tín điều tôn giáo, hay vắn tắt giáo điều.
(Chú thích này – cũng như tất cả trong bài – và sai lầm nếu có – của người dịch)

[2] Self: trong nguyên văn – dịch là tự ngã (自我) dù cũng có thể dịch nôm na là cái ta.
[3] Soul: Ở đây có nghĩa tâm lý, gốc từ psyche, chỉ khả năng nghĩ, cảm, tiếp xử, cũng chỉ phần gọi là tâm linh, gồm những thể chất phi vật chất, cùng làm nên sự sống con người.
Khái niệm về hồn (soul) thay đổi tùy tôn giáo và hệ thống triết học. Trong vài hệ thống, “soul” đồng nghĩa với “tinh thần” (spirit); trong vài hệ thống khác, nó lại hầu như cùng chung một nghĩa với “tâm trí” (mind).
Ngay cổ thời Hylạp, đã có sự khác biệt, như giữa hai thày trò Plato và Aristotle:
Plato (428–348 TCN) có cái nhìn nhị nguyên – hồn và xác – hồn là phần vô thể của cá nhân, hơn nữa, nó là phần chủ yếu, là yếu tính của tự ngã, tạo thành đời sống tinh thần cho tự ngã và tin tưởng là tồn tại sau khi thân xác hủy hoại.
Aristotle (384–322 TCN) có cái nhìn khác biệt. Hồn, theo Aristotle, là thể dạng (form) của một sinh linh, qua đó nó biểu thị đặc điểm hay biểu tả cách thức ứng xử sống đời của sinh linh này, ra ngoài với thế giới công cộng, với mọi người. Bản chất của nó là chỉ thể hiện qua hành động của thân xác, và nó không thể tách biệt với thân xác. Không tồn tại sau khi chết. Quan niệm này của ông gần với triết học hiện đại trong môn học tìm hiểu về tính khí của tâm trí, hay về cá tính con người.
[4] Gót: trong nguyên văn: – ở đây, chỉ ý niệm tổng hợp của: vô hạn, vô cùng (toàn hảo, toàn năng) và thiêng liêng vượt trên trần tục
Quan điểm nổi tiếng của Russell là nghi ngờ (bất khả tri) về sự hiện hữu của Gót, ông không cho chuyện có Gót là hữu lý, vì không có thể chứng minh được; hoàn toàn là niềm tin chủ quan. Nhưng trong nội dung văn, triết học phương Tây, ông vẫn dùng từ Gót – như ở đây – để chỉ ý vô hạn, thiêng liêng tối thượng.
[5] Nature: trong nguyên văn: tính chất tự nhiên, ban đầu, sơ khai – chưa bị ảnh hưởng từ bên ngoài như giáo dục, văn minh, nhân tạo – có thể dịch sát nhất là nhiên tính (tính có từ tự nhiên) hay tự tính (tính vốn có trong tự nó), nhưng từ này đã phổ thông trong Phật học, có ý khác. Nên nature dịch thành một từ nay đã dùng phổ thông trong tiếng Việt – dịch là bản tính (theo Tàu: 本性, Nhật có khi dịch thiên tính: 天性)
[6] God – trong nguyên văn. – hiểu trong context là người có toàn quyền, tự ý muốn làm gì thì làm.
[7] wished-for-heaven – vì sống trong hữu hạn, không thoả mãn, luôn ước ao vô hạn, mơ tưởng tuyệt đối; thiên đàng là tên gọi cõi mơ tưởng và ước ao những vô hạn, tuyệt đối đó. Có thể Russell gợi ý bài thơ nổi tiếng sau đây “He Wishes For The Cloths Of Heaven” của W. B. Yeats:

(Had I the heavens' embroidered cloths,
Enwrought with golden and silver light,
The blue and the dim and the dark cloths
Of night and light and the half-light,
I would spread the cloths under your feet:

But I, being poor, have only my dreams;
I have spread my dreams under your feet;
Tread softly because you tread on my dreams.

Tôi dịch tạm lấy ý như sau:

Phải như tôi có vải dệt bằng tơ trời,
bọc quấn với ánh sáng của vàng và bạc,
những vải màu xanh và màu nhạt và màu đậm,
của đêm và của sáng và của nửa-sáng
Tôi sẽ trải dưới chân em;

Nhưng tôi, phận nghèo, chỉ có mơ với mộng,
dưới chân em, tôi đã trải những mộng tôi mơ;
Bước nhẹ em ơi, vì em dẫm trên những mơ tôi mộng.

William Butler Yeats (1865 - 1939)

[8] Night-wind: trong nguyên văn – gió-đêm. Có thể Russell nhắc bài thơ nổi tiếng The Night Wind của Emily Jane Brontë (1818 – 1848): Gió đêm đóng vai tỉ tê, cám dỗ, muốn chi phối:

In summer's mellow midnight
A cloudless moon shone through
Our open parlour window
And rosetrees wet with dew -
I sat in silent musing -
The soft wind waved my hair;
It told me Heaven was glorious
And sleeping Earth was fair -
I needed not its breathing
To bring such thoughts to me,
But still it whispered lowly
"How dark the woods will be! -
"The thick leaves in my murmur
Are rustling like a dream,
And all their myriad voices
Instinct with spirit seem."
I said "Go, gentle singer
Thy wooing voice is kind
But do not think its music
Has power to reach my mind -
"Play with the scented flower,
The young tree's supple bough -
And leave my human feelings
In their own course to flow."
The Wanderer would not leave me;
Its kiss grew warmer still -
"O come", it sighed so sweetly,
"I'll win thee 'gainst thy will."
"Have we not been from childhood friends?
Have I not loved thee long?
As long as though hast loved the night
Whose silence wakes my song.
"And when thy heart is resting
Beneath the churchyard stone
I shall have time for mourning
And thou for being alone."
Emily Bronte

