Thursday, June 25, 2026

Hume – Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người (06)

Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người

(A Treatise of Human Nature)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 

 


 

 

QUYỂN I – PHẦN 2

Về Những Ý Niệm Không Gian Và Thời Gian

 

MỤC I.

Về Tính Phân Chia Vô Hạn Của Những Ý Niệm Về Không Gian Và Thời Gian

 

T 1.2.1.1, SBN 26

Bất cứ điều gì mang dáng vẻ của một nghịch lý, và trái với những quan niệm đầu tiên cũng như ít thiên kiến nhất của loài người, thường được những triết gia hăm hở đón nhận, vì điều đó cho thấy sự ưu việt của học thuyết của họ, một học thuyết có thể tìm ra những quan điểm xa lạ đến thế đối với cách hiểu thông thường của con người. Mặt khác, bất cứ điều gì được trình bày cho chúng ta mà gây nên sự ngạc nhiên và thán phục đều đem lại cho não thức một sự thỏa mãn đến mức nó mặc sức đắm mình trong những cảm xúc dễ chịu ấy, và sẽ không bao giờ chịu tin rằng niềm vui của mình hoàn toàn không có cơ sở.

Chính từ những khuynh hướng này của những triết gia và những học trò của họ mà nảy sinh sự đồng điệu dễ dãi giữa họ: trong khi những triết gia đưa ra rất nhiều quan điểm kỳ lạ và khó giải thích, thì những học trò lại sẵn sàng tin theo chúng.Tôi không thể nêu ra một ví dụ nào rõ ràng hơn về sự đồng điệu dễ dãi này ngoài học thuyết về Tính Phân Chia Vô Hạn [1]; và chính bằng việc khảo sát học thuyết này mà tôi sẽ bắt đầu phần bàn về những ý niệm về không gian và thời gian.

 

T 1.2.1.2, SBN 26–7

Người ta nhìn chung đều nhìn nhận rằng những năng lực của não thức đều có giới hạn, và rằng chúng không bao giờ có thể đạt tới một quan niệm đầy đủ và thích đáng về một gì vô hạn; và ngay cả nếu điều này không được nhìn nhận, thì những quan sát và kinh nghiệm hiển nhiên nhất cũng đủ làm cho nó trở nên rõ ràng. Cũng hiển nhiên rằng bất cứ gì có thể bị phân chia đến vô hạn đều phải gồm một số phần vô hạn; và không thể đặt ra bất kỳ giới hạn nào cho số lượng những phần ấy mà lại không đồng thời đặt ra giới hạn cho sự phân chia.

Vì thế, gần như không cần đến một phép suy luận nào, chúng ta cũng có thể kết luận rằng ý niệm mà chúng ta hình thành về bất kỳ lượng hữu hạn nào đều không thể phân chia đến vô hạn; trái lại, bằng những sự phân biệt và tách biệt thích hợp, chúng ta có thể đưa ý niệm ấy tới những ý niệm thấp nhất, những ý niệm hoàn toàn đơn giản và không thể phân chia được. Khi bác bỏ năng lực vô hạn của não thức, chúng ta giả định rằng việc phân chia những ý niệm của nó có thể đi đến một điểm kết thúc; và không có cách nào có thể né tránh được tính hiển nhiên của kết luận này

 

T 1.2.1.3, SBN 27

Vì thế, chắc chắn rằng trí tưởng tượng đạt tới một cực tiểu (minimum), và có thể hình thành cho mình một ý niệm mà nó không thể quan niệm bất kỳ sự phân chia nhỏ hơn nào; cũng không thể làm cho ý niệm ấy nhỏ hơn nữa mà không làm cho nó hoàn toàn biến mất.

Khi người ta nói với tôi về phần một phần nghìn hay phần một phần mười nghìn của một hạt cát, tôi có một ý niệm rõ ràng về những con số ấy và về những tỷ lệ khác nhau giữa chúng; nhưng những hình ảnh mà tôi hình thành trong não thức để biểu hiện chính những đối tượng ấy thì không khác nhau chút nào, cũng không nhỏ hơn hình ảnh mà tôi dùng để biểu hiện chính hạt cát, vốn được giả định là lớn hơn chúng vô cùng.

Bất cứ gì gồm những phần thì đều có thể phân biệt được thành chính những phần ấy; và bất cứ gì có thể phân biệt được thì cũng có thể tách rời được. Thế nhưng, dù chúng ta có tưởng tượng về sự vật đó như thế nào đi nữa, ý niệm về một hạt cát cũng không thể phân biệt được thành hai mươi ý niệm khác nhau, và cũng không thể tách rời được thành hai mươi ý niệm khác nhau; huống hồ là thành một nghìn, mười nghìn, hay một số lượng vô hạn những ý niệm khác nhau.

 

T 1.2.1.4, SBN 27–8

Điều này cũng giống như trường hợp những ấn tượng của những giác quan với những ý niệm của trí tưởng tượng.

Hãy đặt một chấm mực lên giấy, cố định ánh mắt vào chấm đó, rồi lùi ra xa cho đến khi cuối cùng người ta không còn nhìn thấy nó nữa; rõ ràng là ngay trước khi nó biến mất, hình ảnh hay ấn tượng ấy hoàn toàn không thể phân chia được nữa.

Không phải vì thiếu những tia sáng chiếu vào mắt chúng ta mà những phần cực nhỏ của những vật ở xa không truyền đến bất kỳ ấn tượng khả giác nào; mà là vì chúng bị đưa ra ngoài khoảng cách tại đó những ấn tượng của chúng đã bị thu giảm xuống một cực tiểu (a minimum) và không còn khả năng bị thu giảm thêm nữa.

Một kính hiển vi hay kính viễn vọng, vốn làm cho chúng trở nên nhìn thấy được, không tạo ra bất kỳ tia sáng mới nào, nhưng chỉ khuếch tán những tia sáng vốn luôn phát ra từ chúng, và bằng phương cách đó, chúng đem cho, vừa cả những phần cho những ấn tượng – vốn hiện ra đơn giản và không phức hợp với mắt thường –, lại vừa đưa một gì thứ mà trước đó vốn không thể nhận biết được tiến tới một một cực tiểu vốn trước đó không thể tri giác được

 

T 1.2.1.5, SBN 28

Từ đây chúng ta có thể nhận ra sai lầm trong quan điểm thông thường rằng năng lực của não thức bị giới hạn ở cả hai phía — và rằng trí tưởng tượng cũng không thể hình thành được một ý niệm tương xứng của những gì vượt quá một mức độ của sự nhỏ bé, cũng như của sự lớn lao nhất định. Không có gì có thể là nhỏ hơn một số ý niệm vốn chúng ta hình thành trong tưởng tượng, cũng như một số hình ảnh xuất hiện với những giác quan — bởi vì có những ý niệm và hình ảnh hoàn toàn đơn giản và không thể phân chia nhỏ hơn được nữa. Thiếu xót duy nhất của những giác quan chúng ta là chúng cho chúng ta những hình ảnh không cân xứng của những sự vật, và biểu hiện như nhỏ bé và đơn giản những gì thực ra là to lớn và gồm một số lượng mênh mông. Chúng ta không nhận thức được sai lầm này; nhưng khi cho rằng những ấn tượng về những đối tượng nhỏ bé vốn giác quan cảm nhận được như tương đương hoặc gần tương đương với những đối tượng thực sự, và sau khi tìm thấy qua lý trí rằng có những vật thể khác nhỏ bé hơn nhiều, chúng ta lại vội vàng kết luận rằng những vật thể này thấp kém hơn bất kỳ ý niệm nào trong trí tưởng tượng hay ấn tượng nào từ giác quan của chúng ta. Tuy nhiên, điều là chắc chắn — rằng chúng ta có thể hình thành những ý niệm vốn chúng sẽ không lớn hơn nguyên tử nhỏ nhất của “vi thể vật chất trong hệ thần kinh” [2] của một con côn trùng nhỏ hơn một con mạt một nghìn lần.

