Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I – PHẦN 1
Về những ý niệm, nguồn gốc, thành phần, kết hợp, trừu tượng hóa, v.v.
MỤC. III.
Về Những Ý Niệm Của Trí Nhớ Và
Trí Tưởng Tượng.
T 1.1.3.1, SBN 8-9
Chúng ta thấy bằng kinh nghiệm rằng, khi bất kỳ ấn tượng
nào từng hiện diện đối với não thức, thì nó lại tạo ra sự xuất hiện của nó ở
nơi đó dưới dạng một ý niệm; và nó có thể làm điều này theo hai cách khác nhau:
hoặc là khi trong sự xuất hiện mới của nó, nó vẫn giữ lại một mức độ đáng kể của
sự sinh động đầu tiên của nó, và nằm ở khoảng giữa một ấn tượng và một ý niệm;
hoặc là khi nó hoàn toàn mất đi sự sinh động đó, và là một ý niệm hoàn hảo. Người
ta gọi năng lực mà nhờ đó chúng ta lặp lại những ấn tượng của chúng ta theo
cách thức thứ nhất là TRÍ NHỚ, và gọi năng lực kia là TRÍ TƯỞNG TƯỢNG. [1] Rõ ràng ngay từ cái nhìn đầu tiên rằng, những
ý niệm của trí nhớ thì sinh động và mạnh mẽ hơn nhiều so với những ý niệm của
trí tưởng tượng, và năng lực trước phác họa những đối tượng của nó bằng những
màu sắc rõ rệt hơn bất kỳ màu sắc nào mà năng lực sau khi dùng. Khi chúng ta nhớ
lại bất kỳ sự kiện nào đã qua, ý niệm về nó ùa vào trong não thức một cách đầy
mãnh liệt; trong khi đó ở trí tưởng tượng, tri giác lại mờ nhạt và uể oải, và
não thức không thể giữ cho nó ổn định và đồng nhất trong bất kỳ khoảng thời
gian đáng kể nào một cách không gặp khó khăn. Vậy thì ở đây có một sự khác biệt
có thể cảm nhận được giữa một chủng loại ý niệm này và một chủng loại ý niệm
khác. Nhưng chúng ta sẽ bàn về điều này đầy đủ hơn ở phần sau [3].
T 1.1.3.2, SBN 9
Có một sự khác biệt khác giữa hai loại ý niệm này, một sự
khác biệt cũng rõ ràng không kém, cụ thể là mặc dù cả những ý niệm của trí nhớ
lẫn trí tưởng tượng, cả những ý niệm sinh động lẫn mờ nhạt đều không thể tạo ra
sự xuất hiện của chúng trong não thức, trừ khi những ấn tượng tương ứng của
chúng đã đi trước để để dọn đường cho chúng, thế nhưng trí tưởng tượng không bị
gò bó vào cùng một trật tự và hình thức với những ấn tượng gốc; trong khi đó
trí nhớ bị trói buộc theo một cách thức nào đó ở khía cạnh ấy, mà không có bất
kỳ năng lực nào để thay đổi.
T 1.1.3.3, SBN 9
Rõ ràng là, trí nhớ bảo toàn hình thức gốc, hình thức mà
trong đó những đối tượng của nó đã tự thể hiện ra, và bất cứ khi nào chúng ta rời
bỏ hình thức đó trong việc hồi tưởng lại bất kỳ điều gì, thì điều đó tiến hành
từ một vài khiếm khuyết hoặc sự bất hoàn hảo trong năng lực đó. Một nhà sử học
có lẽ có thể kể một sự kiện trước một sự kiện khác mà trên thực tế sự kiện đó xảy
ra sau sự kiện kia, để thực hiện việc tường thuật của mình một cách thuận tiện
hơn; nhưng rồi người này lưu ý đến sự đảo lộn trật tự này nếu người này cẩn trọng;
và bằng phương tiện đó, người này đặt lại ý niệm vào đúng vị trí của nó. Chuyện
cũng diễn ra tương tự như thế trong sự hồi tưởng của chúng ta về những địa danh
và những con người mà chúng ta đã từng quen biết trước đây. Hoạt động chính yếu
của trí nhớ không phải là lưu giữ những ý niệm đơn giản, mà là trật tự và vị
trí của chúng. Tóm lại, một số lượng lớn những hiện tượng phổ thông và bình thường
ủng hộ nguyên lý này, đến mức chúng ta có thể miễn cho bản thân mình sự phiền
toái khi nhấn mạnh vào nó thêm nữa.
T 1.1.3.4, SBN 10
Sự rõ ràng tương tự cũng đi theo chúng ta trong nguyên lý
thứ hai của chúng ta, về sự tự do của trí tưởng tượng trong việc hoán đổi và
thay đổi những ý niệm của nó. [2] Những câu chuyện
thần thoại mà chúng ta gặp trong những bài thơ và truyện viễn tưởng đã đặt điều
này hoàn toàn ra ngoài sự nghi ngờ. Tự nhiên ở nơi đó hoàn toàn bị đảo lộn, và
người ta không nhắc đến điều gì ngoài những con ngựa có cánh, những con rồng
phun lửa, và những người khổng lồ quái dị. [3] Sự tự do này của trí tưởng tượng sẽ không xuất
hiện một cách kỳ lạ, khi chúng ta xem xét rằng, tất cả những ý niệm của chúng
ta đều được sao chép từ những ấn tượng của chúng ta, và rằng không có bất kỳ
hai ấn tượng nào là hoàn toàn không thể tách rời nhau. Đó là chưa nói đến việc,
đây là một hệ quả hiển nhiên của sự phân chia những ý niệm thành đơn giản và phức
hợp. Bất cứ khi nào trí tưởng tượng nhận thấy sự khác biệt giữa những ý niệm,
nó có thể dễ dàng tách rời chúng.[4]
T 1.1.3.1n3, SBN 9
[3.] Phần III. Mục 5.
MỤC. IV.
Về Sự Kết Nối Hoặc Sự Liên Kết Của
Những Ý Niệm.
