(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT VII.
Về Ý Niệm Về Sự Liên Kết Tất Yếu.
PHẦN I.
E 7.1, SBN 60
Lợi thế của những khoa học toán học lớn hơn những khoa học đạo đức gồm trong điều này, đó là những ý niệm của toán học, với tính cách có thể cảm nhận trực tiếp, luôn rõ ràng và
xác định; sự khác biệt nhỏ nhất giữa chúng cũng có thể nhận biết được ngay lập
tức, và cùng một từ ngữ luôn biểu đạt cùng một khái niệm nhưng không có sự mơ
hồ hay sai lệch. Một hình bầu dục không bao giờ nhầm với một hình tròn, cũng như một
đường hyperbola không bao giờ nhầm với một hình ellipsis. Những tam giác cân và
tam giác thường đều được phân định bằng những đường biên chính xác hơn là giữa cái
ác và cái thiện, giữa cái đúng và cái sai. Nếu bất kỳ từ ngữ nào được định nghĩa trong hình
học, não thức sẽ dễ dàng tự thay thế định nghĩa đó cho từ ngữ vốn được định nghĩa
trong mọi trường hợp. Hay ngay cả khi không có định nghĩa nào được đem dùng, bản thân đối tượng đó
vẫn có thể được đưa ra trước giác quan, và nhờ đó được lĩnh hội một cách vững
chắc và rõ ràng.
Nhưng những cảm
xúc tinh tế hơn của não thức, những hoạt động của khả năng nhận thức, những xao động khác loại của tình cảm, dù thực sự riêng biệt, lại dễ dàng trốn thoát chúng ta khi được xem xét
bằng suy ngẫm; và chúng ta cũng không có năng lực để nhớ lại đối tượng ban đầu,
mỗi khi có dịp hoặc nhu cầu để suy ngẫm về nó. Bằng cách này, sự mơ hồ dần dần được đưa vào lý luận của chúng ta :
những đối tượng tương tự dễ dàng được coi là giống nhau: Và kết luận cuối cùng
trở nên sai lệch rất xa so với những tiền đề.
E 7.2, SBN 60-1
Tuy nhiên, người ta có thể khẳng định một cách
thận trọng rằng, nếu chúng ta xem xét những khoa học này dưới một ánh sáng thuận hợp, những lợi thế và những bất lợi của chúng gần như
bù trừ cho nhau, và đưa cả hai về một trạng thái cân bằng. Nếu trí óc có thể ghi nhớ những ý niệm của hình học rõ ràng
và xác định hơn, thì nó phải tiến hành một chuỗi lập luận dài hơn và phức tạp
hơn nhiều, và so sánh những ý tưởng rộng hơn nhiều với nhau, để đạt được những sự thật khó hiểu hơn của khoa
học đó.
Và nếu những ý niệm đạo đức dễ rơi vào sự mơ
hồ và lẫn lộn khi thiếu sự
cẩn trọng nghiêm ngặt, thì những suy luận trong những luận
giải này luôn ngắn gọn hơn nhiều, và những bước trung gian dẫn đến kết
luận cũng ít hơn nhiều so với những ngành khoa học nghiên cứu về lượng và số. Trong thực tế, hiếm có
một mệnh đề nào trong Euclid đơn giản đến mức không gồm nhiều phần lập luận hơn những gì được tìm thấy
trong bất kỳ lý luận đạo đức nào vốn không rơi vào hão huyền và chủ quan tự phụ.
Ở nơi mà chúng ta
lần theo những nguyên lý của trí óc con người qua một vài bước, chúng ta có thể
rất hài lòng với tiến bộ của chúng ta ; khi cân nhắc rằng tự nhiên nhanh chóng
dựng lên một rào cản đối với tất cả những điều tra về nguyên nhân của chúng ta ,
và buộc chúng ta phải thừa nhận sự thiếu hiểu biết” của chính chúng ta . Do đó,
trở ngại chính đối với sự tiến bộ của chúng ta trong khoa học đạo đức hoặc siêu
hình học là sự mơ hồ của những ý tưởng và sự không rõ ràng của những từ ngữ.
Khó khăn chính trong toán học là độ dài của của những bước
suy luận và phạm vi bao quát của suy nghĩ, cần
thiết để hình thành bất kỳ kết luận nào.
Và có lẽ, sự tiến bộ của chúng ta trong triết học
tự nhiên chủ yếu do sự thiếu hụt những thí nghiệm và hiện tượng thích hợp làm cản trở, vốn là những gì thường được tình cờ tìm
ra, và không phải lúc nào cũng có thể tìm thấy, khi cần thiết, ngay cả bằng sự điều tra siêng năng và thận trọng nhất. Vì triết học đạo
đức cho đến nay dường như nhận được ít sự tiến bộ hơn so với hình học và vật
lý, nên chúng ta có thể kết luận rằng, nếu thực sự có sự khác biệt giữa những khoa
học này về phương diện này, thì những khó khăn cản trở sự tiến bộ của triết học
đạo đức đòi hỏi sự quan tâm và năng lực vượt trội hơn để có thể vượt qua.
E7.3, SBN 61-2
Không có ý niệm nào , vốn tìm thấy trong siêu
hình học lại hàm hồ và không chắc chắn hơn những ý niệm về quyền năng
(power), lực (force), năng lượng (energy), hay sự liên kết tất yếu
(necessary connexion) — những ý niệm chúng ta phải liên tục bàn luận trong tất cả những thảo luận
của chúng ta . Do đó, trong tiết này, chúng ta sẽ cố gắng, nếu có thể, để xác định chính xác ý
nghĩa của những ý niệm này, và nhờ đó loại bỏ phần nào sự hàm hồ vốn người ta thường phàn
nàn nhiều trong thể loại triết học này.[1]
E 7.4, SBN 62
Xem dường như đây
là một luận điểm sẽ không gây nhiều tranh luận: đó là tất cả những ý niệm của chúng ta
đều không là gì khác ngoài những sao chép của những ấn tượng của chúng ta , hay
nói cách khác, chúng ta không thể nào nghĩ về bất cứ một gì vốn trước
đây chúng ta chưa từng cảm nhận được, bằng giác quan bên ngoài hay bên
trong.Tôi
đã cố gắng [11] giải thích và chứng minh luận điểm này, và
bày tỏ những hy vọng của tôi, rằng bằng một áp dụng thích đáng của nó, con người có thể đạt đến một sự rõ ràng và chính
xác hơn trong những lập luận triết học so với những gì họ đã đạt được cho đến nay.
Những ý niệm phức
hợp, có lẽ, có thể biết được rõ bằng định nghĩa, vốn là không gì khác hơn một liệt kê của những phần hay những ý niệm đơn giản vốn hợp thành chúng. Nhưng
khi chúng ta đã đẩy những định nghĩa lên đến những ý niệm đơn
giản nhất, và vẫn thấy còn một vài mơ
hồ và không xác định, khi đó chúng ta có thể trông cậy vào phương kế nào? Bằng sáng kiến nào chúng
ta có thể soi sáng những ý niệm này, và làm chúng chính xác và rõ ràng tất cả trước cái nhìn tri tuệ của chúng
ta ?
Hãy đưa ra những ấn tượng hay những cảm xúc nguyên
khởi vốn từ đó những ý niệm được sao chép
lại. Những ấn tượng này đều mạnh mẽ và có thể cảm nhận được qua giác quan.
Chúng không chấp nhận sự mơ hồ. Chúng không chỉ tự thân đã sáng tỏ hoàn
toàn, mà còn có thể soi sáng cho những ý niệm tương ứng vốn nằm trong bóng tối.Và bằng cách này, có lẽ chúng ta có thể
đạt đến một kính hiển vi mới hay một loại quang học, qua đó, trong khoa học đạo
đức, những ý niệm nhỏ bé nhất và đơn giản nhất có thể được phóng lớn lên để dễ
dàng rơi vào trong sự thấu hiểu của chúng ta , và cũng được biết bằng với những
ý niệm dễ cảm nhận nhất, vốn có thể là đối tượng của điều tra của chúng ta .
E 7.5, SBN 63
Do đó, để nắm vững đầy đủ ý niệm về quyền năng hay sự liên
kết tất yếu, ta hãy khảo sát ấn tượng của nó; và để xác định ấn tượng ấy một
cách chắc chắn hơn, chúng ta hãy tìm kiếm
nó trong mọi nguồn vốn từ đó nó có thể phát sinh.
E 7.6, SBN 63
Khi chúng ta nhìn
quanh, hướng về những đối tượng bên ngoài, và xem
xét sự hoạt
động của những nguyên nhân, chúng ta không bao giờ có thể, trong một trường hợp
đơn lẻ, tìm ra được bất kỳ
quyền năng hay sự liên kết tất yếu, bất kỳ tính chất nào, vốn gắn buộc kết quả
với nguyên nhân, và khiến cho một này thành một hệ quả không
thể sai lầm của một kia.