Và chúng ta nên kết luận rằng khó khăn nằm ở việc mở rộng những quan niệm của chúng ta đến mức đủ để hình thành một ý niệm xác thực về một con mạt, hay thậm chí về một con côn trùng nhỏ hơn một con mạt một nghìn lần.

Vì để hình thành một ý niệm xác thực về những sinh vật này, chúng ta phải có một ý niệm phân biệt biểu hiện mọi phần của chúng; điều này, theo hệ thống Tính Phân Chia Vô Hạn, là hoàn toàn không thể được, còn theo hệ thống những phần hay nguyên tử không thể phân chia được thì là cực kỳ khó khăn, do số lượng và sự đa dạng to lớn của những phần ấy.

 

MỤC II.

Về Tính Phân Chia Vô Hạn Của Không Gian Và Thời Gian

 

T 1.2.2.1, SBN 29

Bất cứ khi nào những ý niệm là những biểu hiện tương xứng của những đối tượng, thì những quan hệ, mâu thuẫn và sự phù hợp giữa những ý niệm đều có thể áp dụng cho những đối tượng — và đây, chúng ta có thể nhận xét nói tổng quát, là nền tảng của toàn bộ tri thức con người. Nhưng những ý niệm của chúng ta là những biểu hiện tương xứng của những phần nhỏ nhất của tính chiếm hữu không gian (extension)[3] ; và dù chúng ta giả định rằng những phần đó đã được phân chia và chia nhỏ đến mức nào, chúng cũng không thể nhỏ hơn một số ý niệm mà chúng ta hình thành. Hệ quả rõ ràng là bất cứ điều gì xuất hiện là không thể và mâu thuẫn khi so sánh những ý niệm này, thì thực sự là không thể và mâu thuẫn — không có bất kỳ lý do bào chữa hay lẩn tránh nào.

 

T 1.2.2.2, SBN 29–30

Mọi sự vật việc có khả năng Phân Chia Vô Hạn đều chứa vô số phần — bằng không sự phân chia sẽ bị chặn lại bởi những phần không thể phân chia mà chúng ta sẽ đạt tới ngay lập tức. Vậy nếu bất kỳ độ mở rộng hữu hạn nào cũng có thể Phân Chia Vô Hạn, thì không có mâu thuẫn nào khi giả định rằng một độ mở rộng hữu hạn chứa vô số phần. Và ngược lại, nếu giả định rằng một độ mở rộng hữu hạn chứa vô số phần là vô lý, thì không có độ mở rộng hữu hạn nào có thể Phân Chia Vô Hạn. Nhưng giả định sau quả là vô lý, và tôi dễ dàng tự thuyết phục mình điều này qua việc xem xét những ý niệm rõ ràng của mình. Trước tiên tôi lấy ý niệm nhỏ nhất mà tôi có thể hình thành về một phần của tính chiếm hữu không gian, và chắc chắn rằng không có gì nhỏ hơn ý niệm này, tôi kết luận rằng bất cứ điều gì tôi khám phá nhờ ý niệm đó phải là một tính chất thực của tính chiếm hữu không gian. Rồi tôi lặp lại ý niệm này một lần, hai lần, ba lần, v.v., và thấy rằng ý niệm phức hợp về tính chiếm hữu không gian sinh ra từ việc lặp đi lặp lại đó cứ tăng dần lên, trở thành gấp đôi, gấp ba, gấp tư, v.v. — cho đến khi cuối cùng nó phình to thành một khối đáng kể, lớn hơn hay nhỏ hơn tùy theo tôi lặp lại ý niệm đó nhiều hay ít. Khi tôi ngừng thêm những phần, ý niệm về tính chiếm hữu không gian cũng ngừng tăng; và nếu tôi tiếp tục thêm Vô Hạn, tôi thấy rõ ràng rằng ý niệm về tính chiếm hữu không gian cũng phải trở nên Vô Hạn. Tóm lại, tôi kết luận rằng ý niệm về vô số phần về bản chất là cùng một ý niệm với ý niệm về tính chiếm hữu không gian Vô Hạn; rằng không có độ mở rộng hữu hạn nào có thể chứa vô số phần; và do đó không có độ mở rộng hữu hạn nào có thể Phân Chia Vô Hạn.

 

T 1.2.2.3, SBN 30–1

Tôi có thể bổ sung thêm một lập luận khác do một tác giả danh tiếng [7] đưa ra, một lập luận mà theo tôi vừa rất chặt chẽ, vừa rất đẹp về mặt lý luận. Rõ ràng rằng hiện hữu, tự thân nó, chỉ thuộc về tính duy nhất (unity), và không bao giờ có thể được quy cho con số, ngoại trừ do những đơn vị (units) hợp thành con số ấy. Chúng ta có thể nói rằng hai mươi người hiện hữu; nhưng điều đó chỉ đúng vì một người, hai người, ba người, bốn người, v.v., đều hiện hữu. Và nếu bạn phủ nhận sự hiện hữu của những đơn vị ấy, thì sự hiện hữu của hai mươi người cũng tự nhiên sụp đổ theo.

Vì thế, thật hoàn toàn phi lý khi giả định rằng một con số hiện hữu, nhưng lại phủ nhận sự hiện hữu của những đơn vị hợp thành nó. Mà vì, theo quan điểm thông thường của những nhà siêu hình học, sự mở rộng luôn luôn là một con số và không bao giờ tự phân giải thành một đơn vị hay một đại lượng không thể phân chia nào, nên hệ quả là sự mở rộng hoàn toàn không thể hiện hữu.

Sẽ là vô ích nếu đáp lại rằng bất kỳ lượng xác định nào của sự mở rộng không gian cũng là một đơn vị, chỉ có điều đó là một đơn vị có thể phân chia vô hạn và không bao giờ cạn kiệt trong quá trình phân chia. Bởi theo cùng một lối lập luận ấy, hai mươi người cũng có thể được gọi là một đơn vị; toàn bộ Trái Đất, hay thậm chí toàn thể vũ trụ, cũng có thể được gọi là một đơn vị. Khi đó, tính duy nhất (unity) chỉ còn là một tên gọi mà não thức gán cho một tập hợp nhiều đối tượng; và một tính duy nhất như vậy cũng không có hiện hữu độc lập hơn một con số, vì thực chất nó cũng chỉ là một con số.