T 1.1.4.1, SBN 10–11
Vì tất cả những ý niệm đơn giản đều có thể được trí tưởng
tượng tách rời và lại được kết hợp theo bất kỳ hình thức nào nó muốn, nên nếu
không có một số nguyên lý phổ quát dẫn dắt nó và khiến nó, ở một mức độ nào đó,
vẫn đồng nhất với chính nó trong mọi thời và mọi nơi, thì những hoạt động của
năng lực ấy hẳn sẽ trở thành điều hết sức khó giải thích.
Nếu những ý niệm hoàn toàn rời rạc và không liên kết với
nhau, thì chỉ riêng sự ngẫu nhiên mới có thể kết hợp chúng; và thật không thể
có chuyện cùng những ý niệm đơn giản ấy lại đều đặn kết hợp thành những ý niệm
phức hợp giống nhau (như chúng thường làm), nếu giữa chúng không có một mối dây
liên kết nào đó, một phẩm chất liên tưởng nào đó, nhờ đó một ý niệm tự nhiên dẫn
đưa đến một ý niệm khác.
Nguyên lý liên kết giữa những ý niệm này không nên được
xem như một sự kết nối không thể tách rời; bởi lẽ loại kết nối ấy đã bị loại khỏi
phạm vi của trí tưởng tượng. Nhưng chúng ta cũng không nên kết luận rằng nếu
không có nguyên lý ấy thì não thức không thể kết hợp hai ý niệm với nhau; bởi
không có năng lực nào tự do hơn năng lực ấy. Chúng ta chỉ nên xem nó như một lực
nhẹ nhàng thường chiếm ưu thế, và là nguyên nhân giải thích vì sao, trong nhiều
trường hợp, những ngôn ngữ lại tương ứng với nhau gần gũi đến thế; dường như tự
nhiên đang chỉ ra cho mỗi người những ý niệm đơn giản nào thích hợp nhất để được
kết hợp thành một ý niệm phức hợp.
Những phẩm chất làm phát sinh sự liên tưởng này, và nhờ
đó não thức được dẫn từ ý niệm này sang ý niệm khác, có ba loại, đó là: sự TƯƠNG
TỰ, sự KỀ CẬN trong thời gian hoặc không gian, và NGUYÊN NHÂN với KẾT QUẢ.
T 1.1.4.2, SBN 11
Tôi tin rằng không cần phải tốn nhiều công sức để chứng
minh rằng những phẩm chất này tạo ra sự liên kết giữa những ý niệm, và rằng khi
một ý niệm xuất hiện thì nó tự nhiên dẫn đưa đến một ý niệm khác.
Rõ ràng là trong khi chúng ta suy nghĩ, và trong sự vận động
liên tục của những ý niệm, trí tưởng tượng dễ dàng chuyển từ một ý niệm sang bất
kỳ ý niệm nào giống với nó; và chỉ riêng phẩm chất ấy cũng đã là một mối
dây liên kết và liên tưởng đủ mạnh đối với trí tưởng tượng.
Cũng rõ ràng không kém rằng, vì những giác quan, khi chuyển
từ đối tượng này sang đối tượng khác, buộc phải chuyển một cách có trật tự và
tiếp nhận những đối tượng theo sự kề cận của chúng, nên do thói quen lâu
dài, trí tưởng tượng cũng tiếp thu cùng một lối vận hành ấy, và khi hình dung
những đối tượng của mình, nó sẽ lần theo những phần kế tiếp nhau của không gian
và thời gian.
Còn đối với sự liên kết được tạo ra bởi quan hệ nhân quả,
chúng ta sẽ có dịp khảo sát vấn đề ấy đến tận gốc rễ ở phần sau; vì vậy hiện giờ
tôi sẽ không bàn sâu về nó.
Chỉ cần nhận xét rằng không có quan hệ nào tạo ra một sự
liên kết mạnh mẽ hơn trong trí tưởng tượng, hay khiến một ý niệm gợi lại một ý
niệm khác một cách dễ dàng hơn, bằng quan hệ nhân quả giữa những đối tượng của
chúng.
T 1.1.4.3, SBN 11-12
Để hiểu đầy đủ phạm vi của những quan hệ này, chúng ta cần
lưu ý rằng trí tưởng tượng liên kết hai đối tượng với nhau không chỉ khi đối tượng
này trực tiếp giống với, kề cận với, hoặc là nguyên nhân của đối tượng kia, mà
còn khi giữa chúng có xen vào một đối tượng thứ ba, đối tượng này lại có một
trong những quan hệ ấy đối với cả hai.
Sự liên kết này có thể được kéo dài rất xa; tuy nhiên, đồng
thời chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng mỗi lần cách thêm một bậc trung gian
thì mối quan hệ ấy lại suy yếu đi đáng kể.
Những người anh em họ ở đời thứ tư được liên kết với nhau
bởi quan hệ nhân quả, nếu tôi được phép dùng thuật ngữ ấy; nhưng sự liên kết đó
không chặt chẽ bằng giữa anh em ruột, và lại càng không chặt chẽ bằng giữa cha
mẹ và con cái.
Nói chung, chúng ta có thể nhận thấy rằng mọi quan hệ huyết
thống đều phụ thuộc vào quan hệ nhân quả, và được xem là gần hay xa tùy theo số
lượng những nguyên nhân trung gian nằm giữa những người ấy.
T 1.1.4.4, SBN 12
Trong ba quan hệ vừa được nêu, quan hệ nhân quả là quan hệ
có phạm vi rộng nhất.
Hai đối tượng có thể được xem là đứng trong quan hệ này
không chỉ khi một đối tượng là nguyên nhân của một hành động hay một chuyển động
nơi đối tượng kia, mà còn khi đối tượng thứ nhất là nguyên nhân làm cho đối tượng
thứ hai hiện hữu.
