Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con
Người
MỤC. I.
Về Nguồn Gốc Của Những Ý Niệm Của
Chúng Ta.
[SECT. I. - Of
the Origin of our Ideas.]
T 1.1.1.1, SBN 1-2
TẤT CẢ những tri giác của não thức [1]
con người tự phân chia ra thành hai loại riêng biệt, mà tôi sẽ gọi là những ẤN
TƯỢNG và những Ý NIỆM. Sự khác biệt giữa hai loại này nằm ở những mức độ sức mạnh
và sự sinh động, mà chúng dùng để tác động lên não thức, rồi mở đường đi vào
trong suy nghĩ hoặc nhận thức của chúng ta. Những tri giác nào đi vào với nhiều
sức mạnh và sự mãnh liệt nhất, thì chúng ta có thể gọi chúng là những ấn tượng;
và dưới cái tên này, tôi bao gồm tất cả những cảm giác, những đam mê và những cảm
xúc của chúng ta, khi chúng xuất hiện lần đầu tiên trong đời sống nội tâm
[2].
Bằng từ những ý niệm, tôi muốn nói đến những hình ảnh mờ nhạt của những ấn
tượng này trong việc suy nghĩ và lập luận; thí dụ như, tất cả những tri giác mà
bài trò chuyện hiện tại này khơi gợi lên, chỉ ngoại trừ những tri giác phát
sinh từ thị giác và xúc giác, và ngoại trừ sự dễ chịu hoặc sự khó chịu ngay tức
thì mà bài trò chuyện này có thể gây ra. Tôi tin rằng bản thân tôi sẽ không cần
phải dùng quá nhiều lời lẽ để giải thích sự phân biệt này. Mỗi người sẽ tự mình
nhận ra một cách dễ dàng sự khác biệt giữa việc cảm nhận và việc suy nghĩ. Người
ta dễ dàng phân biệt được những mức độ thông thường của hai việc này; mặc dù
không phải là không thể có chuyện trong những trường hợp đặc biệt, chúng có thể
tiến lại rất gần nhau. Vì vậy, trong giấc ngủ, trong một cơn sốt, trong cơn
điên, hoặc trong bất kỳ những cảm xúc rất mãnh liệt nào của đời sống nội tâm,
những ý niệm của chúng ta có thể tiến gần đến những ấn tượng của chúng ta: Giống
như ở khía cạnh ngược lại, đôi khi chuyện xảy ra là, những ấn tượng của chúng
ta quá mờ nhạt và thấp bé, đến mức chúng ta không thể phân biệt được chúng với
những ý niệm của chúng ta. Nhưng bất chấp sự giống nhau gần gũi này trong một
vài trường hợp, nhìn tổng quát chúng vẫn rất khác nhau, đến mức không một ai có
thể ngần ngại trong việc xếp chúng vào dưới những mục riêng biệt, và gán cho mỗi
loại một cái tên riêng để đánh dấu sự khác biệt [2].
T 1.1.1.2, SBN 2
Có một sự phân chia khác về những tri giác của chúng ta,
mà chúng ta nên lưu ý vì sự tiện lợi, và sự phân chia này mở rộng ra cho cả những
ấn tượng lẫn những ý niệm của chúng ta. Sự phân chia này chia chúng thành ĐƠN
GIẢN và PHỨC HỢP. Những tri giác hoặc những ấn tượng và những ý niệm đơn giản
là những thứ không chấp nhận bất kỳ sự phân biệt hay sự chia tách nào. Những
tri giác phức hợp thì ngược lại với những sự việc, và người ta có thể phân chia
chúng ra thành nhiều phần. Mặc dù một màu sắc cụ thể, một mùi vị cụ thể, và một
mùi hương cụ thể là những đặc tính cùng hòa quyện với nhau trong quả táo này,
người ta vẫn dễ dàng nhận ra rằng chúng không phải là một, mà ít nhất chúng là
những thứ có thể phân biệt được với nhau. [3]
T 1.1.1.3, SBN 2-3
Sau khi chúng ta đã tạo ra một trật tự và một sự sắp xếp
cho những đối tượng của chúng ta bằng những sự phân chia này, bây giờ chúng ta
có thể tập trung bản thân mình vào việc xem xét những đặc tính và những quan hệ
của chúng một cách chính xác hơn. Chi tiết đầu tiên đập vào mắt tôi, chính là sự
giống nhau rất lớn giữa những ấn tượng và những ý niệm của chúng ta trong mọi
chi tiết khác, ngoại trừ mức độ sức mạnh và sự sinh động của chúng. Loại này dường
như là sự phản chiếu của loại kia theo một cách thức nào đó; vì vậy mà tất cả
những tri giác của não thức đều có đôi có cặp, và xuất hiện dưới cả dạng những ấn
tượng lẫn những ý niệm. Khi tôi nhắm mắt lại và nghĩ về căn phòng của tôi, những
ý niệm mà tôi hình thành là những sự biểu hiện chính xác của những ấn tượng mà
tôi đã cảm nhận; và không có bất kỳ chi tiết nào của loại này lại không thể tìm
thấy ở trong loại kia. Khi tôi rà soát qua những tri giác khác của tôi, tôi vẫn
tìm thấy cùng một sự giống nhau và cùng một sự biểu hiện như thế. Những ý niệm
và những ấn tượng dường như luôn luôn tương ứng với nhau. Chi tiết này đối với
tôi có vẻ rất đáng chú ý, và nó thu hút sự chú ý của tôi trong một khoảnh khắc.
T 1.1.1.4, SBN 3
Khi xem xét một cách chính xác hơn, tôi nhận thấy bản
thân tôi đã bị vẻ bề ngoài đầu tiên cuốn đi quá xa, và tôi phải dùng sự phân
chia những tri giác thành đơn giản và phức hợp để giới hạn lại
quyết định mang tính tổng quát này, đó là việc tất cả những ý niệm và những ấn
tượng của chúng ta đều giống nhau. Tôi quan sát thấy rằng, nhiều ý niệm phức
hợp của chúng ta chưa từng có những ấn tượng tương ứng với chúng, và nhiều ấn
tượng phức hợp của chúng ta chưa từng được sao chép một cách chính xác vào
trong những ý niệm. Bản thân tôi có thể tự hình dung ra một thành phố như thành
phố Jerusalem Mới, nơi có đường đi lát bằng vàng và những bức tường bằng
hồng ngọc, mặc dù tôi chưa từng nhìn thấy bất kỳ thành phố nào như vậy. Tôi đã
nhìn thấy thành phố Paris; nhưng liệu tôi có thể khẳng định rằng tôi có
thể hình dung ra một ý niệm về thành phố đó, một ý niệm sẽ biểu hiện một cách
hoàn hảo tất cả những con đường và những ngôi nhà của nó theo đúng những tỷ lệ
thực tế và chính xác của chúng hay không?
T 1.1.1.5, SBN 3-4
Vì vậy, tôi nhận ra rằng, mặc dù nhìn tổng quát có một sự
giống nhau rất lớn giữa những ấn tượng phức hợp và những ý niệm phức hợp
của chúng ta, nhưng quy luật này không đúng cho mọi trường hợp, đó là việc
chúng là những bản sao chính xác của nhau. Tiếp theo, chúng ta có thể xem xét
tình hình diễn ra như thế nào đối với những tri giác đơn giản của chúng
ta. Sau một sự kiểm tra chính xác nhất mà bản thân tôi có khả năng thực hiện,
tôi mạo muội khẳng định rằng, quy luật ở đây giữ vững mà không có bất kỳ sự ngoại
lệ nào, và mỗi ý niệm đơn giản đều có một ấn tượng đơn giản giống với nó; và mỗi
ấn tượng đơn giản đều có một ý niệm tương ứng. Ý niệm về màu đỏ đó, thứ mà
chúng ta hình thành trong bóng tối, và ấn tượng về màu đỏ đó, thứ đập vào mắt của
chúng ta dưới ánh nắng mặt trời, chỉ khác nhau về mức độ, chứ không khác nhau về
bản chất. Chuyện diễn ra tương tự đối với tất cả những ấn tượng đơn giản và những
ý niệm đơn giản của chúng ta là điều mà người ta không thể chứng minh bằng cách
liệt kê cụ thể từng thứ một trong số chúng. Mỗi người có thể tự làm cho bản
thân mình thỏa mãn ở điểm này bằng cách rà soát qua bao nhiêu thứ tùy thích.
Nhưng nếu có bất kỳ ai phủ nhận sự giống nhau mang tính phổ quát này, tôi không
biết cách nào để thuyết phục người đó, ngoại trừ việc yêu cầu người đó chỉ ra một
ấn tượng đơn giản mà không có một ý niệm tương ứng, hoặc một ý niệm đơn giản mà
không có một ấn tượng tương ứng. Nếu người đó không trả lời lời thách thức này,
và chắc chắn là người đó không thể làm được, chúng ta có thể dựa vào sự im lặng
của người đó và sự quan sát của chính chúng ta để thiết lập nên kết luận của
chúng ta.
