Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT I.
Về Những Loại Triết Học Khác Nhau
Triết học đạo
đức, [1] hay khoa học về bản
chất con người, có thể được nghiên cứu theo hai cách khác nhau; mỗi cách đều có
giá trị riêng của nó và đều có thể góp phần vào việc khơi dậy hứng thú tìm
hiểu, giáo dục và cải thiện con người.
Cách thứ nhất nhìn con người chủ yếu như một
sinh vật sinh ra để hành động, và xem những hành vi của họ chịu ảnh hưởng của
thị hiếu và tình cảm; theo đuổi đối tượng này và tránh đối tượng khác, tùy theo
giá trị mà những đối tượng ấy dường như có được, và tùy theo ánh sáng mà chúng
hiện ra trước mắt họ. Vì đức hạnh, trong tất cả những đối tượng, thường được
coi là quý giá nhất, nên loại triết gia này tô điểm nó bằng những màu sắc đáng
yêu nhất; mượn mọi trợ giúp từ thi ca và hùng biện, và trình bày đề tài một
cách dễ hiểu và hiển nhiên, sao cho phù hợp nhất với trí tưởng tượng và có sức
thu hút đối với tình cảm.
Họ chọn lọc những quan sát và ví dụ nổi bật
nhất từ đời sống thường ngày; đặt những nhân cách đối lập trong một sự tương
phản thích hợp; và lôi cuốn chúng ta vào con đường đức hạnh bằng những viễn
cảnh của vinh quang và hạnh phúc, đồng thời hướng dẫn bước chân của chúng ta
trên con đường ấy bằng những lời răn dạy vững chắc nhất cùng những tấm gương
rạng rỡ nhất.
Họ làm cho chúng ta nhận ra sự khác biệt giữa
tội lỗi và đức hạnh; họ kích thích và điều chỉnh những tình cảm của chúng ta;
và vì vậy, họ cho rằng nếu có thể hướng trái tim chúng ta đến tình yêu đối với
sự chính trực và danh dự chân chính, thì họ đã hoàn toàn đạt được mục đích của
mọi công sức của họ.
E 1.2, SBN 6
Cách thứ hai [2] nhìn con người chủ yếu như một hữu thể lý trí hơn là một hữu thể hành
động, và cố gắng hình thành Khả Năng Nhận thức của con người hơn là trau dồi
đạo đức, phong cách và hành vi của họ. Họ coi bản chất con người như một đối
tượng của sự suy đoán; và với sự xem xét cẩn trọng, họ nghiên cứu nó nhằm tìm
ra những nguyên lý chi phối sự hiểu biết của chúng ta, khơi dậy cảm xúc và
khiến chúng ta tán thành hoặc chỉ trích bất kỳ đối tượng, hành động hay cách
ứng xử cụ thể nào.
Họ cho rằng đó là một điều đáng trách đối với
toàn bộ học thuật, khi triết học vẫn chưa thể xác lập một nền tảng vững chắc và
không còn tranh luận cho đạo đức, suy luận và phê bình; và vẫn cứ mãi bàn về
chân lý và sai lầm, thói xấu và đức hạnh, cái đẹp và cái xấu, mà không thể xác
định được nguồn gốc của những sự phân biệt ấy.
Trong khi cố gắng thực hiện công việc khó khăn
này, họ không hề nản lòng trước bất kỳ trở ngại nào. Họ tiến hành từ những
trường hợp riêng lẻ đến những nguyên lý tổng quát; rồi từ đó tiếp tục đẩy xa
hơn nữa những khảo cứu của mình đến những nguyên lý tổng quát hơn; và không
thỏa mãn cho đến khi đạt tới những nguyên lý đầu tiên, vượt quá đó mọi sự tìm
hiểu của con người cuối cùng đều phải dừng lại.
Mặc dù những suy đoán của họ có vẻ trừu tượng,
thậm chí khó hiểu đối với người đọc thông thường, họ vẫn hướng tới sự tán thành
của giới uyên bác và thông thái; và họ cho rằng mình đã được đền bù xứng đáng
cho công sức cả đời nếu có thể khám phá ra một vài chân lý tiềm ẩn, có khả năng
góp phần vào việc giáo dục những thế hệ mai sau.[3]
E 1.3, SBN 6-7
Chắc chắn rằng
triết học dễ hiểu và hiển nhiên sẽ luôn luôn được đa số loài người ưa chuộng
hơn triết học chính xác và trừu tượng; và được nhiều người tán thành, không chỉ
vì nó dễ chịu hơn mà còn vì nó hữu ích hơn. Nó đi vào đời sống thường ngày hơn;
nó uốn nắn trái tim và cảm xúc; và, bằng việc chạm đến những nguyên lý thúc đẩy
con người, nó cải thiện hành vi của họ và đưa họ đến gần hơn với khuôn mẫu hoàn
hảo mà nó mô tả.
Ngược lại, triết học trừu tượng và khó hiểu,
vốn được xây dựng trên một lối suy luận chỉ thích hợp với suy đoán, không thể
dễ dàng áp dụng vào công việc hay hành động thực tiễn. Vì vậy, nó thường biến
mất khi nhà triết học rời khỏi bóng tối suy tưởng để bước vào ánh sáng của đời
sống thường ngày; và những nguyên lý của nó khó có thể duy trì được ảnh hưởng
nào đối với hành vi và cách ứng xử của chúng ta.
Những xao động của con tim, những kích động
của cảm xúc, [4] và
sức mạnh của những tình cảm gắn bó, nhanh chóng làm tan biến mọi kết luận của
triết học trừu tượng, và hạ nhà triết học uyên thâm xuống ngang hàng với một
người bình dân tầm thường.
E 1.4, SBN 7
Cũng phải nhìn nhận rằng triết học dễ hiểu và
hiển nhiên thường đạt được danh tiếng bền vững và công bằng hơn, trong khi
những nhà tư tưởng trừu tượng cho đến nay phần lớn chỉ hưởng danh tiếng nhất
thời, do ngẫu hứng thất thường hoặc do sự thiếu hiểu biết của thời đại họ; và
họ khó có thể duy trì danh tiếng ấy trước sự phán xét công minh của hậu thế.