Trái lại, tính duy nhất theo đúng nghĩa—một gì có thể hiện hữu độc lập và là điều kiện thiết yếu của mọi con số—phải thuộc về một loại hoàn toàn khác: nó phải là một đơn vị tuyệt đối đơn giản, hoàn toàn không thể phân chia và không thể bị phân chia thành những đơn vị nhỏ hơn.

 

T 1.2.2.4, SBN 31

Toàn bộ lập luận này cũng áp dụng đối với thời gian; ngoài ra, còn có một lập luận bổ sung đáng được lưu ý. Một thuộc tính không thể tách rời của thời gian, và theo một nghĩa nào đó còn tạo nên chính bản chất của nó, là mỗi phần của thời gian đều nối tiếp một phần khác, và không có hai phần nào, dù kề sát nhau đến đâu, lại có thể cùng hiện hữu. [4] Cũng như năm 1737 không thể đồng thời tồn tại với năm 1738, mỗi khoảnh khắc đều phải khác biệt với, và hoặc có trước, hoặc có sau một khoảnh khắc khác.

Vậy thì chắc chắn rằng thời gian, xét như nó hiện hữu, phải được cấu thành từ những khoảnh khắc không thể phân chia. Bởi nếu việc phân chia thời gian không bao giờ đi đến điểm kết thúc, và nếu mỗi khoảnh khắc nối tiếp khoảnh khắc khác mà không hoàn toàn đơn nhất và không thể phân chia, thì sẽ phải có vô số khoảnh khắc, hay những phần của thời gian, cùng hiện hữu với nhau — điều mà, theo tôi, ai cũng sẽ nhìn nhận là mộtmâu thuẫn rành rành.

 

T 1.2.2.5, SBN 31

Tính Phân Chia Vô Hạn của không gian kéo theo tính Phân Chia Vô Hạn của thời gian; điều này hiển nhiên từ bản chất của chuyển động. Vì vậy, nếu điều sau là không thể, thì điều trước cũng không thể.[5]

 

T 1.2.2.6, SBN 31–2

Tôi không nghi ngờ rằng ngay cả người bảo vệ kiên quyết nhất cho lý thuyết về tính Phân Chia Vô Hạn cũng sẽ sẵn sàng nhìn nhận rằng những lập luận này quả thật là những khó khăn, và không thể đưa ra một lời giải đáp nào vừa hoàn toàn rõ ràng vừa hoàn toàn thỏa đáng.

Nhưng ở đây chúng ta có thể nhận thấy rằng không có gì vô lý hơn thói quen gọi cái tự nhận là một chứng minh là một "khó khăn", rồi dùng chính cách gọi đó để né tránh sức mạnh và tính hiển nhiên của nó. Đối với chứng minh, tình hình không giống như đối với lập luận xác suất. Trong những lập luận xác suất, những khó khăn có thể xuất hiện; một lập luận có thể đối trọng với một lập luận khác và làm giảm sức thuyết phục của nó. Nhưng một chứng minh, nếu đúng, thì không chấp nhận bất kỳ khó khăn đối lập nào; còn nếu không đúng, thì nó chỉ là một ngụy biện, và vì thế không bao giờ có thể được gọi là một "khó khăn". Nó hoặc không thể bác bỏ, hoặc hoàn toàn không có giá trị.

Bởi vậy, nói đến những phản bác, những lời đáp lại, hay việc cân nhắc và đối trọng giữa những lập luận trong một vấn đề như thế này, chẳng khác nào nhìn nhận rằng hoặc lý trí của con người chỉ là một trò chơi chữ, hoặc chính người nói như vậy không đủ năng lực để bàn đến những vấn đề ấy.

Một chứng minh có thể khó hiểu vì đối tượng của nó quá trừu tượng; nhưng một khi đã được hiểu đúng, thì không thể còn bất kỳ "khó khăn" nào có khả năng làm suy giảm giá trị của nó.

 

T 1.2.2.7, SBN 32

Đúng là những nhà toán học thường nói rằng phía bên kia của vấn đề cũng có những lập luận mạnh mẽ không kém, và rằng lý thuyết về những điểm không thể phân chia cũng phải đối mặt với những phản bác không thể bác bỏ. Trước khi xem xét chi tiết những lập luận và những phản bác ấy, ở đây tôi sẽ xét chúng như một chỉnh thể, và cố gắng, bằng một lập luận ngắn gọn nhưng dứt khoát, chứng minh ngay rằng chúng hoàn toàn không thể có bất kỳ cơ sở xác đáng nào.

 

T 1.2.2.8, SBN 32

Đây là một châm ngôn đã được xác lập trong siêu hình học: rằng bất cứ điều gì não thức quan niệm một cách rõ ràng đều bao hàm ý niệm về sự hiện hữu khả hữu; hay nói cách khác, không có điều gì chúng ta có thể tưởng tượng lại hoàn toàn bất khả hữu. Chúng ta có thể hình thành ý niệm về một ngọn núi bằng vàng, và từ đó kết luận rằng một ngọn núi như thế có thể thực sự hiện hữu. Nhưng chúng ta không thể hình thành ý niệm về một ngọn núi mà không có thung lũng, nên phải coi điều đó là bất khả hữu.

 

T 1.2.2.9, SBN 32

Giờ đây, điều chắc chắn là chúng ta có một ý niệm về sự mở rộng không gian; nếu không, tại sao chúng ta lại có thể nói và lập luận về nó? Cũng chắc chắn rằng ý niệm ấy, như được trí tưởng tượng hình thành, tuy có thể phân chia thành những phần hay những ý niệm nhỏ hơn, nhưng không thể Phân Chia Vô Hạn, cũng không gồm vô số phần; bởi điều đó vượt quá năng lực nhận thức hữu hạn của chúng ta.

Vậy thì ở đây có một ý niệm về sự mở rộng không gian gồm những phần, hay những ý niệm nhỏ hơn, hoàn toàn không thể phân chia. Do đó, ý niệm ấy không hàm chứa bất kỳ mâu thuẫn nào; do đó, sự mở rộng không gian hoàn toàn có thể hiện hữu phù hợp với ý niệm ấy; và do đó, mọi lập luận nhằm phủ nhận khả năng của những điểm toán học đều chỉ là những ngụy biện kinh viện, không đáng để chúng ta bận tâm.

 

T 1.2.2.10, SBN 33

Chúng ta còn có thể đẩy kết luận này đi thêm một bước nữa, và khẳng định rằng mọi chứng minh được viện ra để bênh vực lý thuyết về tính Phân Chia Vô Hạn của sự mở rộng không gian đều ngụy biện như nhau; bởi lẽ những chứng minh ấy không thể đúng nếu không đồng thời chứng minh được rằng những điểm toán học là bất khả hữu—mà tự nhận có thể chứng minh điều đó thì rõ ràng là một điều phi lý.

 

T 1.2.2.2n6, SBN 30

[6]. Có người phản đối tôi rằng lý thuyết về tính Phân Chia Vô Hạn chỉ giả định một số lượng vô hạn những phần tỷ lệ (aliquot parts), chứ không phải một số lượng vô hạn những phần chia nhỏ (aliquant parts); và rằng vô số những phần tỷ lệ như vậy không cấu thành một sự mở rộng Vô Hạn. Nhưng sự phân biệt này hoàn toàn vô nghĩa. Dù gọi chúng là những phần tỷ lệ hay những phần chia nhỏ, thì chúng cũng không thể nhỏ hơn những phần nhỏ nhất mà chúng ta có thể hình thành trong ý niệm; và vì thế, sự kết hợp của chúng cũng không thể tạo thành một sự mở rộng nhỏ hơn’ [6]

 

T 1.2.2.3n7, SBN 30

[7.] Mons. Malezieu.[7]

 

MỤC III.