T 1.1.1.6, SBN 4
Như vậy, chúng ta thấy rằng, tất cả những ý niệm đơn giản
và những ấn tượng đơn giản đều giống nhau; và vì những tri giác phức hợp được
hình thành từ chúng, chúng ta có thể khẳng định một cách tổng quát rằng, hai loại
tri giác này tương ứng với nhau một cách chính xác. Sau khi đã phát hiện ra
quan hệ này, một quan hệ không cần phải kiểm tra thêm nữa, tôi tò mò muốn tìm
ra một vài đặc tính khác của chúng. Chúng ta hãy xem xét tình hình của chúng đối
với sự tồn tại của chúng, và xem ấn tượng nào và ý niệm nào là những nguyên
nhân, còn những thứ nào là những kết quả.
T 1.1.1.7, SBN 4
Sự kiểm tra đầy đủ về câu hỏi này chính là chủ đề
của chuyên luận hiện tại này; và vì vậy, ở đây chúng ta sẽ tự làm cho bản thân
mình hài lòng với việc thiết lập một mệnh đề tổng quát, Đó là tất cả những ý
niệm đơn giản của chúng ta trong lần xuất hiện đầu tiên của chúng đều bắt nguồn
từ những ấn tượng đơn giản, những ấn tượng tương ứng với chúng và là những thứ
mà chúng biểu hiện một cách chính xác.
T 1.1.1.8, SBN 4-5
Trong việc tìm kiếm những hiện tượng để chứng minh mệnh đề
này, tôi chỉ tìm thấy những hiện tượng thuộc hai loại; nhưng ở mỗi loại, những
hiện tượng này đều rõ ràng, nhiều vô kể, và mang tính thuyết phục. Trước hết, bằng
một sự xem xét lại mới, tôi làm cho bản thân mình chắc chắn về điều mà tôi đã
khẳng định, đó là mỗi ấn tượng đơn giản đều đi kèm với một ý niệm tương ứng, và
mỗi ý niệm đơn giản đều đi kèm với một ấn tượng tương ứng. Từ sự kết hợp liên tục
này của những tri giác giống nhau, tôi lập tức kết luận rằng, có một sự kết nối
lớn giữa những ấn tượng và những ý niệm tương ứng của chúng ta, và sự tồn tại của
loại này có một ảnh hưởng đáng kể lên sự tồn tại của loại kia. Một sự kết hợp
liên tục như thế, trong một số lượng trường hợp nhiều vô hạn như thế, không bao
giờ có thể nảy sinh từ sự ngẫu nhiên; mà nó chứng minh một cách rõ ràng sự phụ
thuộc của những ấn tượng vào những ý niệm, hoặc của những ý niệm vào những ấn
tượng. Để bản thân tôi có thể biết sự phụ thuộc này nằm ở phía bên nào, tôi xem
xét trật tự trong lần xuất hiện đầu tiên của chúng; và tôi nhận thấy bằng
kinh nghiệm liên tục rằng, những ấn tượng đơn giản luôn luôn giành quyền đi trước
những ý niệm tương ứng của chúng, chứ không bao giờ xuất hiện theo trật tự ngược
lại. Để cho một đứa trẻ một ý niệm về màu đỏ tươi hoặc màu cam, về vị ngọt hoặc
vị đắng, tôi đưa ra những đối tượng đó, hoặc nói cách khác, tôi truyền tải đến
đứa trẻ những ấn tượng này; chứ tôi không tiến hành một cách vô lý bằng cách cố
gắng tạo ra những ấn tượng bằng việc khơi gợi những ý niệm. [4] Những ý niệm
của chúng ta khi xuất hiện không tạo ra những ấn tượng tương ứng của chúng, và
chúng ta cũng không nhận thấy bất kỳ màu sắc nào, hoặc cảm thấy bất kỳ cảm giác
nào chỉ bằng việc suy nghĩ về chúng. Ở khía cạnh ngược lại, chúng ta thấy rằng,
bất kỳ ấn tượng nào của não thức hoặc của cơ thể đều được theo sau một cách
liên tục bởi một ý niệm, một ý niệm giống với nó, và chỉ khác biệt ở những mức
độ của sức mạnh và sự sinh động. Sự kết hợp liên tục của những tri giác giống
nhau của chúng ta là một minh chứng đầy thuyết phục rằng, loại này là những
nguyên nhân của loại kia; và sự ưu tiên có trước này của những ấn tượng là một
minh chứng tương đương rằng, những ấn tượng của chúng ta là những nguyên nhân của
những ý niệm của chúng ta, chứ không phải những ý niệm của chúng ta là những
nguyên nhân của những ấn tượng của chúng ta.
T 1.1.1.9, SBN 5
Để xác nhận điều này, tôi xem xét một hiện tượng rõ ràng
và mang tính thuyết phục khác; đó là việc, ở bất kỳ nơi nào mà do bất kỳ tai nạn
nào, những năng lực vốn khơi gợi lên những ấn tượng bất kỳ bị cản trở trong những
hoạt động của chúng, thí dụ như khi một người sinh ra đã bị mù hoặc bị điếc;
thì không chỉ những ấn tượng bị mất đi, mà những ý niệm tương ứng của chúng
cũng bị mất đi; vì vậy mà không bao giờ xuất hiện trong não thức những dấu vết
nhỏ nhất của bất kỳ loại nào trong hai loại đó. Và điều này không chỉ đúng ở những
nơi mà những cơ quan cảm giác bị phá hủy hoàn toàn, mà cũng đúng ở những nơi mà
người ta chưa từng đưa những cơ quan đó vào hành động để tạo ra một ấn tượng cụ
thể. Chúng ta không thể tự hình thành cho bản thân mình một ý niệm chính xác về
mùi vị của một quả dứa, nếu chúng ta chưa từng thực sự nếm thử quả dứa đó.
T 1.1.1.10, SBN 5-6
Tuy nhiên, có một hiện tượng mâu thuẫn, một hiện tượng có
thể chứng minh rằng, việc những ý niệm đi trước những ấn tượng tương ứng của
chúng hoàn toàn không phải là điều bất khả thi. Tôi tin rằng người ta sẽ sẵn
lòng thừa nhận điều này, đó là vài ý niệm riêng biệt về những màu sắc, những ý
niệm đi vào bằng đôi mắt, hoặc những ý niệm về những âm thanh, những ý niệm được
truyền tải bằng thính giác, thì thực sự khác biệt với nhau, mặc dù cùng lúc đó
chúng vẫn giống nhau. Bây giờ, nếu điều này đúng đối với những màu sắc khác
nhau, thì điều đó chắc chắn cũng phải đúng không kém đối với những sắc thái
khác nhau của cùng một màu sắc, đó là việc mỗi sắc thái trong số chúng tạo ra một
ý niệm riêng biệt, độc lập với những sắc thái còn lại. Vì nếu người ta phủ nhận
điều này, thì bằng sự chuyển đổi cấp độ liên tục của những sắc thái, người ta
có thể làm cho một màu sắc chạy một cách không thể nhận biết được vào trong cái
màu sắc xa xôi nhất với nó; và nếu bạn không thừa nhận bất kỳ sắc thái ở giữa
nào là khác nhau, bạn không thể tránh khỏi sự vô lý khi phủ nhận hai đầu cực cực
đoan là giống nhau. Vì vậy, hãy giả định một người đã được tận hưởng thị giác của
người đó trong ba mươi năm, và đã trở nên quen thuộc hoàn toàn một cách tốt đẹp
với những màu sắc của tất cả những loại, ngoại trừ một sắc thái cụ thể của màu
xanh da trời, thí dụ vậy, một sắc thái mà người đó chưa từng có vận may để gặp
phải. Hãy đặt tất cả những sắc thái khác nhau của màu sắc đó, ngoại trừ một sắc
thái đơn lẻ kia, ở trước mặt người đó, giảm dần một cách từ từ từ sắc thái đậm
nhất đến sắc thái nhạt nhất; rõ ràng là, người đó sẽ nhận thấy một khoảng trống
ở nơi mà sắc thái đó bị thiếu, và người đó sẽ cảm nhận được rằng, có một khoảng
cách lớn hơn ở vị trí đó giữa những màu sắc liền kề nhau, so với ở bất kỳ vị
trí nào khác. Bây giờ tôi hỏi, liệu việc người đó, từ trí tưởng tượng của chính
mình, bù đắp cho sự thiếu hụt này, và tự khơi dậy cho bản thân mình ý niệm về sắc
thái cụ thể đó, mặc dù những giác quan của người đó chưa từng truyền tải sắc
thái đó đến cho người đó, có phải là điều khả thi hay không? Tôi tin rằng có rất
ít người lại không có ý kiến rằng người đó có thể làm được; và điều này có thể
phục vụ như một minh chứng rằng, những ý niệm đơn giản không phải lúc nào cũng
bắt nguồn từ những ấn tượng tương ứng; mặc dù trường hợp thí dụ này quá cụ thể
và đơn độc, đến mức nó hiếm khi đáng để chúng ta lưu ý, và nó không xứng đáng để
chỉ vì một mình nó mà chúng ta phải thay đổi phương châm tổng quát của chúng
ta. [5]
T 1.1.1.11, SBN 6-7
Nhưng bên cạnh sự ngoại lệ này, thiết nghĩ cũng không thừa
khi nhận xét về mục này rằng, người ta phải hiểu nguyên lý về sự ưu tiên đi trước
của những ấn tượng đối với những ý niệm cùng với một sự giới hạn khác, cụ thể
là: giống như việc những ý niệm của chúng ta là những hình ảnh của những ấn tượng
của chúng ta, thì chúng ta cũng có thể hình thành những ý niệm thứ cấp, những ý
niệm là những hình ảnh của những ý niệm sơ cấp; như điều đó xuất hiện từ chính
lập luận này liên quan đến chúng. Nói một cách chính xác, đây không phải là một
sự ngoại lệ đối với quy luật cho bằng là một sự giải thích về quy luật đó. Những
ý niệm tạo ra những hình ảnh của chính chúng trong những ý niệm mới; nhưng vì
người ta giả định rằng những ý niệm đầu tiên bắt nguồn từ những ấn tượng, nên
điều vẫn đúng là, tất cả những ý niệm đơn giản của chúng ta đều diễn ra theo
cách gián tiếp hoặc trực tiếp, từ những ấn tượng tương ứng của chúng.