Tôi dịch vội lấy ý như sau:

Nửa đêm hè nồng chín rạo rực
Trời quang, trăng vằng vặc chiếu
Qua cửa sổ vào phòng riêng
Và những cây hồng đẫm ướt sương –

Tôi ngồi im lặng ngẫm nghĩ -
Gió nhẹ luồn qua tóc rối
Nói bảo tôi Trời cao thì vinh hiển
Và Đất thấp say ngủ thì diễm kiều–

Tôi không cần đến thầm thì của nó
Đem những ý tưởng đó đến với tôi,
Nhưng nó vẫn rót lời vào tai, chậm rãi
“Xem kìa – rừng tối đậm biết bao –

Đám lá dày thầm thì theo gió 
Và xào xạc như một giấc mơ
Và tất cả tiếng chúng muôn giọng
Bản năng dường lẫn cả tinh thần”

Tôi bảo “đi đi, người hát dịu dàng
Giọng của ngươi thì tử tế
Nhưng đừng tưởng nhạc của nó
Có sức mạnh đến được tâm trí tôi –

“Hãy đùa với hoa dậy mùi thơm
Với cây non trổ đầy cành mới –
Hãy để mặc những cảm xúc người của tôi
Trôi theo giòng chảy riêng của chúng”.
.....
Lang Thang vẫn không buông tha tôi
Nụ hôn của nó lại càng nồng ấm
“Ô tới đây”, nó thở ra thật ngọt,
“Ta sẽ thắng người ngược ý người”.

“Không phải là chúng ta bạn từ thơ ấu?
Không phải ta yêu người đã lâu?
Chừng nào có ý yêu đêm hè vắng
Im lặng của nó đánh thức bài ca tôi

“Và khi con tim bạn an nghỉ
“Nằm dưới bia mộ đất thánh nhà thờ
Tôi sẽ có thì giờ để thương tiếc
Và ngươi, vì ngươi trơ trọi một mình”

Emily Brontë (1818-1848)

[9] Gót: trong nguyên văn.
[10] Evil: trong nguyên văn – tà ác – cái xấu và ác về mặt luân lý, bản chất là làm hại hay thương tổn
[11] Universal soul – trong nguyên văn. Nếu xem cả vũ trụ như một tổng thể; phần là chất thể sống của nó, khác với phần gồm những gì là vật chất, cụ thể.

[12] Acquiescence: bằng lòng, ưng thuận không phản đối, hay đồng ý thụ động – tạm dịch là thuận tòng (顺从) hay mặc nhận – (默許 Mặc hứa)

[13] Pantheism: Phiếm thần (Greek: πάν  (pan – khắp nơi = all), và θεός (Theós – thần = Gót)). Trong triết học – là tên gọi chủ thuyết đồng nhất Gót với Thiên nhiên. Tin rằng Gót là vũ trụ và các hiện thể vật chất của nó (xem như một tổng thể) – hay chủ thuyết xem vũ trụ là thể hiện của Gót. Câu quen thuộc tóm thu chủ nghĩa phiếm thần là “Gót là tất cả và tất cả là Gót”. (Phiếm thần luận – 泛神論)
Tử ý niệm tất cả (pan) và tin vào Gót (theism). Tin rằng Gót là Vũ trụ và vũ trụ là Gót, có vài dạng khác biệt:
Pandeism: Gót trở thành Vũ Trụ (Gót became the Universe),
Panentheism: Các phần của Vũ trụ đều có phần của Gót, nhưng không là tất cả (the Universe is part of but not all of Gót), Gót trong khắp tất cả mọi phần của vũ trụ (Vạn thế tại thần luận - 萬有在神論) và lớn mãi theo thời gian.
Theopanism: Vũ trụ là Gót, vì nó là Vũ trụ (là quyền uy nên linh thiêng như thế) (same concept from a different angle, the Universe is Gót because it is the Universe).

[14] Nhất thể – Gót và thiên nhiên là một (phiếm thần)
[15] Câu trong kinh lạy cha (Pater noster) của đạo Kitô – “Thy will be done, in earth as it is in heaven” – (ý Cha sẽ thể hiện, dưới đất cũng như trên trời).
[16] Promethean- phẫn nộ thách thức của Prometheus, người khổng lồ (titan) đã lấy trộm lửa từ trời Zeus về cho loài người, và bị trừng phạt.
[17] The Devil: Trong nhiều tôn giáo độc thần, là thể hiện, hay nhân hóa tà ác, nếu viết hoa là kẻ cai quản hoả ngục Kitô (Hell) là kẻ nghịch chống Gót, (cũng có tên là Satan)
[18] Fate: Định mệnh hay Số phận.
[19] Xerxes I : vua nước Persia (482 BC) cho xây hai cầu nối qua bờ Hellespont (nay là Turkey) tại Abydos để quân đội của ông có thể tiến qua lục địa châu Âu từ châu Á Trung Đông.
Theo truyền thuyết, cả hai cầu bị bão đánh xập, sau đó Xerxes ra lệnh “trừng phạt”, “đánh” eo biển này: Truyền thuyết kể là ông đã ném xiềng xuống eo biển để xích nó lại, đánh ba trăm hèo và “ấn dấu” thép đốt nóng xuống chỗ này! Trong lúc quân sĩ trên bờ hò hét sóng nước (đã dám phạm thượng)!