Chúng ta chỉ
thấy, trong thực tế, rằng một này thực sự, đi theo sau một kia. Xung lực của một quả
bi-a được đi kèm với chuyển động ở quả thứ hai. Đây là toàn bộ những gì hiện ra trước những giác quan bên
ngoài. Não thức không cảm nhận bất kỳ cảm giác hay ấn tượng bên trong nào từ sự nối
tiếp này của những đối tượng: Hệ quả là, trong bất kỳ trường hợp cụ
thể, đơn lẻ nào của nguyên nhân và kết quả, không có bất cứ một gì có thể gợi
lên ý niệm về quyền năng hay sự liên kết tất yếu,
E 7.7, SBN 63
Từ lần xuất hiện
đầu tiên của một đối tượng, chúng ta không bao giờ có thể phỏng đoán được hệ
quả nào sẽ từ nó nảy sinh. Nhưng nếu quyền năng hay năng lượng của bất kỳ
nguyên nhân nào có thể được trí óc khám phá ra, chúng ta đã có thể thấy trước được
hệ quả, ngay cả khi chưa có kinh nghiệm; và ngay từ đầu, có thể khẳng định chắc
chắn về nó, chỉ nhờ vào suy nghĩ và lập luận..
E 7.8, SBN 63-4
Trong thực tại, không phần nào của vật
chất, bởi những tính chất cảm
nhận được của nó, lại từng bộc lộ bất kỳ quyền năng hay
năng lượng nào, hay cho chúng ta cơ sở để tưởng tượng, rằng nó có thể tạo ra bất cứ một gì, hoặc được tiếp theo bởi bất kỳ đối tượng
nào khác vốn chúng ta có thể gọi tên là kết quả của nó. Tính rắn chắc, sự giãn nở,
chuyển động; tất cả những tính chất này đều hoàn chỉnh trong tự thân chúng, và không bao giờ chỉ ra bất kỳ biến cố nào vốn có thể là hệ quả từ chúng.
Những cảnh tượng của vũ trụ liên tục thay đổi, và đối
tượng này nối tiếp đối tượng kia trong một chuỗi nối tiếp không gián đoạn; nhưng quyền
năng hay lực, những gì khiến toàn bộ cỗ máy hoạt động, lại hoàn toàn bị che giấu khỏi chúng ta , và không bao giờ tự xác định trong bất kỳ những tính chất được cảm nhận nào của vật thể. Chúng
ta biết, trong thực tế, nhiệt là một tháp tùng bất biến của lửa; nhưng sự liên kết giữa
chúng là gì, chúng ta thậm chí không có chỗ để phỏng đoán hay tưởng tượng. Vì thế,
không thể nào ý niệm về quyền năng lại suy ra từ sự quan sát tỉ mỉ của những vật
thể trong những trường hợp vận hành đơn lẻ của chúng; bởi vì không vật thể nào
từng tự xác định bất kỳ quyền
năng nào, vốn có thể là nguồn gốc của ý niệm này. [12].
E 7.9, SBN 64
Do đó, vì những đối tượng bên ngoài như chúng xuất hiện với những
giác quan, không cho chúng ta ý niệm nào về quyền năng hay sự
liên kết tất yếu, qua hoạt động của chúng trong những trường hợp cụ thể, chúng
ta hãy xem liệu ý niệm này có bắt nguồn từ sự suy ngẫm về hoạt động của não thức
chúng ta hay không và được sao chép từ bất kỳ ấn tượng bên trong nào hay không. Có thể nói
rằng, chúng ta luôn ý thức được quyền năng bên trong; trong khi chúng ta cảm thấy
rằng, chỉ bằng mệnh lệnh đơn giản của ý chí, chúng ta có thể cử động những cơ quan
cơ thể chúng ta , hay điều khiển những khả năng của não thức. Một hành động của ý chí tạo ra chuyển
động ở tay chân chúng ta hay gợi lên một ý niệm mới trong trí tưởng tượng của chúng ta .
Chúng ta biết ảnh hưởng của ý chí này qua ý thức. Do đó, chúng ta có được ý niệm
về quyền năng hay năng lượng; và chắc chắn rằng tự thân chúng ta và tất cả những
sinh vật thông minh khác đều có được quyền năng này. Do đó, ý niệm này là một
ý niệm của tự suy ngẫm, vì nó nảy sinh từ suy ngẫm về hoạt động của não thức của chính chúng ta và về
mệnh lệnh được ý chí thực hiện, với cả những cơ quan của cơ thể và những khả năng của hồn người.
E 7.10, SBN 64-5
Chúng ta sẽ tiến
hành xem xét sự khẳng định ngộ nhận này; và trước hết là về ảnh hưởng của ý chí
với những cơ quan của cơ thể. Chúng ta có thể thấy rằng ảnh
hưởng này là một sự kiện, giống như tất cả những biến cố tự nhiên khác, chỉ có thể
được biết qua kinh nghiệm, và không bao giờ có thể đoán trước được từ bất kỳ năng lượng
hay quyền năng rõ ràng nào trong nguyên nhân, những gì liên kết nó với hệ quả, và biến một này thành hệ quả không
thể sai lầm của một kia. Sự chuyển động của cơ thể chúng ta theo sau mệnh lệnh của ý chí chúng
ta . Về điều này, chúng ta ý thức được trong từng khoảnh khắc. Nhưng phương cách,
nhờ đó điều này được thực hiện; năng lượng, nhờ đó ý chí thực hiện một hoạt động
phi thường như vậy; về điều này, chúng ta còn rất xa với ý thức được ngay lập tức,
đến mức nó sẽ mãi mãi thoát khỏi sự điều tra cần mẫn nhất của chúng ta .
E 7.11, SBN 65
Thứ nhất, liệu có nguyên lý nào trong
tất cả tự
nhiên bí ẩn hơn sự hợp nhất giữa hồn người và thể xác; qua đó giả định một thực thể tinh thần có được ảnh hưởng
trên một
thực thể vật chất, lớn đến
mức, một suy nghĩ tinh tế nhất thì có thể tác động đến khối vật chất thô sơ nhất?
Nếu chúng ta được trao quyền, bởi một mong muốn thầm kín, để dời non lấp bể, hay
kiểm soát những hành tinh trên quỹ đạo của chúng; thì quyền uy rộng lớn này
cũng không phi thường hơn, hay nằm ngoài tầm hiểu biết của chúng ta hơn [so với
việc ý chí điều khiển cơ thể] Nhưng nếu bằng ý thức, chúng ta tri giác được bất kỳ quyền
năng hay năng lượng nào trong ý chí, chúng ta phải biết quyền năng này; chúng
ta phải biết sự liên kết của nó với kết quả; chúng ta phải biết sự hợp nhất bí mật giữa hồn người và thể xác, và bản
chất của cả hai thực thể này; nhờ đó, trong rất nhiều trường hợp, thực thể này có
thể tác động lên thực thể kia.
E 7.12, SBN 65
Thứ hai, chúng ta không
thể vận động tất cả những cơ quan trong cơ thể với cùng một quyền hạn như nhau; dù chúng
ta không thể gán cho bất kỳ lý do nào ngoài kinh nghiệm, cho một sự khác biệt đáng kể đến
thế giữa một này và một kia. Tại sao ý chí có một ảnh hưởng với lưỡi và những ngón tay, nhưng không với tim hay gan? Câu hỏi
này sẽ không bao giờ làm bối rối chúng ta , nếu như chúng ta ý thức được một quyền
năng trong trường hợp trước, nhưng không trong trường hợp sau. Khi đó, chúng ta
sẽ phân biệt, độc lập với kinh nghiệm, tại sao quyền hạn của ý chí với những cơ quan cơ thể lại
bị giới hạn trong những phạm vi cụ thể như vậy. Trong trường hợp đó, khi đã hoàn
toàn quen thuộc với quyền năng hay lực vốn nó vận hành, chúng ta cũng sẽ biết
tại sao ảnh hưởng của nó lại chạm đúng đến những ranh giới như vậy mà không thể
xa hơn.
E 7.13, SBN 66
Một người đột nhiên bị bại liệt chân hay
tay, hoặc người mới vừa mất đi những tay hay chân đó, lúc đầu thường cố gắng lực cử động chúng, và dùng chúng trong những chức năng
thông thường. Ở đây, người này có ý thức về quyền năng để điều khiển
những tay hay chân đó, cũng nhiều như một người hoàn
toàn có sức khỏe ý thức về quyền năng vận động bất kỳ bộ phận cơ thể nào còn ở trong trạng
thái và điều kiện tự nhiên của nó. Nhưng ý thức không bao giờ đánh lừa. Hệ quả là, dù trong trường hợp này hay
trường hợp kia, chúng ta chưa từng ý thức được bất kỳ quyền năng nào. Chúng ta chỉ
nhận biết về ảnh hưởng của ý chí từ kinh nghiệm mà thôi. Và kinh nghiệm chỉ dạy
chúng ta , cách một sự kiện luôn luôn theo sau một sự kiện khác như thế nào; nhưng
không chỉ dẫn cho chúng ta về sự liên kết bí mật, những gì gắn buộc chúng với
nhau, và làm cho chúng không thể tách rời.
E 7.14, SBN 66-7
Thứ ba, chúng ta học biết từ giải phẫu học rằng,
đối tượng trực tiếp của quyền năng trong chuyển động tự ý không phải là bản
thân bộ phận được cử động, mà là những bắp thịt , dây thần kinh, và những tinh
khí động vật nhất định, [2]
cùng có lẽ là những gì còn nhỏ hơn và chưa được biết đến
hơn, qua đó chuyển động được
truyền dẫn liên tiếp trước khi chạm đến bản thân bộ phận vốn chuyển động của nó
vốn là đối tượng trực tiếp của ý chí.