Về Những Đặc Tính Khác Của Những Ý Niệm Của Chúng Ta Về Không Gian Và Thời Gian

 

T 1.2.3.1, SBN 33

Không có nhin thấy nào có thể hữu ích hơn cho việc giải quyết mọi tranh luận về những ý niệm cho bằng nguyên lý đã được trình bày ở trên: rằng những ấn tượng luôn đi trước những ý niệm, và mọi ý niệm mà trí tưởng tượng có được đều xuất hiện trước hết dưới hình thức một ấn tượng tương ứng. Những tri giác thuộc loại sau này đều rõ ràng và hiển nhiên đến mức không còn chỗ cho sự tranh luận; trong khi nhiều ý niệm của chúng ta lại mơ hồ đến nỗi ngay cả chính não thức hình thành nên chúng cũng hầu như không thể xác định chính xác bản chất và cấu thành của chúng. Vậy, hãy đem dùng nguyên lý này để tìm hiểu sâu hơn về bản chất của những ý niệm của chúng ta về không gian và thời gian.

 

T 1.2.3.2, SBN 33

Khi mở mắt và hướng nhìn vào những sự vật xung quanh, tôi tri giác được nhiều vật thể hữu hình; rồi khi nhắm mắt lại và suy xét khoảng cách giữa những vật thể ấy, tôi có được ý niệm về sự mở rộng không gian. Vì mọi ý niệm đều bắt nguồn từ một ấn tượng hoàn toàn tương ứng với nó, nên những ấn tượng tương ứng với ý niệm về sự mở rộng không gian này hoặc phải là những cảm giác do thị giác mang lại, hoặc là những ấn tượng nội tại phát sinh từ chính những cảm giác ấy.

 

T 1.2.3.3, SBN 33–34

Những ấn tượng nội tại của chúng ta gồm những đam mê, cảm xúc, ham muốn và ác cảm; và theo tôi, không ai sẽ cho rằng bất kỳ ấn tượng nào trong số đó là khuôn mẫu mà từ đó ý niệm về không gian được rút ra. Vì vậy, chỉ còn lại những giác quan là nguồn có thể truyền cho chúng ta ấn tượng nguyên thủy ấy. Vậy trong trường hợp này, những giác quan thực sự mang đến cho chúng ta ấn tượng nào? Đây chính là câu hỏi trọng tâm, và trả lời của nó sẽ quyết định dứt khoát bản chất của ý niệm này.

 

T 1.2.3.4, SBN 34

Chỉ riêng cái bàn trước mặt tôi, qua việc nhìn, cũng đủ gợi cho tôi ý niệm về sự mở rộng không gian. Ý niệm này bắt nguồn từ một ấn tượng đang hiện ra trước những giác quan ngay lúc này và là sự biểu hiện của ấn tượng ấy. Nhưng những giác quan chỉ truyền cho tôi những ấn tượng về những điểm màu sắc được sắp xếp theo một trật tự nhất định. Nếu con mắt còn nhận thấy điều gì khác ngoài đó, tôi mong điều ấy được chỉ rõ. Nhưng nếu không thể chỉ ra bất kỳ gì hơn, thì chúng ta có thể kết luận chắc chắn rằng ý niệm về sự mở rộng không gian chỉ là một bản sao của những điểm màu sắc ấy, cùng với cách thức chúng xuất hiện.

 

T 1.2.3.5, SBN 34

Giả sử rằng trong đối tượng có sự mở rộng không gian, hay trong tập hợp những điểm màu sắc mà từ đó chúng ta lần đầu tiếp nhận ý niệm về sự mở rộng không gian, những điểm ấy đều có màu tím. Khi ấy, mỗi lần lặp lại ý niệm đó, chúng ta không chỉ sắp đặt những điểm theo đúng trật tự cũ, mà còn gán cho chúng chính màu tím ấy, vì đó là màu duy nhất mà chúng ta đã quen thuộc.

Nhưng về sau, khi kinh nghiệm đem đến cho chúng ta những màu khác như tím hoa cà, xanh lục, đỏ, trắng, đen, cùng vô số cách phối hợp khác nhau của chúng, và khi nhận ra rằng tất cả đều giống nhau ở cách những điểm màu sắc được sắp đặt, thì chúng ta gạt bỏ, trong chừng mực có thể, những đặc điểm riêng của từng màu sắc, và hình thành một ý niệm trừu tượng chỉ dựa trên sự sắp đặt của những điểm, hay trên cách thức chúng xuất hiện, vốn là điều chung giữa tất cả chúng.

Hơn nữa, ngay cả khi sự tương tự ấy vượt ra ngoài phạm vi của một giác quan, và những ấn tượng của xúc giác được nhận thấy là tương tự với những ấn tượng của thị giác ở cách những phần của chúng được sắp đặt, thì điều đó cũng không ngăn cản ý niệm trừu tượng biểu hiện cho cả hai, chính vì sự giống nhau ấy.

Thật vậy, mọi ý niệm trừu tượng đều thực chất chỉ là những ý niệm cụ thể, được xem xét dưới một phương diện nhất định; nhưng khi được gắn với những thuật ngữ tổng quát, chúng có khả năng biểu hiện cho một phạm vi rất rộng những đối tượng, và bao hàm những đối tượng tuy giống nhau ở một vài phương diện, nhưng lại khác biệt rất xa nhau ở nhiều phương diện khác.

 

T 1.2.3.6, SBN 34–35

Ý niệm về thời gian, vì bắt nguồn từ sự nối tiếp của mọi tri giác của chúng ta — từ những ý niệm cũng như những ấn tượng, từ những ấn tượng của cảm giác cũng như ấn tượng của sự phản tư — sẽ cung cấp cho chúng ta một ví dụ về một ý niệm trừu tượng bao quát một phạm vi còn rộng lớn hơn cả ý niệm về không gian. Tuy vậy, trong trí tưởng tượng, nó vẫn luôn được biểu hiện bằng một ý niệm cụ thể riêng lẻ có một đại lượng và một tính chất xác định.

 

T 1.2.3.7, SBN 35

Cũng như chúng ta có được ý niệm về không gian từ sự sắp đặt của những đối tượng có thể nhìn thấy và có thể sờ chạm, thì ý niệm về thời gian được hình thành từ sự nối tiếp của những ý niệm và ấn tượng; bản thân thời gian không bao giờ tự xuất hiện riêng lẻ trước não thức, cũng không bao giờ được não thức nhận biết nếu đứng một mình.

Một người đang ngủ say, hoặc hoàn toàn bị cuốn hút vào một ý nghĩ duy nhất, sẽ không còn ý thức về thời gian; và tùy theo những tri giác của người ấy nối tiếp nhau nhanh hay chậm, cùng một khoảng thời gian sẽ được trí tưởng tượng cảm nhận là dài hơn hoặc ngắn hơn.