Bởi vì hành động hay chuyển động ấy thực ra không là gì
khác ngoài chính đối tượng được xem xét dưới một khía cạnh nhất định; và bởi vì
đối tượng vẫn là một đối tượng ấy trong mọi trạng thái khác nhau của nó, nên
chúng ta dễ dàng hình dung được vì sao một sự tác động qua lại như thế giữa những
đối tượng lại có thể liên kết chúng với nhau trong trí tưởng tượng.
T 1.1.4.5, SBN 12
Chúng ta còn có thể đi xa hơn nữa và nhận thấy rằng hai đối
tượng được liên kết với nhau bởi quan hệ nhân quả không chỉ khi đối tượng này
thực sự tạo ra một chuyển động hay một hành động nào đó nơi đối tượng kia, mà
còn khi nó có năng lực tạo ra điều đó.
Và chúng ta có thể thấy rằng đây chính là nguồn gốc của mọi
quan hệ về lợi ích và bổn phận, nhờ đó con người tác động lẫn nhau trong xã hội
và được đặt vào những mối ràng buộc của sự cai trị và phục tùng.
Một người chủ là người, do địa vị của mình — địa vị có được
nhờ sức mạnh hoặc do sự thỏa thuận — có năng lực điều khiển, trong một số
phương diện nhất định, những hành động của một người khác, người mà chúng ta gọi
là người hầu.
Một vị thẩm phán là người có thể, trong mọi trường hợp
tranh chấp, bằng phán quyết của mình xác định quyền chiếm hữu hoặc quyền sở hữu
đối với bất kỳ sự vật nào giữa những thành viên của xã hội.
Khi một người nắm giữ một quyền năng như vậy, thì để biến
quyền năng ấy thành hành động thực tế không cần gì hơn ngoài việc thực thi ý
chí của mình; và điều đó trong mọi trường hợp đều được xem là khả hữu, và trong
nhiều trường hợp còn được xem là có khả năng xảy ra. Đặc biệt là trong trường hợp
quyền uy, nơi sự phục tùng của người dưới quyền vừa mang lại niềm vui vừa mang
lại lợi ích cho người ở địa vị cao hơn.
T 1.1.4.6, SBN 12-13
Đó chính là những nguyên lý của sự liên kết hay sự gắn kết
giữa những ý niệm đơn giản của chúng ta; và trong trí tưởng tượng, chúng thay
thế cho sự kết nối không thể tách rời, nhờ đó những ý niệm được hợp nhất trong
trí nhớ.
Ở đây có một loại sức hút, mà trong thế giới của não thức
sẽ được thấy là có những tác dụng phi thường không kém gì trong thế giới tự
nhiên, và biểu lộ dưới nhiều hình thức đa dạng không kém.
Những tác dụng của nó hiện rõ ở khắp nơi; nhưng những
nguyên nhân của nó thì phần lớn vẫn chưa được biết đến, và phải được quy về những
phẩm chất nguyên thủy của bản tính con người, những điều mà tôi không có ý định
giải thích.
Không có điều gì cần thiết hơn đối với một nhà triết học
chân chính bằng việc kiềm chế khát vọng quá mức muốn truy tìm những nguyên
nhân; và sau khi đã thiết lập một học thuyết dựa trên một số lượng đầy đủ những
quan sát và thực nghiệm, thì nên bằng lòng với điều đó khi nhận thấy rằng việc
khảo sát sâu hơn chỉ dẫn đến những suy đoán mơ hồ và bất định.
Trong trường hợp ấy, công sức nghiên cứu của ông sẽ được
sử dụng tốt hơn nhiều nếu dành cho việc khảo sát những tác dụng của nguyên lý ấy
hơn là truy tìm những nguyên nhân của nó.
T 1.1.4.7, SBN 13
Trong số những tác dụng của sự liên kết hay liên tưởng giữa
những ý niệm, không có gì đáng chú ý hơn những ý niệm phức hợp. Đây là những đối
tượng thông thường của tư duy và suy luận của chúng ta, và nhìn tổng quát chúng
phát sinh từ một nguyên lý liên kết nào đó giữa những ý niệm đơn giản.
Những ý niệm phức hợp này có thể được chia thành ba loại:
Quan hệ, Thể cách và Thực thể. Chúng ta sẽ lần lượt khảo sát ngắn gọn từng
loại theo thứ tự, và trước khi rời khỏi đề tài hiện tại — vốn có thể được xem
như những yếu tố nền tảng của triết học này [5] —
chúng ta sẽ bổ sung thêm một số nhận xét về những ý niệm tổng quát và những ý
niệm cá biệt của chúng ta.
MỤC V.
Về Những Quan Hệ
T 1.1.5.1, SBN 13–14
Từ “QUAN HỆ” (Relation) thường được dùng theo hai nghĩa
khá khác nhau. Hoặc nó chỉ phẩm chất nhờ đó hai ý niệm được nối kết trong trí
tưởng tượng, và một ý niệm tự nhiên gợi ra ý niệm kia theo cách đã trình bày ở
trên; hoặc nó chỉ hoàn cảnh đặc thù trong đó, ngay cả khi hai ý niệm được đặt cạnh
nhau một cách tùy ý trong trí tưởng tượng, chúng ta vẫn có thể đem chúng ra để
so sánh.
Trong ngôn ngữ thông thường, chúng ta luôn dùng từ “quan
hệ” theo nghĩa thứ nhất; chỉ trong triết học, người ta mới mở rộng nó để chỉ bất
kỳ đối tượng nào của sự so sánh, ngay cả khi không có một nguyên lý nối kết giữa
chúng.[6]
Vì vậy, khoảng cách được những nhà triết học coi là một
quan hệ thực sự, vì chúng ta có được ý niệm về nó thông qua việc so sánh những đối
tượng; nhưng trong cách nói thông thường, chúng ta lại nói rằng không gì xa
nhau hơn những sự vật như vậy, không gì “kém quan hệ hơn” chúng [7]—
như thể khoảng cách và quan hệ là không thể đi cùng nhau.
