Một Điều Tra Về Những Nguyên
Lý của Đạo Đức
(An Enquiry Concerning the
Principles of Morals)
David
Hume
PHỤ LỤC I.
Về Tình Cảm Đạo
Đức.
M App1.1, SBN 285
NẾU giả thuyết
nêu trên được chấp nhận, thì bây giờ chúng ta sẽ dễ dàng xác định câu hỏi ban đầu
đã nêu [58], liên quan đến những nguyên lý tổng quát về đạo đức; và mặc dù
chúng ta đã hoãn quyết định về câu hỏi này, để tránh rơi vào những suy đoán phức
tạp, vốn không phù hợp với những viết nói về đạo đức, bây giờ chúng ta có thể tiếp
tục và xem xét lý trí hay tình cảm, đi vào tất cả những quyết định
khen ngợi hay chỉ trích, đến mức độ nào.
M App1.2, SBN
285-6
Một nền tảng
chính của khen ngợi về đạo đức được giả định là nằm trong sự hữu ích của bất kỳ
phẩm tính hay hành động nào; rõ ràng là lý trí phải dự vào một phần đáng
kể trong tất cả những quyết định thuộc loại này; vì KHÔNG GÌ ngoài khả năng đó
có thể hướng dẫn chúng ta về khuynh hướng của những phẩm tính và hành động, và
cho thấy những hậu quả có lợi của chúng với xã hội và người sở hữu chúng. Trong
nhiều trường hợp, đây là một vấn đề dễ gây tranh luận lớn: Những nghi ngờ có thể
nảy sinh, những lợi ích đối lập có thể xuất hiện, và sự ưu tiên phải dành cho một
bên dựa trên những cân nhắc tinh tế và một chênh lệch nhỏ về lợi ích. Điều này
đặc biệt đáng chú ý trong những câu hỏi liên quan đến công lý; như có thể tự
nhiên mong đợi từ dạng lợi ích đặc trưng gắn liền vvới đức hạnh này [59]. Nếu mọi
trường hợp đơn lẻ của công lý, giống như trường hợp của lòng từ thiện, đều lợi ích
cho xã hội; thì đây sẽ là một trường hợp đơn giản hơn và hiếm khi gây tranh luận
lớn. Nhưng vì những trường hợp riêng lẻ của công lý thường có hại trong khuynh hướng
ban đầu và trực tiếp, và vì lợi ích cho xã hội chỉ đến từ tuân thủ quy luật tổng
quát, và từ sự đồng thuận và kết hợp của nhiều người trong cùng một hành vi
công bằng; nên trường hợp này trở nên phức tạp và rắc rối hơn. Những hoàn cảnh đa
dạng của xã hội; những hậu quả khác nhau của bất kỳ thực hành nào; những hữu
ích khác nhau, có thể được đưa ra: Trong nhiều trường hợp, tất cả những điều đều
gây nghi ngờ và cần phải thảo luận, nghiên cứu sâu rộng. Đối tượng của luật
pháp dân sự là giải quyết tất cả những câu hỏi liên quan đến công lý. Những
tranh luận của những nhà luật học, những suy ngẫm của những nhà chính trị, những
tiền lệ lịch sử và những văn bản và lưu trữ chính thức đều hướng đến cùng một mục
đích. Và để đưa ra phán quyết chính xác giữa những nghi ngờ phức tạp nảy sinh từ
những lợi ích mơ hồ hay đối lập, thường đòi hỏi một lý trí hay phán
đoán vô cùng tinh tế và chính xác.
M App1.3, SBN 286
Nhưng mặc dù lý
trí, khi được hỗ trợ và cải thiện đầy đủ, là đủ để chỉ dẫn chúng ta nhận biết khuynh
hướng có hại hay có ích của những phẩm tính và những hành động; nhưng nột mình nó
không đủ để tạo ra bất kỳ chỉ trích hay tán thành nào về đạo đức. Lợi ích chỉ
là khuynh hướng hướng đến một mục đích nhất định; và nếu mục đích đó hoàn toàn
không liên quan đến chúng ta, chúng ta sẽ cảm thấy lãnh đạm với phương tiện để
đạt được nó. Ở đây, cần phải có một tình cảm thể hiện để ưu tiên những khuynh hướng
hữu ích hơn những khuynh hướng có hại. Tình cảm này chẳng thể là gì khác ngoài một
cảm xúc về hạnh phúc của loài người, và một phẫn uất trước bất hạnh của họ; vì
những mục tiêu khác nhau ấy chính là những gì vốn đức hạnh và thói hư tật xấu hướng
tới để thúc đẩy. Ở đây, vì vậy, lý trí chỉ dạy chúng ta về những khuynh hướng
hành động khác nhau của những hành vi, còn lòng nhân đạo thì phân biệt để ưu tiên
những hành vi hữu ích và mang lại lợi ích.
