Thursday, January 8, 2026

Hume – Về Tiêu Chuẩn của Thị Hiếu Thẩm Mỹ (03)

Về Tiêu Chuẩn của Thị Hiếu Thẩm Mỹ

(Of the Standard of Taste)

David Hume


( ← ... tiếp theo )

 



 

ST 25, Mil 242

Nhưng nếu chúng ta xem xét vấn đề một cách thấu đáo, đây là những câu hỏi về sự thực khách quan, nhưng không phải về cảm nhận. Việc một cá nhân cụ thể có sở hữu cảm quan tốt, một trí tưởng tượng tinh tế, và sự tự do thoát khỏi tiên kiến hay không, có thể thường xuyên gây ra tranh luận, đòi hỏi sự thảo luận và tìm tòi kỹ lưỡng. Thế nhưng, tất cả loài người sẽ đồng ý rằng một mẫu người như vậy là quý giá và đáng trọng. Khi những nghi ngờ này nảy sinh, con người cũng chỉ có thể làm như cách họ đối diện với những vấn đề tranh luận khác thuộc về trí năng: họ phải đưa ra những lập luận tốt nhất mà trí sáng tạo của mình gợi mở; họ phải thừa nhận rằng có hiện hữu một tiêu chuẩn thực sự và mang tính quyết định ở đâu đó – cụ thể là sự hiện hữu thực tế và sự thực khách quan; và họ phải bao dung với những người có quan điểm khác biệt khi cùng tìm đến tiêu chuẩn này. Đối với mục đích hiện tại của chúng ta, bấy nhiêu đây là đủ: chúng ta đã chứng minh được rằng thị hiếu của tất cả những cá nhân không hề ngang bằng nhau; và rằng sẽ luôn có một số người – dù việc chỉ đích danh họ là ai có khó khăn đến mức nào – vẫn sẽ được cảm nhận phổ quát của loài người công nhận là có ưu thế vượt trội hơn những người khác.

 

ST 26, Mil 242-3

Nhưng trong thực tế, việc tìm kiếm tiêu chuẩn của thị hiếu, ngay cả trong những trường hợp cụ thể, cũng không khó khăn đến mức người ta thường mô tả. Dẫu về mặt lý thuyết, chúng ta có thể dễ dàng công nhận một tiêu chuẩn nhất định trong khoa học và phủ nhận nó trong cảm nhận, nhưng thực tế cho thấy việc xác định tiêu chuẩn trong trường hợp trước lại khó khăn hơn nhiều so với trường hợp sau. Những học thuyết triết học trừu tượng hay những hệ thống gót học thâm sâu đã ngự trị trong suốt một thời đại: Nhưng nhưng đến một thời kỳ kế tiếp, người ta lại đồng loạt bác bỏ chúng. Người ta vạch ra sự phi lý của chúng; rồi những học thuyết và hệ thống khác thế chỗ, để rồi chúng lại phải nhường chỗ cho những kế tục của chúng. Không có gì phải phải chịu đựng những vòng xoay của ngẫu nhiên và thời thượng nhiều hơn là những phán quyết tự xưng là khoa học này. Trường hợp của cái đẹp trong hùng biện và thi ca thì không như vậy. Những diễn đạt xác đáng về đam mê và bản chất con người chắc chắn sẽ giành được tán thưởng của công chúng sau một thời gian ngắn, và chúng sẽ duy trì dược tán thưởng đó mãi mãi. Aristotle, Plato, Epicurus và Descartes có thể lần lượt nhường ngôi cho nhau; nhưng Terence và Virgil vẫn giữ vững một vị thế thống trị phổ quát, không ai tranh dành được trong tâm trí con người.Triết học trừu tượng của Cicero đã mất đi uy tín; nhưng sức mạnh sôi nổi trong hùng biện của ông thì vẫn mãi là đối tượng ngưỡng mộ của chúng ta

 

ST 27, Mil 243

Dẫu những người có thị hiếu tinh tế thì rất hiếm, nhưng người ta dễ dàng nhận ra họ trong xã hội, nhờ vào sự hiểu biết sáng suốt và vượt trội trong những năng lực của họ so với phần đông loài người. Uy thế mà họ có được giúp những tán thưởng nồng nhiệt của họ dành cho bất kỳ tác phẩm thiên tài nào trở nên phổ biến, và khiến sự tán thưởng đó chiếm ưu thế trong công chúng. Nhiều người, nếu để tự mặc họ, họ chỉ có những nhận thức mờ nhạt và mơ hồ về cái đẹp; thế nhưng họ lại có khả năng thưởng thức bất kỳ nét vẽ tinh vi nào nếu được người khác chỉ ra cho họ. Mỗi người khi được thuyết phục để ngưỡng mộ một nhà thơ hay nhà hùng biện thực thụ, sẽ trở thành tác nhân thuyết phục thêm những người khác. Và dù những tiên kiến có thể thắng thế trong một thời gian, chúng không bao giờ có thể thống nhất để tôn vinh bất kỳ đối trọng nào ngang hàng với một thiên tài thực thụ; cuối cùng, tiên kiến phải khuất phục trước sức mạnh của tự nhiên và cảm nhận xác đáng. Vì vậy, dù một dân tộc văn minh có thể dễ dàng nhầm lẫn trong việc lựa chọn nhà triết học mà họ ngưỡng mộ, người ta chưa bao giờ thấy họ sai lầm lâu dài trong sự yêu mến dành cho một tác giả sử thi hay bi kịch được ưa chuộng. [1].