Có thể có một bằng chứng nào chắc chắn hơn
không, rằng quyền năng, nhờ đó toàn bộ hoạt động này được thực hiện, không hề được
biết đến trực tiếp và đầy đủ bởi một cảm xúc hay ý thức bên trong, vốn là, đến mức
độ cuối cùng, bí ẩn và không thể hiểu được? Ở đây, não thức muốn có một sự kiện nào đó: Ngay
lập tức, một sự kiện khác, vốn chúng ta không biết đến, và hoàn toàn khác với sự
kiện dự định, được tạo ra: Sự kiện này tạo ra một sự kiện khác, cũng chưa được biết
đến:. Cho đến cuối cùng, qua
một chuỗi tiếp nối dài, sự kiện mong muốn mới được tạo ra. Nhưng nếu chúng ta cảm
nhận được quyền năng nguyên khởi , thì chúng ta phải biết rõ nó: Nếu chúng ta biết
nó, chúng ta cũng phải biết kết quả của nó; vì mọi quyền năng đều tương ứng với
kết quả của nó. Và ngược lại, nếu không biết kết quả, ta không thể biết hay cảm
nhận được quyền năng đó. Quả thực, làm sao chúng ta có thể ý thức được một
quyền năng điều khiển tay chân, khi chúng ta không hề có quyền năng đó; mà chỉ
có quyền năng điều khiển những tinh khí động vật nhất định, những thứ mà dù
cuối cùng tạo ra chuyển động của tay chân, nhưng lại vận hành theo cách hoàn
toàn nằm ngoài tầm hiểu biết của chúng ta .
E 7.15, SBN 67
Do đó, tôi hy vọng chúng ta có thể kết luận từ
toàn bộ những gì đã nói, không liều
lĩnh, nhưng với quả quyết; rằng ý niệm của chúng ta về quyền năng
thì không
sao chép từ bất kỳ cảm giác hay ý thức về quyền năng nào bên trong chúng ta ,
khi chúng ta tạo ra chuyển động của cơ thể, [3] hay vận dụng tay chân theo chức năng và tác dụng của chúng. Chuyển
động của chúng tuân theo mệnh lệnh của ý chí là một sự kiện của kinh nghiệm thông thường, giống như nhưng biến cố tự nhiên
khác:Nhưng quyền năng hay năng lượng qua đó nó tác động, cũng giống như trong những những bién cố tự nhiên khác, thì không biết được và không hình dung được [13].
E 7.16, SBN 67
Vậy, liệu chúng ta có thể khẳng định rằng chúng ta ý thức được một quyền
năng hay năng lượng trong não thức mình, khi—bằng một hành động hay mệnh lệnh
của ý chí—chúng ta gợi lên một ý niệm mới, tập trung não thức để suy ngẫm về
nó, xoay ngược xoay xuôi nó dưới mọi góc độ, và cuối cùng bỏ nó đi để chuyển
sang một ý niệm khác, sau khi chúng ta cho rằng đã khảo sát nó một cách đủ
chính xác?
Tôi tin rằng những lập luận tương tự sẽ chứng minh rằng ngay cả mệnh lệnh
của ý chí này cũng không mang lại cho chúng ta bất kỳ ý niệm thực sự nào về lực
hay năng lượng.
E 7.17, SBN 67-8
Thứ nhất, phải thừa
nhận rằng khi chúng ta nhận biết một quyền năng, chúng ta cũng phải nhận biết
chính điều kiện nội tại trong nguyên nhân nhờ đó nó có thể sinh ra kết quả; vì
hai khái niệm này được giả định là tương đương. Do đó, chúng
ta phải biết cả nguyên nhân và hậu quả, và sự tương quan giữa chúng. Nhưng
liệu chúng ta có dám khẳng định rằng đã quen thuộc với bản chất của hồn người
và bản chất của một ý niệm, hay quyền năng của một này để tạo ra một kia không?
Đây thực sự là một
sự sáng tạo, một sự tạo ra một gì đó từ hư vô: Điều này ngụ ý một quyền năng
lớn lao đến mức, thoạt nhìn, có vẻ vượt quá khả năng của bất kỳ thực thể nào,
trừ khi là vô hạn. Ít nhất cũng phải thừa nhận rằng một quyền năng như vậy
không được cảm nhận, không được biết đến, thậm chí không thể tưởng tượng nổi
bởi não thức. Chúng ta chỉ cảm nhận được kết quả, tức là sự tồn tại của một ý niệm,
xảy ra sau một mệnh lệnh của ý chí; nhưng cách thức vốn hoạt động này được thực
hiện; quyền năng nhờ đó nó được tạo ra; thì hoàn toàn vượt ngoài khả năng hiểu
biết của chúng ta .
E 7.18, SBN 68
Thứ hai, quyền điều khiển của não thức với chính
nó cũng bị giới hạn, giống như quyền điều khiển của nó với cơ thể; và những
giới hạn này không được biết đến bởi lý trí, hay bất ký hiểu biết nào về bản chất của nguyên nhân và hậu quả, nhưng chỉ bằng kinh nghiệm và quan
sát, như trong tất cả những hiện tượng tự nhiên khác và trong hoạt động của những đối tượng bên ngoài.
Quyền lực của chúng
ta với những cảm xúc và đam mê còn yếu hơn nhiều so với quyền lực với những ý
niệm; và ngay cả quyền lực sau này cũng bị hạn chế trong những giới hạn rất
hẹp. Liệu có ai dám tự nhận mình có thể chỉ ra lý do cuối cùng của những giới
hạn này, hay giải thích tại sao quyền năng lại thiếu sót trong trường hợp này
mà không thiếu sót trong trường hợp kia?
E 7.19, SBN 68-9
Thứ ba, quyền tự điều khiển này thì khác nhau ở
những thời gian khác nhau. Một người khỏe mạnh có được nó nhiều hơn một người đang
quằn quại trong bệnh tật. Chúng ta làm chủ suy nghĩ của chúng ta tốt hơn vào
buổi sáng so với buổi tối; khi đói hơn là sau một bữa ăn no nê. Liệu chúng ta có
thể đưa ra bất kỳ lý do nào cho những biến thiên này, ngoài kinh nghiệm? Vậy
thì, quyền năng mà chúng ta tự nhận là mình ý tthức được đâu rồi? Phải chăng ở
đây, trong một thực thể tinh thần hay vật chất, hay cả hai, đều có một cơ chế
bí ẩn hoặc cấu trúc nội tại nào đó, mà hiệu quả của hành động phụ thuộc vào nó,
và vì hoàn toàn nằm ngoài hiểu biết của chúng ta , nên quyền năng hoặc năng
lượng của ý chí cũng trở nên hoàn toàn không rõ ràng và không thể thấu hiểu?
E 7.20, SBN 69
Ý muốn chắc chắn
là một hoạt động của não thức, vốn chúng ta đã đủ quen thuộc với nó. Hãy suy
ngẫm về nó. Xem xét nó dưới mọi góc độ. Mỗi người chúng ta [4]
có tìm thấy bất cứ một gì trong nó giống như quyền năng sáng tạo này không? Qua
nó, ý muốn có thể tạo ra từ hư vô một ý niệm mới, và như một mệnh lệnh - hãy
thành sự [5],
bắt chước quyền năng toàn năng của Đấng Sáng Tạo—nếu tôi được phép nói như vậy—Đấng
đã triệu vào hiện hữu tất cả những cảnh tượng khác loại của tự nhiên? Chúng ta không
những không ý thức được năng lượng này trong ý muốn , mà còn cần một kinh
nghiệm chắc chắn không kém kinh nghiệm chúng ta đang sở hữu, để thuyết phục bản
thân rằng những hiệu quả phi thường như vậy thực sự có thể phát sinh từ một hoạt
động đơn giản của ý muốn.
E 7.21, SBN 69-71
Phần đông loài người không bao giờ tìm thấy bất kỳ khó khăn
nào trong
việc giải thích những hoạt động thông thường và quen thuộc hơn của tự nhiên; loại như những vật thể nặng rơi xuống thấp, thực vật tăng trưởng, động vật sinh sản, hay sự nuôi dưỡng cơ thể bằng thực phẩm: Nhưng giả định, rằng trong tất cả những trường hợp này, họ nhận thức được chính lực hoặc năng lượng của nguyên nhân, những gì liên kết nó với hậu quả, và
luôn luôn không sai lầm trong hoạt động của nó. Họ hình thành, qua thói quen
lâu ngày, một lối suy nghĩ như thế, đến mức họ khó có thể hình dung được bất kỳ
biến cố nào khác có thể là kết quả từ nó.
Chỉ khi gặp phải
những hiện tượng khác thường, như động đất, ôn dịch và những biến cố kỳ lạ thuộc
bất kỳ loại nào, khiến họ thấy chính họ phải bối rối không xác định được một nguyên
nhân thích hợp và giải thích phương cách trong đó hiệu ứng được nó tạo ra.