M App1.4, SBN
286-7
Sự phân chia này
giữa những khả năng của hiểu biết (lý trí) và tình cảm trong tất cae những quyết
định đạo đức dường như rõ ràng từ giả thuyết nói trước đó. Nhưng tôi sẽ giả định
rằng giả thuyết đó là sai: Khi đó, cần phải tìm kiếm một lý thuyết khác, vốn có
thể là thỏa đáng; và tôi dám khẳng định rằng sẽ không bao giờ tìm thấy một lý
thuyết nào như vậy, chừng nào chúng ta còn giả định rằng lý trí là nguồn duy nhất
của đạo đức. Để chứng minh điều này, chúng ta phải xem xét cẩn thận năm cân nhắc
sau đây.
M App1.5, SBN 287
I.
Một giả thuyết
sai lầm dễ dàng duy trì một vẻ ngoài nào đó của sự thật, trong khi nó hoàn toàn
chỉ dừng lại ở những tổng quát, dùng những từ ngữ không xác định và dùng những so
sánh thay vì những thí dụ. Điều này đặc biệt đáng chú ý ở trường phái triết học
cho rằng việc phân biệt mọi khác nhau về đạo đức đều thuộc về lý trí một mình, với
không có sự đồng tình của tình cảm. Không thể nào, dù chỉ trong một trường hợp
cụ thể nào đó, làm cho giả thuyết này trở nên rõ ràng dễ hiểu; dù nó có thể đưa
ra những hình ảnh khoa trương đến đâu trong những diễn thuyết hay nói viết tổng
quát. Thí dụ, hãy xem xét tội vô ơn bạc nghĩa, [1]
vốn nó xuất hiện ở bất cứ nơi nào chúng ta quan sát thấy thiện chí được thể hiện
và biết đến, cùng với việc làm tốt, ở một bên, và sự đáp trả bằng ác ý hay sự lãnh
đạm, cùng với việc làm xấu hay sao nhãng ở bên kia: Hãy mổ xẻ tất cả những trường
hợp này, và chỉ bằng lý trí của bạn để xem xét: sự đáng trách hay tội lỗi nằm ở
đâu. Bạn sẽ chẳng bao giờ đi đến được bất kỳ kết luận hay giải quyết nào.
M App1.6, SBN
287-8
Lý trí phán đoán,
hoặc dựa trên sự kiện của thực tế hay của những quan hệ. Vậy đầu
tiên, hãy tìm hiểu xem sự kiện vốn chúng ta gọi là tội lỗi ở đâu;
hãy cho thấy nó; xác định thời điểm hiện hữu của nó; mô tả yếu tính hay bản chất
của nó; giải thích giác quan hay năng lực nào nó tự bộc lộ với chúng ta. Nó nằm
trong não thức của người vô ơn. Do đó, người này phải cảm nhận được nó và ý thức
được nó. Nhưng KHÔNG GÌ ở đó, ngoại trừ tình cảm của ác ý hay sự lãnh đạm tuyệt
đối. Bạn không thể nói rằng, tự thân những điều này, luôn luôn và trong mọi
hoàn cảnh, là tội lỗi. Không: Chúng chỉ là tội lỗi, khi nhắm vào những người
trước đây đã bày tỏ và thể hiện thiện chí với chúng ta. Do đó, chúng ta có thể
suy ra rằng, tội vô ơn không phải là bất kỳ sự kiện cá nhân cụ thể nào; nhưng
phát sinh từ một phức tạp của những hoàn cảnh, khi được trình bày trước người
quan sát, chúng khơi dậy tình cảm của trách móc, bởi cấu trúc và kết cấu
cụ thể của não thức người này.