Một triết gia uyên bác rất dễ mắc sai lầm
trong những lập luận tinh vi của mình; và một sai lầm tất yếu dẫn đến sai lầm
khác, khi ông tiếp tục truy đuổi những hệ quả của nó và không chịu nản chí
trong việc chấp nhận bất kỳ kết luận nào, dù kết luận ấy có vẻ khác thường hay
trái ngược với những quan điểm phổ thông.
Nhưng một triết gia chỉ nhằm trình bày phán
đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường của loài người bằng những màu
sắc đẹp đẽ và hấp dẫn hơn, nếu vô tình mắc sai lầm, thì cũng sẽ không đi quá
xa; bởi chỉ cần quay trở lại với phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông
thường ấy cùng với những cảm xúc tự nhiên não thức, [5] ông sẽ nhanh chóng
trở lại con đường đúng đắn và tránh được mọi ảo tưởng nguy hại.
Danh tiếng của Cicero vẫn còn rạng rỡ; nhưng
của Aristotle đã phai nhạt nhiều. Jean de La Bruyère vượt qua eo biển, và tiếng
tăm của ông vẫn còn đó; trong khi vinh quang của Nicolas Malebranche hầu như
chỉ gói gọn trong quốc gia và thời đại của ông. Và có lẽ hậu thế sẽ đọc Joseph
Addison với thích thú khi John Locke đã hoàn toàn bị quên lãng. [6]
E 1.5, SBN 8
Triết gia thuần túy thường là một kiểu nhân
vật ít được ưa chuộng trong xã hội, vì người ta cho rằng ông không đóng góp gì
cho ích lợi hay niềm vui của xã hội; trái lại, ông sống xa rời sự giao tiếp với
loài người, và chìm đắm trong những nguyên lý và khái niệm xa lạ với sự hiểu
biết của họ.
Mặt khác, kẻ vô tri thuần túy còn bị khinh rẻ
hơn nữa; và trong một thời đại hay một quốc gia nơi những khoa học đang hưng
thịnh, thì không có dấu hiệu nào rõ hơn cho thấy một trí tuệ hẹp hòi [7] bằng
việc hoàn toàn không có chút khả năng thưởng thức nào đối với những thú vui
tinh thần cao quý ấy. Vì vậy, nhân cách hoàn thiện nhất thường được cho là nằm giữa hai cực
đoan ấy: giữ được khả năng và sở thích cân bằng giữa sách vở, bạn hữu và công
việc. Trong giao tiếp, con người này giữ được sự tinh tế và nhạy bén do văn
chương lịch lãm mang lại; còn trong công việc, họ giữ được sự chính trực và
chuẩn xác, những phẩm chất tự nhiên phát sinh từ một triết học đúng mực.[8] Để
truyền bá và vun trồng một nhân cách như vậy, không gì hữu ích hơn những trước
tác được viết theo phong cách sáng sủa và dễ tiếp cận—những tác phẩm vẫn giữ
được sự gắn bó với đời sống thực, thay vì trở nên quá trừu tượng; không đòi hỏi
sự tập trung căng thẳng hay sự ẩn dật lánh đời để thấu hiểu; và đưa người học
trở lại với loài người, mang theo những cảm xúc cao quý và những lời khuyên
khôn ngoan, có thể áp dụng trong mọi hoàn cảnh của đời sống. Nhờ những tác phẩm
như thế, đức hạnh trở nên đáng yêu, khoa học trở nên dễ tiếp nhận, sự giao tiếp
trở nên hữu ích, và đời sống ẩn cư trở nên có giá trị tu dưỡng.
E 1.6, SBN 8-9
Con người là một hữu thể có lý trí; và với tư
cách ấy, nhận từ khoa học nguồn thức ăn và dưỡng chất thích hợp của họ. Nhưng
ranh giới của sự hiểu biết con người quá chật hẹp, nên ít hy vọng có thể đạt
được thỏa mãn từ phạm vi hay sự vững chắc của những tri thức đã thu nhận. Con
người là một hữu thể có tính xã hội, không kém gì là một hữu thể có lý trí. Tuy
nhiên, cũng không phải lúc nào họ cũng có thể tận hưởng những cuộc gặp gỡ thú
vị và vui vẻ, hay duy trì được khả năng thưởng thức thích hợp đối với chúng.
Con người cũng là một hữu thể hoạt động; và do khuynh hướng ấy, cũng như do
những nhu cầu đa dạng của đời sống, tất phải thuận theo công việc và nghề
nghiệp. Nhưng não thức lại cần có sự thư giãn, và không thể luôn luôn chịu đựng
được khuynh hướng nghiêng về lo toan và cần mẫn. Có vẻ như, tự nhiên đã chỉ ra
một lối sống pha trộn là thích hợp nhất cho loài người, và ngầm khuyên họ đừng
để bất kỳ khuynh hướng nào trong số ấy lôi kéo quá mức, đến nỗi làm họ mất khả
năng đảm đương những công việc và thú vui khác.
“Hãy nuông chiều đam mê khoa học của ngươi,” người mẹ Tự Nhiên nói, “nhưng hãy để khoa học ấy là nhân bản, và là những gì có thể có liên hệ trực tiếp tới hành động và đời sống xã hội. Những tư tưởng trừu tượng và những nghiên cứu vào siêu hình sâu thẳm, ta cấm đoán, và sẽ trừng phạt nghiêm khắc, bằng u sầu trầm mặc vốn chúng mang đến, bằng sự bất định vô tận trong đó chúng cuốn ngươi vào, và bằng sự đón nhận lạnh nhạt vốn những gì tự giả định là khám phá của ngươi sẽ gặp phải, khi được truyền đạt. Hãy là một triết gia; nhưng giữa tất cả triết lý của ngươi, hãy vẫn là một con người. [9]
E 1.7, SBN 9
Nếu đa số loài người bằng lòng ưa thích triết
học dễ hiểu và hiển nhiên hơn triết học chính xác và trừu tượng, nhưng không vì
thế mà trách cứ hay khinh miệt loại sau, thì có lẽ cũng không phải là điều sai
khi thuận theo quan niệm phổ biến này, và để mỗi người được tự do hưởng thụ sở
thích và tri giác riêng của mình mà không bị phản đối. Nhưng vì vấn đề thường bị
đẩy xa hơn, thậm chí đến mức bác bỏ hoàn toàn mọi suy luận sâu xa, hay những gì
thường được gọi là siêu hình học, nên giờ đây chúng ta sẽ xem xét những
lập luận có thể được viện dẫn một cách hợp lý để biện hộ cho chúng.