Thông thường, trong những khó khăn như vậy, con người phải cầu cứu một nguyên lý
thông minh vô hình nào đó. [14] như nguyên nhân trực tiếp của biến cố đó, vốn làm họ kinh ngạc, và những gì họ nghĩ, không thể giải thích được bằng những quyền
năng thông thường của tự nhiên.
Nhưng những triết
gia, những người đẩy sự chi ly của họ thêm một chút, lập
tức nhận ra rằng, ngay cả trong những biến cố quen thuộc nhất, năng lượng của
nguyên nhân thì cũng không hiểu được như trong những biến cố khác thường nhất, và chúng ta chỉ học được qua kinh nghiệm về sự
Kết Hợp thường xuyên của những đối tượng, nhưng không bao giờ từng có khả năng để thấu hiểu
bất kỳ một gì như sự Liên Kết giữa chúng. Vậy nên,
ở đây, nhiều triết gia tự thấy họ bị lý trí bắt buộc — trong mọi trường hợp — để cầu cứu đến cùng nguyên lý đó, vốn người thường chỉ gói đến nguyên lý đó trong những trường
hợp trông có vẻ huyền diệu và siêu nhiên mà thôi.
Họ nhìn nhận não thức và trí thông minh không chỉ là nguyên nhân sau cùng và nguyên thủy của tất cả sự vật việc, nhưng còn là nguyên nhân
duy nhất và trực tiếp của mọi biến cố, vốn hiện ra trong tự nhiên. Họ cho rằng, những đối tượng vốn
thường được gọi là những nguyên nhân, thực sự đều không là gì, nhưng chỉ là
những nhân dịp; [6] và rằng nguyên lý đích thực và trực tiếp
của tất cả những hậu quả thì không là bất kỳ quyền năng hay lực nào trong tự nhiên, nhưng là một ý chí của Hữu Thể Tối Cao, Đấng có ý chí, rằng những
đối tượng cụ thể loại như
thế, phải sẽ mãi mài, được liên kết
với nhau.
Thay vì nói rằng
một quả bi-a đẩy một quả bi-a khác bằng một lực vốn nó nhận được từ đấng sáng tạo của
tự nhiên [7],
họ nói rằng chính Đấng Tối Cao [8],
bằng một ý chí riêng, đã đẩy quả bi-a thứ hai, và quyết định thực hiện hành động
này dựa trên xung lực của quả bi-a thứ nhất, theo những quy luật tổng quát vốn Ngài
đã đặt ra cho chính ngài trong việc cai quản vũ trụ.
Nhưng những triết
gia, khi tiếp tục điều tra, tìm thấy rằng, cũng như chúng ta hoàn toàn không
biết về quyền năng chi phối tác động lẫn nhau giữa những vật thể, chúng ta cũng
không biết gì hơn về quyền năng chi phối sự tác động của não thưc lên vật thể,
hay của vật thể lên não thức; và chúng ta cũng không thể, bằng giác quan hay ý
thức của chúng ta , xác định nguyên lý tối thượng trong trường hợp này hơn
trường hợp kia.
Như thế, cùng sự thiếu hiểu biết” đó đã dẫn họ đến cùng một kết luận. Họ khẳng định rằng Đấng Tối Cao là nguyên nhân trực
tiếp của sự hợp nhất giữa hồn người và thể xác; và rằng không phải những cơ quan giác quan, khi những đối tượng bên ngoài kích
động, tạo ra những cảm nhận trong não thức; nhưng chính là một ý muốn riêng biệt của Đấng Sáng Tạo Toàn Năng, Đấng
kích thích một cảm giác như vậy, như hệ quả của một chuyển động như vậy trong
cơ năng giác quan.
Trong tự như vậy, không phải bất kỳ năng lượng nào trong ý chí lại tạo ra cử động những bộ phận của cơ thể chúng ta : Chính là tự thân Gót, đấng đoái thương đứng sau trợ
lực cho ý chí của chúng ta , vốn bản thân nó bất lực, và ra lệnh cho cử động đó,
những gì mà chúng ta lầm tưởng
gán cho quyền năng và hiệu lực của riêng chúng ta .
Những triết gia không
dừng lại ở kết luận này, đôi khi còn vươn xa hơn, áp dụng cùng lý luận tương tự
cho cả não thức, trong những hoạt động bên trong của nó. Khả năng nhận thức hay hình dung những
ý niệm của chúng ta không là gì khác ngoài một sự vén lên
cho thấy huyền bí [9] vốn Đấng Sáng Tạo ban cho chúng ta . Khi chúng
ta chủ động hướng tư tưởng đến một đối tượng nào đó và tái hiện hình ảnh của nó
trong trí tưởng tượng, không phải ý chí của chúng ta đã tạo ra ý niệm ấy: Chính
là Đấng Sáng Tạo Vũ Trụ, Đấng tiết lộ ý niệm đó cho não thức và làm cho nó hiện
diện trước chúng ta .
E 7.22, SBN 71
Như thế, theo như
những triết gia này, vạn vật đều thấm đẫm Gót. [10]
Không vừa ý với nguyên lý cho rằng không có gì tồn tại trừ phi do ý chí của
Ngài, và không một gì có được bất kỳ quyền năng nào ngoài việc được Ngài nhường
cho: Họ lấy di mọi quyền năng của tự nhiên cũng như của tất cả những sinh vật đã
được sáng tạo, ngõ hầu sự phụ thuộc của chúng vào Đấng Tối Cao thành rõ rệt và
trực tiếp hơn nữa. Họ không cân nhắc rằng, bằng lý thuyết này, họ làm giảm đi, thay
vì tăng lên sự vĩ đại của những thuộc tính vốn họ tỏ ra vẻ rất mực tôn
sùng. Chắc chắn nếu Đấng Tối Cao ủy thác một mức độ quyền
năng nhất định cho những sinh vật thấp kém hơn sẽ chứng minh cho một quyền năng
lớn lao hơn là việc tự Ngài trực tiếp dùng ý chí để tạo ra mọi sự vật việc.
Việc ngay từ đầu đã thiết kế nên guồng máy thế gian với một sự tiên liệu hoàn
hảo đến mức tự thân nó và bằng sự vận hành riêng của nó có thể phục vụ cho mọi
mục đích của sự an bài, chắc chắn sẽ chứng minh cho một trí tuệ siêu việt hơn
là việc Đấng Sáng Tạo vĩ đại cứ mỗi khoảnh khắc lại phải tự tay điều chỉnh
những cơ phận và dùng hơi thở của mình để thổi sinh lực vào tất cả những bánh
xe của cỗ máy kỳ vĩ đó hoạt động. [11]
E 7.23, SBN 71
Nhưng nếu chúng ta muốn có một phản bác triết học hơn
với lý thuyết này, có lẽ hai suy ngẫm sau đây có thể là đủ.
E 7.24, SBN 72
Thứ nhất, theo tôi, lý thuyết về năng lượng và hoạt
động phổ quát của Đấng Tối Cao này quá táo bạo để có thể thuyết phục được một
người hiểu rõ sự yếu kém của lý trí con người và những giới hạn hẹp hòi mà nó
bị ràng buộc trong tất cả những hoạt động. Cho dù chuỗi lập luận dẫn đến nó có
logic đến đâu, vẫn phải nảy sinh một sự nghi ngờ mạnh mẽ, nếu không phải là sự
chắc chắn tuyệt đối, rằng nó đã đưa chúng ta vượt quá tầm hiểu biết của chúng
ta , khi dẫn đến những kết luận quá phi thường và xa rời dời sống và kinh
nghiệm thông thường.
Chúng ta đã lạc
vào xứ sở thần tiên từ rất lâu trước khi chúng ta đạt đến những bước cuối cùng
trong lý thuyết của mình; và ở đó, chúng ta không có lý do gì để tin tưởng vào những
phương pháp lập luận thông thường của mình, hoặc để nghĩ rằng những phép loại
suy và xác suất thông thường của chúng ta có bất kỳ thẩm quyền nào. Đường dây
của chúng ta quá ngắn để có thể dò được những vực thẳm bao la như vậy. Và tuy
nhiên, chúng ta có thể tự mãn rằng chúng ta được hướng dẫn, trong mỗi bước chúng
ta thực hiện, bởi một loại kinh nghiệm và sự chân thực; chúng ta có thể yên tâm
rằng kinh nghiệm tưởng tượng này không có thẩm quyền khi chúng ta áp dụng nó
cho những đề tài hoàn toàn nằm ngoài phạm vi kinh nghiệm. Nhưng về vấn đề này chúng
ta sẽ có dịp đề cập sau [15].
E 7.25, SBN 72-3
Thứ hai, tôi không
thể nhận thấy bất kỳ sức mạnh nào trong những lập luận làm nền tảng cho thuyết này. Đúng là chúng
ta không biết gì về cách thức những vật thể tác động lẫn nhau: Lực hay năng lượng của chúng hoàn
toàn không thể hiểu được: Nhưng chẳng phải chúng ta cũng không biết gì về cách thức
hay sức mạnh nào vốn một não thức, ngay cả là não thức tối cao, qua đó tác động lên chính nó hay
lên cơ thể sao?