 

ST 28, Mil 243-4

Nhưng bất chấp tất cả những cố gắng của chúng ta nhằm xác định một tiêu chuẩn cho thị hiếu thẩm mỹ, và để hòa giải những nhận thức trái ngược nhau giữa con người, thì vẫn còn tồn tại hai nguồn gốc gây ra sự khác biệt, những nguồn gốc này tuy không đủ để làm rối loạn hoàn toàn ranh giới giữa cái đẹp và cái xấu, nhưng thường sẽ đủ để tạo nên sự khác biệt về mức độ tán thưởng hoặc chê bai của chúng ta. Một là tính khí khác nhau của từng người cụ thể; hai là những tập tục và ý kiến riêng biệt của thời đại và đất nước chúng ta. Những nguyên lý tổng quát của thị hiếu là đồng nhất trong bản chất con người: Khi con người khác nhau trong phán đoán, chúng ta thường có thể nhận thấy một khiếm khuyết hay sự biến dạng nào đó trong những khả năng của họ; điều này bắt nguồn từ tiên kiến, từ việc thiếu rèn luyện, hay thiếu sự tinh tế; và có lý do chính đáng để chấp nhận thị hiếu này và lên án thị hiếu kia. Nhưng ở đâu có sự khác biệt trong cấu trúc nội tại hoặc hoàn cảnh bên ngoài vốn cả hai phía đều hoàn toàn không đáng trách, và không có chỗ để chúng ta ưu tiên bên này hơn bên kia; trong trường hợp đó, một mức độ khác biệt nhất định trong phán đoán là không thể tránh khỏi, và chúng ta tìm kiếm trong vô vọng một thước đo để có thể hòa giải những tình cảm trái ngược nhau.

 

ST 29, Mil 244

Một người trẻ tuổi, người có những đam mê nồng nàn sẽ cảm động nhạy bén với những hình ảnh diễm tình và dịu dàng hơn so với một người đã nhiều tuổi hơn, vốn tìm thấy thích thú trong những suy ngẫm triết học khôn ngoan về cách hành xử ở đời và sự tiết chế những đam mê. Ở tuổi hai mươi, Ovid có thể là tác giả được yêu thích nhất; Horace ở tuổi bốn mươi; và có lẽ là Tacitus ở tuổi năm mươi. Trong những trường hợp như vậy, chúng ta sẽ hoài công vô ích nếu cố gắng thâm nhập vào cảm nhận của người khác và tước bỏ đi những thiên hướng vốn dĩ tự nhiên với chính chúng ta. Chúng ta lựa chọn tác giả yêu thích cũng giống như chúng ta chọn bạn bè, dựa trên sự tương đồng về tính khí và khuynh hướng tâm lý. Sự vui vẻ hay đam mê, cảm xúc hay sự suy tư; bất kể yếu tố nào chiếm ưu thế trong tâm tính, nó sẽ tạo cho chúng ta một sự đồng cảm đặc biệt với nhà văn nào có nét tương đồng với chúng ta. [2]

 

ST 30, Mil 244

Một người thì thích thú hơn với cái cao cả; Người khác lại thích cái dịu dàng; Người thứ ba lại ưa sự châm biếm. Người này nhạy cảm mạnh mẽ với những khiếm khuyết, và cực kỳ chú trọng đến sự chính xác: Người kia lại có cảm nhận sống động hơn về những cái đẹp, và sẵn sàng bỏ qua hai mươi điều phi lý cùng khuyết điểm chỉ để giữ lại một nét bút cao cả hoặc xúc động. Tai của người này hoàn toàn hướng về sự ngắn gọn và mạnh mẽ; Tai của người kia lại say mê một lối diễn đạt dồi dào, phong phú và hài hòa. Sự đơn giản lôi cuốn người này; sự hoa mỹ lại cuốn hút người kia. Hài kịch, bi kịch, trào phúng, tụng ca, mỗi loại đều có những người ủng hộ nhiệt thành, những người ưa thích loại văn chương đó hơn tất cả những loại khác. Rõ ràng là một sai lầm khi một nhà phê bình giới hạn sự tán thưởng của mình chỉ vào một thể loại hay một phong cách viết duy nhất, rồi lên án tất cả những gì còn lại. Nhưng gần như không thể nào tránh khỏi việc cảm thấy một sự thiên vị với những gì phù hợp với khuynh hướng và tính cách riêng của chúng ta. Những sự thiên vị như vậy là không sai trái và không thể tránh khỏi, và không bao giờ có thể hợp lý trở thành đối tượng của tranh luận, vì không tồn tại một tiêu chuẩn nào để có thể quyết định chúng.