M App1.7, SBN 288
Bạn nói rằng diễn
đạt này là sai. Thực ra, tội lỗi không nằm trong một sự kiện cụ thể nào
đó, vốn tính hiện thực của nó được lý trí bảo đảm với chúng ta: Nhưng nó cốt ở trong
những quan hệ đạo đức nhất định, được lý trí tìm ra, cũng giống như cách
chúng ta tìm ra ra những sự thực của hình học hay đại số bằng lý trí. Nhưng tôi
xin hỏi, những quan hệ vốn bạn đang nói đến ở đây là gì? Trong trường hợp nêu
trên, trước tiên tôi thấy thiện chí và sự giúp đỡ tốt ở một người; sau đó là ác
ý và những hành vi xấu xa ở người kia. Giữa hai người này, có một quan hệ đối
nghịch. Liệu tội lỗi có nằm ở quan hệ đó không? Nhưng giả định một người có ác
ý với tôi hay làm điều xấu với tôi; và ngược lại, tôi lãnh đạm với người đó, hay
làm điều tốt với người đó: Đây chính là quan hệ đối nghịch đó; tuy nhiên, hành
vi của tôi thường được ca tụng là rất đáng khen. Dù có xoay chuyển vấn đề này
theo cách nào đi nữa, bạn cũng không bao giờ có thể có thể đặt nền tảng đạo đức
trên quan hệ được; cuối cùng vẫn phải quay về với những phán quyết của tình cảm.
M App1.8, SBN 288
Khi khẳng định rằng
hai cộng ba bằng một nửa của mười, thì quan hệ bằng nhau ấy, tôi hiểu một cách
hoàn toàn rõ ràng. Tôi hình dung được rằng nếu chia mười thành hai phần sao cho
phần này có đúng bằng số đơn vị với phần kia; rồi nếu đem một trong hai phần ấy
so sánh với hai cộng ba, thì nó sẽ chứa đúng bằng số đơn vị với tổng số đó. Nhưng
khi từ đó bạn rút ra một sự so sánh với những quan hệ đạo đức, thì tôi xin thú
nhận rằng tôi hoàn toàn không hiểu bạn nữa. Một hành vi đạo đức, một tội lỗi,
chẳng hạn như sự bội bạc, là một đối tượng phức tạp. Liệu tính đạo đức có nằm ở
quan hệ giữa những phần của nó với nhau hay không? Bằng cách nào? Theo kiểu gì?
Hãy chỉ rõ quan hệ ấy: hãy nói cụ thể hơn, rõ ràng hơn trong những mệnh đề của bạn
; rồi bạn sẽ dễ dàng thấy ngay sự sai lầm của chúng
M App1.9, SBN
288-9
Không, bạn nói, đạo
đức nằm trong quan hệ giữa những hành động với quy luật của lẽ phải; và chúng
được gọi là tốt hay xấu, tùy vào việc chúng thuận hợp hay không thuận hợp với quy
luật đó. Vậy thì quy luật của lẽ phải này là gì? Nó gồm những gì? Nó được xác định
như thế nào? Bạn nói, bằng lý trí, lý trí xem xét những quan hệ đạo đức của những
hành động. Vậy nên, những quan hệ đạo đức được xác định bằng so sánh hành động
với một quy luật. Và quy luật đó lại được xác định bằng xem xét những quan hệ đạo
đức của những đối tượng. Đây quả là một lập luận tài tình, phải không nào?
M App1.10, SBN
289
Tất cả những điều
này chỉ là siêu hình học, bạn kêu lên: Đủ rồi: Không cần gì hơn nữa để đưa ra một
giả định mạnh mẽ về sự sai lầm. Vâng, tôi trả lời: Đây chắc chắn là siêu hình học:
Nhưng chúng tất cả đều nằm ở phía bạn, những người đưa ra một giả thuyết rối rắm,
không bao giờ có thể được hiểu rõ, và cũng không phù hợp với bất kỳ trường hợp
hay minh họa cụ thể nào. Còn giả thuyết mà chúng tôi chấp nhận thì rất giản dị.
Nó chủ trương rằng đạo đức được xác định bởi tình cảm. Nó định nghĩa đức hạnh
là bất kỳ hành động hay phẩm tính tâm lý và đạo đức nào mang lại cho người
quan sát tình cảm hài lòng của sự tán thành; và ngược lại là thói hư tật xấu.