T 1.1.5.2, SBN 14
Có lẽ sẽ là một công việc vô tận nếu liệt kê tất cả những
phẩm chất khiến những đối tượng có thể được so sánh, và qua đó sinh ra những ý
niệm về quan hệ triết học. [8]
Nhưng nếu xem xét kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng chúng có thể được quy về bảy loại tổng
quát một cách không khó khăn; và những loại này có thể được xem như nguồn gốc của
mọi quan hệ triết học.
T 1.1.5.3, SBN 14
1. Trước hết là sự tương tự (resemblance): đây là
một quan hệ mà nếu không có nó thì không thể có quan hệ triết học nào, vì không
có đối tượng nào có thể đem ra so sánh nếu không có một mức độ tương tự nào đó.
Tuy nhiên, dù sự tương tự là điều kiện cần cho mọi quan hệ triết học, điều đó
không có nghĩa nó luôn tạo ra sự liên kết hay gợi nối giữa những ý niệm. Khi một
phẩm chất trở nên quá phổ quát và có mặt ở rất nhiều cá thể, nó không dẫn trí
tưởng tượng trực tiếp tới một cá thể nào; ngược lại, vì mở ra quá nhiều khả
năng cùng lúc, nó lại cản trở trí tưởng tượng dừng lại ở một đối tượng xác định.
T 1.1.5.4, SBN 14
2. Đồng nhất (identity) có thể được xem là loại
quan hệ thứ hai. Ở đây chúng ta hiểu nó theo nghĩa chặt nhất, áp dụng cho những
đối tượng bền vững và không thay đổi; không xét đến bản chất và nền tảng của đồng
nhất cá nhân, vấn đề sẽ được bàn sau. Trong tất cả những quan hệ, đồng nhất là
phổ quát nhất, vì nó thuộc về mọi hữu thể có tồn tại kéo dài theo thời gian.
T 1.1.5.5, SBN 14
3. Sau đồng nhất, những quan hệ phổ quát và bao quát nhất
là không gian và thời gian, nguồn gốc của vô số so sánh như xa
– gần, kề cận, trên – dưới, trước – sau, v.v.
T 1.1.5.6, SBN 14–15
4. Tất cả những đối tượng có thể quy về lượng hoặc
số đều có thể được so sánh theo phương diện ấy; và đó cũng là một nguồn
quan hệ rất phong phú khác.[9]
T 1.1.5.7, SBN 15
5. Khi hai đối tượng cùng có một phẩm chất, thì mức
độ mà chúng sở hữu phẩm chất ấy tạo thành loại quan hệ thứ năm. Ví dụ, hai
vật đều nặng thì một có thể nặng hơn hoặc nhẹ hơn vật kia; hai màu cùng loại
nhưng khác sắc độ cũng có thể được so sánh theo cách tương tự.
T 1.1.5.8, SBN 15
6. Quan hệ đối lập (contrariety) thoạt nhìn có thể
bị xem như một ngoại lệ đối với quy tắc rằng không một quan hệ nào có thể tồn
tại nếu không có một mức độ tương tự nào đó. Tuy nhiên, nếu xét kỹ, sẽ thấy
rằng không có hai ý niệm nào tự thân là đối lập với nhau, ngoại trừ ý niệm về
hiện hữu và không hiện hữu. Nhưng ngay cả hai ý niệm này cũng có một mức độ tương
tự, vì cả hai đều hàm chứa ý niệm về cùng một đối tượng; chỉ khác ở chỗ ý niệm
“không hiện hữu” loại trừ đối tượng khỏi mọi thời gian và không gian trong đó
nó được giả định là không hiện hữu.[10]
T 1.1.5.9, SBN 15
7. Tất cả những đối tượng khác như lửa và nước, nóng và lạnh,
chỉ được nhận thấy là đối lập nhờ kinh nghiệm, và nhờ sự đối lập giữa những nguyên
nhân hoặc những kết quả của chúng; và quan hệ nhân quả này cũng là một
quan hệ triết học thứ bảy, đồng thời là một quan hệ tự nhiên. Sự tương tự hàm
chứa trong quan hệ này sẽ được giải thích sau.
T 1.1.5.10, SBN 15
Có thể tự nhiên kỳ vọng rằng tôi sẽ xếp “sự khác biệt”
vào những quan hệ khác. Nhưng tôi xem nó đúng hơn như một sự phủ định của quan
hệ, chứ không phải là một cái gì đó thực hay mang tính khẳng định. Sự khác biệt
có hai loại, tùy theo nó đối lập với đồng nhất hoặc với tương tự. Loại thứ nhất
được gọi là khác biệt về số lượng; loại thứ hai là khác biệt về loại
hình. [11]
MỤC. VI.
Về Những Thể Thức Và Thực Thể
T 1.1.6.1, SBN 15–6
Tôi muốn hỏi những nhà triết học, những người xây dựng phần
lớn lập luận của họ trên sự phân biệt giữa thực thể và thuộc tính, và cho rằng
chúng ta có những ý niệm rõ ràng về mỗi bên, liệu ý niệm về thực thể có bắt nguồn
từ ấn tượng của cảm giác hay của tự suy ngẫm. Nếu nó được truyền đến qua những
giác quan, tôi xin hỏi là qua giác quan nào, và bằng cách nào. Nếu qua thị
giác, thì nó phải là màu sắc; nếu qua thính giác, thì là âm thanh; nếu qua vị
giác, thì là vị; và tương tự đối với những giác quan khác. Nhưng tôi tin không
ai sẽ nói rằng thực thể là màu sắc, hay âm thanh, hay vị. Vậy nên ý niệm về thực
thể phải được dẫn xuất từ một ấn tượng của tự suy ngẫm, nếu nó thực sự tồn tại.
Nhưng những ấn tượng của tự suy ngẫm lại quy về những đam mê và cảm xúc của
chúng ta; và không cái nào trong số đó có thể biểu thị một thực thể. Do đó,
chúng ta không có ý niệm về thực thể, tách biệt với ý niệm về một tập hợp những
thuộc tính riêng biệt, và cũng không có ý nghĩa nào khác khi ta nói hay lập luận
về nó.