T 1.1.1.12, SBN 7
Vậy thì đây chính là nguyên lý đầu tiên tôi thiết lập
trong ngành khoa học về bản chất con người; và chúng ta không nên xem thường nó
bởi vì vẻ bề ngoài đơn giản của nó. Vì một điều đáng chú ý là, câu hỏi hiện tại
liên quan đến sự đi trước của những ấn tượng hoặc những ý niệm của chúng ta,
thì chính là câu hỏi đã tạo ra rất nhiều tiếng vang dưới những thuật ngữ khác,
khi người ta tranh luận xem liệu có tồn tại bất kỳ những ý niệm bẩm sinh
nào hay không, hoặc liệu tất cả những ý niệm đều bắt nguồn từ cảm giác và sự
suy ngẫm hay không. Chúng ta có thể quan sát thấy rằng, để chứng minh những ý
niệm về sự mở rộng và màu sắc không phải là bẩm sinh, những nhà triết học không
làm gì khác ngoài việc chỉ ra rằng, những giác quan của chúng ta truyền tải
chúng. Để chứng minh những ý niệm về đam mê và ham muốn không phải là bẩm sinh,
họ quan sát thấy rằng chúng ta có một kinh nghiệm đi trước về những cảm xúc này
ở trong chính chúng ta. Bây giờ, nếu chúng ta kiểm tra một cách cẩn thận những
lập luận này, chúng ta sẽ thấy rằng chúng không chứng minh điều gì khác ngoài
việc những ý niệm được đi trước bởi những tri giác khác sinh động hơn, những
tri giác mà từ đó những ý niệm được bắt nguồn, và là những tri giác mà những ý
niệm biểu hiện. Tôi hy vọng việc nêu rõ ràng câu hỏi này sẽ loại bỏ tất cả những
sự tranh chấp liên quan đến nó, và sẽ làm cho nguyên lý này có nhiều công dụng
hơn trong những lập luận của chúng ta, so với việc nó dường như từ trước đến nay
đã từng có.[6]
T 1.1.1.1n2, SBN 2
[2.]
Ở đây, tôi dùng những thuật ngữ “ấn tượng” và “ý
niệm” theo một nghĩa khác với cách dùng thông thường, và mong được cho phép
sự tự do ấy. Có lẽ tôi không phải đưa ra một nghĩa mới cho từ “ý niệm”, mà đúng
hơn là khôi phục nó về nghĩa nguyên thủy của nó, nghĩa mà Ông Locke đã làm sai
lệch khi dùng nó để chỉ mọi tri giác của chúng ta. Còn với thuật ngữ “ấn tượng”,
tôi không có ý nói đến cách thức những tri giác sinh động của chúng ta được tạo
ra trong tâm trí, [7] mà chỉ muốn nói đến chính những tri giác ấy;
bởi theo chỗ tôi biết, không có một tên gọi riêng nào trong tiếng Anh hay trong
bất kỳ ngôn ngữ nào khác dành cho chúng. [8]
MỤC. II.
Sự Phân Chia Đề Tài.
T 1.1.2.1, SBN 7–8
Vì có vẻ như những ấn tượng đơn giản của chúng ta xuất hiện
trước những ý niệm tương ứng của chúng, và những trường hợp ngoại lệ là rất hiếm,
nên về mặt phương pháp, chúng ta cần khảo sát những ấn tượng trước khi xem xét
những ý niệm. Những ấn tượng có thể được chia thành hai loại: ấn tượng CẢM GIÁC
(impressions of sensation) [9] và ấn tượng TỰ SUY NGẪM (impressions of
reflexion) [10].
Loại thứ nhất phát sinh nguyên thủy trong não thức từ những
nguyên nhân chưa được biết đến. Loại thứ hai phần lớn được dẫn xuất từ những ý
niệm của chúng ta, theo thứ tự sau đây.
Trước hết, một ấn tượng tác động lên những giác quan và
khiến chúng ta cảm nhận nóng hoặc lạnh, khát hoặc đói, dễ chịu hoặc đau đớn dưới
một hình thức nào đó. Não thức sao chép ấn tượng ấy thành một bản sao, và bản
sao đó vẫn còn lại sau khi chính ấn tượng đã biến mất; chúng ta gọi bản sao ấy
là một ý niệm. Khi ý niệm về sự dễ chịu hoặc đau đớn ấy quay trở lại trong não
thức, nó tạo ra những ấn tượng mới như ham muốn và ghét bỏ, hy vọng và sợ hãi.
Những ấn tượng này có thể được gọi một cách thích đáng là ấn tượng tự suy ngẫm,
vì chúng phát sinh từ chính ý niệm ấy.
Đến lượt chúng, những ấn tượng này lại được trí nhớ và
trí tưởng tượng sao chép, rồi trở thành những ý niệm; và có lẽ những ý niệm ấy
lại tiếp tục làm phát sinh những ấn tượng và ý niệm khác.
Vì thế, những ấn tượng tự suy ngẫm chỉ xuất hiện trước những
ý niệm tương ứng của chính chúng; nhưng chúng lại xuất hiện sau những ấn tượng
cảm giác và được dẫn xuất từ những ấn tượng ấy.
Việc khảo sát những cảm giác của chúng ta thuộc về những
nhà giải phẫu học và những nhà triết học tự nhiên nhiều hơn là những nhà triết
học đạo đức; [11] vì vậy, hiện tại tôi sẽ không bàn đến chúng.
Và bởi những ấn tượng tự suy ngẫm — tức những đam mê, ham
muốn và cảm xúc, là những điều chủ yếu đáng để chúng ta quan tâm — phần lớn
phát sinh từ những ý niệm, nên chúng ta cần đảo ngược phương pháp vốn thoạt
nhìn có vẻ tự nhiên nhất. Vì thế, để giải thích bản chất và những nguyên lý của
não thức con người, trước hết tôi sẽ trình bày riêng về những ý niệm, rồi sau
đó mới chuyển sang những ấn tượng. Chính vì lý do ấy mà ở đây tôi chọn bắt đầu
với những ý niệm.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản
nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1]“Mind” là một trong những thuật ngữ nền tảng
trong Hume, nhưng không nên hiểu theo nghĩa hẹp là “trí óc”, cũng không hoàn
toàn đồng nghĩa với “hồn người”, “tâm hồn” hay “ý thức” theo cách dùng thông
thường ngày nay. Khi Hume nói đến mind, ông không có ý chỉ một thực thể vô hình
tồn tại phía sau những kinh nghiệm, cũng không mặc nhiên khẳng định sự hiện hữu
của một bản ngã hay hồn người độc lập. Thay vào đó, “mind”
chỉ toàn bộ lĩnh vực của kinh nghiệm nội tâm, tức toàn bộ những gì xuất hiện
trong đời sống tinh thần của con người: cảm giác, cảm xúc, ham muốn, ký ức, tưởng
tượng, tin tưởng và suy nghĩ. Nói ngắn gọn, đối với Hume, “mind”
là toàn bộ những gì xuất hiện trong kinh nghiệm của chúng ta.