E 1.8, SBN 9-10
Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc nhận xét rằng
một lợi thế đáng kể phát sinh từ triết học chính xác và trừu tượng là sự phụ
trợ của nó với triết học bình dị và nhân bản [10]; bởi nếu
thiếu triết học trừu tượng, thì triết học nhân bản kia không bao giờ có thể đạt
được một mức độ đầy đủ về sự chuẩn xác trong những cảm nhận, những chỉ dẫn khôn
ngoan, hay những suy luận của nó. Tất cả văn chương thanh nhã thực chất không gì khác hơn là
những bức họa về đời sống con người trong nhiều tư thế và hoàn cảnh khác nhau;
và chúng khơi dậy trong chúng ta những cảm nhận khác nhau—khen ngợi hay trách
cứ, ngưỡng mộ hay chế giễu—tùy theo những phẩm chất của đối tượng mà chúng đặt
trước mắt ta. Một nghệ sĩ sẽ được trang bị tốt hơn để thành công trong công việc này,
nếu ngoài một khiếu thẩm mỹ tinh tế và một sự lĩnh hội bén nhạy, còn sở hữu một hiểu
biết chính xác về cấu trúc nội tại, về những hoạt động của Khả Năng Nhận thức,
về cơ chế vận hành của đam mê, và về những loại cảm nhận khác nhau nhờ đó phân
biệt thói xấu và đức hạnh. Dẫu cho việc tìm hiểu và thăm dò bên trong
này có vẻ nhọc nhằn đến đâu, nó vẫn là điều cần thiết đối với những ai muốn mô
tả thành công những vẻ ngoài rõ rệt và những phong thái ứng xử trong đời sống thường ngày. Nhà giải phẫu học phơi bày trước mắt những đối tượng gớm ghiếc và khó nhìn nhất;
nhưng khoa học của ông lại hữu ích cho họa sĩ, ngay cả khi người họa sĩ vẽ
một Venus hay một Helen. Trong khi người họa sĩ dùng những màu sắc phong phú
nhất của nghệ thuật và trau chuốt cho hình ảnh của ông những dáng vẻ duyên dáng
và quyến rũ nhất; ông vẫn phải chú tâm đến cấu trúc bên trong cơ thể con người,
vị trí những bắp thịt, cấu trúc của xương, cũng như chức năng và hình dạng của
từng bộ phận hay cơ quan. Sự chuẩn xác, trong tất cả những trường hợp, đều có
lợi cho cái cũng như lý luận đúng đắn có lợi cho cảm nhận tinh tế. Sẽ chỉ hoài
công vô ích nếu chúng ta muốn nâng cao cái này bằng cách hạ thấp cái kia.
E 1.9, SBN 10
Bên cạnh đó, ta có thể nhận thấy rằng trong
mọi ngành nghệ thuật hay nghề nghiệp, ngay cả những lĩnh vực liên quan trực
tiếp đến đời sống và hành động, một tinh thần chuẩn xác, dù đạt được bằng cách
nào, đều đưa chúng tiến gần hơn đến sự hoàn thiện, và làm cho chúng phục vụ tốt
hơn cho lợi ích của xã hội. Dù một triết gia có thể sống xa rời công việc thực
tiễn, tinh thần triết học, nếu được nhiều người cẩn trọng nuôi dưỡng, ắt sẽ dần
dần lan tỏa khắp xã hội, và mang lại sự chuẩn xác tương tự cho mọi nghệ thuật
và nghề nghiệp. Chính trị gia sẽ đạt được tầm nhìn xa và sự tinh tế hơn trong
việc phân chia và cân bằng quyền lực; luật gia sẽ có phương pháp và nguyên lý
tinh tế hơn trong suy luận; vị tướng lĩnh sẽ có kỷ luật nề nếp hơn, cùng sự
thận trọng hơn trong những kế hoạch và chiến dịch. Sự ổn định của chính quyền
thời nay so với thời cổ, cũng như sự chính xác của triết học thời nay, đã được
cải thiện, và rất có thể sẽ tiếp tục được cải thiện theo những bước tiến tương
tự.
E 1.10, SBN 11
Nếu không có lợi ích nào thu được từ những
nghiên cứu này ngoài việc thỏa mãn một sự tò mò hiếu kỳ vô hại, thì ngay cả
điều đó cũng không nên bị khinh thường; bởi nó là một sự gia tăng cho số ít
những thú vui an toàn và vô hại mà con người được ban cho. Con đường ngọt ngào
nhất và ít gây xúc phạm nhất trong đời sống đi qua những lối vào của khoa học
và học vấn; và bất cứ ai có thể gỡ bỏ một chướng ngại trên con đường ấy, hoặc
mở ra một viễn cảnh mới, thì trong chừng mực ấy đáng được xem như một ân nhân của
loài người. Dù những nghiên cứu này có vẻ nhọc nhằn và mệt mỏi, đối với một số
não thức – cũng như với một số cơ thể – khi được ban cho sức khỏe cường tráng
và dồi dào, chúng đòi hỏi sự rèn luyện khắc nghiệt, và lại thu được niềm vui từ
chính những việc mà đối với phần đông người khác có vẻ nặng nhọc và lao lực.
Thật vậy, sự tối tăm, khó hiểu gây khó chịu cho trí óc, y như cách ánh sáng
thiếu hụt làm mỏi đôi mắt; nhưng việc đem ánh sáng ra từ bóng tối ấy, dù phải
nhờ đến bất cứ công sức nào, hẳn là một vui thích và hân hoan.