T 1.1.6.2, SBN 16
Ý niệm về một thực thể cũng như ý niệm về một thể thức, [12]
chỉ là một tập hợp những ý niệm đơn giản được trí tưởng tượng kết hợp lại, và
được gán một tên riêng, nhờ đó ta có thể gợi lại cho mình hoặc cho người khác tập
hợp ấy. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai loại ý niệm này nằm ở chỗ: những thuộc
tính cấu thành một thực thể thường được quy chiếu đến một cái gì đó chưa biết,
mà chúng được giả định là tồn tại trong đó; hoặc nếu giả định này không được chấp
nhận, thì ít nhất chúng được xem là liên kết chặt chẽ và không thể tách rời bởi
những quan hệ kề cận và nhân quả. Hệ quả là, bất kỳ thuộc tính đơn giản mới nào
mà ta phát hiện có cùng liên hệ với những thuộc tính còn lại, ta lập tức đưa nó
vào trong tập hợp ấy, ngay cả khi nó không thuộc về ý niệm ban đầu của thực thể.
Như vậy, ý niệm về vàng ban đầu có thể gồm màu vàng, trọng lượng, tính dễ dát mỏng,
tính dễ nóng chảy; nhưng khi phát hiện ra tính hòa tan trong nước cường toan,
ta lập tức thêm nó vào những thuộc tính kia, và xem nó thuộc về thực thể ấy như
thể nó đã luôn là một phần của ý niệm phức hợp ngay từ đầu. Nguyên tắc hợp nhất,
vốn được xem là phần chủ yếu của ý niệm phức hợp, cho phép bất kỳ thuộc tính
nào được phát hiện sau này cũng được tiếp nhận vào trong nó như những thuộc
tính ban đầu.
T 1.1.6.3, SBN 17
Điều này rõ ràng không thể xảy ra đối với những thể thức,
xét theo bản chất của chúng. những ý niệm đơn giản cấu thành thể thức либо biểu
thị những phẩm chất không được liên kết bởi kề cận và nhân quả, mà phân tán
trong nhiều chủ thể khác nhau; либо nếu chúng được liên kết, thì nguyên tắc
liên kết không được xem là nền tảng của ý niệm phức hợp. Ý niệm về một điệu nhảy
là ví dụ của loại thứ nhất; ý niệm về cái đẹp là ví dụ của loại thứ hai. Vì vậy,
có lý do rõ ràng để thấy rằng những ý niệm phức hợp như vậy không thể tiếp nhận
thêm bất kỳ ý niệm mới nào mà không làm thay đổi tên gọi dùng để phân biệt thể
thức đó.[13]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản
nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Đối với Hume, trí nhớ (memory) và trí tưởng tượng
(imagination) không phải là hai nguồn gốc khác nhau của ý niệm, mà đều là những
năng lực của não thức dùng để tái hiện những ấn tượng đã từng được kinh nghiệm.
Khi một ấn tượng không còn hiện diện trực tiếp, nó có thể xuất hiện trở lại dưới
hình thức một ý niệm. Nếu ý niệm ấy vẫn còn giữ được một phần đáng kể sự sống động
(vivacity) vốn có của ấn tượng ban đầu, thì đó là hoạt động của trí nhớ;
còn khi sự sống động ấy đã suy giảm và ý niệm chỉ còn tồn tại như một hình ảnh
mờ nhạt hơn, thì đó là hoạt động của trí tưởng tượng. Vì vậy, những ý niệm của
trí nhớ luôn sinh động, mạnh mẽ và rõ nét hơn những ý niệm của trí tưởng tượng.
Tuy nhiên, sự khác biệt giữa trí nhớ và trí tưởng tượng
không chỉ nằm ở mức độ sinh động (vivacity) mà còn ở cách những ý niệm được sắp
xếp và liên kết (order and position) trong mỗi năng lực. Trí nhớ có xu hướng bảo
tồn tương đối trung thành hình thức và trật tự mà những ấn tượng đã từng xuất
hiện trong kinh nghiệm; nhiệm vụ chủ yếu của nó không phải là gìn giữ những ý
niệm đơn lẻ, mà là duy trì trật tự và vị trí của chúng. Trái lại, trí tưởng tượng
không bị ràng buộc bởi trật tự nguyên thủy ấy. Nó có thể phân tách, kết hợp,
chuyển vị và tái tổ hợp những ý niệm theo nhiều cách khác nhau. Chính nhờ sự tự
do này mà não thức có thể hình thành những đối tượng hư cấu như ngựa có cánh, rồng
phun lửa hay những hình tượng chưa từng xuất hiện trong kinh nghiệm trực tiếp.
Do đó, theo Hume, trí nhớ là năng lực tái hiện những ấn tượng quá khứ dưới hình
thức những ý niệm còn giữ được mức độ sinh động đáng kể và tương đối bảo tồn trật
tự nguyên thủy của kinh nghiệm; còn trí tưởng tượng là năng lực tái hiện những
ý niệm mờ nhạt hơn, đồng thời tự do phân tách, kết hợp và sắp xếp lại chúng vượt
ra ngoài trật tự ban đầu của những ấn tượng.
[2] “Nguyên lý thứ hai” mà Hume nhắc đến ở đây là luận điểm
cho rằng trí tưởng tượng không bị ràng buộc bởi trật tự và sự kết hợp nguyên thủy
của những ấn tượng trong kinh nghiệm. Khác với trí nhớ, vốn có xu hướng bảo tồn
tương đối trung thành cách những đối tượng đã xuất hiện trong quá khứ, trí tưởng
tượng có khả năng tách rời những ý niệm khỏi những liên kết ban đầu của chúng rồi
sắp xếp, kết hợp hoặc chuyển vị chúng theo những cách mới. Chính nhờ sự tự do
này mà não thức có thể tạo ra vô số hình tượng và ý niệm phức hợp chưa từng được
kinh nghiệm trực tiếp. Tuy nhiên, sự tự do ấy không có nghĩa là trí tưởng tượng
sáng tạo ra những yếu tố hoàn toàn mới; nó chỉ biến đổi và tái tổ hợp những ý
niệm đơn giản vốn đã được sao chép từ những ấn tượng của kinh nghiệm.