Vì
lý do đó, trong bản dịch này, “mind” tôi (vẫn tiếp tục) tạm dịch “mind” là “não thức”. Đây không phải là cách
dịch quen thuộc thấy trong những
nói-viết trong tiếng Việt cho đến nay, nhưng là một thuật ngữ quy ước tôi đưa ra nhằm nhấn mạnh rằng những gì chúng ta
trực tiếp kinh nghiệm trong đời sống nội tâm luôn gắn liền với hoạt động của
não bộ. Theo nghĩa này, “não thức” được hiểu là toàn bộ đời sống được kinh nghiệm
từ hoạt động của não bộ: cảm giác, cảm xúc, ký ức, tưởng tượng, suy nghĩ, tin
tưởng và ý thức. Thuật ngữ này được dùng như một chiếc cầu nối giữa phương diện
vật chất của não bộ và phương diện chủ quan của kinh nghiệm sống, giữa những gì
vốn khoa học hiện đại khảo sát từ bên ngoài và những gì vốn mỗi người trực tiếp
kinh nghiệm từ bên trong.
Tuy
nhiên, “não thức” ở đây không nên được hiểu như một hồn người, một bản ngã hay
một chủ thể tồn tại độc lập đứng phía sau những kinh nghiệm. Trái lại, theo
cách nhìn của Hume, mind gần như đồng nghĩa với dòng chảy của những tri giác.
Nó không phải là một thực thể chứa đựng những cảm giác, cảm xúc hay suy nghĩ,
mà chính là toàn bộ những cảm giác, cảm xúc, ký ức, tưởng tượng, tin tưởng và
suy nghĩ ấy trong sự xuất hiện và vận động không ngừng của chúng. Vì thế, những
gì vốn chúng ta gọi là “não thức” không phải là nơi chứa những tri giác, mà
chính là toàn bộ dòng kinh nghiệm nội tâm đang diễn ra.
Do
đó, khi Hume viết rằng “mọi tri giác của não thức con người đều có thể quy về hai loại
là Ấn tượng và Ý niệm”, điều ông muốn khảo sát không phải là một hồn người hay
một thực thể siêu hình nằm phía sau kinh nghiệm, mà là toàn bộ những hiện tượng
xuất hiện trong kinh nghiệm sống của con người. Điểm này đánh dấu một sự chuyển
hướng quan trọng trong lịch sử triết học. Thay vì bắt đầu bằng giả định rằng có
một bản ngã hay một hồn người tồn tại sẵn rồi mới có những kinh nghiệm, Hume bắt
đầu từ chính những kinh nghiệm đang diễn ra. Khi quan sát nội tâm, chúng ta chỉ
bắt gặp những tri giác riêng lẻ xuất hiện rồi biến mất liên tục: lúc là một cảm
giác, lúc là một cảm xúc, lúc là một ký ức, một hình ảnh tưởng tượng hay một ý
nghĩ. Chúng ta không bao giờ bắt gặp trực tiếp một “cái tôi” thường hằng tồn tại
độc lập đứng phía sau chúng.
Từ
đó, Hume đi đến kết luận nổi tiếng rằng những gì vốn chúng ta gọi là “tâm trí”,
“bản ngã” hay “cái tôi” không phải là một thực thể độc lập và bất biến, mà chỉ
là tên gọi dành cho một tập hợp hay một dòng chảy liên tục của những tri giác nối
tiếp nhau trong kinh nghiệm. Theo nghĩa ấy, não thức không phải là chủ thể đứng ngoài kinh
nghiệm để quan sát kinh nghiệm; mind chính là toàn bộ dòng kinh nghiệm đang diễn
ra.
[Chữ “não thức” được dùng ở đây như một thuật ngữ diễn giải
hiện đại, phần nào gợi nhớ đến khái niệm “thức” (vijñāna) trong Duy Thức học của
đạo Phật. Trong Duy Thức học, chữ “thức” (識) không chỉ là ý thức theo nghĩa thông thường. Nó không
chỉ gồm những gì chúng ta đang trực tiếp nhận biết như cảm giác, tri giác, ký ức
hay suy nghĩ, mà còn bao gồm cả những tầng sâu kín hơn của đời sống nội tâm mà
chúng ta không dễ dàng nhận ra.
Theo quan điểm này, phần ý thức mà chúng ta đang dùng
trong từng khoảnh khắc chỉ là bề mặt của một dòng vận hành rộng lớn hơn. Bên dưới
đó là những tầng sâu của thức. Mạt-na thức là tầng luôn âm thầm tạo ra cảm giác
về một “cái tôi”, khiến kinh nghiệm luôn mang hình thức có người sở hữu. Sâu
hơn nữa là A-lại-da thức, hay “tàng thức”, nơi tích lũy những “chủng tử” – những
dấu ấn từ kinh nghiệm, thói quen và hành động trong quá khứ. Chính những dấu ấn
này tiếp tục chi phối cách chúng ta cảm nhận, suy nghĩ và phản ứng, ngay cả khi
chúng ta không hề ý thức về chúng.
Vì vậy, nếu diễn đạt bằng ngôn ngữ hiện đại, có thể nói
“thức” không chỉ tương ứng với ý thức, mà còn chạm đến những tầng sâu gần với
vô thức hay tiềm thức trong tâm lý học. Tuy nhiên, sự tương đồng này chỉ mang
tính gợi ý, vì A-lại-da thức không chỉ là nơi lưu trữ ký ức bị quên lãng hay bị
đè nén, mà còn được xem như nền tảng liên tục làm phát sinh mọi kinh nghiệm tâm
thức. Do đó, “thức” trong Duy Thức học không phải chỉ là phần ý thức đang hiện
hành, mà là toàn bộ dòng vận hành của tâm: từ những gì đang được biết rõ đến những
tầng sâu âm thầm tạo nền cho mọi kinh nghiệm sống.
Tuy nhiên, “thức” trong cách tôi dùng trong “não thức”
không hoàn toàn đồng nghĩa với “thức” trong đạo Phật. Khái niệm 識 được hình thành trong một bối cảnh triết học và tôn giáo
riêng, không dựa trên khoa học thần kinh hay khái niệm não bộ theo nghĩa hiện đại.
Trái lại, thuật ngữ “não thức” ở đây được dùng để nhấn mạnh rằng toàn bộ đời sống
được kinh nghiệm từ bên trong — cảm giác, cảm xúc, ký ức, tưởng tượng, suy
nghĩ, tin tưởng và ý thức — luôn gắn liền với hoạt động của não bộ. Vì vậy,
“não thức” có thể được xem như một cách diễn giải hiện đại hóa của khái niệm
“thức”, đặt nó trong bối cảnh của khoa học nhận thức, khoa học thần kinh và triết
học tâm trí đương đại.
Điều đáng chú ý là, trên phương diện mô tả kinh nghiệm,
khái niệm mind trong Hume lại có nhiều điểm gần với khái niệm “thức” hơn là với
quan niệm linh hồn của truyền thống đạo Kitô. Hume không xem mind như một thực
thể hay một bản ngã thường hằng tồn tại phía sau những kinh nghiệm, mà gần như
đồng nhất nó với dòng chảy liên tục của những tri giác, cảm giác, cảm xúc, ký ức
và suy nghĩ. Vì thế, nếu chỉ xét trên bình diện hiện tượng học, có thể hình
dung một sự tương ứng gần đúng giữa ba cách diễn đạt thuộc ba truyền thống khác
nhau: “thức” (vijñāna) trong Duy Thức học, “mind” trong triết học Hume, và “não
thức” như một cách diễn giải hiện đại nhấn mạnh mối liên hệ giữa kinh nghiệm chủ
quan và hoạt động của não bộ. Tuy nhiên, sự tương ứng này chỉ mang tính gợi ý
và không có nghĩa rằng ba khái niệm ấy hoàn toàn đồng nhất với nhau.]
[2] Trong nguyên văn “soul”
[3] Theo Hume, mọi
nội dung xuất hiện trong não thức đều là những tri giác (perceptions), và có thể
được phân thành hai loại căn bản: ấn tượng và ý niệm.
Ấn tượng là những tri giác đến với não thức một cách trực tiếp, mạnh
mẽ và sinh động nhất. Chúng bao gồm tất cả những gì chúng ta đang thực sự cảm
nhận hoặc kinh nghiệm: màu sắc chúng ta đang nhìn thấy, âm thanh chúng ta đang
nghe, cơn đau chúng ta đang chịu đựng, niềm vui chúng ta đang cảm thấy, hay sự
tức giận đang bùng lên trong lòng. Khi chạm tay vào ngọn lửa và cảm thấy nóng
rát, cảm giác nóng rát ấy là một ấn tượng. Khi nhìn một quả táo đỏ, sắc đỏ hiện
ra trước mắt cũng là một ấn tượng.
Ý niệm là những hình ảnh mờ nhạt hơn của những ấn tượng khi
chúng được tái hiện trong suy nghĩ. Sau khi rời mắt khỏi quả táo, chúng ta vẫn
có thể nhớ lại màu đỏ của nó; sau khi cơn đau đã qua, chúng ta vẫn có thể nghĩ
về cảm giác đau ấy. Những nội dung này không còn sống động như lúc được kinh
nghiệm trực tiếp mà chỉ còn tồn tại như những dấu vết trong não thức. Chính những
dấu vết ấy là ý niệm. Vì vậy, đối với Hume, ý niệm không phải là cái xuất hiện
đầu tiên trong nhận thức; nó là bản sao suy yếu của một ấn tượng có trước.