E 1.11, SBN 11
Thế nhưng, sự mù mờ trong lối triết học chính
xác và trừu tượng này bị chỉ trích không chỉ vì gây nhọc nhằn và mệt mỏi, mà
còn vì bị xem là nguồn gốc tất yếu của bất định và sai lầm. Quả thật, chính ở
đây nằm lời phản đối chính đáng và có vẻ thuyết phục nhất chống lại một phần
đáng kể của siêu hình học: rằng chúng không phải là một khoa học đúng nghĩa, mà
hoặc phát sinh từ những nỗ lực vô ích của sự tự phụ của con người, vốn muốn
thâm nhập vào những đối tượng hoàn toàn vượt ngoài tầm với của Khả Năng Nhận thức;
hoặc từ những thủ đoạn mà những mê tín phổ biến dùng để bảo vệ chính chúng. Bị
xua đuổi khỏi vùng đất trống trải, những tên cướp ấy chạy vào rừng rậm, phục
sẵn để đột nhập qua mọi lối ngõ không được canh giữ của não thức, và nhấn chìm
nó trong những sợ hãi cùng định kiến tôn giáo. Đối thủ can trường nhất, nếu lơi
sự cảnh giác chỉ trong một khoảnh khắc, cũng sẽ bị khuất phục. Và nhiều người,
vì hèn nhát và ngu muội, mở toang cổng thành cho kẻ thù, rồi tự nguyện tiếp
nhận chúng với lòng tôn kính và phục tùng, như những vị chúa tể hợp pháp của
họ.
E 1.12, SBN 12-13
Nhưng đây có phải là một lý do đủ thuyết phục
để những triết gia từ bỏ những nghiên cứu như vậy, và để mặc cho mê tín tiếp
tục chiếm giữ nơi ẩn náu của nó? Há chẳng phải thích đáng hơn khi rút ra một
kết luận ngược lại, và nhận ra sự cần thiết phải đem cuộc chiến vào những nơi
ẩn náu sâu kín nhất của kẻ thù? Thật vô ích nếu chúng ta hy vọng rằng con
người, qua những thất vọng thường xuyên, cuối cùng sẽ từ bỏ những khoa học hão
huyền như vậy và khám phá ra phạm vi thực sự của lý trí con người. Bởi vì, ngoài việc
nhiều người cảm thấy một lợi ích quá rõ rệt trong việc liên tục khơi lại những
đề tài ấy; ngoài điều đó ra, tôi nói, động cơ của sự tuyệt vọng mù quáng không
bao giờ có chỗ đứng hợp lý trong khoa học; bởi lẽ, dẫu những nỗ lực trước đây
có thất bại đến đâu, vẫn còn cơ hội để hy vọng rằng sự cần mẫn, may mắn, hay sự
sáng suốt ngày càng được cải thiện của những thế hệ kế tiếp có thể đạt tới
những khám phá mà những thời đại trước chưa từng biết đến. Mỗi thiên tài mạo hiểm vẫn
sẽ nhảy tới phần thưởng gian nan ấy, và thấy mình được kích thích hơn là nản
lòng bởi những thất bại của những người đi trước; trong khi người này hy vọng
rằng vinh quang của việc chinh phục một cuộc phiêu lưu khó khăn như vậy được
dành riêng cho mình.
Phương pháp duy nhất để giải phóng học thuật
ngay lập tức khỏi những vấn đề trừu tượng này là khảo cứu nghiêm túc vào bản
chất của Khả Năng Nhận thức con người, và chứng minh, bằng một phân tích chính
xác về sức mạnh và phạm vi của nó, rằng nó tuyệt đối không được trang bị để
thích hợp với những đề tài xa vời và khó hiểu như vậy. Chúng ta phải chấp nhận
sự nhọc nhằn của việc điều tra nghiêm túc bản chất của Khả Năng Nhận thức con
người, để từ đó về sau trí tuệ được an nhàn và tránh được những tranh cãi siêu
hình vô tận. Và chúng ta phải nuôi dưỡng siêu hình học chân chính với một mức
độ cẩn trọng nào đó, để tiêu diệt thứ siêu hình học giả tạo và pha tạp. Sự biếng nhác, đối
với một số người, mang lại một tấm khiên bảo vệ chống lại thứ triết học lừa dối
này; nhưng ở những người khác, nó bị vượt qua bởi tính tò mò; và sự tuyệt vọng,
vốn trong vài khoảnh khắc chiếm ưu thế, có thể sau đó nhường chỗ cho những hy
vọng và mong đợi đầy lạc quan. Lý luận chính xác và đúng đắn là phương thuốc
phổ quát duy nhất, thích hợp cho mọi người và mọi khuynh hướng; và chỉ riêng nó
mới có khả năng lật đổ thứ triết học khó hiểu và thứ ngôn ngữ siêu hình rắc rối
kia, vốn khi hòa lẫn với mê tín phổ biến, khiến nó gần như không thể xuyên thấu
đối với những người suy luận cẩu thả, đồng thời ban cho nó vẻ bề ngoài của khoa
học và sự khôn ngoan. [11]
E 1.13, SBN 13
Bên cạnh lợi thế này—tức lợi thế của việc, sau
một sự khảo cứu kỹ lưỡng, loại bỏ những phần bất định và khó chịu nhất của tri
thức học thuật—còn có nhiều lợi ích tích cực khác, vốn nảy sinh từ việc xem xét
chính xác những năng lực và khả năng của bản chất con người. Có một điều đáng
chú ý liên quan đến mọi hoạt động của trí óc: tuy chúng hiện diện mật thiết
nhất với chúng ta, nhưng bất cứ khi nào chúng trở thành đối tượng của sự tự suy
ngẫm, chúng dường như bị bao phủ trong một thứ tối tăm; và con mắt quan sát
cũng không dễ dàng nhận ra những đường nét và ranh giới phân biệt và phân loại
chúng. Những đối tượng này quá tinh vi để có thể lưu lại lâu dài trong cùng một
hình dạng hay trạng thái; và chúng phải được nắm bắt trong khoảnh khắc, bằng
một sự thấu hiểu vượt trội, phát sinh từ bản năng tự nhiên và được cải thiện
nhờ thói quen cùng sự tự suy ngẫm.
Vì thế, việc chỉ đơn thuần nhận ra những hoạt
động khác nhau của trí óc, tách chúng ra khỏi nhau, xếp chúng dưới những đề mục
thích hợp, và sửa chữa tất cả cái vẻ rối loạn vốn bao trùm chúng khi chúng trở
thành đối tượng của sự suy tư và khảo cứu, tự nó đã là một phần không nhỏ của
khoa học.