Vậy thì, chúng ta
đã có được ý niệm ấy từ đâu? Chúng ta không có cảm xúc hay
ý thức nào về sức mạnh này trong chính chúng ta . Chúng ta không có ý niệm nào về
Đấng Tối Cao ngoài những gì chúng ta học được từ sự suy ngẫm về những năng lực của
chính mình. Do đó, nếu sự thiếu hiểu biết” của chúng ta là một lý do chính đáng
để bác bỏ bất cứ điều gì, thì chúng ta sẽ bị dẫn dắt đến nguyên lý phủ nhận tất
cả những năng lượng trong Đấng Tối Cao cũng như trong vật chất thô sơ nhất. Chúng
ta chắc chắn hiểu rất ít về hoạt động của một này cũng như của một kia. Phải chăng việc
hình dung rằng chuyển động có thể nảy sinh từ xung lực khó hơn việc nó có thể nảy
sinh từ ý chí? Tất cả những gì chúng ta biết là sự thiếu hiểu biết” sâu xa của chúng
ta trong cả hai trường hợp [16].
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Những khái niệm —power,
force, energy, necessary connexion / quyền năng, lực, năng lượng, sự liên
kết tất yếu
1. Quan điểm của
David Hume
Trong diễn đạt
nổi tiếng của David Hume ở đây —”quyền năng, lực, năng lượng, hoặc sự liên
kết tất yếu”—chúng không được trình bày theo một hệ thống phân loại rõ ràng
với bốn khái niệm riêng biệt, nhưng như một nhóm từ ngữ được cô đọng với chủ
đích. Trong lập luận của ông, Hume cho rằng những từ ngữ
này cùng hướng đến một ý tưởng cơ bản duy nhất: hiệu lực nhân quả, tức là nguyên lý giả định mà nhờ đó
một nguyên nhân tạo ra kết quả tất yếu của nó.
Về mặt lịch sử,
những từ ngữ này xuất phát từ những truyền thống trí tuệ khác nhau. “Quyền
năng” (Power/ dunamis) bắt nguồn từ siêu hình học Aristoteles, biểu thị một
khả năng thực sự vốn có trong những thực thể; “năng lượng” (energy /
energeia) biểu thị tính hiện thực hoặc sự hiện thực hóa tích cực; “lực” (force)
xuất hiện trong triết học tự nhiên thời kỳ cận đại, đặc biệt là trong vật lý cơ
học của Isaac Newton, nơi nó hoạt động như một nguyên nhân chuyển động có thể
mô tả bằng toán học; và “mối liên hệ tất yếu” ( “necessary connexion”) thuộc về
ngữ vựng của siêu hình học, chỉ định sự liên hệ ràng buộc làm cho chuỗi nhân
quả trở nên dễ hiểu hơn là chỉ đơn thuần là sự kế tiếp. Bất chấp những khác
biệt về nguồn gốc và sắc thái, cả bốn từ ngữ đều nhằm mục đích—ngầm hoặc rõ
ràng—nắm bắt cùng một đặc điểm khó nắm bắt: rằng có một gì đó trong thực tại
cưỡng bách sự chuyển dịch từ nguyên nhân sang kết quả.
Phương sách của
Hume là xóa nhòa những khác biệt lịch sử này bằng cách coi những từ ngữ như
những dấu hiệu có thể hoán đổi cho nhau của một giả định triết học duy nhất.
Sau đó, ông áp dụng tiêu chuẩn duy nghiệm: mọi ý niệm chính đáng đều phải bắt
nguồn từ một ấn tượng tương ứng. Tuy nhiên, khi quan sát, xem sét kinh nghiệm,
chúng ta chỉ thấy sự kết hợp thường xuyên — một sự kiện này đều đặn theo sau
một sự kiện khác — chứ chưa bao giờ thấy bất kỳ ấn tượng nào về một mối dây
liên kết tất yếu, quyền năng, hay lực để ràng buộc chúng lại với nhau. Những gì
gọi là tính tất yếu đó không nằm trong bản thân những đối tượng mà nảy sinh từ
sự kỳ vọng theo thói quen của não thức được hình thành qua việc quan sát sự lập
đi lập lại.
Do đó, dù “quyền
năng”, “lực”, “năng lượng” và “sự liên kết tất yếu” không hoàn toàn đồng nhất
về mặt ý nghĩa lịch sử, Hume coi chúng là tương đương về chức năng; bởi lẽ tất
cả chúng đều tự xưng là tên gọi cho cùng một đặc tính của quan hệ nhân quả—một
đặc tính mà khi kiểm chứng kỹ lưỡng, lại thiếu đi cơ sở thực nghiệm. Vì vậy,
Kết luận của ông không chỉ là về ngữ nghĩa mà còn là về nhận thức luận: những
thuật ngữ này, dù không thể thiếu trong nói viết của chúng ta, không tương ứng
với bất kỳ ý niệm rõ ràng và dễ hiểu nào nào xuất phát từ kinh nghiệm, và hệ
quả là chúng trở nên “mơ hồ và không chắc cahwns/bất định.
2. Sự phát triển
lịch sử của những khái niệm này
Trong thời
tiền-Socrates, những giải thích về sự thay đổi đã giả định trước một gì đó
giống như hiệu quả nhân quả, mặc dù nó vẫn chưa được hệ thống hóa thành một lý
thuyết chính thức. những nhà tư tưởng như Heraclitus và Parmenides đã trình bày
vấn đề dưới góc độ trở thành và tồn tại: làm thế nào có thể thay đổi được và
điều gì làm nền tảng cho nó.
Với Heraclitus,
sự thay đổi giống như một dòng sông; “hiệu quả” là Logos—một sự căng
thẳng tiềm ẩn hay “cuộc chiến” giữa những mặt đối lập buộc dòng sông phải tiếp
tục chảy. Ngược lại, Parmenides xem hiện thực như một khối cầu bằng đá cẩm
thạch rắn chắc; nếu một thứ gì đó thực sự “là” thì nó không thể “trở thành” một
thứ khác, tạo ra một cuộc khủng hoảng về cách chúng ta giải thích về “sức mạnh”
dường như khiến mọi thứ thay đổi.
Những câu hỏi ban
đầu này vẫn chưa phân biệt rõ ràng giữa sự tiếp nối có thể quan sát (nhìn thấy
những mùa thay đổi) và tính tất yếu cơ bản , như sự tất yếu ẩn sau (quy luật
tiềm ẩn buộc những mùa phải thay đổi), nhưng chúng đã thiết lập nhu cầu siêu
hình về một nguyên lý để giải thích sự chuyển dịch/thay đổi.
Nhu cầu này được
Aristotle hệ thống hóa một cách cổ điển, khi ông đề xuất những khái niệm
dunamis (quyền năng/tiềm năng) và energeia (hiện thực/năng lượng). Ở đây, quyền năng nhân quả là một đặc tính thực sự của sự vật, đặt nền
tảng cho sự thay đổi trong bản chất của chúng. Sự chuyển đổi từ tiềm năng sang
hiện thực cung cấp một giải thích nội tại về tính tất yếu: kết quả theo sau
nguyên nhân vì bản chất của sự vật. Sự chuyển dịch từ tiềm năng sang năng lượng thực tại đem cho một giải thích
nội tại về tính tất yếu: những kết quả theo sau nguyên nhân chính bởi vì bản
chất của vật là như thế.Thời Trung cổ, đặc biệt là với Thomas Aquinas, tiếp tục
phát triển và thần học hóa khung lý thuyết này, đưa quyền năng nhân quả vào một
vũ trụ có trật tự thần linh và có thể hiểu được.
Như yêu cầu này
đã được công nhận là diễn đàn đạt kinh điển nơi Aristotle, người đã phát biểu
những khái niệm về dunamis (quyền năng/tính tiềm tàng) và năng lượng (năng
lượng/tính hiện thực). Trong hệ thống này, quyền nhân quả là một đặc tính thực
sự và vốn có của vật thể, đặt cơ sở cho sự biến đổi ngay trong bản tính của
chúng. Sự chuyển dịch từ tính kho tàng sang năng lượng thực tế cung cấp một
giải thích nội tại về tính tất yếu: những kết quả theo sau nguyên nhân chính
bởi vì bản chất của vật là như thế. Một hạt sồi sở hữu dunamis (quyền năng) để
trở thành một cây sồi; đó là một “quyền năng” hay tiềm năng nội tại chờ được
khai mở. Energeia chính là năng lượng hiện thực hóa tích cực tiềm năng đó—tức
quá trình tăng trưởng khi nó đâm chồi qua mặt đất—sự chuyển dịch từ cái “có thể
là” sang cái “đang là”. Triết học Kinh viện Trung cổ, đặc biệt là nơi Thomas
Aquinas, cố tạo một khuôn mặt duy lý cho cho gót học Ki tô - đã duy trì và đào
sâu khuôn khổ này về mặt gót học, đẩy “quyền năng” nhân quả vào trong một vũ
trụ có trật tự và củu cánh do Gót thiết lập. Theo quan điểm này, Gót “Nguyên
nhân Đầu tiên”, Người ban cho mỗi thực thể những quyền năng và năng lượng cụ
thể, đảm bảo rằng vũ trụ vận hành không phải do ngẫu nhiên, mà bởi một tính tất
yếu vừa thiêng liêng và vừa thuận lý.