Một nhà triết học lớn [8] đã nhận xét rằng những tri giác của chúng ta, về phương diện này, đều có những giới hạn nhất định, do chính bản tính và cấu tạo nguyên thủy của não thức quy định; vượt quá những giới hạn ấy, không một tác động nào của những đối tượng bên ngoài lên giác quan có thể làm cho tư tưởng của chúng ta diễn ra nhanh hơn hay chậm hơn.

Nếu bạn quay thật nhanh một hòn than đang cháy, những giác quan sẽ thấy một vòng tròn lửa liên tục, và dường như không có khoảng thời gian nào giữa những vòng quay của nó. Điều này chỉ vì những tri giác của chúng ta không thể nối tiếp nhau nhanh bằng tốc độ mà chuyển động có thể truyền sang những vật thể bên ngoài.

Ở đâu không có sự nối tiếp của những tri giác, ở đó chúng ta không có khái niệm về thời gian, cho dù giữa những đối tượng vẫn có một sự nối tiếp thực sự. Từ hiện tượng này, cũng như nhiều hiện tượng khác, chúng ta có thể kết luận rằng thời gian không bao giờ xuất hiện trước não thức, hoặc một mình, hoặc đi kèm với một đối tượng hoàn toàn bất biến; nó chỉ được nhận ra qua một sự nối tiếp có thể tri giác được của những đối tượng luôn biến đổi.

 

T 1.2.3.8, SBN 35–36

Để khẳng định kết luận ấy, tôi xin thêm một lập luận khác, mà theo tôi là hoàn toàn dứt khoát và thuyết phục.

Rõ ràng thời gian, hay khoảng thời gian, gồm nhiều phần khác nhau; nếu không, chúng ta sẽ không thể hình dung một khoảng thời gian dài hơn hay ngắn hơn. Cũng rõ ràng rằng những phần ấy không cùng hiện hữu. Chính tính cùng hiện hữu của những phần là đặc tính thuộc về sự mở rộng không gian, và là điều phân biệt không gian với thời gian.

Vậy nên, vì thời gian được cấu thành từ những phần không cùng hiện hữu, nên một đối tượng bất biến — vốn chỉ tạo ra những ấn tượng cùng hiện hữu — không thể tạo ra bất kỳ ấn tượng nào đem lại cho chúng ta ý niệm về thời gian. Do đó, ý niệm ấy phải bắt nguồn từ sự nối tiếp của những đối tượng biến đổi; và trong lần xuất hiện đầu tiên trước não thức, thời gian không bao giờ tách rời khỏi một sự nối tiếp như vậy.

 

T 1.2.3.9, SBN 36

Vậy thì, sau khi đã thấy rằng trong lần xuất hiện đầu tiên trước não thức, thời gian luôn gắn liền với sự nối tiếp của những đối tượng biến đổi, và nếu không có sự nối tiếp ấy thì nó không bao giờ lọt vào sự nhận biết của chúng ta, giờ đây chúng ta phải xem xét liệu thời gian có thể được quan niệm mà không cần quan niệm đến bất kỳ sự nối tiếp nào của những đối tượng hay không; hay nói cách khác, liệu nó có thể tự mình hình thành một ý niệm rõ rệt trong trí tưởng tượng hay không.

 

T 1.2.3.10, SBN 36–37

Muốn biết hai đối tượng vốn kết hợp với nhau trong một ấn tượng có thể tách rời nhau trong ý niệm hay không, chúng ta chỉ cần xét xem chúng có thực sự khác nhau hay không. Nếu khác nhau, thì rõ ràng chúng có thể được quan niệm riêng rẽ. Mọi cái khác nhau đều có thể phân biệt; và mọi cái có thể phân biệt đều có thể tách rời, theo những nguyên tắc đã trình bày ở trên. Ngược lại, nếu chúng không khác nhau thì không thể phân biệt; mà đã không thể phân biệt thì cũng không thể tách rời.

Đó chính là trường hợp của thời gian khi so với sự nối tiếp của những tri giác. Ý niệm về thời gian không bắt nguồn từ một ấn tượng riêng biệt nào, trộn lẫn với những ấn tượng khác nhưng vẫn có thể phân biệt với chúng; trái lại, nó hoàn toàn phát sinh từ cách thức những ấn tượng xuất hiện trước não thức, chứ bản thân nó không phải là một ấn tượng trong số đó.

Năm nốt nhạc được thổi lên bằng một cây sáo đem lại cho chúng ta cả ấn tượng lẫn ý niệm về thời gian; nhưng thời gian không phải là một ấn tượng thứ sáu xuất hiện trước thính giác hay bất kỳ giác quan nào khác. Nó cũng không phải là một ấn tượng thứ sáu mà não thức tìm thấy trong chính mình bằng sự phản tư.

Năm âm thanh ấy, khi xuất hiện theo trình tự đặc biệt đó, không khơi dậy một cảm xúc hay tình cảm nào mới trong não thức; mà một cảm xúc mới như vậy lại chính là điều kiện cần để hình thành một ý niệm mới của sự phản tư. Dù não thức có suy xét đi suy xét lại hàng nghìn lần toàn bộ những ý niệm do cảm giác cung cấp, nó cũng không thể rút ra từ đó một ý niệm nguyên thủy mới nào, trừ khi tự nhiên đã cấu tạo những năng lực của nó theo cách khiến một ấn tượng nguyên thủy mới phát sinh từ chính sự suy xét ấy.

Nhưng trong trường hợp này, não thức chỉ nhận thấy cách thức những âm thanh khác nhau xuất hiện. Sau đó, nó có thể suy nghĩ về chính cách thức ấy mà không cần nghĩ đến những âm thanh cụ thể, và có thể kết hợp nó với bất kỳ đối tượng nào khác. Dĩ nhiên, não thức luôn phải có những ý niệm về một số đối tượng nào đó; nếu không có những ý niệm ấy, nó hoàn toàn không thể đạt tới bất kỳ quan niệm nào về thời gian. Vì thời gian không xuất hiện như một ấn tượng nguyên thủy riêng biệt, nên rõ ràng nó không là gì khác ngoài những ý niệm, ấn tượng hoặc đối tượng khác nhau được sắp đặt theo một cách thức nhất định, tức là nối tiếp nhau.

 

T 1.2.3.11, SBN 37

Tôi biết có những người cho rằng ý niệm về khoảng thời gian có thể được áp dụng theo đúng nghĩa cho cả những đối tượng hoàn toàn bất biến; và theo tôi, đây cũng là quan điểm phổ biến của cả những nhà triết học lẫn người thường.

Nhưng để thấy quan điểm ấy sai lầm, chúng ta chỉ cần nhớ lại kết luận vừa nêu: ý niệm về khoảng thời gian luôn bắt nguồn từ sự nối tiếp của những đối tượng biến đổi, và không bao giờ có thể được truyền đến não thức bởi bất kỳ cái gì cố định và bất biến.

Từ đó tất yếu suy ra rằng, vì ý niệm về khoảng thời gian không thể bắt nguồn từ một đối tượng như thế, nên nó cũng không thể được áp dụng cho đối tượng ấy một cách chính xác hay đúng nghĩa; và do đó, không thể nói bất cứ cái gì bất biến là có khoảng thời gian.