Ngoài sự phân
biệt giữa ấn tượng và ý niệm, Hume còn chia mọi tri giác thành đơn giản và
phức hợp.
Một tri giác đơn
giản là tri giác không thể phân tích thành những thành phần nhỏ hơn. Chẳng
hạn, một sắc đỏ riêng biệt, một vị ngọt riêng biệt, hay một mùi hương riêng biệt
là những tri giác đơn giản. Ta có thể nhận biết chúng, nhưng không thể tách sắc
đỏ ấy thành những sắc đỏ nhỏ hơn, hay vị ngọt ấy thành những vị ngọt đơn giản
hơn nữa.
Ngược lại, một
tri giác phức hợp là tri giác được cấu thành từ nhiều yếu tố đơn giản kết
hợp lại. Chẳng hạn, tri giác về một quả táo không chỉ bao gồm màu đỏ, mà còn có
hình dạng tròn, mùi thơm, vị ngọt hoặc chua, cảm giác nhẵn của lớp vỏ. Mỗi yếu
tố riêng lẻ là một tri giác đơn giản, nhưng khi chúng được kết hợp trong kinh
nghiệm, chúng ta có được tri giác phức hợp về “quả táo”.
Từ đó, Hume cho
rằng cả ấn tượng lẫn ý niệm đều có thể là đơn giản hoặc phức hợp. Ta có thể có
một ấn tượng đơn giản, chẳng hạn như cảm nhận một sắc đỏ riêng biệt; cũng có thể
có một ấn tượng phức hợp, chẳng hạn như nhìn thấy toàn bộ một quả táo. Tương tự,
chúng ta có thể nhớ lại sắc đỏ ấy dưới dạng một ý niệm đơn giản, hoặc nhớ lại
toàn bộ quả táo dưới dạng một ý niệm phức hợp.
Toàn bộ học
thuyết nhận thức của Hume khởi đi từ nguyên lý rằng ý niệm phát sinh từ ấn tượng.
Nói cách khác, điều gì chưa từng được kinh nghiệm dưới dạng ấn tượng thì cũng
không thể xuất hiện trong não thức dưới dạng một ý niệm thực sự. Người chưa từng
ăn một quả dứa không thể có một ý niệm chính xác về vị của quả dứa; người sinh
ra đã mù không thể có ý niệm về màu sắc. Do đó, ấn tượng là nguồn gốc của ý niệm,
còn ý niệm là sự sao chép yếu hơn của những gì trước hết đã được cho trong kinh
nghiệm.
[4] Trong Hume,
hai thí dụ “Jerusalem Mới” và “đứa trẻ và màu sắc” nhằm bênh vực Nguyên Lý
Sao Chép: mọi ý niệm đơn giản đều bắt nguồn từ một ấn tượng trong kinh nghiệm. “Jerusalem Mới” cho thấy trí tưởng tượng
không tạo ra chất liệu mới, mà chỉ kết hợp những yếu tố đơn giản đã từng được cảm
nhận (màu sắc, hình dạng…). Vì vậy, ngay cả ý niệm phức tạp vẫn phụ thuộc vào
kinh nghiệm. “Đứa trẻ và màu sắc” chứng
minh rằng ấn tượng luôn đi trước ý niệm: trẻ chỉ hiểu màu đỏ hay vị đắng khi trực
tiếp nhìn hoặc nếm, và suy nghĩ không thể tự tạo ra cảm giác đó. Kết hợp lại, hai thí dụ khẳng định: kinh nghiệm
cung cấp toàn bộ “nguyên liệu”, còn tâm trí chỉ sắp xếp và tái cấu trúc chúng.
[5] Để hiểu lý do
thí dụ “sắc thái màu xanh da trời bị thiếu” (the missing shade of blue)
lại trở thành một trong những điểm thảo luận kinh điển xoay quanh Hume, cần đặt
nó đúng vào mạch khai triển của Nguyên lý Sao chép. Đây là đoạn mà Hume không
chỉ trình bày học thuyết, mà còn chủ động duyệt xét xem học thuyết đó có còn
đúng trong những trường hợp đặc biệt, nằm ở ranh giới của nó hay không.
Trong
lập trường nền tảng của Hume, mọi ý niệm đơn giản đều phải có nguồn gốc từ một ấn
tượng đơn giản tương ứng. Nghĩa là, bất cứ nội dung tinh thần nào (hình ảnh tâm
lý) chúng ta có thể nghĩ đến—màu sắc, mùi vị, cảm giác đau, hay khoái cảm—đều
phải từng được “ghi nhận” trực tiếp trong kinh nghiệm giác quan trước đó. Nếu
không có ấn tượng, sẽ không có ý niệm tương ứng. Đây là cách Hume đặt một ranh
giới rất cứng cho đời sống não thức: não thức không tự sinh ra chất liệu nhận
thức, mà chỉ tái tạo lại những gì đã từng xuất hiện trong kinh nghiệm.
Tuy
nhiên, ngay sau khi dựng lên nguyên lý này, Hume đặt ra một câu hỏi có tính phá
vỡ trực giác: liệu có trường hợp nào trong đó một ý niệm đơn giản xuất hiện mà
không cần một ấn tượng tương ứng trước đó hay không? Từ đây, ông đưa ra thí dụ
nổi tiếng về “sắc thái màu xanh da trời bị thiếu”.
Hume
hình dung một người có thị giác bình thường, đã sống lâu năm và đã kinh nghiệm
hầu như toàn bộ những sắc độ của màu xanh da trời, chỉ trừ đúng một sắc độ
trung gian cụ thể. Khi chúng ta sắp xếp dãy màu này theo trật tự liên tục,
chúng ta có:
xanh đậm → xanh vừa → (một khoảng trống) → xanh nhạt
→ xanh rất nhạt.
Khoảng
trống ở giữa chính là sắc độ mà người đó chưa từng có ấn tượng giác quan.
Theo
mô tả của Hume, khi quan sát chuỗi này, người đó sẽ không chỉ thấy những màu
riêng rẽ, mà còn nhận ra một sự “đứt gãy” trong tính liên tục của dãy sắc độ.
Chính cảm giác gián đoạn này tạo ra khả năng: não thức có thể tự hình dung ra sắc
độ còn thiếu, dù trước đó chưa từng có ấn tượng trực tiếp tương ứng.
Vấn đề
nảy sinh ngay tại đây. Nếu đúng là có thể hình thành một hình ảnh tâm lý về một
sắc độ hoàn toàn mới mà không cần ấn tượng trước đó, thì Nguyên lý Sao chép dường
như bị vi phạm ngay trong chính hệ thống của Hume.
Nghịch
lý xuất hiện vì có hai mệnh đề cùng căng thẳng với nhau. Một mặt, Hume khẳng định
một quy luật phổ quát: mọi ý niệm đơn giản đều là bản sao của ấn tượng. Mặt
khác, thí dụ này dường như cho thấy một ngoại lệ, nơi não thức “tự điền vào khoảng
trống” mà không cần bản gốc giác quan. Nếu chấp nhận thí dụ như một phản thí dụ
thực sự, thì nguyên lý sao chép không còn tuyệt đối; nếu bác bỏ nó, thì phải giải
thích vì sao một hiện tượng có vẻ trực giác lại không được thừa nhận.
Cách
Hume giải quyết trường hợp này mang tính điển hình cho phong cách triết học của
ông: không phủ nhận hiện tượng, nhưng cũng không nâng nó lên thành phản thí dụ
phá vỡ hệ thống. Ông thừa nhận rằng trong những điều kiện rất đặc thù—khi những
ấn tượng đã hình thành thành một chuỗi liên tục và có cấu trúc rõ ràng—não thức
có thể “nội suy” và tự lấp đầy một điểm thiếu bằng cách dựa trên những yếu tố
lân cận. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng đây là một trường hợp rất hiếm, chỉ xuất
hiện trong những hoàn cảnh đặc biệt, nằm sát những giới hạn của kinh nghiệm, và
không đủ để làm thay đổi hay bác bỏ quy luật tổng quát vốn đã được xác nhận qua
rất nhiều quan sát khác nhau.
Do đó,
theo Hume, nguyên lý vẫn đứng vững: ấn tượng vẫn là nguồn gốc cơ bản, ý niệm vẫn
là sự sao chép hoặc biến đổi của ấn tượng. “Sắc thái bị thiếu” chỉ cho thấy một
điều tinh tế hơn: trong một số cấu trúc kinh nghiệm liên tục, não thức có khả
năng tự hoàn thiện hình ảnh bằng cách kéo dài quy luật của chuỗi đã biết, chứ
không phải sáng tạo ra chất liệu hoàn toàn độc lập.
Nghịch
lý “sắc thái màu xanh da trời bị thiếu” trong Hume không chỉ là một ví dụ minh
họa cho Nguyên lý Sao chép, mà về sau trở thành một điểm tranh luận quan trọng
trong toàn bộ triết học về kinh nghiệm và đời sống tâm lý.