Thời cận đại đã
phá vỡ bức tranh này. Với René Descartes, tự nhiên được tái khái niệm theo cơ
giới: giải thích nhân quả được giảm thiểu thành vật chất chuyển động theo quy
luật. Khái niệm phong phú của Aristotle về “quyền năng” bị loại bỏ như một tính
chất huyền bí. Tuy nhiên, điều này tạo ra một khoảng
trống: khoa học mới sử dụng những khái niệm như chuyển động và tác động mà
không có giải thích rõ ràng về tính tất yếu liên kết nguyên nhân và kết quả.
Isaac Newton giới thiệu “lực” như một khái niệm chính xác về toán học và có khả
năng dự đoán, nhưng lại né tránh giải thích bản chất siêu hình của nó. Do đó, “lực”
trở nên không thể thiếu trong thực hành nhưng lại mơ hồ về mặt khái niệm.
Những triết gia duy lý cố gắng khôi phục tính
tất yếu ở một cấp độ sâu xa hơn. Gottfried Wilhelm Leibniz tái diễn giải thực
tại qua lực nội tại (vis viva), đặt nền tảng cho nhân quả trong những
nguyên tắc siêu hình; Nicolas Malebranche, một triết gia người Pháp thế kỷ 17, còn đi xa hơn, đã chuyển đổi thuyết nhị nguyên Cartesian
thành một thuyết cấp tiến về nhân quả thần thánh - thuyết Cơ Hội (Occasionalism).
Malebranche lập luận rằng vạn vật được tạo ra không có quyền năng. Không vật
thể nào có thể tác động đến vật thể khác, và không não thức nào có thể tác động
đến cơ thể. Chỉ có Gót mới là “nguyên nhân thực sự”. Điều này đã mở đường cho
sự phê phán nổi tiếng của Hume về nhân quả. Mặc dù Hume loại bỏ Gót khỏi phương
trình, ông vẫn hướng đến lập luận của thuyết cơ duyên khi cho thấy răng chúng
ta không bao giờ thực sự thấy một “quyền năng” nào liên kết hai sự kiện — chúng
ta chỉ thấy sự kiện này nối tiếp sự kiện kia. Cả hai tiếp
cận như trên đều bảo tồn tính tất yếu, nhưng với giá là sự trừu tượng siêu hình ngày
càng tăng.
Thuyết duy nghiệm của John Locke đã tạo ra một
sự mâu thuẫn khó giải quyết. Một mặt, Locke tin rằng những vật thể phải có
'quyền năng' để tác động lên nhau (như lửa có quyền năng làm sáp chảy). Mặt
khác, ông lại thú nhận rằng con người không thể nhìn thấy hay cảm nhận trực
tiếp cái quyền năng đó. Điều này tạo ra một bước ngoặt: dù chúng ta vẫn cần
dùng đến khái niệm này, nhưng giá trị khoa học của nó đã bị lung lay vì không
có bằng chứng thực tế. sự thừa nhận này đã đẩy khái niệm 'quyền năng' vào một vị thế bấp bênh:
nó vừa là yếu tố không thể thiếu để giải thích thế giới, vừa là một thực thể mơ
hồ, thiếu bằng chứng thực nghiệm.
Chính sự mâu thuẫn này đã được David
Hume đẩy lên mức triệt để. Bằng cách bác bỏ bất kỳ ý niệm nào không thể truy
nguyên về một ấn tượng, Hume lập luận rằng cả quyền năng, lực, lẫn sự liên kết
tất yếu đều chưa bao giờ hiện diện như một dữ kiện trong kinh nghiệm. Những gì
những nhà tư tưởng trước đây coi là một đặc tính thực thụ của thế giới, thì với
Hume, lại là một sự phóng chiếu của não thức được hình thành thông qua thói
quen. Do đó, tiến trình lịch sử này đã đạt đến điểm đảo chiều: thứ
vốn khởi đầu như một nguyên lý siêu hình khách quan đã trở thành một cấu trúc
tâm lý nội tại. Hệ quả từ sự
phê phán của Hume đã tác động tức thì đến Immanuel Kant, người tìm cách cứu vãn
tính tất yếu bằng cách tái định vị nó không nằm trong bản thân những đối tượng,
mà nằm trong những cấu trúc tiên nghiệm (a priori) của sự hiểu biết.
Theo cách này, khái niệm về sự liên kết tất yếu vẫn tồn tại, nhưng chỉ bằng
cách trải qua một sự biến đổi sâu sắc hơn—từ một đặc tính bản thể luận của thực
tại, trở thành một điều kiện siêu vượt của kinh nghiệm.
Tóm lại, từ thời
Tiền-Socratic đến Hume, khái niệm này đã tiến hóa từ quyền năng thực thụ trong
sự vật, sang lực cơ học không lời giải thích, đến sự mơ hồ được thừa nhận, và
cuối cùng là sự tan rã trong hoài nghi—một tiến trình giải thích lý
do Hume có thể chính đáng mô tả nó như vừa không thể thiếu vừa bất địn, không
chắc chắn.
[2] animal spirits :
tính khí động vật: biểu
thị những năng lượng hoặc sức mạnh cảm xúc tiềm ẩn thúc đẩy suy nghĩ và hành
động của con người, ban đầu được hình dung như một cơ chế sinh lý trong triết
học cận đại, và sau đó được diễn giải lại như những động lực tâm lý hoặc hành
vi trong lý thuyết hiện đại. Trong những nhà tư tưởng như René Descartes và sau
này là David Hume, “tính khí động vật” đề cập đến: Một dạng chất lỏng hoặc sức
mạnh tinh tế, gần như vật lý, lưu thông qua những dây thần kinh, chịu trách
nhiệm về cảm giác, chuyển động và kích thích cảm xúc. Người chúng ta cho rằng
nó bắt nguồn từ não bộ và chảy khắp cơ thể. Nó giải thích cách trạng thái tinh
thần ảnh hưởng đến chuyển động của cơ thể (và ngược lại) - một cách giải thích
sơ khai về khoa học với năng lượng tâm sinh lý hoặc hoạt động thần kinh trước
khi khoa học thần kinh hiện đại ra đời. Với David Hume, “tính khí động vật”
không chỉ đơn thuần là một chất lỏng theo nghĩa đen mà còn là một thuật ngữ
giải thích mang tính chức năng: Nó giải thích tại sao những ý tưởng trở nên
sống động hoặc rực rỡ hơn / tại sao cảm xúc có thể lan rộng hoặc tăng cường. Nó
gắn liền với lý thuyết của ông về: ấn tượng so với ý tưởng. Tính sống động (sức
mạnh và sự hăng hái). Vì vậy, khi Hume nhắc đến “tính khí động vật”, ông nói
về: Năng lượng năng động tiềm ẩn trong hoạt động tinh thần, đặc biệt là trong
đam mê và trí tưởng tượng.
[3] Animal motion : Chuyển động của động vật, Ở đây
Hume chỉ chuyển động của cơ thể con người (không phải động vật nói chung).
Chuyển động
của động vật thường được
hiểu là khả năng tự định hướng di chuyển của một sinh vật—đã được giải thích
theo những cách hoàn toàn khác nhau trong lịch sử triết học. Theo Aristotle,
chuyển động được giải thích theo quan điểm cứu cánh luận (teleological):
động vật di chuyển hướng tới những đối tượng của khát vọng (như thức ăn
hoặc bạn tình) hoặc tránh xa những gì chúng sợ hãi. Đối tượng được nhận thức
này đóng vai trò là nguyên nhân cuối cùng (telos), khởi đầu một tiến
trình trong đó hồn người chỉ đạo cơ thể, với trái tim đóng vai trò trung gian
sinh lý. Theo cách giải thích này, chuyển động mang tính mục đích và “từ trên
xuống”: khát vọng tạo ra một kích hoạt nội tại (thường được mô tả ẩn dụ như “hơi
ấm”), từ đó sinh ra chuyển động của cơ thể. Ngược lại, David Hume đánh dấu
một bước chuyển quyết định sang khuôn khổ kinh nghiệm và hoài nghi. Ông bác bỏ
mọi giải quyết dựa trên những bản chất ẩn giấu như hồn người hay quyền năng nội
tại để giải thích cách não thức điều khiển cơ thể. Thay vào đó, Hume giới hạn
phân tích trong phạm vi những gì có thể quan sát: chúng ta trải nghiệm một hành
động của ý chí và sau đó quan sát thấy sự vận động của cơ thể, nhưng mối liên
hệ nhân quả giữa hai điều này vẫn mờ mờ và không thể nắm bắt.
Những gì những
nhà tư tưởng trước đây coi là một cơ chế “đầy hồn người” thì với Hume chỉ là
một “quyền năng bí ẩn” không thể xác minh. Do đó, chuyển động của động vật trở
thành một loại “hộp đen”: một đầu vào (khát vọng hoặc kích thích) thường xuyên
dẫn đến một đầu ra (chuyển động), nhưng tính tất yếu bên trong không bao giờ
được biết đến một cách trực tiếp—chỉ có thể được suy luận thông qua thói quen.