[3] Khi viện dẫn những hình ảnh như ngựa có cánh, rồng phun
lửa hay người khổng lồ quái dị, Hume không nhằm chứng minh rằng trí tưởng tượng
có thể sáng tạo ra những nội dung hoàn toàn mới độc lập với kinh nghiệm. Trái lại,
những ví dụ này được dùng để củng cố Nguyên lý Sao chép (Copy Principle),
theo đó mọi ý niệm đơn giản đều phải bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng. Những
hình tượng tưởng như thuần túy hư cấu ấy thực chất chỉ là kết quả của việc trí
tưởng tượng tách rời, hoán đổi và kết hợp lại những ý niệm đơn giản đã có nguồn
gốc trong kinh nghiệm cảm giác. Ý niệm về một con ngựa có cánh, chẳng hạn, được
tạo thành từ ý niệm về một con ngựa và ý niệm về đôi cánh; còn ý niệm về rồng
phun lửa kết hợp những đặc điểm vốn đã được kinh nghiệm cung cấp từ những loài
vật khác nhau cùng với ý niệm về lửa. Vì vậy, ngay cả những sản phẩm kỳ ảo nhất
của trí tưởng tượng cũng không vượt ra ngoài những dữ kiện mà kinh nghiệm đã
cung cấp trước đó cho não thức.
[4] Hệ thống những nguyên lý nền tảng của Hume về ý niệm:
(1) Nguyên lý thứ nhất: Nguyên lý Sao chép (Copy
Principle)
Nguyên lý này khẳng định rằng mọi ý niệm đơn giản (simple
ideas) đều bắt nguồn từ một ấn tượng tương ứng (impression). Ấn tượng
là những tri giác mạnh mẽ và sống động của kinh nghiệm, còn ý niệm chỉ là bản
sao mờ nhạt của những ấn tượng ấy trong suy nghĩ và hồi tưởng. Vì vậy, không có
ý niệm đơn giản nào mang nội dung nguyên thủy hoàn toàn độc lập với kinh nghiệm.
(2) Nguyên lý thứ hai: Nguyên lý Liên tưởng những ý niệm
(Association of Ideas)
Các ý niệm không xuất hiện một cách hoàn toàn rời rạc mà
có xu hướng tự nhiên liên kết với nhau trong suy nghĩ. Theo Hume, sự liên tưởng
ấy diễn ra chủ yếu theo ba quan hệ cơ bản:
- Tương
tự (Resemblance);
- Kề
cận trong không gian hoặc thời gian (Contiguity in time or place);
- Nhân
quả (Cause and Effect).
Nguyên
lý này giải thích vì sao dòng tư tưởng của chúng ta có tính liên tục và trật tự:
một ý niệm thường tự nhiên dẫn sang một ý niệm khác.
(3)
Nguyên lý thứ ba: Tự do của trí tưởng tượng (Liberty of the Imagination)
Trí
tưởng tượng có khả năng phân tách, hoán đổi và tái tổ hợp những ý niệm đơn giản
có nguồn gốc từ kinh nghiệm. Khác với trí nhớ, vốn tương đối bảo tồn trật tự và
vị trí nguyên thủy của những ấn tượng, trí tưởng tượng không bị ràng buộc bởi
trật tự ấy. Nhờ đó, nó có thể tạo nên những hình tượng phức hợp như "ngựa
có cánh" hay "rồng phun lửa". Tuy nhiên, sự tự do này không phủ
nhận Nguyên lý Sao chép, vì mọi yếu tố cấu thành những hình tượng ấy cuối cùng
vẫn phải bắt nguồn từ những ấn tượng đã có trong kinh nghiệm.
Quan
hệ giữa ba nguyên lý
Ba
nguyên lý này tạo thành một hệ thống thống nhất:
- Nguyên
lý Sao chép cung cấp nguồn gốc của những ý niệm (impressions → ideas);
- Nguyên
lý Liên tưởng cung cấp cơ chế liên kết và vận hành của suy nghĩ;
- Tự
do của trí tưởng tượng cung cấp khả năng biến đổi và tái tổ hợp những ý niệm,
nhưng không tạo ra bất kỳ dữ kiện nhận thức mới nào ngoài những gì kinh
nghiệm đã cung cấp.
[5]
Theo cách hiểu của Hume trong Chuyên Luận này (T 1.1.4), ba nguyên lý
liên kết của những ý niệm có thể được diễn giải ngắn gọn như sau:
- Tương
tự (Resemblance): Khi một ý niệm gợi lên một ý niệm
khác vì giữa chúng có sự giống nhau hoặc tương tự nào đó. Chẳng hạn, nhìn
một bức chân dung khiến chúng ta nghĩ đến người được vẽ trong đó.
- Kề
cận trong thời gian hoặc không gian (Contiguity): Khi
một ý niệm dẫn chúng ta đến một ý niệm khác vì hai đối tượng từng ở gần
nhau trong không gian hoặc xuất hiện gần nhau trong thời gian. Chẳng hạn,
nghĩ đến một căn phòng thường khiến chúng ta nghĩ đến những căn phòng kế
bên trong cùng ngôi nhà.
- Nhân
quả (Cause and Effect): Khi một ý niệm gợi
lên một ý niệm khác vì chúng ta đã quen liên kết chúng trong quan hệ
nguyên nhân và kết quả. Chẳng hạn, nhìn thấy khói khiến chúng ta nghĩ đến
lửa, hoặc nghĩ đến một vết thương khiến chúng ta nghĩ đến cơn đau.