Sau đó, chúng tôi tiến hành xem xét một vấn đề thực tế rõ ràng, cụ thể là, những
hành động nào có ảnh hưởng này: Chúng tôi xem xét tất cả những hoàn cảnh vốn những
hành động này phù hợp: Và từ đó cố gắng nêu lên một số nhận xét tổng quát liên
quan đến những tình cảm này. Nếu bạn gọi đây là siêu hình học và thấy bất cứ điều
gì khó hiểu ở đây, bạn chỉ cần kết luận rằng tính khí trí tuệ của bạn không phù
hợp với khoa học đạo đức mà thôi.
M App1.11, SBN
289-90
II.
Khi một người, bất
cứ lúc nào, cân nhắc về hành vi của chính mình (chẳng hạn như, liệu người này
có nên, trong một trường hợp cụ thể, giúp đỡ một người anh em hay một ân nhân
hay không), người này phải xem xét những quan hệ riêng biệt này, với tất cả những
trường hợp và tình cảnh của những người đó, để xác định bổn phận và nghĩa vụ
cao hơn: Và để xác định tỷ lệ những cạnh trong bất kỳ một tam giác nào, cần phải
xem xét bản chất của tam giác đó và quan hệ vốn những phần của nó có với nhau. Nhưng
mặc dù có vẻ giống nhau trong hai trường hợp này, về cơ bản, giữa chúng vẫn có
một sự khác biệt sâu xa, gần như tuyệt đối. Một người lý luận suy diễn về hình
tam giác hay hình tròn xem xét những quan hệ đã biết và đã cho của những phần của
những hình này; và từ đó suy ra một quan hệ chưa biết nào đó, tùy thuộc vào những
quan hệ trước. Nhưng trong những cân nhắc đạo đức, chúng ta phải quen biết trước
với tất cả những đối tượng và tất cả những quan hệ của chúng với nhau; và từ một
so sánh của toàn bộ, ấn định lựa chọn hay sự chấp thuận của chúng ta. Không có
sự kiện mới nào cần xác định: Không có quan hệ mới nào cần tìm ra.
Tất cả những trường
hợp của sự việc đều đã được đặt sẵn trước chúng ta, trước khi chúng ta có thể
đưa ra bất kỳ phán quyết tán thành hay khiển trách nào. Nếu có bất kỳ sự kiện
quan trọng nào vẫn chưa được biết đến hay không chắc chắn, trước tiên chúng ta
phải điều tra và sử dụng hiểu biết của mình để làm rõ; và mọi quyết định đạo đức
hay tình cảm đạo đức đều phải hoãn lại. Khi chưa biết ai là kẻ tấn công trước,
làm sao chúng ta có thể phán định, người đã giết người này, là tội lỗi hay vô tội
được? Nhưng sau mỗi hoàn cảnh, mỗi quan hệ đều đã được biết đến, sự hiểu biết
không còn chỗ nào để vận dụng, cũng không còn đối tượng nào để nó có thể tự sử
dụng. Sự tán thành hay chỉ trích, sau đó, không thể là công việc của phán đoán,
mà là của trái tim; và không phải là một mệnh đề hay khẳng định suy đoán, nhưng
là một cảm xúc hay tình cảm chủ động. Trong tiến trình tìm hiểu biết của lý trí,
chúng ta suy diễn những kết luận mới mẻ và chưa biết từ những sự kiện và quan hệ
đã biết. Tuy nhiên, trong những phán đoán đạo đức, tất cả tất cả những trường hợp
và những quan hệ phải được biết trước đầy đủ; và từ việc chiêm nghiệm toàn bộ, cảm
nhận một ấn tượng mới của yêu mến hay ghê tởm, tôn trọng hay khinh miệt, tán
thành hay khiển trách.