Trong
cách Hume xây dựng lập luận, nguyên lý nền là: mọi ý niệm đơn giản đều phải bắt
nguồn từ một ấn tượng đơn giản tương ứng. Nghĩa là, nếu chúng ta không từng có
một kinh nghiệm giác quan cụ thể nào đó, thì chúng ta không thể có “hình ảnh
tâm lý” hay “hình ảnh tinh thần” tương ứng trong suy nghĩ. Não thức, theo đó,
không tạo ra chất liệu mới từ hư không, mà chỉ tái hiện hoặc sắp xếp lại những
gì đã từng được kinh nghiệm cung cấp.
Tuy
nhiên, ví dụ về “sắc thái màu xanh bị thiếu” làm xuất hiện một hoàn cảnh đặc biệt.
Điều này nêu lên một thách thức trong chính lập luận: nếu một “hình ảnh tâm lý”
có thể xuất hiện mà không cần ấn tượng tương ứng trước đó, thì nguyên lý sao
chép không còn là một quy luật tuyệt đối.
Hume
giải quyết trường hợp này bằng cách xem nó như một ngoại lệ rất hiếm, không đủ
mạnh để phá vỡ quy luật tổng quát.Theo ông, đây không phải là việc tâm trí tạo
ra nội dung từ hư không, mà chỉ là một dạng nội suy trong chuỗi kinh nghiệm đã
có: não thức dựa vào những ấn tượng đã có trước đó, nằm gần với “khoảng trống”
về mặt mức độ, tính chất hoặc chuỗi kinh nghiệm, và có thể dùng làm cơ sở để
tâm trí suy ra phần còn thiếu. để “lấp đầy” khoảng trống còn thiếu trong một
dãy inh nghiệmvốn liên tục.Nhưng ông vẫn giữ lập trường rằng: mọi chất liệu cơ
bản của não thức, xét đến cùng, đều phải có nguồn gốc từ kinh nghiệm giác quan.
Chính
điểm này trở thành nơi mở ra những tranh luận lớn trong triết học sau Hume.
Các
nhà duy lý (như Descartes và Leibniz) nhìn vào ví dụ này và cho rằng nó cho thấy
não thức không hoàn toàn thụ động. Theo họ, việc có thể “tự điền vào khoảng trống”
chứng minh rằng trong não thức đã có sẵn một cấu trúc tổ chức, một khả năng sắp
xếp và hoàn chỉnh hóa kinh nghiệm, chứ không chỉ đơn thuần là sao chép. Từ đó,
họ cho rằng phải tồn tại những nguyên lý hoặc khung khái niệm có sẵn, giúp
chúng ta hiểu và cấu trúc hóa dữ liệu giác quan.
Ngược
lại, những người theo thuyết duy nghiệm hậu Hume lại xem ví dụ này như một giới
hạn tinh tế của kinh nghiệm, chứ không phải là sự phủ định nó. Họ thừa nhận rằng
não thức có thể tự điền vào chỗ trống dựa trên những gì đã có hoặc hoàn thiện
trong phạm vi những gì đã được kinh nghiệm, nhưng nhấn mạnh rằng điều này vẫn
không vượt ra khỏi nền tảng kinh nghiệm ban đầu. Nghĩa là, “hình ảnh tâm lý” mới
không xuất hiện từ hư không, mà chỉ là sự kéo dài có quy luật của những gì đã từng
được cảm nhận.
Đến
Kant, vấn đề này được đẩy lên một cấp độ triết học sâu hơn. Ông cho rằng cả
Hume lẫn những nhà duy lý đều đúng một phần. Kinh nghiệm cung cấp nội dung,
nhưng não thức không phải là tấm bảng trống; nó có những hình thức tổ chức sẵn
có (như không gian, thời gian, và những phạm trù). Chính những hình thức này
cho phép chúng ta “thấy” được sự liên tục, gián đoạn, và thậm chí là nhận ra
“khoảng thiếu” trong dãy màu mà Hume mô tả. Nói cách khác, khả năng nhận ra
“màu xanh bị thiếu” không chỉ đến từ kinh nghiệm, mà còn từ cấu trúc tổ chức của
não thức.
Vì vậy,
nghịch lý này trở thành một điểm bản lề trong lịch sử triết học: nó buộc những
triết gia phải làm rõ một câu hỏi quan trọng hơn nhiều so với bản thân ví dụ,
đó là giới hạn thực sự của kinh nghiệm trong đời sống não thức nằm ở đâu, và phần
nào của suy nghĩ là do kinh nghiệm cung cấp, phần nào là do cấu trúc của chính
não thức con người tạo ra.
[6] (a)
Trong hệ thống
triết học của David Hume về cách con người nhận thức và hiểu thế giới, hai khái
niệm trung tâm là ấn tượng và ý niệm. Đây không phải chỉ là hai nhãn gọi khác
nhau cho những “nội dung tinh thần”, mà có thể hiểu như hai cấp độ vận hành
khác nhau của cùng một đời sống kinh nghiệm trong não thức. Trong khuôn khổ
thuyết nghiệm, Hume cho rằng mọi nội dung mà con người có trong hoạt động suy
nghĩ—từ cảm giác trực tiếp, ký ức, tưởng tượng, cho đến suy luận và những hệ thống
triết học trừu tượng—đều có thể truy ngược về một trong hai dạng này. Dù lập
trường này về sau được tranh luận lại trong triết học hiện đại, nó vẫn là một
trong những cách tiếp cận có ảnh hưởng lớn nhất trong việc giải thích nguồn gốc
của nội dung hoạt động suy nghĩ..
Hume không phân
biệt ấn tượng và ý niệm bằng việc chúng là những “thực thể” khác nhau trong não
thức, mà chủ yếu dựa trên cách chúng xuất hiện trong kinh nghiệm. Điểm khác biệt
cơ bản nằm ở mức độ mạnh yếu và mức độ rõ ràng của chúng trong hoạt động suy
nghĩ. Ấn tượng là những gì con người kinh nghiệm một cách trực tiếp và tức thời.
Chúng có tính hiện diện mạnh, rõ, và thường xuất hiện như một cái gì đó áp đặt
lên não thức mà chúng ta không thể lựa chọn hay kiểm soát trong khoảnh khắc nó
xảy ra. Khi chúng ta chạm vào lửa và cảm thấy nóng rát, hay khi nhìn ánh sáng mạnh
làm chói mắt, những kinh nghiệm đó không phải là kết quả của suy luận, mà là những
nội dung xuất hiện trực tiếp trong kinh nghiệm sống.
Có thể phân biệt
trong ấn tượng hai nguồn chính. Một loại phát sinh từ thế giới bên ngoài qua
giác quan, như màu sắc, âm thanh, mùi vị, nhiệt độ và hình dạng của sự vật. Loại
còn lại phát sinh từ đời sống nội tâm, khi não thức phản ứng lại chính những trạng
thái của nó, như sợ hãi, hy vọng, tức giận hay ham muốn. Dù có nguồn khác nhau,
chúng đều chia sẻ đặc điểm tổng quát là xuất hiện trước, mạnh hơn, và mang tính
trực tiếp trong kinh nghiệm.
Ý niệm, ngược lại,
là những gì xuất hiện khi ấn tượng không còn hiện diện trực tiếp nữa mà được
tái hiện trong ký ức, tưởng tượng hoặc suy luận. Khi chúng ta nhớ lại màu đỏ của
một bông hoa đã từng nhìn thấy, hay hình dung lại một cảm giác đã qua, nội dung
trong não thức không còn giữ nguyên mức độ sống động như lúc kinh nghiệm ban đầu.
Nó trở nên mờ nhạt hơn, nhẹ hơn, và ít có sức áp đặt hơn. Theo Hume, ý niệm về
cơ bản vẫn tương ứng với ấn tượng về nội dung, nhưng chỉ là một dạng tái hiện
suy yếu của nó trong hoạt động suy nghĩ. Chính vì tính chất này, ý niệm có độ
linh hoạt cao hơn, nhưng đồng thời cũng dễ bị biến đổi khi được kết hợp trong
tưởng tượng, từ đó có thể hình thành những cấu trúc không tồn tại trong kinh
nghiệm trực tiếp.
Từ sự phân biệt
này, Hume đưa ra một nguyên lý quan trọng về nguồn gốc của ý niệm: mọi ý niệm
đơn giản đều bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng trong kinh nghiệm. Ấn tượng
đóng vai trò như nguồn gốc trực tiếp, còn ý niệm là sự tái hiện hoặc sao chép của
nguồn đó trong hoạt động suy nghĩ. Nguyên lý này mang tính phương pháp học, vì
nó đặt ra một cách để duyệt xét nội dung của những khái niệm: nếu không thể
truy ngược một ý niệm về một ấn tượng trong kinh nghiệm, thì cần xem xét lại
tính rõ ràng hoặc tính có nghĩa của nó.
Hume củng cố
nguyên lý này bằng những quan sát đơn giản về trường hợp thiếu hụt kinh nghiệm.