Công việc sắp xếp và phân biệt này—vốn không
đáng kể khi thực hiện đối với những vật thể bên ngoài, tức những đối tượng của
giác quan—lại càng trở nên có giá trị khi được hướng đến những hoạt động của
trí óc, theo đúng tỷ lệ với mức độ khó khăn và công sức mà chúng ta phải bỏ ra
để thực hiện nó. Và nếu chúng ta không thể đi xa hơn “cảnh quan tinh thần” này,
hay sự phác họa những phần và năng lực riêng biệt của trí óc, thì ít nhất cũng
là một sự thỏa mãn khi đạt được đến mức ấy. Và khoa học này, càng có vẻ hiển
nhiên bao nhiêu (dù thực ra hoàn toàn không hiển nhiên), thì sự ngu dốt về nó
nơi những người tự xưng là có học vấn và triết học lại càng đáng bị coi là đáng
chê trách bấy nhiêu.
E 1.14, SBN 13-4
Cũng không còn lý do nào để nghi ngờ rằng khoa
học này là bất định và hão huyền; trừ khi chúng ta chấp nhận một lập trường
hoài nghi cực đoan đến mức hoàn toàn phá hủy mọi suy đoán, thậm chí cả hành
động. Không thể nghi ngờ rằng trí óc được phú cho nhiều năng lực và khả năng;
rằng những năng lực ấy khác biệt với nhau; rằng những gì thực sự khác biệt đối
với nhận thức trực tiếp cũng có thể được phân biệt bằng sự suy ngẫm; và do đó,
rằng có sự thật và sai lầm trong mọi mệnh đề bàn về đề tài này—một sự thật và
sai lầm không vượt quá phạm vi Khả Năng Nhận thức của con người.
Có nhiều sự phân biệt hiển nhiên thuộc loại
này, chẳng hạn giữa ý chí và sự hiểu biết, giữa trí tưởng tượng và những cảm
xúc; những sự phân biệt ấy nằm trong sự lĩnh hội của mọi người. Và những sự
phân biệt tinh vi hơn, mang tính triết học hơn, cũng không kém phần thực và
chắc chắn, dù khó nắm bắt hơn. Một vài trường hợp thành công trong những khảo
cứu này—đặc biệt là những trường hợp gần đây—có thể giúp chúng ta có được một ý
niệm đúng đắn hơn về tính chắc chắn và vững vàng của ngành học này. [12] Vậy
mà chúng ta lại sẵn sàng cho rằng một triết gia đáng được tôn vinh khi người
này đem lại cho chúng ta một hệ thống đúng thực của những hành tinh, và xác định chính xác
vị trí cũng như trật tự của những thiên thể xa xôi ấy; trong khi chúng ta lại
dường như bỏ qua những người, với nhiều thành công không kém, đã phác họa những
phần của trí óc—những phần mà chúng ta có liên hệ mật thiết nhất? [13]
E 1.15, SBN 14-5
Nhưng liệu chúng ta có thể không hy vọng rằng,
nếu triết học được vun đắp cẩn thận và được công chúng quan tâm khuyến khích,
nó sẽ đưa những nghiên cứu đi xa hơn nữa, và ít nhất ở một mức độ nào đó khám
phá ra những nguồn gốc và nguyên lý bí mật, qua đó não thức con người vận hành?
Từ lâu, những nhà thiên văn học chỉ hài lòng với việc chứng minh, từ những hiện
tượng, chuyển động, trật tự và kích thước thực của những thiên thể; cho đến khi
một triết gia cuối cùng xuất hiện, người dường như, nhờ những lập luận thành
công nhất, cũng xác định được những quy luật và lực chi phối và điều hướng
những vòng quay của những hành tinh. Điều tương tự đã được thực hiện với những
phần khác của tự nhiên. [14]
Và không có lý do gì để tuyệt vọng về khả năng
đạt được thành công tương tự trong những khảo cứu về năng lực và cơ cấu hoạt
động tinh thần, nếu chúng được theo đuổi với khả năng và sự thận trọng tương
đương. Có lẽ một nguyên lý hoạt động của não thức phụ thuộc vào nguyên lý khác;
và nguyên lý này, đến lượt nó, có thể quy về một nguyên lý tổng quát và phổ
quát hơn. Mức độ mà những khảo cứu này có thể tiến xa, trước hay sau một thử
nghiệm cẩn thận, vẫn khó xác định chính xác. Chắc chắn rằng những nỗ lực loại này
được thực hiện hàng ngày, ngay cả bởi những người triết lý một cách cẩu thả
nhất; và không gì cần thiết hơn là bắt tay vào công việc với sự cẩn trọng và
chú ý kỹ lưỡng, để nếu nó nằm trong Khả Năng Nhận thức của con người, cuối cùng
có thể được hoàn thành một cách thành công; nếu không, ít nhất cũng có thể bác
bỏ với một sự tự tin và an tâm nhất định.
Kết luận cuối cùng này chắc chắn không phải là
điều đáng mong muốn, và cũng không nên chấp nhận một cách vội vàng. Vì nếu theo
giả định đó, ta phải đánh đổi bao nhiêu vẻ đẹp và giá trị của loại triết học
này? Cho đến nay, những nhà đạo đức học đã quen, khi xem xét số lượng to lớn và
sự đa dạng của những hành vi gây nên sự tán thành hay ác cảm, tìm kiếm một
nguyên lý chung nào đó, mà qua nó sự đa dạng của cảm xúc có thể được giải
thích. Mặc dù đôi khi họ đi quá xa trong nỗ lực tìm một nguyên lý tổng quát, nhưng
cần công nhận rằng họ xứng đáng được tha thứ khi mong muốn tìm ra những nguyên
lý tổng quát, mà tất cả những thói xấu và đức hạnh đều có thể quy về đó. Những
nhà phê bình, những nhà logic, và thậm chí những chính trị gia cũng từng nỗ lực
tương tự; và nỗ lực của họ không hoàn toàn thất bại, dù có lẽ với thời gian dài
hơn, sự chính xác cao hơn và nỗ lực nhiệt thành hơn, những ngành khoa học này
sẽ tiến gần hơn đến sự hoàn thiện.
Việc từ bỏ ngay lập tức mọi tham vọng như vậy
có thể được coi là liều lĩnh, hấp tấp và giáo điều, hơn cả những triết học táo
bạo và khẳng định nhất, vốn từng cố gắng áp đặt những nguyên lý thô thiển lên
loài người.