M App1.12, SBN
290-1
Do đó, có sự khác
biệt lớn giữa một sai lầm về sự kiện và một sai lầm về đúng-sai đạo đức [2]
và do đó, lý do tại sao điều kể trước thường là tội lỗi chứ không phải điều kể
sau. Khi Œdipus giết cha mình là Laius, Œdipus hoàn toàn không biết quan hệ huyết
thống giữa hai người, và do những hoàn cảnh vô tình và không cố ý, đã hình
thành những quan điểm sai lầm về hành động vốn đã thực hiện. Nhưng khi Nero giết
mẹ là Agrippina, mọi quan hệ với nạn nhân, mọi tình tiết của sự việc đều được
Nero biết rõ từ trước. Chỉ vì động cơ trả thù, sợ hãi hay lợi ích đã chiến thắng
trong trái tim man rợ của bạo chúa này, lấn át hoàn toàn tình cảm bổn phận và
nhân tính. Và khi chúng ta bày tỏ sự căm ghét tột độ đối với Nero – thứ căm
ghét mà chính Nero, chỉ một thời gian ngắn sau, cũng trở nên vô cảm – thì không
phải vì chúng ta nhìn thấy một quan hệ nào đó mà Nero không hề hay biết; mà là
vì, nhờ phẩm chất chính trực trong tâm hồn chúng ta, chúng ta cảm nhận được những
tình cảm mà Nero đã trở nên chai lỳ vì lời xu nịnh và vì đã kiên trì phạm những
tội lỗi kinh hoàng nhất trong suốt thời gian dài. Vậy, mọi phán đoán đạo đức đều
nằm ở những tình cảm ấy, chứ không hề nằm trong việc tìm ra ra bất kỳ quan hệ
nào. Trước khi chúng ta có thể bắt đầu đưa ra bất kỳ quyết định nào thuộc loại
này, Mọi sự vật việc phải được biết rõ và xác định từ phía đối tượng hay hành động.
Không còn gì khác ngoài việc cảm nhận, về phía chúng ta, một tình cảm khiển
trách hay tán thành; chính từ đó, chúng ta tuyên bố hành động ấy là tội lỗi hay
đức hạnh.
M App1.13, SBN
291
III.
Học thuyết này sẽ
trở nên còn rõ ràng hơn nếu chúng ta so sánh cái đẹp đạo đức với cái đẹp tự
nhiên, trong nhiều chi tiết cụ thể, nó có sự tương đồng rất lớn. Tất cả cái đẹp
tự nhiên đều tùy thuộc vào tỷ lệ, quan hệ và vị trí của những phần; nhưng sẽ là
vô lý để từ đó suy diễn rằng nhận thức về cái đẹp, giống như nhận thức về sự thực
trong những bài toán hình học, gồm hoàn toàn trong nhận thức về những quan hệ và
được thực hiện hoàn toàn bằng sự hiểu biết hay những khả năng trí tuệ. Trong mọi
ngành khoa học, não thức chúng ta, từ những quan hệ đã biết, tìm ra những chưa
biết. Nhưng trong mọi quyết định về thị hiếu hay cái đẹp bên ngoài, tất cả những
quan hệ đều hiển hiện trước mắt; và từ đó chúng ta tiến hành cảm nhận một cảm
xúc thỏa mãn hay sự căm ghét, tùy thuộc vào bản chất của đối tượng và sự sắp xếp
của những giác quan của chúng ta.
M App1.14, SBN
291-2
Euclid đã giải
thích đầy đủ tất cả những đặc tính của hình tròn; nhưng lại chưa hề nói một lời
nào về cái đẹp của nó. Lý do thì hiển nhiên. Cái đẹp không phải là một đặc tính
của hình tròn. Nó không nằm ở bất kỳ phần nào của đường cong, vốn những phần của
nó đều cách đều một tâm điểm. Cái đẹp chỉ là tác động hình đó tạo ra trên não
thức vốn cấu trúc đặc thù của não thức khiến nó có khả năng tiếp nhận những cảm
xúc như vậy. Sẽ là vô ích nếu bạn tìm nó trong hình tròn, hay cố tìm nó, bằng
giác quan hay bằng suy luận toán học, trong tất cả những đặc tính của hình đó.
M App1.15, SBN
292
Hãy nghe Palladio
và Perrault, khi họ giải thích tất cả những bộ phận và tỷ lệ của một cây cột: Họ
nói về phần diềm mái, phần diềm mái, phần đế, phần đầu cột, phần thân và phần
khung cửa; và mô tả và vị trí của từng bộ phận này. Nhưng nếu bạn hỏi về mô tả
và vị trí của cái đẹp, họ sẽ sẵn sàng trả lời rằng cái đẹp không nằm ở bất kỳ bộ
phận hay chi tiết nào của cây cột, nhưng là kết quả của tổng thể, khi hình khối
phức tạp đó được trình bày trước một trí tuệ thông minh, nhạy bén với những cảm
nhận tế nhị hơn. Cho đến khi một người quan sát như vậy xuất hiện, thì chỉ có một
hình dạng với những kích thước và tỷ lệ cụ thể mà thôi: Chính từ tình cảm của
người ấy mà vẻ thanh lịch và cái đẹp của nó mới phát sinh.
