Thursday, April 2, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (08)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )






TIẾT VII.

Về Ý niệm về Sự Kết Nối Tất Yếu.

 

PHẦN I.

E 7.1, SBN 60

Lợi thế của những khoa học toán học lớn hơn những khoa học đạo đức gồm trong điều này, đó là những ý niệm của toán học, với tính cách có thể cảm nhận trực tiếp, luôn rõ ràng và xác định; sự khác biệt nhỏ nhất giữa chúng cũng có thể nhận biết được ngay lập tức, và cùng một từ ngữ luôn biểu đạt cùng một khái niệm nhưng không có sự mơ hồ hay sai lệch. Một hình bầu dục không bao giờ nhầm với một hình tròn, cũng như một đường hyperbola không bao giờ nhầm với một hình ellipsis. Những tam giác cân và tam giác thường đều được phân biệt bởi những ranh giới chính xác hơn nhiều so với cái xấu và cái thiện, cái đúng và cái sai. Nếu bất kỳ từ ngữ nào được định nghĩa trong hình học, não thức sẽ dễ dàng tự thay thế định nghĩa đó cho từ ngữ vốn được định nghĩa trong mọi trường hợp. Hay ngay cả khi không có định nghĩa nào được đem dùng, bản thân đối tượng đó vẫn có thể được đưa ra trước giác quan, và nhờ đó được lĩnh hội một cách vững chắc và rõ ràng.

Nhưng những cảm xúc tinh tế hơn của não thức, những hoạt động của khả năng nhận thức, những xao động khác loại của tình cảm, dù thực sự khác biệt nhau, lại dễ dàng trốn lánh chúng ta khi được xem xét bằng suy ngẫm; và chúng ta cũng không có khả năng để nhớ lại tri giác ban đầu, mỗi khi có dịp hoặc nhu cầu để suy ngẫm về nó. Bằng cách này, sự mơ hồ dần dần được đưa vào lý luận của chúng ta: những đối tượng tương tự dễ dàng được coi là giống nhau: Và cuối cùng, kết luận trở thành rất xa vời với những tiền đề.

 

E 7.2, SBN 60-1

Tuy nhiên, người ta có thể khẳng định một cách an toàn rằng, nếu chúng ta xem xét những khoa học này dưới một ánh sáng thích đáng, thì lợi thế và bất lợi của chúng gần như bù trừ cho nhau, và giảm cả hai về một vị thế ngang bằng. Nếu não thức duy trì những ý niệm hình học một cách rõ ràng và xác định một cách dễ dàng hơn, thì nó lại phải thực hiện một chuỗi lập luận dài và phức tạp hơn nhiều, đồng thời phải so sánh những ý niệm cách biệt nhau xa hơn, để có thể đạt tới những sự thật sâu xa hơn của khoa học đó.

Và nếu những ý niệm đạo đức dễ rơi vào sự mơ hồ và lẫn lộn khi thiếu sự cẩn trọng nghiêm ngặt, thì những suy luận trong những luận giải này luôn ngắn gọn hơn nhiều, và những bước trung gian dẫn đến kết luận cũng ít hơn nhiều so với những ngành khoa học nghiên cứu về lượng và số. Trong thực tế, hiếm có một mệnh đề nào trong Euclid đơn giản đến mức không gồm nhiều thành phần lập luận hơn những gì được tìm thấy trong bất kỳ lý luận đạo đức nào vốn không rơi vào ảo tưởng và tự phụ.

Khi chúng ta truy nguyên những nguyên lý của não thức con người qua chỉ một vài bước, chúng ta ta đã có thể hài lòng với tiến bộ của chúng ta, nhất là khi xét rằng tự nhiên vội vàng ném ra một ra rào cản giới hạn với tất cả những điều tra của chúng ta về nguyên nhân, và sớm buộc chúng ta phải nhìn nhận sự thiếu hiểu biết của chúng ta. Vì vậy, trở ngại chính đối với sự tiến bộ của chúng ta trong những khoa học đạo đức hay siêu hình học là sự mờ mịt của những ý niệm và sự mơ hồ của những từ ngữ. Ngược lại, khó khăn chủ yếu trong toán học là độ dài của những suy luận và phạm vi rộng lớn của suy nghĩ cần thiết để hình thành bất kỳ kết luận nào.