Các ý niệm luôn biểu hiện cho những đối tượng hoặc những ấn tượng mà từ đó chúng được rút ra; nếu không nhờ đến một hư cấu của trí tưởng tượng, chúng không bao giờ có thể biểu hiện hay được áp dụng cho bất kỳ cái gì khác.

Chúng ta sẽ xem xét ở phần sau bằng hư cấu nào mà chúng ta áp dụng ý niệm về thời gian ngay cả cho những gì bất biến, và vì sao người ta thường cho rằng khoảng thời gian là thước đo của sự đứng yên cũng như của chuyển động.

 

T 1.2.3.12, SBN 38

Có một lập luận khác hết sức quyết định nhằm xác lập học thuyết hiện tại về những ý niệm của chúng ta liên quan đến không gian và thời gian. Lập luận này chỉ dựa trên nguyên lý đơn giản rằng những ý niệm ấy được cấu thành từ những phần không thể phân chia. Vì vậy, nó đáng để được xem xét kỹ hơn.

 

T 1.2.3.13, SBN 38

Vì mọi ý niệm có thể phân biệt được cũng đều có thể tách rời được, nên hãy lấy một trong những ý niệm đơn giản và không thể phân chia tạo nên ý niệm phức hợp về sự mở rộng, tách nó khỏi mọi ý niệm khác, rồi xem xét riêng nó để phán đoán về bản chất và những đặc tính của nó.

 

T 1.2.3.14, SBN 38

Rõ ràng đó không phải là ý niệm về sự mở rộng. Bởi ý niệm về sự mở rộng gồm nhiều phần; còn ý niệm đang được giả định ở đây lại hoàn toàn đơn giản và không thể phân chia.

Vậy nó có phải là hư vô chăng? Điều đó hoàn toàn không thể. Vì ý niệm phức hợp về sự mở rộng, vốn thực sự hiện hữu trong não thức, được cấu thành từ những ý niệm như thế; nếu những ý niệm ấy hoàn toàn không là gì cả, thì một cái gì có thực lại được cấu thành từ những cái không tồn tại — điều này rõ ràng là phi lý.

Do đó tôi phải đặt câu hỏi: ý niệm của chúng ta về một điểm đơn giản và không thể phân chia là gì?

Không có gì đáng ngạc nhiên nếu trả lời của tôi có vẻ mới lạ, bởi chính câu hỏi này từ trước đến nay hầu như chưa từng được đặt ra. Người ta thường tranh luận về bản chất của những điểm toán học, nhưng hiếm khi bàn đến bản chất của những ý niệm về những điểm ấy.

 

T 1.2.3.15, SBN 38–39

Ý niệm về không gian được chuyển đến não thức qua hai giác quan: thị giác và xúc giác. Không có gì xuất hiện như một vật có sự mở rộng mà lại không hoặc là nhìn thấy được, hoặc là sờ chạm được.

Ấn tượng phức hợp biểu hiện sự mở rộng ấy gồm nhiều ấn tượng nhỏ hơn, những ấn tượng mà mắt hoặc xúc giác không thể phân chia thêm được nữa. Chúng ta có thể gọi chúng là những ấn tượng về những nguyên tử hay tiểu thể mang màu sắc hoặc tính rắn.

Nhưng như thế vẫn chưa đủ.

Không những những nguyên tử ấy phải có màu sắc hoặc khả năng xúc chạm để có thể xuất hiện trước giác quan; chúng ta còn phải giữ lại ý niệm về màu sắc hay tính xúc giác của chúng để có thể quan niệm chúng trong trí tưởng tượng. Thật vậy, ngoài ý niệm về màu sắc hoặc tính xúc giác ấy ra, không có gì khiến chúng trở thành đối tượng có thể được não thức quan niệm.

Một khi loại bỏ những ý niệm về những phẩm tính cảm giác ấy, những nguyên tử đó hoàn toàn biến mất khỏi tư tưởng và trí tưởng tượng.

 

T 1.2.3.16, SBN 39

Những phần thế nào thì toàn thể cũng thế ấy.

Nếu một điểm không được quan niệm như có màu sắc hoặc có thể sờ vào chạm đến được, thì nó không thể truyền đến chúng ta bất kỳ ý niệm nào; và do đó, ý niệm về sự mở rộng không gian, vốn được cấu thành từ những ý niệm về những điểm ấy, cũng không thể nào hiện hữu.

Nhưng nếu ý niệm về sự mở rộng không gian thực sự có thể hiện hữu, như chính chúng ta ý thức rằng nó hiện hữu, thì những phần của nó cũng phải hiện hữu; và để được như vậy, chúng phải được quan niệm như có màu sắc hoặc có thể sờ vào chạm đến được.

Do đó, chúng ta không có ý niệm nào về không gian hay sự mở rộng không gian, ngoại trừ khi chúng ta quan niệm chúng như một đối tượng của thị giác hoặc xúc giác.

 

T 1.2.3.17, SBN 39

Cùng một lập luận này cũng sẽ chứng minh rằng những đối tượng hay hiện hữu thực nào đó phải lấp đầy những khoảnh khắc không thể phân chia của thời gian, và chính sự nối tiếp của những đối tượng ấy tạo nên độ dài (khoảng kéo dài) của thời gian, đồng thời làm cho não thức có thể hình dung được thời gian. [8]

 

T 1.2.3.7n8, SBN 35

[8].        John Locke.

 

T 1.2.3.11n9, SBN 37

[9].        Xem Tiết V (Of the immateriality of the soul).

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Jun/2026)

(Còn tiếp..  )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] Tính phân chia vô hạn (infinite divisibility) là một lý thuyết toán học và siêu hình học quan trọng trong triết học cận đại, đặc biệt vào thế kỷ XVII–XVIII. Theo lý thuyết này, không gian, thời gian và sự mở rộng không gian (extension) không được cấu thành từ những phần tử tối hậu tuyệt đối không thể phân chia; trái lại, bất kỳ phần nào của chúng, dù nhỏ đến đâu, cũng đều có thể tiếp tục được phân chia thành những phần nhỏ hơn vô hạn, mà không bao giờ đạt tới một đơn vị đơn giản và không thể phân chia. Nói cách khác, lý thuyết này không khẳng định rằng không gian hay thời gian là vô hạn về kích thước, mà khẳng định rằng khả năng phân chia của chúng là vô hạn: mọi đại lượng đều có thể được chia nhỏ mãi mãi mà không có điểm kết thúc.

Trong Chuyên Luận, Hume xem đây là quan điểm được nhiều nhà toán học và siêu hình học đương thời chấp nhận, rồi tiến hành khảo sát và phê phán nền tảng của nó bằng nguyên lý duy nghiệm của ông. Theo Hume, mọi ý niệm chính đáng đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng. Tuy nhiên, trí tưởng tượng và năng lực tri giác của con người luôn đạt tới một giới hạn tối thiểu; vượt quá giới hạn ấy, chúng ta không còn có thể hình thành một ý niệm rõ ràng và phân biệt được về những phần nhỏ hơn nữa. Vì vậy, khái niệm về sự phân chia vô hạn không có một ấn tượng cảm giác tương ứng và cũng không có nền tảng trực tiếp trong kinh nghiệm. Chính vì thế, Hume cho rằng lý thuyết này không thể được biện minh bằng những nguyên lý của nhận thức con người, mà chủ yếu là kết quả của sự suy luận và trừu tượng hóa vượt quá những gì kinh nghiệm thực sự cho phép.