[6] Ở đây Hume nhấn mạnh sự khác biệt giữa cách dùng “quan hệ”
trong ngôn ngữ thông thường và trong triết học. Trong triết học, “khoảng cách”
(distance) được xem là một loại quan hệ vì nó chỉ có thể được hình thành qua
quá trình so sánh giữa những đối tượng trong kinh nghiệm. Tuy nhiên, trong ngôn
ngữ thường ngày, người ta lại dùng “quan hệ” theo nghĩa hẹp hơn, chỉ những liên
kết gần gũi hoặc có khả năng liên tưởng trong trí tưởng tượng; vì vậy họ nói
hai sự vật cách xa nhau thì “ít quan hệ” hoặc “kém quan hệ”, như thể khoảng
cách loại trừ hoàn toàn ý niệm về quan hệ.
[7] Theo Hume,
“khoảng cách” (distance) không phải là một cái gì tồn tại độc lập trong không
gian như một thực thể tự có, mà là một quan hệ được hình thành khi não thức so
sánh những đối tượng trong kinh nghiệm: chúng ta chỉ hiểu “xa” hay “gần” khi đặt
những đối tượng cạnh nhau trong một cấu trúc so sánh. Vì thế, trong triết học,
khoảng cách được tính như một loại quan hệ; nhưng trong cách nói thông thường,
người ta lại xem “xa cách” như đối lập với “quan hệ”, khiến hai khái niệm này bị
tách rời một cách trực giác
[8] Theo Hume, cần phân biệt hai cách dùng từ “quan hệ”.
“Quan hệ tự nhiên” (natural relation) là mối liên kết vận hành trực tiếp trong
não thức, khi một ý niệm tự nhiên gợi ra ý niệm khác nhờ những nguyên lý liên
tưởng như tương tự, kề cận hoặc nhân quả; đây là kiểu liên kết mang tính vận
hành tâm lý, không đòi hỏi so sánh có ý thức. Ngược lại, “quan hệ triết học”
(philosophical relation) không phải là một liên kết tự động giữa những ý niệm,
mà là kết quả của một hành vi so sánh có chủ ý giữa những đối tượng trong suy
nghĩ; nó tồn tại khi não thức đặt hai ý niệm cạnh nhau để xét mức độ giống
nhau, khác nhau hay liên hệ về không gian, thời gian, số lượng, v.v. Vì vậy,
quan hệ tự nhiên thuộc về cơ chế vận hành của trí tưởng tượng, còn quan hệ triết
học thuộc về hoạt động so sánh tự suy ngẫm của não thức.
[9] Trong Hume, “lượng” (quantity) và “số” (number) chỉ hai
cách mà não thức có thể quy những đối tượng vào một trật tự so sánh. “Số”
(number) dùng khi chúng ta đếm những đơn vị rời rạc như vật thể, cá thể hay sự
kiện; còn “lượng” (quantity) dùng khi chúng ta xét mức độ hay độ lớn của một
thuộc tính liên tục như trọng lượng, độ dài, hay cường độ. Cả hai đều là những
phương diện giúp não thức đặt những đối tượng cạnh nhau để so sánh, từ đó hình
thành một loại quan hệ triết học dựa trên phép đo và định lượng, khác với những
quan hệ thuần túy do liên tưởng tự nhiên.
[10] Hume cho rằng ngay cả “quan hệ đối lập” cũng không phá vỡ
nguyên tắc nền tảng: mọi quan hệ, ở một mức độ nào đó, đều dựa trên một mức độ tương
tự. Thoạt nhìn, “hiện hữu” và “không hiện hữu” dường như là hai ý niệm đối nghịch
tuyệt đối. Tuy nhiên, chúng vẫn có điểm chung: cả hai đều quy chiếu đến cùng một
nội dung trong suy nghĩ; chỉ khác ở chỗ ý niệm “không hiện hữu” thêm vào sự loại
trừ đối tượng khỏi mọi thời gian và không gian được giả định.
Ví dụ thứ nhất: chúng ta nghĩ về chiếc xe đang đậu trước
nhà, và đối lập là nghĩ rằng chiếc xe không còn đậu ở đó nữa. Dù hai ý niệm đối
lập về mặt hiện hữu, chúng vẫn tương tự ở chỗ đều giữ nguyên cùng một cấu trúc
nội dung: chiếc xe được xác định trong cùng một vị trí không gian “trước nhà”.
Sự khác biệt chỉ nằm ở việc gán hoặc không gán thuộc tính hiện hữu cho cùng một
cấu trúc đó.
Ví dụ thứ hai, trừu tượng hơn: chúng ta nghĩ về một lời
giải cho một bài toán trong sách giáo khoa là đúng, và đối lập là nghĩ rằng lời
giải đó là sai. Trong cả hai trường hợp, não thức vẫn nắm cùng một nội dung nền
là “lời giải của bài toán ấy”; chúng tương tự ở đối tượng và cấu trúc ý niệm được
giữ nguyên, còn sự đối lập chỉ phát sinh từ việc gán hoặc phủ định thuộc tính
đúng/sai lên cùng một nội dung.
[11] 1. Quan hệ giống nhau (Resemblance): Theo Hume, đây là
quan hệ phát sinh khi hai đối tượng hoặc hai ý niệm có một mức độ giống nhau
nào đó, nhờ vậy não thức có thể đem chúng ra so sánh. Mọi quan hệ triết học đều
giả định ít nhiều sự giống nhau; bởi nếu hoàn toàn không có điểm chung nào thì
cũng không thể có sự so sánh. Tuy nhiên, khi sự giống nhau trở nên quá phổ biến
và chung cho quá nhiều sự vật, nó không còn đủ sức dẫn trí tưởng tượng đến một
đối tượng xác định nào.
2. Quan hệ đồng nhất (Identity): Đây là quan hệ nhờ đó một
đối tượng được xem là vẫn là chính nó qua sự kéo dài của thời gian. Hume ở đây
chỉ xét đồng nhất theo nghĩa chặt chẽ nhất, tức áp dụng cho những đối tượng được
giả định là bất biến và không thay đổi. Vấn đề đồng nhất cá nhân sẽ được ông
bàn riêng về sau.