Người mù bẩm sinh không hình thành được ý niệm về màu sắc, và người điếc bẩm
sinh không hình thành được ý niệm về âm thanh. Những trường hợp này cho thấy rằng
khi không có ấn tượng gốc trong kinh nghiệm, hoạt động suy nghĩ không có dữ liệu
để tạo ra ý niệm tương ứng.
Ông cũng thừa
nhận một trường hợp đặc biệt, thường được gọi là sắc độ màu xanh bị thiếu. Nếu
một người đã quen với nhiều sắc độ liên tục của một màu, nhưng thiếu một sắc độ
nằm giữa, thì trong một số điều kiện, người đó có thể tự hình dung ra sắc độ
còn thiếu đó khi quan sát toàn bộ dải màu. Tuy nhiên, Hume xem đây là một ngoại
lệ rất hiếm, không đủ để làm lung lay nguyên lý tổng quát, mà chỉ cho thấy rằng
trong một số chuỗi kinh nghiệm liên tục, hoạt động suy nghĩ có thể nội suy giữa
những điểm đã có sẵn.
Hume tiếp tục
phân tích rằng cả ấn tượng và ý niệm đều có thể được chia thành đơn giản và phức
hợp. Những yếu tố đơn giản là những nội dung không thể phân tách thêm trong
kinh nghiệm, trong khi những yếu tố phức hợp được tạo thành từ sự kết hợp của
nhiều yếu tố đơn giản. Hoạt động suy nghĩ của con người có khả năng tự do kết hợp
những yếu tố này theo nhiều cách khác nhau, từ đó tạo ra những hình ảnh không tồn
tại trong kinh nghiệm trực tiếp, như sinh vật tưởng tượng, những hình ảnh thần
thoại, hay những cấu trúc giả định trong hoạt động suy nghĩ trừu tượng. Tuy
nhiên, theo Hume, ngay cả những hình ảnh này cũng không hoàn toàn tránh khỏi
kinh nghiệm, vì mọi thành phần cấu tạo của chúng đều phải bắt nguồn từ một ấn
tượng đã từng xuất hiện. Do đó, tưởng tượng không tạo ra chất liệu hoàn toàn mới,
mà chủ yếu là sự tái tổ chức của những gì đã được kinh nghiệm cung cấp.
Từ những phân
tích này, Hume đưa ra một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá giá trị của những
khái niệm trong triết học. Theo ông, khi gặp một ý niệm mang tính trừu tượng,
chúng ta cần thực hiện một quá trình truy nguyên, tức là lần ngược lại để xác định
xem ý niệm đó bắt nguồn từ ấn tượng nào trong kinh nghiệm. Nếu không thể chỉ ra
được một ấn tượng tương ứng, thì có cơ sở để nghi ngờ rằng ý niệm đó không có nội
dung kinh nghiệm rõ ràng, mà chỉ là sự kết hợp thuần túy của những từ ngữ trong
ngôn ngữ, không gắn với một kinh nghiệm cụ thể rõ ràng nào.
Từ lập trường
đó, Hume tiến hành phê phán một số khái niệm siêu hình truyền thống. Chẳng hạn,
khái niệm “thực thể” được cho là nền tảng vô hình đứng sau những thuộc tính của
sự vật. Tuy nhiên, khi quay về kinh nghiệm, chúng ta chỉ gặp những thuộc tính
riêng lẻ như màu sắc, hình dạng, độ nặng hay mùi vị, mà không có bất kỳ ấn tượng
nào về một “nền tảng” tách biệt. Vì vậy, “thực thể” không phải là một đối tượng
được kinh nghiệm trực tiếp, mà là cách não thức gom những thuộc tính lại thành
một đơn vị khái niệm trong hoạt động suy nghĩ.
Tương tự, khi
quan sát nội tâm, Hume cho rằng chúng ta không tìm thấy một “cái tôi” cố định
nào. Thay vào đó, chúng ta chỉ thấy những trạng thái tâm lý nối tiếp nhau như cảm
giác, cảm xúc và ý muốn. Những trạng thái này thay đổi liên tục, không có một
thực thể bất biến đứng sau chúng. Từ đó, ông cho rằng cái gọi là bản ngã có thể
được hiểu như một chuỗi hoặc tập hợp những trạng thái kinh nghiệm liên tục biến
đổi.
Nhìn tổng thể,
trong hệ thống của Hume, ấn tượng là nền tảng trực tiếp của kinh nghiệm, mang
tính mạnh và rõ ràng, còn ý niệm là sự tái hiện của ấn tượng trong hoạt động
suy nghĩ, mang tính yếu hơn nhưng linh hoạt hơn. Toàn bộ cấu trúc này hướng đến
một cách hiểu trong đó mọi nội dung hoạt động suy nghĩ. đều phải có thể truy
nguyên về kinh nghiệm, qua đó giới hạn phạm vi của những khái niệm trừu tượng
không có nền tảng rõ ràng.
(b)
Quan hệ giữa
Hume và những quan điểm duy nghiệm đương thời có thể hiểu rõ nhất nếu đặt ông
vào đúng “trục tranh luận” của thế kỷ XVII–XVIII, nơi thuyết duy nghiệm
(empiricism) đang đối thoại căng thẳng với thuyết duy lý (rationalism). Hume
không xuất hiện như một người đứng riêng lẻ, mà là người đẩy lập trường duy
nghiệm đến giới hạn cực đoan và nhất quán nhất của nó.
Trước hết, nếu
so với John Locke, Hume có thể được xem là người kế thừa trực tiếp nhưng đồng
thời cũng là người siết chặt và làm triệt để hóa lập trường của Locke. Locke đã
khẳng định rằng não thức con người lúc đầu giống như một “tấm bảng trống”, và
toàn bộ nội dung của nó đến từ kinh nghiệm. Tuy nhiên, Locke vẫn còn giữ một số
yếu tố mang tính trung gian, đặc biệt là tin tưởng rằng trí năng có thể “kết hợp”,
“trừu tượng hóa” và hình thành những ý niệm tổng quát khá ổn định. Hume chấp nhận
điểm xuất phát này nhưng đi xa hơn: ông cố gắng chỉ ra rằng ngay cả những ý niệm
trừu tượng cũng phải được truy ngược về một ấn tượng cụ thể trong kinh nghiệm.
Nếu không làm được điều này, ý niệm đó sẽ trở nên đáng nghi ngờ về mặt nội
dung.
Nói cách khác,
nếu Locke đặt nền móng cho kinh nghiệm luận, thì Hume biến nền móng đó thành một
hệ thống duyệt xét nghiêm ngặt hơn về giới hạn của suy nghĩ.
Nếu so với
George Berkeley, một nhà duy nghiệm khác cùng thời, sự khác biệt lại nằm ở hướng
phát triển của kinh nghiệm. Berkeley đồng ý rằng mọi nội dung nhận thức đều xuất
phát từ kinh nghiệm, nhưng ông đi theo hướng duy tâm: thế giới vật chất, theo
ông, không tồn tại độc lập ngoài những ý niệm và não thức. Hume không đi theo
bước này. Ông giữ thái độ thận trọng hơn: thay vì khẳng định bản thể của thế giới
là tinh thần, ông chủ yếu dừng lại ở phân tích cách nội dung xuất hiện trong
kinh nghiệm. Có thể nói, Berkeley “siêu hình hóa” kinh nghiệm, còn Hume “giải cấu
trúc” kinh nghiệm thành những đơn vị nhỏ hơn mà không gán thêm một nền tảng bản
thể học nào vượt quá điều có thể quan sát.
So với Thomas
Hobbes, người thường được xem là tiền thân của duy nghiệm cơ giới, Hume cũng có
điểm nối tiếp nhưng khác hướng. Hobbes đã cố gắng giải thích hoạt động suy
nghĩ. như một dạng vận động cơ học của vật chất, trong đó ý niệm là kết quả của
chuyển động trong não bộ. Hume không đi theo hướng vật lý hóa này. Ông gần như
loại bỏ câu hỏi “cơ chế vật chất” và thay vào đó tập trung hoàn toàn vào cấp độ
kinh nghiệm chủ quan: cái gì xuất hiện trong não thức, và nó xuất hiện theo
quan hệ nào. Vì vậy, nếu Hobbes là duy nghiệm mang màu sắc cơ học, thì Hume là
duy nghiệm mang màu sắc phân tích hiện tượng.
Một điểm quan
trọng hơn là quan hệ giữa Hume và truyền thống Newton trong triết học tự nhiên.
Trong khi Newton tìm cách mô tả những quy luật của thế giới vật lý dựa trên
quan sát và quy nạp, Hume áp dụng một tinh thần tương tự vào chính hoạt động hoạt
động suy nghĩ.: ông tìm cách xác định “quy luật vận hành” của ý niệm dựa trên
kinh nghiệm. Tuy nhiên, ông cũng đi xa hơn Newton ở chỗ đặt câu hỏi về chính cơ
sở của suy luận quy nạp—tức là liệu từ kinh nghiệm quá khứ có thể hợp lý hóa việc
dự đoán tương lai hay không. Đây là nơi Hume bắt đầu vượt ra khỏi khuôn khổ duy
nghiệm đơn thuần và mở ra vấn đề hoài nghi luận hiện đại.