[2] animal spirits: Trong Hume và trong truyền thống sinh lý học – triết học thế kỷ XVII–XVIII không phải là “tinh thần” theo nghĩa linh hồn hay yếu tố siêu hình, mà là một giả thuyết cơ học về những dòng vật chất cực vi trong cơ thể, được cho là đóng vai trò trung gian truyền dẫn những hoạt động thần kinh, cảm giác và vận động

[3] Trong truyền thống triết học cận đại, đặc biệt từ Descartes, “extension” (tính chiếm hữu không gian) được hiểu là thuộc tính cơ bản của vật thể: cái làm cho một đối tượng có độ dài, rộng và chiều sâu, và do đó có thể đo lường và phân chia. Đây là khái niệm trung tâm của cơ học và siêu hình học thế kỷ XVII–XVIII, đối lập với những thuộc tính “phi vật chất” như tư duy.

Trong triết học của Hume, “tính chiếm hữu không gian” không được xem như một thực thể tự tồn, mà là một đối tượng của tri giác (perception), được não thức hình thành qua những ý niệm và ấn tượng. Khi bàn về tính phân chia Vô Hạn, Hume dùng khái niệm này để kiểm tra giới hạn của ý niệm không gian trong não thức: liệu bất kỳ phần nào của cái được gọi là “extension” có thể tiếp tục bị phân chia mãi đến vô hạn hay không, và điều đó có tương ứng với cấu trúc của tri giác hay không.

[4] co-existent

[5] Lập trường của Hume trong những chương này đã ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ triết học hiện đại. Bằng cách quy nguồn gốc của không gian và thời gian về kinh nghiệm cảm giác, Hume phủ nhận rằng chúng là những thực thể hay cấu trúc tồn tại độc lập với kinh nghiệm. Những gì chúng ta gọi là “không gian” chỉ là trật tự trong đó những ấn tượng thị giác và xúc giác xuất hiện trước não thức; còn “thời gian” chỉ là trật tự nối tiếp của những tri giác. Vì vậy, không gian và thời gian không phải là những thực tại mà não thức trực tiếp nhận biết, mà là những cách thức kinh nghiệm được tổ chức trong đời sống tinh thần.

Chính lập trường này đã đặt ra một thách thức lớn đối với triết học sau Hume. Kant thừa nhận rằng Hume đã cho thấy một vấn đề căn bản: nếu mọi ý niệm đều phải bắt nguồn từ kinh nghiệm, thì làm sao giải thích được tính phổ quát và tất yếu của toán học, đặc biệt là hình học và số học? Tuy nhiên, Kant cho rằng Hume đã đi quá xa khi nhìn không gian và thời gian như những sản phẩm của kinh nghiệm. Theo Kant, muốn tri giác những sự vật như ở “bên ngoài nhau” trong không gian, hay những biến cố như xảy ra “trước và sau” trong thời gian, não thức phải có sẵn hai hình thức trực quan tiên nghiệm là không gian và thời gian. Chính chúng là điều kiện tiên nghiệm làm cho mọi kinh nghiệm cảm tính trở nên khả hữu. Sau đó, khả năng tạo khái niệm từ kinh nghiêm mới đem dùng những phạm trù thuần túy—chẳng hạn như thực thể, nhân quả hay cộng đồng—để thống nhất những trực quan ấy thành kinh nghiệm về những đối tượng. Vì vậy, đối với Hume, kinh nghiệm tạo nên ý niệm về không gian và thời gian; còn đối với Kant, không gian và thời gian chính là điều kiện làm cho mọi kinh nghiệm trở nên khả hữu.

Ảnh hưởng của Hume không dừng lại ở Kant. Hơn một thế kỷ sau, Nietzsche tiếp tục phát triển khuynh hướng chống siêu hình học mà Hume đã khởi xướng. Nietzsche cũng bác bỏ quan niệm cho rằng con người có thể tiếp cận một thực tại “tự thân” nằm sau hiện tượng. Tuy nhiên, ông còn đi xa hơn Hume. Nếu Hume vẫn tin rằng triết học phải phân tích cẩn thận nguồn gốc và giới hạn của những ý niệm, thì Nietzsche đặt nghi vấn ngay cả đối với khái niệm chân lý khách quan. Theo ông, những phạm trù mà chúng ta dùng để hiểu thế giới không phản ánh bản chất của thực tại, mà là những cách diễn giải do đời sống và ngôn ngữ tạo nên. Vì thế, ở Nietzsche có thể thấy sự tiếp nối tinh thần phê phán của Hume, nhưng theo một hướng triệt để hơn nhiều.

Đến thế kỷ XX, Bertrand Russell đánh giá Hume là một trong những người đặt nền móng cho triết học phân tích hiện đại. Russell đặc biệt tán thành phương pháp của Hume: thay vì bắt đầu bằng những giả định siêu hình lớn, Hume luôn truy ngược những khái niệm về những gì trực tiếp xuất hiện trong kinh nghiệm. Dù Russell không chấp nhận toàn bộ kết luận của Hume, ông cho rằng chính thái độ phân tích chặt chẽ và hoài nghi đối với những khái niệm mơ hồ đã mở đường cho triết học hiện đại, nhất là trong việc phân tích ngôn ngữ, nhận thức và nền tảng của khoa học.

Nhìn trên toàn bộ tiến trình ấy, có thể thấy Hume đứng ở một vị trí bản lề trong lịch sử triết học. Ông kế thừa truyền thống kinh nghiệm luận của Locke và Berkeley, nhưng đẩy nó đến những hệ quả triệt để hơn bất kỳ ai trước đó. Chính sự triệt để ấy buộc Kant phải xây dựng triết học siêu nghiệm như một câu trả lời, đồng thời mở đường cho nhiều khuynh hướng chống siêu hình học về sau, từ Nietzsche đến triết học phân tích của Russell. Vì vậy, ảnh hưởng của Hume không chỉ nằm ở những kết luận riêng về không gian, thời gian hay nhân quả, mà còn ở phương pháp triết học của ông: trước khi khẳng định một khái niệm có giá trị, phải hỏi xem nó bắt nguồn từ kinh nghiệm nào và chúng ta có thực sự có quyền dùng nó hay không. Câu hỏi đó đã trở thành một trong những điểm xuất phát quan trọng nhất của triết học hiện đại.

[6] Ở đây, Hume dựa vào sự phân biệt trong toán học giữa aliquot parts (những phần chia hết) và aliquant parts (những phần không chia hết). “Phần chia hết” là phần có thể lặp lại một số nguyên lần để tạo thành toàn thể; còn “phần không chia hết” thì không. Theo Hume, sự phân biệt này không làm thay đổi lập luận của ông, vì dù thuộc loại nào, những phần ấy cũng không thể nhỏ hơn phần nhỏ nhất mà não thức có thể hình thành trong ý niệm.