Sự tương phản này đánh dấu một sự chuyển đổi then chốt từ mục đích luận cổ điển
sang chủ nghĩa hoài nghi hiện đại. Trong khi Aristotle giải thích chuyển động
thông qua mục đích và hình thức nội tại thì Hume lại hòa tan những cách giải
thích đó thành những mô hình trải nghiệm và kỳ vọng tâm lý. Khi làm như vậy,
ông đã làm rõ nền tảng khái niệm cho những giải thích khoa học sau này, trong
đó chuyển động của động vật được hiểu không phải là biểu hiện của hồn người, mà
là một chuỗi những tiến trình sinh lý và cơ học bị chi phối bởi những quy luật
nhân quả hơn là nguyên nhân cuối cùng.
[4] You – tôi chuyển
thành chúng ta
[5] “Fiat” : hãy
thành sự - Trong nội dung triết học về tâm lý và hành động, “fiat” trong
Latinh có nghĩa là “hãy để nó được thực hiện”. Nó như một mệnh lệnh hoặc hành
động có tính uy quyền, vốn khởi động một kết quả.
Hume và câu
hỏi về quyền năng trong ý chí:
Trong đoạn văn
trên , Hume đặt ra một câu hỏi thoạt nghe có vẻ đơn giản: Khi chúng ta quyết
định di chuyển cơ thể — chẳng hạn như giơ tay lên — liệu chúng ta thực sự kinh
nghiệm quyền năng khiến chuyển động đó xảy ra? Chúng ta rõ ràng ý thức được
quyết định hay ý muốn của mình. Nhưng liệu ý thức đó có gồm bất kỳ cảm nhận nào
về cách não thức tạo ra chuyển động không?
Để làm rõ “quyền
năng” ấy thực sự là gì, Hume đưa ra một so sánh ấn tượng. Ông nhắc đến “lệnh
Fiat” của Gót, một ý tưởng lấy từ Sách Sáng Thế, nơi Gót sáng tạo thế giới
chỉ bằng ý muốn — “Hãy có ánh sáng”. Đây là ví dụ rõ ràng nhất có thể tưởng
tượng về quyền năng nhân quả thực sự: một ý muốn trực tiếp đưa một gì đó vào
hiện hữu mà không cần bất kỳ cơ chế hay trung gian nào. Bằng dùng hình ảnh này,
Hume đặt ra một tiêu chuẩn cao cho việc thực sự nhận thức quyền năng trong một
hành động của ý muốn.
Sự phản tỉnh
về kinh nghiệm của chính chúng ta: Sau đó, Hume yêu cầu chúng ta suy ngẫm kỹ về kinh nghiệm của bản thân.
Khi chúng ta hình thành một ý muốn, chúng ta thực sự tìm thấy gì? Chúng ta ý
thức được chính ý định đó, và chúng ta quan sát thấy một chuyển động theo sau.
Nhưng chúng ta không cảm nhận bất kỳ lực, năng lượng, hay mối liên hệ tất yếu
nào nối kết hai điều này. Không có một “sức đẩy nội tại” nào mà chúng ta có thể
phát hiện — không có gì giống với mệnh lệnh sáng tạo được ngụ ý bởi lệnh Fiat thần
thánh. Ý muốn dường như được theo sau bởi chuyển động, nhưng cách thức điều này
xảy ra vẫn hoàn toàn ẩn giấu với chúng ta.
Kết luận tinh
tế nhưng quan trọng của Hume: Kết luận của Hume tinh tế nhưng sâu xa. Ngay cả trong trường hợp thân
thuộc nhất — hoạt động não thức của chính chúng ta — chúng ta cũng không có
nhận thức trực tiếp nào về quyền năng nhân quả. Chúng ta chỉ học được rằng ý
muốn của mình được theo sau bởi chuyển động của cơ thể qua những kinh nghiệm về
sự lập đi lập lại. Theo thời gian, chúng ta bắt đầu mong đợi hiệu quả đó, và sự
mong đợi này tạo ra ý niệm rằng ý muốn gây ra chuyển động. Nhưng ý niệm này
không xuất phát từ bất kỳ ấn tượng nào về quyền năng bản thân; nó xuất phát từ
thói quen.
Ý nghĩa của so
sánh giữa ý muốn con người và hành động sáng tạo thần thánh: Bằng cách so sánh ý muốn con người với hành
động sáng tạo của thần linh, Hume không đưa ra một tuyên bố về gót học. Thay
vào đó, ông dùng một tương phản sinh động để chỉ ra rằng chúng ta thực sự biết
rất ít. Nếu quyền năng nhân quả thực sự là những gì chúng ta có thể nhận thức,
thì sự ý thức về ý muốn của chúng ta phải chứa đựng nó. Vì sự ý thức đó không
chứa đựng nó, chúng ta phải kết luận rằng những gì chúng ta gọi là “quyền năng”
hay “nhân quả” không phải là những gì chúng ta trực tiếp kinh nghiệm — ngay cả
trong não thức của chính mình, nơi chúng ta có thể mong đợi biết rõ nhất.
[6] Occasions > Occasionalism
= thuyết Nhân Dịp
[7] “The author of nature” nhấn mạnh vai trò sáng tạo và thiết lập quy
luật tổng quát
[8] “Deity” nhấn mạnh tính thần thánh và quyền năng tuyệt đối (gồm việc
can thiệp trực tiếp, đặc thù).
[9] Revelation = “mặc
khải” một khái niệm đặc biệt trong gót học (Theology / thần học/ Gót học = môn
học cho những giáo sĩ Ki tô ) của những tôn giáo Abraham (K tô, Juda, Islam):
(a) Thần học là ngành học có hệ thống nghiên cứu về Gót của những tôn giáo
Abraham và quan hệ của Đấng thiêng liêng này với thế giới. Nó dùng những văn bản “thiêng liêng” như Kinh Thánh để
giải thích những ý tưởng tôn giáo cốt lõi—chẳng hạn như bản chất của Gót, vai
trò của Chúa Giê-su và điều gì sẽ xảy ra vào ngày tận thế. Nó cũng xem xét cách
thức những
niềm tin tôn giáo này đã thay đổi qua lịch sử, cách thức con người thực hành chúng và khả năng chịu đựng/chống đỡ của chúng (biện hộ) trước những
câu hỏi logic hoặc triết học. Nội dung là học và trình bày về Gót Abraham , nên tôi dịch ở đây và tất cae những chỗ
khác là “Gót học”. Đối với giới giáo sĩ, Kitô (thày chăn chiên), đó là “khóa
trình huấn luyện chuyên nghiệp” được thiết kế để cung cấp những gì cân thiết
dựa trên Kinh thánh và thực tiễn để rao giảng, đong vai trò hướng dẫn lãnh đạo
cộng đồng giáo dân (con chiên). Từ môn Gót học này nảy sinh một môn học phụ và
vai trò tương ứng đặc biêt – apologetics / Biện giáo . Trong khi giới
chăn chiên dùng gót học để rao giảng và hướng dẫn, người biện hộ (apologist)
lại dùng nó để biện hộ, bào chữa trước những chỉ trích. Trong cấu trúc này, Gót
học cung cấp nội dung, Giáo sĩ xử lý việc áp dụng, và Người biện hộ quản lý
việc bảo vệ về mặt giáo thuyết
(b) Từ revelation
> về cơ bản có nghĩa đơn giàn là “hành động của việc kéo lại / vén lên, mở lên
một tấm màn che để cho thấy những gì đằng sau tấm màn này, những gì được cho/tuyên
bố/ rồi tin theo là “thiêng liêng” hay siêu nhiên, thuộc về thần thánh, dành cho
con người, liên quan đến sự hiện hữu của con người hoặc thế giới – nhưng cho
rằng chúng nằm ngoài tất cả những tìm hiểu của con người nên “thần linh” phải
tiêt lộ cho thấy những nội dung này, vì con người sẽ không bao giờ có thể tự
tìm ra và tự thấu hiểu nổi những huyền bí, màu nhiệm, linh thiêng này”. Từ này
xuất phát từ tiếng Latin revelatio, là một “danh từ hành động” bắt nguồn
từ động từ revelare. > Re-: Tiền tố có nghĩa là “phía sau”
hoặc “ngược lại với” + Velare: Có nghĩa là “che phủ” hoặc “che đậy”,
xuất phát từ velum (một tấm màn che). Nghĩa đen: Để “mở / vé/ kéo lên tâm màn”,
“tiết lộ” hoặc “phơi trần”
Trong những truyền thống Abrahamic—Juda, Kitô
và Ílam—sự mặc khải đề cập đến ý tưởng rằng: Gót / Yahweh / Allah tự bày tỏ
chính Ngài cho nhân loại. Sự bày tỏ này bao gồm: Sự
tồn tại của Ngài Bản chất của Ngài Ý chí của Ngài (luật pháp, mệnh lệnh, hướng
dẫn đạo đức) Giả định cơ bản là gót học: Gót siêu việt (vượt ra ngoài kinh nghiệm và sự
hiểu biết của con người). Do đó, con người không thể biết Gót bằng khả năng của
chính mình (lý trí, giác quan hoặc khoa học). Việc biết Gót chỉ có thể thực
hiện được nếu Gót chọn tự bày tỏ chính Ngài. Vì vậy, sự mặc khải được hiểu như
một cầu nối cần thiết giữa: một Gót vô hạn, ẩn giấu và nhận thức hữu hạn của
con người .