Nếu nhìn tổng
thể, có thể nói Hume đứng ở điểm kết tinh của truyền thống duy nghiệm trước đó.
Ông:
- kế thừa từ
Locke ý tưởng rằng mọi nội dung tinh thần đều xuất phát từ kinh nghiệm,
- đồng thời
từ chối việc mở rộng kinh nghiệm thành những cấu trúc siêu hình như
Berkeley,
- và tách
mình khỏi cách giải thích cơ học thuần vật lý của Hobbes.
Nhưng quan trọng
hơn cả, Hume không chỉ lặp lại những lập trường này. Ông biến thuyết duy nghiệm
thành một hệ thống có khả năng tự xem xét lại chính mình, trong đó trọng tâm
không còn dừng ở việc truy vấn thế giới như một thực tại bên ngoài, mà chuyển dần
sang việc khảo sát đời sống nội tâm của con người. Thay vì chỉ đặt câu hỏi
“chúng ta biết gì từ kinh nghiệm?”, vấn đề được đẩy sâu hơn thành “việc biết
này diễn ra như thế nào trong não thức, và nó bị giới hạn ra sao bởi cấu trúc của
kinh nghiệm”. Theo hướng này, cái gọi là “thế giới bên ngoài” không còn được tiếp
cận như một thực tại độc lập cần giải thích theo nghĩa bản thể, mà được quy về
những gì xuất hiện trong nội tâm thông qua kinh nghiệm cảm giác và kinh nghiệm
cảm xúc. Như vậy, triết học của Hume có thể được hiểu như một sự chuyển dịch từ
việc giải thích thế giới như một cái gì tồn tại tự nó, sang việc phân tích cách
thế giới được hình thành như một chuỗi hiện tượng trong não thức con người.
Chính bước chuyển này vừa khiến ông trở thành điểm kết thúc của truyền thống
kinh nghiệm luận cổ điển, vừa mở ra nền tảng cho những phản ứng triết học sau
đó, đặc biệt là Kant, người tìm cách trả lời những giới hạn mà Hume đã đặt ra
cho chính hoạt động nhận thức
[7] “soul” trong nguyên văn
[8] Trong chú
thích cuối chương đầu (T 1.1.1.1n2, SBN 2), David Hume trực tiếp làm rõ
một điểm khác biệt quan trọng với John Locke liên quan đến cách dùng thuật ngữ
“ý niệm”. Hume cho rằng ông đang dùng lại từ “ý niệm” theo một nghĩa chính xác
hơn, hoặc nói đúng hơn là đưa nó trở về nghĩa gốc, thay vì để nó bị mở rộng và
trở nên mơ hồ như trong cách dùng của Locke. Theo Hume, Locke đã dùng “ý niệm”
như một thuật ngữ bao trùm toàn bộ mọi trạng thái xuất hiện trong não thức con
người, từ cảm giác trực tiếp như đau đớn, màu sắc, âm thanh, cho đến ký ức, suy
nghĩ hay tưởng tượng. Cách dùng này, theo Hume, làm mất đi sự phân biệt quan trọng
giữa những gì xuất hiện một cách trực tiếp, sống động trong kinh nghiệm, và những
gì chỉ là hình ảnh suy yếu của những kinh nghiệm đó trong hoạt động suy nghĩ.
Để khắc phục sự
mơ hồ này, Hume đề xuất một sự chỉnh lý thuật ngữ mang tính quyết định. Ông
không còn dùng “ý niệm” như một khái niệm tổng quát cho mọi nội dung tinh thần,
mà thay vào đó đưa ra thuật ngữ rộng hơn là “tri giác”, rồi chia toàn bộ đời sống
tinh thần thành hai loại rõ ràng: một bên là “ấn tượng”, tức những gì xuất hiện
trực tiếp, mạnh mẽ và sống động trong kinh nghiệm; và một bên là “ý niệm”, tức
những hình ảnh yếu hơn, mờ hơn, được hình thành khi não thức hồi tưởng hoặc suy
nghĩ lại về những ấn tượng đó. Như vậy, trong khi Locke gom tất cả vào một phạm
trù tổng quát, Hume cố gắng thiết lập một ranh giới phân tích rõ ràng hơn giữa
kinh nghiệm trực tiếp và sự tái hiện trong suy nghĩ.
Từ sự chỉnh lý
này, Hume cũng tái định nghĩa lại toàn bộ cuộc tranh luận về “ý niệm bẩm sinh”,
vốn là một vấn đề trung tâm trong truyền thống duy lý trước đó. những triết gia
như Descartes hay Leibniz cho rằng có những ý niệm tồn tại sẵn trong não thức
con người từ trước kinh nghiệm, chẳng hạn như ý niệm về Thượng đế, về chân lý
toán học hay những nguyên lý đạo đức. Locke đã phản bác quan điểm này bằng cách
nhấn mạnh rằng não thức con người ban đầu như một “tờ giấy trắng” và mọi nội
dung đều đến từ kinh nghiệm. Tuy nhiên, Hume cho rằng toàn bộ tranh luận này trở
nên rối rắm một phần vì cách dùng thuật ngữ chưa rõ ràng.
Dựa trên phân
biệt giữa ấn tượng và ý niệm, Hume tái cấu trúc vấn đề theo hướng đơn giản hơn.
Nếu “bẩm sinh” được hiểu là cái gì đó không được sao chép từ kinh nghiệm trước
đó, thì ý niệm không thể được xem là bẩm sinh, vì mọi ý niệm đều là bản sao hoặc
sự tái hiện của một ấn tượng tương ứng. Ngược lại, những gì xuất hiện trực tiếp
trong kinh nghiệm—tức những ấn tượng—có thể được xem là cái “nguyên sơ” trong đời
sống não thức, theo nghĩa chúng không phải là kết quả của sự sao chép từ một nội
dung tinh thần khác. Theo cách này, Hume không cần giả định sự tồn tại của những
ý niệm bẩm sinh, cũng không cần mở rộng khái niệm như Locke, mà chỉ cần phân
tích cấu trúc kinh nghiệm là đủ để làm rõ vấn đề.
Từ đó, Hume cho
rằng nhiều tranh luận kéo dài trong triết học thực chất bắt nguồn từ sự nhập nhằng
trong ngôn ngữ. Nếu phân biệt rõ giữa ấn tượng và ý niệm, và hiểu rằng mọi ý niệm
đều phải có nguồn gốc từ một ấn tượng trong kinh nghiệm, thì toàn bộ vấn đề về
ý niệm bẩm sinh trở nên không còn cần thiết. Nói cách khác, thay vì tranh luận
về việc con người có sẵn ý niệm hay không, chúng ta chỉ cần quan sát cách những
nội dung tinh thần thực sự xuất hiện trong kinh nghiệm: cái gì đến trực tiếp
thì là ấn tượng, cái gì là sự tái hiện thì là ý niệm. Chính sự phân đôi này
giúp Hume vừa chỉnh lại cách dùng thuật ngữ của Locke, vừa tái định hình toàn bộ
vấn đề tri thức luận theo hướng chặt chẽ và gắn với kinh nghiệm hơn.
[9] Sự tự suy ngẫm (Reflexion): là những kinh nghiệm
nảy sinh từ chính hoạt động bên trong của tâm trí khi nó phản ứng lại những ý
tưởng đã có. Khi một ý tưởng được hình thành từ cảm giác, tâm trí có thể quay lại
với ý tưởng đó và tạo ra những trạng thái như mong muốn, sợ hãi, hy vọng hay
chán ghét. Đây là lớp kinh nghiệm thứ hai, phát sinh từ đời sống nội tâm hơn là
từ thế giới bên ngoài.
[10] Cảm giác (Sensation): là những kinh nghiệm trực
tiếp nảy sinh khi cơ thể tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chúng xuất hiện một
cách tự nhiên và tức thời, không cần suy nghĩ hay suy luận, như khi chúng ta cảm
thấy nóng hay lạnh, đau hay dễ chịu, đói hay khát. Đây là lớp kinh nghiệm đầu
tiên, làm nền cho mọi nhận thức khác.
[11] Hume phân biệt
“triết học đạo đức” (moral philosophy) với “triết học tự nhiên” (natural
philosophy). Ở đây ông gác lại việc khảo sát cơ chế sinh lý của cảm giác, vì đó
là công việc của khoa học tự nhiên; ông chỉ quan tâm đến cách những cảm giác xuất
hiện trong tâm trí và ảnh hưởng đến nhận thức của con người.ngắn hơn nữa: Hume
không bàn đến nguồn gốc sinh lý của cảm giác. Ông chỉ khảo sát những cảm giác
như những dữ kiện trực tiếp của kinh nghiệm và ý thức.