3. Quan hệ không gian và thời gian (Space and Time): Đây
là những quan hệ phát sinh từ vị trí hoặc trật tự của những đối tượng trong
không gian và thời gian. Từ đó xuất hiện vô số sự so sánh như gần và xa, kề cận
và tách biệt, trên và dưới, trước và sau. Hume xem đây là một trong những nguồn
phong phú nhất của những quan hệ triết học.
4. Quan hệ về lượng hoặc số (Quantity or Number): Đây là
quan hệ nảy sinh khi những đối tượng được so sánh theo lượng hoặc số của chúng.
Những so sánh như lớn hơn, nhỏ hơn, nhiều hơn hay ít hơn đều thuộc loại này.
Hume xem đây là một nguồn quan hệ đặc biệt phong phú vì rất nhiều đối tượng có
thể được xét dưới khía cạnh lượng hoặc số.
5. Quan hệ về mức độ của phẩm chất (Degrees in Quality):
Quan hệ này xuất hiện khi hai đối tượng cùng có một phẩm chất nhưng khác nhau về
mức độ. Chẳng hạn, hai vật đều nặng nhưng vật này nặng hơn vật kia; hoặc hai
màu cùng loại nhưng khác nhau về sắc độ. Não thức ở đây không so sánh sự hiện
diện hay vắng mặt của phẩm chất, mà so sánh mức độ của cùng một phẩm chất.
6. Quan hệ đối lập (Contrariety): Thoạt nhìn, quan hệ đối
lập dường như là ngoại lệ đối với nguyên tắc rằng mọi quan hệ đều đòi hỏi một mức
độ giống nhau nào đó. Tuy nhiên, Hume cho rằng ngay cả trường hợp đối lập căn bản
nhất — hiện hữu và không hiện hữu — vẫn chứa đựng một điểm chung, vì cả hai đều
quy chiếu đến cùng một đối tượng trong suy nghĩ. Những đối lập khác, như nóng
và lạnh hay lửa và nước, không phải là đối lập tự thân, mà chỉ được nhận biết
là đối lập nhờ kinh nghiệm về những nguyên nhân hoặc kết quả trái ngược của
chúng.
7. Quan hệ nguyên nhân và kết quả (Cause and Effect): Đây
là quan hệ rộng nhất trong những quan hệ triết học. Một đối tượng có thể được
liên hệ với đối tượng khác khi nó được xem là nguyên nhân của sự hiện hữu, chuyển
động hoặc hành động của đối tượng ấy. Hume còn mở rộng quan hệ này đến cả trường
hợp một đối tượng chỉ có năng lực hay khả năng tạo ra tác động đó, ngay cả khi
tác động chưa thực sự xảy ra.
Ghi
chú tổng quát: Theo Hume, bảy quan hệ trên là những nguồn gốc cơ bản của mọi
quan hệ triết học (philosophical relations). Chúng trước hết không phải là những
liên hệ hiện hữu sẵn trong bản thân sự vật, mà là những phương diện dưới đó não
thức đem những đối tượng hoặc những ý niệm ra so sánh với nhau. Vì thế, những
quan hệ này phản ánh cách thức vận
[12] Thực thể
(substance): là một tập hợp những ý niệm đơn giản được trí tưởng tượng kết hợp
lại và được gán một tên gọi để có thể gợi lại toàn bộ tập hợp ấy. Tuy nhiên, điểm
khác biệt của thực thể so với thể thức nằm ở chỗ: những thuộc tính cấu thành nó
thường được quy chiếu đến một “cái gì đó không xác định” được giả định là nền tảng
mà chúng thuộc về, hoặc nếu bỏ giả định này thì ít nhất những thuộc tính ấy được
xem là liên kết chặt chẽ và gần như không thể tách rời nhờ những quan hệ kề cận
và nhân quả.
Thể thức (mode) theo Hume: cũng là một tập hợp những ý niệm đơn
giản được trí tưởng tượng kết hợp lại và được đặt tên để có thể tái hiện tập hợp
đó trong tư duy. Nhưng khác với thực thể, những ý niệm cấu thành thể thức không
được quy chiếu về một “cái nền” nào cả, và cũng không được xem là liên kết bởi
một sự gắn kết tất yếu; chúng chỉ được trí tưởng tượng nhóm lại thành một đơn vị
ý niệm mà không giả định một bản thể hay nền tảng chung phía sau
[13] Theo Hume, những “thể thức” không vận hành như “thực thể”,
nên chúng không có một nguyên tắc hợp nhất ổn định cho phép bổ sung thuộc tính
mới mà vẫn giữ nguyên đối tượng được gọi tên.
Ông đưa ra hai trường hợp minh họa. Trường hợp thứ nhất
là “vũ điệu”: đây là một thể thức gồm nhiều ý niệm đơn giản (cử động, nhịp điệu,
tư thế…) vốn không được gắn kết bởi quan hệ kề cận hay nhân quả trong một nền
thống nhất cố định, mà chỉ được trí tưởng tượng tập hợp lại thành một hình thức
chung. Vì vậy, nếu thêm vào những yếu tố mới không thuộc cấu trúc ban đầu,
chúng ta không còn nói về cùng một “vũ điệu” nữa mà đã chuyển sang một đối tượng
khác.
Trường hợp thứ hai là “cái đẹp”: ở đây, những ý niệm cấu
thành tuy có thể đi cùng nhau trong kinh nghiệm, nhưng mối liên kết của chúng
không được xem là một nền tảng cố định để mở rộng thêm thuộc tính. Do đó, nếu
chúng ta thay đổi hoặc thêm những yếu tố mới vào khái niệm này, chúng ta không
còn giữ nguyên cùng một ý niệm “cái đẹp” ban đầu, mà phải hình thành một tên gọi
hay khái niệm khác.
Qua hai ví dụ này, Hume muốn nhấn mạnh rằng thể thức khác
với bản thể ở chỗ nó không có nguyên tắc hợp nhất ổn định; vì vậy, mọi sự bổ
sung ý niệm đều kéo theo sự thay đổi của chính khái niệm được gọi tên.