E 1.16, SBN 15-6
Mặc dù những lập luận về bản chất con người
này có vẻ trừu tượng và khó hiểu, điều đó không chứng tỏ chúng sai. Ngược lại,
khó có thể tin rằng những điều mà cho đến nay nhiều triết gia uyên bác vẫn chưa
nắm được lại có thể trở nên hiển nhiên và dễ dàng. Và cho dù những nghiên cứu
này tốn bao nhiêu công sức, chúng ta vẫn có thể tự thấy xứng đáng, không chỉ về
lợi ích mà còn về thích thú, nếu nhờ đó chúng ta gia tăng được vốn kiến thức cho
bản thân về những vấn đề quan trọng đến thế.
E 1.17, SBN 16
Nhưng xét cho cùng, tính trừu tượng của những
suy diễn này không phải là một ưu điểm mà đúng hơn là một bất lợi; và vì khó
khăn này có thể được khắc phục nhờ sự cẩn trọng và khéo léo, cùng với việc
tránh mọi chi tiết không cần thiết, nên trong khảo cứu sau đây, tác giả đã cố
gắng rọi ánh sáng vào những đề tài mà cho đến nay, sự bất định khiến người khôn
ngoan chùn bước, còn sự tối nghĩa làm nản lòng kẻ thiếu hiểu biết. Thật hạnh
phúc, nếu chúng ta có thể nối liền ranh giới những loại triết học khác nhau, bằng
cách dung hòa sự tìm tòi sâu xa với sự rõ ràng, và sự thật với sự mới mẻ! Còn
hạnh phúc hơn nữa, nếu nhờ cách lập luận dễ hiểu này, chúng ta có thể làm suy
yếu nền tảng của thứ triết học huyền bí, vốn chỉ từng là nơi ẩn náu của mê tín
và là lớp vỏ che giấu cho sự phi lý cùng sai lầm.
Lê Dọn Bàn tạm
dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Triết học đạo đức, theo nghĩa rộng rãi dùng ở đây, chỉ sự học hỏi về bản chất và hành động của con người – đối lại với triết học về tự nhiên, học hỏi về thế giới tự nhiên.
Trong thế kỷ 18, “moral philosophy” tương đương với khoa học nhân văn ngày nay nhưng cộng thêm triết học, hay chính xác hơn – “sự học hỏi, nghiên cứu về những gì lấy con người làm chủ thể”.
[2] của những triết gia kia
[3] Hume phân biệt hai loại triết học. Loại thứ nhất là triết học dễ hiểu và hiển nhiên: nó gần với đời sống thường ngày, dựa vào phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường, tác động trực tiếp đến xúc cảm và cách ứng xử của con người, nên được số đông ưa chuộng và xem là hữu ích. Loại thứ hai là triết học chính xác (chặt chẽ về mặt logic). và trừu tượng: nó đòi hỏi suy nghĩ cẩn trọng và phân tích sâu, ít gắn với sinh hoạt và hành động hằng ngày, nên dễ mất tác dụng khi nhà triết học rời khỏi suy tư thuần lý để bước vào đời sống thực tiễn.
[4] passions: xúc cảm / xúc cảm
[5] the mind, = não thức
1.
Trong hệ thống tư tưởng của Hume, the mind định nghĩ như một tập hợp những năng lực và quan năng riêng biệt — gồm ý chí, sự hiểu biết, trí tưởng tượng và những xúc cảm — đóng vai trò là vị trí trung tâm (locus) cho mọi tri giác.
Dưới lăng kính nghiên cứu của Hume, những đặc tính vận hành và cấu trúc của não thức có thể được hiểu qua những điểm sau: (a) Hệ thống tri giác thống nhất: Thay vì coi não thức là một thực thể tâm linh bất biến, Hume nhìn nhận nó như một “địa hạt” cho sự xuất hiện của những tri giác. Những tri giác này được phân tách thành hai cường độ: Ấn tượng (những cảm giác, xúc cảm sống động) và Ý niệm (những bản sao mờ nhạt hơn được lưu giữ trong suy nghĩ). (b) Vị trí trung tâm (Locus): Não thức vận hành như một sân khấu hay một “không gian” nơi những tri giác tương tác và nối tiếp nhau. Mọi nội dung nhận thức đều được giải quyết tại đây dưới dạng những luồng dữ liệu giác quan hoặc sự tự suy ngẫm nội tại. (c) Bản đồ địa hình của nội tâm: Hume đề xuất một “bản đồ địa hình não thức” nhằm phân loại và vạch định ranh giới chức năng của những vận hành nội tại. Đây là nỗ lực quan sát tỉ mỉ để tìm ra quy luật của những hiện tượng tinh thần thay vì chỉ suy đoán siêu hình. (d) Nguyên lý liên tưởng: Luồng suy nghĩ không vận hành ngẫu nhiên mà di chuyển theo những “con đường mòn” được thiết lập bởi thói quen, sự tương đồng hoặc quan hệ gần kề, cho phép những ý niệm kết nối với nhau một cách có hệ thống.
2.
Tôi dịch Mind = “Não thức” thay cho “Tâm trí” ở đây cũng như những chỗ khác - (vốn là cách dịch phổ biến nhưng đôi khi mang nặng định kiến nhị nguyên) trong những bản dịch của tôi là một cố gắng nhằm soi chiếu triết học Duy nghiệm thế kỷ XVIII dưới nhãn quan hiện đại. Lựa chọn này được dựa trên những cơ sở sau:
Trước hết, thuật ngữ này muốn đưa ra một cách tiếp cận vượt qua lăng kính Nhị nguyên. Trong khi “Tâm trí” thường gợi lên một thực thể phi vật chất tách rời, “Não thức” thu hẹp khoảng cách giữa những hiện tượng tinh thần và nền tảng vật lý. Trong bối cảnh của thuyết Nhất nguyên hiện đại, thuật ngữ này giúp nhấn mạnh rằng những gì Hume mô tả chính là những hoạt động mang tính hệ thống của bộ não, giúp những khái niệm vốn trừu tượng trở nên có cấu trúc và dễ định vị hơn.