[7] Malezieu (1650–1729) là Nicolas de Malézieu, nhà toán học và triết gia người Pháp. Hume dẫn tên ông để quy nguồn cho lập luận vừa nêu về quan hệ giữa đơn vị, con số và sự mở rộng không gian, một lập luận vốn được biết đến rộng rãi trong truyền thống siêu hình học và toán học cận đại.

[8] Trong những đoạn này, Hume đang triển khai một lập luận liên hoàn nhằm quy toàn bộ khái niệm không gian và thời gian về kinh nghiệm giác quan, thay vì thừa nhận chúng như những thực tại hay cấu trúc độc lập của thế giới. Điểm khởi đầu là nguyên tắc quen thuộc của ông: mọi ý niệm đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng. Từ đó, Hume đặt câu hỏi mang tính quyết định: nếu chúng ta thực sự có ý niệm về không gian và thời gian, thì ấn tượng nào tương ứng với chúng.

Trong trường hợp không gian, Hume cho rằng điều chúng ta trực tiếp tri giác không phải là một “không gian thuần túy”, mà chỉ là những điểm màu sắc hoặc những gì có thể được cảm nhận bằng xúc giác, được sắp xếp theo một trật tự nhất định. Vì vậy, không gian không phải là một môi trường trống rỗng tồn tại sẵn để chứa những sự vật, mà chỉ là cách những dữ liệu cảm giác xuất hiện trước não thức và được sắp xếp trong kinh nghiệm.

Hume còn đi xa hơn khi bác bỏ quan niệm về những “điểm hình học” thuần túy, tức những điểm hoàn toàn không có phẩm tính cảm giác. Theo ông, nếu loại bỏ màu sắc, tính rắn hay mọi đặc tính có thể tri giác được, thì não thức sẽ không còn gì để nắm bắt hay tưởng tượng, và vì thế ý niệm về điểm cũng như về không gian sẽ đồng thời biến mất. Nói cách khác, chúng ta không có ý niệm nào về một “không gian tự thân” tách rời khỏi kinh nghiệm cảm giác. Không gian chỉ là sự sắp đặt của những gì có thể nhìn thấy hoặc xúc chạm được, chứ không phải một thực thể tồn tại độc lập.

Lập luận này cũng cho thấy Hume đang phản bác quan niệm của nhiều nhà siêu hình học duy lý, theo đó tồn tại một không gian thuần túy độc lập với mọi kinh nghiệm. Đối với ông, cái mà hình học nghiên cứu không phải là một thực tại được tri giác trực tiếp, mà là kết quả của sự trừu tượng hóa từ những dữ liệu cảm giác luôn mang những đặc tính cụ thể như màu sắc hay tính xúc giác.

Đối với thời gian, Hume dùng một lập luận tương tự nhưng nhấn mạnh đến sự nối tiếp. Theo ông, chúng ta không có một ấn tượng riêng biệt nào về “thời gian” như một cái gì tồn tại độc lập. Thay vào đó, ý niệm về thời gian chỉ nảy sinh khi những tri giác của chúng ta nối tiếp nhau: từ cảm giác, ý niệm cho đến những trạng thái nội tâm. Nếu không có sự thay đổi hay sự nối tiếp ấy, chẳng hạn trước một đối tượng hoàn toàn bất biến, thì chúng ta cũng không có cơ sở để hình thành ý niệm về thời gian. Vì vậy, thời gian không phải là một dòng chảy tồn tại sẵn, mà chỉ là cách những tri giác lần lượt xuất hiện trong não thức. Chính sự nối tiếp của kinh nghiệm, chứ không phải một thời gian tồn tại độc lập, làm cho chúng ta có ý niệm về thời gian.

Từ hai phân tích này, Hume đi đến một kết luận chung: không gian và thời gian không phải là những thực tại tồn tại độc lập, mà chỉ là hai cách kinh nghiệm cảm giác được sắp xếp trong não thức. Không gian là trật tự trong đó những ấn tượng cùng hiện diện, còn thời gian là trật tự trong đó những tri giác nối tiếp nhau. Vì thế, những khái niệm như điểm thuần túy, không gian trống hay thời gian tuyệt đối không có nguồn gốc trực tiếp trong kinh nghiệm, mà chỉ là những sự trừu tượng hóa từ những gì chúng ta tri giác được. Theo Hume, ngay cả hình học và sự phân tích về thời gian cũng không dựa trên một trực giác thuần lý về không gian và thời gian, mà cuối cùng vẫn bắt nguồn từ những mẫu hình ổn định của kinh nghiệm cảm giác.

Chính từ những phân tích này có thể thấy rõ điểm khác biệt căn bản giữa Hume và Kant. Đối với Hume, không gian và thời gian đều bắt nguồn từ kinh nghiệm: không gian hình thành từ cách những ấn tượng thị giác và xúc giác được sắp đặt, còn thời gian hình thành từ sự nối tiếp của những tri giác trong não thức. Nói cách khác, kinh nghiệm có trước, rồi từ kinh nghiệm chúng ta mới hình thành những ý niệm về không gian và thời gian.

Kant lại đi theo con đường ngược lại. Ông cho rằng không gian và thời gian không phải là những ý niệm được rút ra từ kinh nghiệm, mà là những hình thức trực quan tiên nghiệm vốn có sẵn trong não thức. Chính nhờ hai hình thức này mà chúng ta mới có thể tri giác những sự vật như ở những vị trí khác nhau trong không gian và diễn ra trước sau trong thời gian. Vì vậy, đối với Kant, không phải kinh nghiệm tạo nên không gian và thời gian; trái lại, không gian và thời gian là điều kiện làm cho mọi kinh nghiệm trở nên có thể.

Sự khác biệt này đánh dấu một bước ngoặt lớn của triết học cận đại. Hume cố gắng giải thích toàn bộ nhận thức từ kinh nghiệm cảm giác và bác bỏ mọi khái niệm không có nguồn gốc trong kinh nghiệm. Kant tiếp nhận thách thức ấy, nhưng cho rằng chỉ kinh nghiệm thôi không thể giải thích được vì sao toán học và hình học lại có tính phổ quát và tất yếu. Bởi vậy, ông tìm kiếm ngay trong cấu trúc của não thức những điều kiện tiên nghiệm làm cho kinh nghiệm và tri thức trở nên khả hữu. Có thể nói, nếu Hume đặt câu hỏi: “Ý niệm này bắt nguồn từ ấn tượng nào?”, thì Kant lại hỏi: “Điều gì trong não thức làm cho chính những ấn tượng ấy có thể được kinh nghiệm như một thế giới có trật tự?”.

Chính từ nền tảng này, có thể thấy rõ đường ranh giữa Hume và Kant: nếu Hume xem không gian và thời gian như những sản phẩm của kinh nghiệm được khái quát hóa, thì Kant lại lập luận rằng chính không gian và thời gian là những điều kiện tiên nghiệm của mọi kinh nghiệm khả hữu. Sự khác biệt này không chỉ là một sự khác biệt về chi tiết, mà là một chuyển đổi căn bản trong cách hiểu về nền tảng của tri thức: từ việc quy mọi ý niệm về kinh nghiệm giác quan (Hume) sang việc truy tìm những điều kiện tiên nghiệm làm cho kinh nghiệm trở nên khả hữu (Kant).