Và có lẽ, sự tiến bộ của chúng ta trong triết học tự nhiên chủ yếu bị sự thiếu hụt những thí nghiệm và hiện tượng thích hợp làm cản trở, vốn những gì thường được tình cờ tìm ra, và không phải lúc nào cũng có thể tìm thấy, khi cần thiết, ngay cả bằng sự khảo cứu siêng năng và thận trọng nhất.  Vì triết học đạo đức cho đến nay dường như nhận được ít sự tiến bộ hơn so với hình học và vật lý, nên chúng ta có thể kết luận rằng, nếu thực sự có sự khác biệt giữa những khoa học này về phương diện ấy, thì những trở ngại cản bước tiến của khoa học khoa học đầu tiên đòi hỏi một mức độ cẩn trọng và năng lực vượt trội hơn để có thể vượt qua

 

E7.3, SBN 61-2

Trong siêu hình học, không có ý niệm nào mơ hồ và bất định hơn những ý niệm về quyền năng (power), lực (force), năng lượng (energy) hay kết nối tất yếu (necessary connexion); thế nhưng, trong tất cả những luận bàn, chúng ta luôn phải dùng chúng. Do đó, trong chương này, chúng ta sẽ cố gắng xác định ý nghĩa chính xác của những từ ngữ này, nếu có thể, từ đó xua tan phần nào sự mịt mờ vốn là những gây nhiều phàn nàn trong loại hình triết học này.[1]

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Mar/2026)

(Còn tiếp... →)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com




[1] Trong siêu hình học phương Tây truyền thống (và đặc biệt theo Hume), những khái niệm quyền năng (power), lực (force), năng lượng (energy) và kết nối tất yếu (necessary connexion) là trung tâm và được sử dụng phổ biến. Hume nhấn mạnh chúng khi bàn về nguyên nhân, hệ quả, và giới hạn nhận thức của con người.Những khái niệm này phát triển qua lịch sử triết học: (1) Presocrates (tiền Socrates): những triết gia như Heraclitus và Democritus đưa ra những ý tưởng sơ khởi về lực, vận động và trật tự tự nhiên, coi vũ trụ như một chuỗi thay đổi liên tục và có thể dự đoán.  (2) Aristotle (384–322 TCN): Phân biệt rõ ràng giữa dynamis (quyền năng tiềm ẩn) và energeia (năng lượng / hiện thực hóa), đồng thời xây dựng hệ thống bốn nguyên nhân để giải thích mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả. Đây là nền tảng cho những khái niệm siêu hình sau này. (3) Triết gia hiện đại (Descartes, Newton): Chuyển những khái niệm này sang cơ học và lực vật lý; Newton bổ sung ý tưởng “necessary connexion” trong vận hành vật lý. Hume phản biện rằng, mặc dù những khái niệm này xuất hiện trong cơ học, con người không trực tiếp nhận biết kết nối tất yếu, mà chỉ học qua kinh nghiệm.  Trong bối cảnh Hume, những khái niệm này có thể hiểu như sau: (1) Quyền năng (Power) – Khả năng tiềm ẩn của một thực thể để gây ra kết quả hay thay đổi trạng thái; Hume cho rằng chúng ta không trực tiếp cảm nhận quyền năng, chỉ nhận thấy tác dụng của nó. (2) Lực (Force) – Quyền năng biểu hiện trong chuyển động hay tác động vật lý; Hume chỉ thấy vận hành và tác dụng của nó, không thấy lực trực tiếp. (3) Năng lượng (Energy) – Bất kỳ khả năng nào khiến thay đổi xảy ra, vật lý hay tinh thần; Hume xem năng lượng là cái “ẩn” đằng sau kết quả mà tâm trí quan sát. (4) Kết nối tất yếu (Necessary connexion) – Mối quan hệ giả định giữa nguyên nhân và kết quả; Hume cho rằng chúng ta không nhận biết trực tiếp, chỉ học qua kinh nghiệm liên tục khi thấy sự kiện đi cùng nhau. Tóm lại, những khái niệm này là trung tâm của siêu hình học phương Tây, liên quan trực tiếp đến cách triết học giải thích nguyên nhân, tác dụng và trật tự tự nhiên. Hume đặt vấn đề trong truyền thống này: mặc dù khái niệm quyền năng, lực, năng lượng và kết nối tất yếu có lịch sử lâu dài từ Aristotle đến Newton, con người không có ý niệm trực tiếp về chúng, mà chỉ rút ra từ kinh nghiệm quan sát.