Thứ hai, nó làm rõ tính chất “Hệ thống vận hành” trong tư tưởng của Hume. Thay vì tìm kiếm một bản thể siêu hình, Hume tập trung vào cơ chế tiếp nhận và chuyển hóa dữ liệu: từ những Ấn tượng (dữ liệu trực tiếp) thành những Ý niệm (dữ liệu lưu trữ). Cách tiếp cận này có những nét tương đồng đáng chú ý với phương pháp nghiên cứu những vùng chức năng của khoa học thần kinh hiện đại. Dùng “Não thức” vì vậy đóng vai trò như một cách gợi mở để độc giả nhìn nhận điều tra Hume như một bản đồ “Địa hình” về cơ chế vận hành của suy nghĩ con người.
[6] Những Nhân Vật Đối Lập Trong Văn Bản Của Hume
Trong đoạn văn này, Hume khéo léo dùng những cặp danh nhân để minh họa cho luận điểm: Những tư tưởng bám sát cảm xúc và “phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường” sẽ có sức sống bền bỉ hơn những hệ thống lý thuyết trừu tượng. Nhóm thứ nhất gồm những đại diện của lối triết học “vị nhân sinh”, viết về bản chất con người bằng ngôn từ sống động: Cicero (106–43 TCN), chính trị gia và hùng biện gia lỗi lạc thời La Mã thời cổ, nổi tiếng với những bài luận đạo đức đầy cảm hứng; La Bruyère (1645–1696), nhà văn Pháp bậc thầy trong việc khắc họa thói hư tật xấu và tính cách con người; và Addison (1672–1719), người đã bình dân hóa tri thức qua những tiểu luận duyên dáng trên tờ The Spectator tại Anh. Hume cho rằng vì họ viết về những xúc cảm vĩnh cửu của con người, nên danh tiếng của họ vượt qua biên giới và thời đại. Nhóm thứ hai đối lập lại là những nhà triết học “siêu hình” với lối tư duy trừu tượng, khó hiểu: Aristotle (384–322 TCN), bộ óc vĩ đại của Hy Lạp thời cổ nhưng hệ thống logic và vật lý của ông bị Hume coi là đã “suy tàn” trước sự trỗi dậy của khoa học thực nghiệm; Malebranche (1638–1715), triết gia người Pháp với chủ nghĩa duy lý phức tạp mà vinh quang chỉ bó hẹp trong thời đại của ông; và đặc biệt là Locke (1632–1704), một tiền bối vĩ đại của chính Hume. Dù Locke vô cùng uyên bác, Hume vẫn táo bạo dự đoán rằng những lập luận logic khô khan của Locke rồi sẽ bị quên lãng, bởi lẽ khi một hệ thống logic mới chính xác hơn xuất hiện, nó sẽ thay thế cái cũ. Qua so sánh này, Hume khẳng định một quy luật nghiệt ngã: Triết học thuần túy lý trí giống như một cỗ máy, sẽ lỗi thời khi có công nghệ mới; còn triết học của tâm hồn giống như một tác phẩm nghệ thuật, càng để lâu càng giá trị vì trái tim con người qua hàng nghìn năm vẫn không hề thay đổi.
Chủ Quan “Có Lý” Của Hume Về Aristotle Và Locke
Việc David Hume khẳng định danh tiếng của Aristotle đã “suy tàn” hay tiên đoán John Locke sẽ bị “quên lãng” không đơn thuần là một nhận xét cá nhân, mà là một đúc kết sắc sảo dựa trên quy luật vận động của tri thức xã hội. Cái “lý” của Hume nằm ở việc phân định rạch ròi giữa hai loại hình chân lý: Thứ nhất, sự lỗi thời của những “hệ thống” khô khan (Trường hợp Aristotle): Hume nhìn nhận Aristotle không phải như một tác giả văn học, mà là một “người xây dựng hệ thống” (system-builder). Trong địa hạt của khoa học và triết học trừu tượng, mỗi hệ thống mới thường được xây dựng trên sự phủ định cái cũ. Khi Newton và những nhà khoa học thực nghiệm thế kỷ 17 chứng minh những học thuyết của Aristotle không còn khả năng giải thích thế giới chính xác, “tòa lâu đài” của ông lập tức sụp đổ. Với Hume, Aristotle giống như một công cụ đã lỗi thời; dù có giá trị lịch sử, ông đã mất đi sức sống của một tư tưởng dẫn dắt đời sống thực tế. Thứ hai, sự thất thế của “logic kỹ thuật” trước “tri thức tâm hồn” (Trường hợp Locke): Dù Locke là tiền bối vĩ đại đặt nền móng cho chính tư tưởng của Hume, nhưng Hume vẫn dự đoán ông sẽ bị quên lãng trước Addison. Lý do nằm ở bản chất của sự ghi nhớ: Nhân loại vốn ưa thích sự khoái lạc và có xu hướng lãng quên những gì đòi hỏi sự khổ công, ẩn dật hay tư duy căng thẳng một cách thuần túy kỹ thuật. Locke đại diện cho những nguyên lý logic chính xác nhưng khô khan, trong khi Addison đại diện cho những giá trị tinh thần gần gũi. Theo Hume, Chân lý trừu tượng (Aristotle, Locke) giống như một công cụ kỹ thuật, sẽ bị thay thế khi có công cụ sắc bén hơn xuất hiện. Ngược lại, Chân lý cảm xúc (Cicero, Addison) giống như một bản nhạc hay, nó thỏa mãn bản năng tự nhiên vĩnh cửu của con người. Vì bản chất nhân loại không thay đổi qua hàng nghìn năm, nên những tác gia biết hòa quyện triết học vào ngôn từ lịch lãm để đi vào trái tim người đọc sẽ có một “tấm vé” trường tồn mà những nhà lập luận thuần túy không bao giờ có được.
[7] an illiberal genius: Nguyên văn chỉ một tinh thần thô lậu hoặc trí tuệ hẹp hòi. Trong bối cảnh của Hume, đây là kiểu người thiếu giáo dục khai phóng, hoàn toàn không có khả năng thưởng thức cái đẹp hay tri thức, bị giới hạn trong những suy nghĩ thực dụng và tầm thường.