Nói thêm – từ này cũng dùng trong tư tưởng/văn học Tây phương (văn học, tư
tưởng trong thế giới Ki tô)> nói về mặc khải là nói/nhắc/viện dẫn/ đến một cầu
nối giữa những gìtiềm ẩn (cái ẩn bên dưới nội dung văn bản) và cái hiển
nhiên (cái được làm rõ ràng cho người đọc và nhân vật chính).- Thế nên ở đây và
những chỗ khác tôi dịch là “một sự vén lên cho thấy” những gì thường được xem là huyền bí,
màu nhiệm , vô hạn, vốn con người không có khả năng thấu thiểu được bằng khả
năng nhận thức hữu hạn của mình.
[10] every thing is full of God : vạn vật đều thấm đẫm Gót/ Mọi vật đều tràn đầy Gót > có nghĩa là: Gót
là nguyên nhân trực tiếp của mọi sự kiện trong vũ trụ; vạn vật được tạo ra
không có sức mạnh nhân quả thực sự nào của riêng chúng. Đó là cách nói mỉa mai
của Hume để mô tả quan điểm nhân dịp cho rằng hành động của thần thánh
thay thế mọi nguyên nhân tự nhiên.
Trong Hume, ý
tưởng về sự mặc khải – tức quan niệm rằng Gót trực tiếp “tiết lộ” chân lý cho
con người – đã được ông tiếp cận với lập trường phê phán và phương pháp luận
chặt chẽ. Hume bắt đầu bằng việc đặt ra những giới hạn rõ ràng cho những gì có
thể được coi là tri thức thực sự của con người. Đối với ông, mọi tri thức đều
phải được xây dựng trên hai nền tảng: hoặc là kinh nghiệm trực tiếp – những gì chúng
ta cảm nhận qua giác quan – hoặc là những suy luận rút ra từ kinh nghiệm, chẳng
hạn như quy luật nhân quả mà chúng ta nhận biết qua quan sát sự lập đi lập lại.
Tiêu chuẩn kinh nghiệm này không phải là một chi tiết nhỏ trong hệ thống triết
học của Hume; nó chính là nền tảng vững chắc để đánh giá mọi tuyên bố về chân
lý.
Khi áp dụng tiêu
chuẩn này vào khái niệm mặc khải, những khó khăn ngay lập tức nảy sinh. Những
tuyên bố về sự mặc khải thần thánh không thể được kiểm chứng qua kinh nghiệm
thông thường. Chúng ta không thể cảm nhận Gót tiết lộ chân lý theo cách mà chúng
ta cảm nhận những vật thể vật chất hay những hiện tượng tự nhiên. Thay vào đó,
những tuyên bố như vậy thường dựa trên lời chứng của người khác – ai đó khẳng
định rằng họ đã nhận được mặc khải – cùng với truyền thống và thẩm quyền của
những văn bản thiêng liêng. Tuy nhiên, đối với Hume, những nguồn này vốn dĩ đã
chứa đựng sự không chắc chắn. Lời chứng có thể sai lầm hoặc gian dối, truyền
thống có thể bị bóp méo theo thời gian, và những văn bản cần phải được giải
thích, điều này lại mở ra thêm nhiều khả năng hiểu lầm hoặc tranh luận. Do đó,
những tuyên bố về mặc khải không thể đáp ứng được những tiêu chuẩn chứng cứ hợp
lý mà chúng ta thường dựa vào khi lý luận về thế giới hàng ngày.
Tại điểm này, lập
luận của Hume thường bị hiểu lầm. Một số người đương thời cho rằng ông đang bảo
vệ một hình thức của thuyết duy tín (fideism), như thể Hume gợi ý rằng
tôn giáo nên dựa trên tin tưởng tôn giáo thuần túy, độc lập với lý trí. Nhưng
cách hiểu này đã bỏ sót giọng điệu và mục đích thực sự của phân tích Hume. Ông
không hề ủng hộ tin tưởng tôn giáo; ngược lại, ông đang phơi bày cái giá phải
trả khi duy trì tin tưởng tôn giáo. Điểm mấu chốt của Hume là: nếu một người
chấp nhận mặc khải, họ làm vậy mà không có đủ căn cứ lý trí, và do đó, chỉ có
thể làm được điều đó bằng cách gạt bỏ những tiêu chuẩn chứng cứ mà họ thường áp
dụng trong mọi lĩnh vực tìm kiếm chân lý khác.
Cuối cùng, Hume
đã làm sáng tỏ một mâu thuẫn khó có thể giải quyết. Một mặt, nếu chúng ta kiên
định với lý trí và bằng chứng kinh nghiệm, thì những tuyên bố về mặc khải sẽ
trở nên thiếu căn cứ. Mặt khác, nếu chúng ta chọn chấp nhận mặc khải, chúng ta phải
nhượng bộ một ngoại lệ – tức là đối xử với những tuyên bố tôn giáo khác biệt
với tất cả những tuyên bố khác về thực tại. Mục đích của Hume không phải là phủ
nhận mặc khải một cách đơn giản, mà là làm rõ mâu thuẫn này: chúng ta không thể
vừa tuân thủ đầy đủ những đòi hỏi của lý trí, vừa vô điều kiện chấp nhận thẩm
quyền của tôn giáo mặc khải.
[11] Trong phần này,
David Hume bàn về một truyền thống triết học xuất phát từ tư tưởng của
Descartes và được Nicolas Malebranche và những người theo ông. phát triển thành
hệ thống. Truyền thống này là Occasionalism Thuyết Nhân Dịp và nó tạo
thành một nội dung quan trọng cho bàn luận của Hume.Vấn đề bắt đầu từ thuyết
nhị nguyên của Descartes: sự phân chia tách bạch giữa não thức (phi vật chất, phần
suy nghĩ, trừu tượng – cogito ) và cơ thể (vật chất, mở rộng trong không
gian vật lý). Nếu đây là hai thực thể hoàn toàn khác biệt thì việc giải thích
cách chúng tác động lẫn nhau sẽ trở nên khó khăn. Làm thế nào một ý nghĩ vô
hình có thể gây ra một chuyển động cơ thể hữu hình? Làm thế nào một sự kiện vật
lý có thể tạo ra cảm giác trong não thức? Khoảng cách rõ ràng này đã khiến
những nhà triết học Descartes sau này xem xét lại liệu những vật thể được tạo
ra có bất kỳ năng lực nhân quả thực sự nào hay không. Giải pháp của Malebranche
rất triệt để. Ông lập luận rằng không có vật gì được tạo ra - cả cơ thể lẫn não
thức - có được hiệu lực nhân quả thực sự. Những gì chúng ta gọi là “nguyên nhân”
chỉ đơn thuần là những cơ hội / những dịp cho hành động thiêng liêng. Khi một
biến cố nối tiếp một biến cố khác, không phải vì biến cố thứ nhất sinh ra biến
cố thứ hai, nhưng vì Gót muốn biến cố thứ hai xảy ra nhân dịp có biến cố
thứ nhất. Ví dụ:
(a) Một quả bóng
bi-a không di chuyển quả bóng khác bằng lực của chính nó; Gót tạo ra chuyển
động khi xảy ra va chạm.
(b) Ý định hay ý
muốn con người không lay chuyển được thân xác; Gót khiến tay chân cử động khi chúng
ta hình thành ý định.
Thuyết này—Thuyết
nhân dịp—do đó coi Gót là nguyên nhân thực sự duy nhất của mọi sự vật việc
xảy ra. Những sự vật việc do Gót sáng tạo hoàn toàn thụ động và những liên hệ
rõ ràng mà chúng ta quan sát được trong tự nhiên chỉ là những dịp thường
xuyên có sự can thiệp của thần thánh. Malebranche tin rằng quan điểm này bảo
tồn quyền năng toàn năng của thần thánh và tránh được những mâu thuẫn trong tác
động hỗ tương giữa não thức và cơ thể bằng cách loại bỏ mọi năng lực nhân quả
khỏi sinh vật.
Hume tóm tắt quan
điểm này khi ông nói rằng, đối với những triết gia này, “mọi sự vật việc đều
tràn ngập Gót”. Nhưng mục đích của ông là thách thức nó. Trong đoạn văn, ông
lập luận rằng lý thuyết này, thay vì đề cao Gót, thực sự làm giảm đi sự vĩ đại
của Gót. Một hữu thể phải can thiệp vào mọi thời điểm để tạo ra từng sự kiện
dường như kém mạnh mẽ và kém khôn ngoan hơn hữu thể tạo ra một thế giới có khả
năng tự vận hành. Nó sẽ cho thấy sức mạnh lớn hơn trong việc giao phó năng lực
nhân quả cho những thứ được tạo ra và sự khôn ngoan hơn khi thiết kế một hệ
thống vận hành theo những nguyên tắc ổn định mà không cần điều chỉnh liên tục.
Do đó, trong khi những người theo thuyết nhân dịp phản ứng với một vấn đề triết
học thực sự - khó khăn trong việc giải thích quan hệ nhân quả và sự tác động hỗ
tương giữa não thức và cơ thể - thì giải pháp của họ, theo quan điểm của Hume,
đã đi quá xa. Nó thay thế một bí ẩn (sức mạnh nhân quả trong tự nhiên) bằng một
bí ẩn khác thậm chí còn cực đoan hơn (sự can thiệp liên tục của thần thánh),
vượt xa những gì kinh nghiệm có thể biện minh.