M App1.16, SBN
292-3
Lại nữa; hãy chú
ý đến Cicero, khi ông mô tả những tội lỗi của một Verres hay một Catiline. Bạn
phải nhìn nhận rằng sự đồi bại về đạo đức cũng nảy sinh theo cùng một cách, từ
sự chiêm nghiệm toàn bộ sự việc, khi được trình bày với một sinh vật có những cơ
quan có một cấu trúc và hình thành đặc biệt như vậy. Nhà hùng biện có thể mô tả
sự giận dữ, sự xấc xược, sự man rợ ở một bên: sự ôn hòa, sự đau khổ, sự buồn bã,
sự vô tội ở bên kia: Nhưng nếu bạn không cảm thấy phẫn nộ hay thương cảm nào nảy
sinh trong bạn từ sự phức tạp của hoàn cảnh này, sẽ vô ích khi bạn hỏi ông ấy, tội
lỗi hay sự đê tiện vốn ông ấy kịch liệt lên án gồm những gì: Nó bắt đầu tồn tại
vào thời điểm nào, hay trong đối tượng nào: Và điều gì đã xảy ra với nó vài
tháng sau đó, khi mọi xu hướng và suy nghĩ của tất cả những nhân vật đã hoàn
toàn thay đổi hay biến mất. Không thể đưa ra trả lời thỏa đáng cho bất kỳ câu hỏi
nào trong số này, dựa trên giả thuyết trừu tượng về đạo đức; và cuối cùng chúng
ta phải nhìn nhận rằng tội lỗi hay sự vô đạo đức không phải là một sự kiện hay
quan hệ cụ thể nào vốn có thể là đối tượng của sự hiểu biết lý trí: Nhưng hoàn
toàn nảy sinh từ cảm xúc của sự không tán thành, vốn theo cấu trúc của bản chất
con người, chúng ta không thể tránh khỏi khi nhận biết được sự dã man hay sự phản
bội.
M App1.17, SBN
293
IV.
Những đối tượng vô
tri vô giác có thể mang với nhau tất cả những quan hệ tương tự, như những gì
chúng ta quan sát thấy ở những tác năng đạo đức; mặc dù những vật vô tri vô
giác không bao giờ có thể là đối tượng của tình yêu hay thù hận, và do đó và do
đó cũng không thể có phẩm hạnh hay tội lỗi. Một cây non vươn cao vượt và làm chết
cây mẹ của nó, cũng có tất cả những quan hệ tương tự như Nero, khi ông giết mẹ
là Agrippina; và nếu đạo đức chỉ đơn thuần nằm trong những quan hệ, chắc chắn
cây non đó tất cũng tội lỗi ngang bằng.
M App1.18, SBN
293
V.
Rõ ràng là những mục
đích cuối cùng của những hành động con người không bao giờ có thể được giải
thích bằng lý trí trong bất kỳ trường hợp nào, nhưng hoàn toàn tự khuyến nghị bằng
cảm xúc và tình cảm của loài người, không hề tùy thuộc vào bất kỳ năng lực trí
tuệ nào. Hãy hỏi một người tại sao người này tập thể dục; người này sẽ
trả lời, vì người này muốn giữ sức khỏe. Nếu bạn hỏi tại sao người này
muốn giữ sức khỏe, người này sẽ sẵn sàng trả lời, vì bệnh tật là đau đớn.
Nếu bạn đẩy những câu hỏi thêm xa hơn, và muốn tìm một lý do tại sao người
này ghét đau đớn, có thể người này không đưa ra được lý do nào. Đây là một
mục đích cuối cùng, và nó không bao giờ được viện dẫn đến bất kỳ đối tượng nào
khác. [3]
M App1.19, SBN
293
Có lẽ, với câu hỏi
thứ hai của bạn, tại sao người này mong muốn có sức khỏe, người này cũng
có thể trả lời rằng điều đó cần thiết cho công ăn việc làm của người này.