[8] Đối với David Hume, một học thuyết hay một lập luận được gọi là just khi nó đáp ứng ba tiêu chuẩn cơ bản. Thứ nhất, nó phải chính xác trong suy luận, nghĩa là những bước lập luận không chứa sai sót logic. Thứ hai, nó phải dựa trên kinh nghiệm, không vượt quá những gì giác quan và kinh nghiệm có thể xác nhận. Và sau cùng, nó phải có chừng mực, tức là tin tưởng được đặt ra phải tương xứng với mức độ bằng chứng hiện có, không cường điệu hay mở rộng quá mức dữ liệu quan sát cho phép.
Một ví dụ tiêu biểu là sự đánh giá của Hume về những quy luật chuyển động do Isaac Newton xác lập. Ông xem đó là kết quả của “lối suy luận hạnh phúc nhất” (the happiest reasoning), và là minh chứng cho một nền triết học đúng mực (just philosophy), bởi nó đặt nền trên quan sát thực nghiệm thay vì trên những giả thuyết thuần túy suy đoán.
[9] Trong Hume, Tự nhiên không là môi trường sinh thái, nhưng là bản chất con người và những quy luật tất yếu điều khiển sự sống. Hume nhân hóa Tự nhiên như một người mẹ hiền nhưng nghiêm khắc, người thiết lập sự cân bằng giữa lý trí và bản năng. Sở dĩ tác giả để “Tự nhiên” lên tiếng răn dạy là vì ông tin rằng: Dù lý trí có thể bay bổng đến đâu trong những học thuyết trừu tượng, nó vẫn phải chịu khuất phục trước những nhu cầu căn bản (ăn, ngủ, giao tiếp, hành động). Sự “trừng phạt” của Tự nhiên đối với những triết gia quá tách biệt với đời thường chính là sự u sầu và sự cô độc—những dấu hiệu cho thấy cuộc sống đang mất đi sự hài hòa vốn có.
[10] The easy and humane philosophy: triết học dễ hiểu và hiển nhiên nói ở trước, loại triết học dễ tiếp nhận, gần với đời sống con người, hướng vào xúc cảm, đạo đức và cách ứng xử hằng ngày. Nó không nhắm đến phân tích trừu tượng hay lập luận quá chặt chẽ, mà nhằm uốn nắn trái tim và hành vi, làm cho con người sống tốt hơn trong sinh hoạt chung của xã hội.
[11] Ở đoạn này, David Hume ngầm trình bày một quan niệm đáng chú ý về vai trò của triết học. Việc khảo sát nghiêm túc bản chất của Khả Năng Hiểu Biết con người không nhằm mở rộng vô hạn những suy đoán siêu hình, mà nhằm xác định đúng giới hạn của trí tuệ, qua đó giải trừ những tranh cãi siêu hình vô tận và những ảo tưởng do mê tín hay suy luận cẩu thả gây ra. Theo nghĩa này, triết học hoạt động như một “liệu pháp” cho trí tuệ: bằng phân tích chính xác những năng lực của hiểu biết, nó loại bỏ những vấn đề giả tạo và đem lại sự yên ổn cho tư duy. Cách hiểu triết học như một hình thức “liệu pháp” như vậy về sau được phát triển mạnh trong triết học phân tích thế kỷ XX, đặc biệt ở Ludwig Wittgenstein, người cũng xem nhiệm vụ của triết học là tháo gỡ những rối rắm do ngôn ngữ và suy luận sai lạc tạo ra, hơn là xây dựng những hệ thống siêu hình mới.
[12] khoa học về não thức/ triết học tâm lý/ siêu hình học chân chính về sự hiểu biết con người (đối lập với siêu hình học giả tạo phê phán ở trên)
[13] Trong đoạn này, Hume so sánh hai loại “philosopher” (triết gia) gồm cả những nhà khoa học tự nhiên: (a) Newton, người đem lại cho nhân loại một hệ thống chính xác về những hành tinh, nổi bật trong thiên văn học và vật lý; và (b) những triết gia khảo cứu bản chất và hoạt động của tâm trí, tức những triết gia “tâm lý triết học” trước và đương thời ông. Những triết gia này tập trung vào việc mô tả những “bộ phận” của tâm trí và những năng lực tinh thần, giúp hiểu con người một cách trực tiếp. Tiêu biểu có: John Locke (An Essay Concerning Human Understanding, 1690): nghiên cứu ý thức, nhận thức, kinh nghiệm và tri giác; mô tả những “tư tưởng” và hoạt động tinh thần, đặt nền tảng cho triết học nhận thức. George Berkeley (A Treatise Concerning the Principles of Human Knowledge, 1710): tập trung vào nhận thức, cảm giác và sự hiện hữu của vật thể qua tri giác. David Hartley: triết gia tâm lý gần với Hume, nghiên cứu mối quan hệ giữa cảm giác, trí tuệ và hành vi. những triết gia cổ điển khác, như Descartes, mặc dù thiên về lý thuyết linh hồn và cơ thể, vẫn thuộc nhóm khảo cứu những phần và năng lực của trí óc. Hume nhấn mạnh rằng, mặc dù những triết gia tâm lý không nổi tiếng như Newton, nhưng công trình của họ về não thức và năng lực tinh thần cũng xứng đáng được đánh giá cao vì tầm quan trọng trong việc hiểu con người.
[14] Hume khuyến khích không từ bỏ nỗ lực khảo sát bản chất con người, dù khó khăn, vì phương pháp thận trọng và chính xác có thể mang lại kết quả chắc chắn, tương tự như trong khoa học tự nhiên. Ông ca ngợi Isaac Newton, người không chỉ mô tả chuyển động của những hành tinh mà còn phát hiện ra những định luật và lực chi phối chúng, như định luật vạn vật hấp dẫn, minh chứng cho việc chuyển từ “ghi chép hiện tượng” sang “giải thích nguyên nhân sâu xa”. Hume so sánh nỗ lực khám phá những nguyên lý tinh thần với công trình của Newton, và nhấn mạnh vai trò của những triết gia tâm lý như Locke, Berkeley, Hartley, hay Descartes, những người nghiên cứu cấu trúc và hoạt động của trí óc. Từ đó, Hume đề xuất ý tưởng “liệu pháp triết học” (therapeutic philosophy), trong đó khảo sát nghiêm túc và chính xác về năng lực tinh thần giúp loại bỏ mê tín, sửa chữa hiểu nhầm, và củng cố trí tuệ xã hội — tư tưởng này ảnh hưởng mạnh tới Wittgenstein và triết học phân tích hiện đại.