 

 



[1] Trong siêu hình học phương Tây truyền thống (và đặc biệt theo Hume), những khái niệm quyền năng (power), lực (force), năng lượng (energy)kết nối tất yếu (necessary connexion) là trung tâm và được sử dụng phổ biến. Hume nhấn mạnh chúng khi bàn về nguyên nhân, hệ quả, và giới hạn nhận thức của con người.Những khái niệm này phát triển qua lịch sử triết học: (1) Presocrates (tiền Socrates): những triết gia như Heraclitus và Democritus đưa ra những ý tưởng sơ khởi về lực, vận động và trật tự tự nhiên, coi vũ trụ như một chuỗi thay đổi liên tục và có thể dự đoán.  (2) Aristotle (384–322 TCN): Phân biệt rõ ràng giữa dynamis (quyền năng tiềm ẩn) và energeia (năng lượng / hiện thực hóa), đồng thời xây dựng hệ thống bốn nguyên nhân để giải thích mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả. Đây là nền tảng cho những khái niệm siêu hình sau này. (3) Triết gia hiện đại (Descartes, Newton): Chuyển những khái niệm này sang cơ học và lực vật lý; Newton bổ sung ý tưởng “necessary connexion” trong vận hành vật lý. Hume phản biện rằng, mặc dù những khái niệm này xuất hiện trong cơ học, con người không trực tiếp nhận biết kết nối tất yếu, mà chỉ học qua kinh nghiệm.  Trong bối cảnh Hume, những khái niệm này có thể hiểu như sau: (1) Quyền năng (Power) – Khả năng tiềm ẩn của một thực thể để gây ra kết quả hay thay đổi trạng thái; Hume cho rằng chúng ta không trực tiếp cảm nhận quyền năng, chỉ nhận thấy tác dụng của nó. (2) Lực (Force) – Quyền năng biểu hiện trong chuyển động hay tác động vật lý; Hume chỉ thấy vận hành và tác dụng của nó, không thấy lực trực tiếp. (3) Năng lượng (Energy) – Bất kỳ khả năng nào khiến thay đổi xảy ra, vật lý hay tinh thần; Hume xem năng lượng là cái “ẩn” đằng sau kết quả mà tâm trí quan sát. (4) Kết nối tất yếu (Necessary connexion) – Mối quan hệ giả định giữa nguyên nhân và kết quả; Hume cho rằng chúng ta không nhận biết trực tiếp, chỉ học qua kinh nghiệm liên tục khi thấy sự kiện đi cùng nhau. Tóm lại, những khái niệm này là trung tâm của siêu hình học phương Tây, liên quan trực tiếp đến cách triết học giải thích nguyên nhân, tác dụng và trật tự tự nhiên. Hume đặt vấn đề trong truyền thống này: mặc dù khái niệm quyền năng, lực, năng lượng và kết nối tất yếu có lịch sử lâu dài từ Aristotle đến Newton, con người không có ý niệm trực tiếp về chúng, mà chỉ rút ra từ kinh nghiệm quan sát.