Nếu bạn hỏi tại sao người này lại lo lắng về điều đó, người này sẽ trả lời, vì người
này muốn kiếm tiền. Nếu bạn hỏi Tại sao? Người này nói rằng Tiền
là phương tiện để có hay tạo vui sướng Và sau điểm này, việc tiếp tục hỏi
thêm lý do là một điều vô lý. Không thể nào chuỗi câu hỏi lý do này kéo dài đến
vô tận, khi mỗi mong muốn chỉ được giải thích bằng một mong muốn khác. Phải có
một gì đó đáng mong muốn vì chính bản thân nó, và vì sự phù hợp hay đồng thuận trực
tiếp với tình cảm và cảm xúc của con người. [4]
M App1.20, SBN
293-4
Giờ đây, vì đức hạnh
là một mục đích, và đáng mong muốn vì chính bản thân nó, không cần thù lao hay
phần thưởng, mà chỉ đơn thuần vì sự thỏa mãn tức thời mà nó mang lại; nên điều
cần thiết là phải có một cảm xúc (sentiment) mà đức hạnh chạm tới; một thị hiếu
hay cảm giác nội tại (internal taste or feeling), hay bất cứ điều gì bạn muốn gọi,
để phân biệt thiện và ác về đạo đức, và để ôm lấy cái này và từ chối cái kia.
M App1.21, SBN
294
Như vậy, ranh giới
và chức năng riêng biệt của lý trí và thị hiếu dễ dàng được xác định.
Lý trí truyền tải kiến thức về sự thực và sự giả dối: Thị hiếu mang đến cảm nhận
về cái đẹp và sự dị hình xấu xí, thói hư tật xấu và đức hạnh. Cái này tìm ra những
đối tượng như chúng thực sự hiện hữu trong tự nhiên, không thêm bớt. Cái kia có
năng lực sinh sản, và việc dát vàng hay nhuộm màu tất cả những đối tượng tự
nhiên bằng màu sắc vay mượn từ cảm xúc nội tâm, theo một cách nào đó, tạo ra một
sự sáng tạo mới. Lý trí, vốn lạnh lùng và tách biệt, không phải là động lực cho
hành động, vốn chỉ dẫn dắt sự thôi thúc nhận được từ ham muốn hay khuynh hướng,
bằng cách cho chúng ta thấy phương tiện đạt được hạnh phúc hay tránh khỏi đau
khổ: Thị hiếu, vì nó mang lại vui sướng hay đau khổ, và do đó tạo nên hạnh phúc
hay đau khổ, trở thành động lực cho hành động, và là nguồn suối hay xung lực đầu
tiên cho mong muốn và ý chí. Từ những hoàn cảnh và quan hệ, dù đã biết hay chưa
biết, cái trước dẫn ta đến tìm ra những điều ẩn giấu và chưa biết: Sau khi tất
cả hoàn cảnh và quan hệ được đặt ra trước mắt, cái sau khiến ta cảm nhận từ tổng
thể một cảm xúc mới về sự khiển trách hay tán thành. Tiêu chuẩn của cái trước
(lý trí), được thành lập dựa trên bản chất của sự vật, là vĩnh cửu và bất di bất
dịch, ngay cả bởi ý chí của Đấng Tối cao. Tiêu chuẩn của cái sau (thị hiếu), nảy
sinh từ khung nội tại và cấu tạo của những sinh vật, cuối cùng được bắt nguồn từ
Ý chí Tối cao đã ban tặng cho mỗi sinh vật bản chất đặc thù của nó, và sắp xếp những
lớp và những trật tự của hiện hữu khác nhau.
------------------------------------------------------------
M App1.1n58, SBN 285
58 Mục I.
M App1.2n59, SBN 285
59 Xem Phụ lục III.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ
nhất
(May/2025)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] ingratitude
[2] sự khác biệt giữa “ignorantia facti” và “ignorantia
iuris”. nhầm lẫn về sự kiện và nhầm lẫn về đúng-sai đạo đức.
[3] Đoạn văn này là một trong những giải
thích rõ ràng và dễ tiếp cận nhất của Hume về luận điểm của ông rằng lý trí là
nô lệ của cảm xúc (reason is the slave of the passions) và ý chí (volition) cuối
cùng được thúc đẩy bởi cảm xúc (sentiment) chứ không phải lý trí (reason).
[4] Ở đây, Lý trí chỉ là phương tiện và Cảm xúc là mục đích tối hậu.