 

ST 31, Mil 244-5

Vì một lý do tương tự, trong tiến trình đọc, chúng ta cảm thấy hài lòng hơn với những hình ảnh và nhân vật giống với những đối tượng hiện diện trong thời đại hoặc đất nước của chính chúng ta, hơn là những hình ảnh mô tả một tập hợp phong tục khác biệt. Phải cố gắng đôi chút, chúng ta mới có thể khiến bản thân hòa giải được với sự giản dị của phong tục cổ xưa, và và chứng kiến cảnh những công chúa tự xách nước từ suối về, hay những vị vua và anh hùng tự tay nấu nướng thức ăn cho mình. [3] Chúng ta có thể thừa nhận tổng quát rằng việc khắc họa những phong tục như vậy không phải là lỗi của tác giả, cũng không phải là khiếm khuyết trong tác phẩm; nhưng chúng không nhạy bén. chạm đến cảm xúc của chúng ta. Vì lý do này, hài kịch không dễ dàng được chuyển giao từ thời đại này sang thời đại khác, hay từ dân tộc này sang dân tộc khác. Một người Pháp hay người Anh sẽ không cảm thấy hài lòng với vở Andria của Terence, hay vở Clizia của Machiavelli; trong đó, vị tiểu thư xinh đẹp – người mà toàn bộ vở kịch xoay quanh – không hề xuất hiện trước khán giả dù chỉ một lần, nhưng luôn được giữ khuất sau hậu trường, phù hợp với tính cách kín đáo của người Hy Lạp cổ đại và người Ý hiện đại. Một người có học thức và suy tưởng có thể thông cảm cho những đặc thù về phong tục ấy; nhưng khán giả bình thường không bao giờ có thể tách rời khỏi những ý niệm và cảm xúc quen thuộc của họ đến mức có thể thưởng thức những bức tranh không hề giống với họ chút nào.

 

ST 32, Mil 245-6

Nhưng ở đây xuất hiện một suy ngẫm, có lẽ hữu ích khi xem xét tranh luận nổi tiếng về học thuật cổ đại và hiện đại; trong đó chúng ta thường thấy một bên biện minh cho bất kỳ sự phi lý bề ngoài nào ở người xưa bằng phong tục của thời đại ấy, còn bên kia từ chối chấp nhận biện minh này, hoặc ít nhất chỉ chấp nhận nó như một xin lỗi cho tác giả, nhưng không phải cho tác phẩm. Theo ý kiến của tôi, những bên tranh chấp hiếm khi xác lập được ranh giới xác đáng trong vấn đề này. Khi tác giả khắc họa những nét đặc thù vô hại trong phong tục, như những điều đã nêu trên, chúng ta chắc chắn phải chấp nhận chúng; và người nào cảm thấy bị xúc phạm bởi những điều đó thì chính là đã đưa ra bằng chứng rõ ràng về sự tinh tế giả tạo và cầu kỳ quá mức. Tượng đài bất hủ của nhà thơ – bền vững hơn cả đồng thau – sẽ đổ sụp xuống đất như gạch thường hay đất sét, nếu con người không chịu thông cảm cho những biến đổi liên tục của phong tục và tập quán, và chỉ chấp nhận những gì phù hợp với mốt thời thượng đương thời. Chẳng lẽ chúng ta phải vứt bỏ những bức họa chân dung của tổ tiên chỉ vì họ mặc áo có vòng cổ xếp nếp và váy khung phồng? Nhưng khi những quan niệm về đạo đức và sự đứng đắn thay đổi từ thời đại này sang thời đại khác, , và khi những phong tục xấu xa được mô tả mà không bị đánh dấu bằng những đặc trưng đúng đắn của sự chỉ trích và không tán thành, thì điều này phải được thừa nhận là làm xấu đi bài thơ, và là một khiếm khuyết thực sự. Tôi không thể – và cũng không nên – đồng tình với những cảm nhận như vậy; và dù tôi có thể thông cảm cho nhà thơ vì phong tục thời đại của ông, tôi vẫn không bao giờ có thể thưởng thức được tác phẩm ấy. Sự thiếu nhân tính và sự đứng đắn – rõ ràng đến mức nổi bật trong những nhân vật được một số nhà thơ cổ đại vẽ nên, ngay cả đôi khi cả ở Homer và những nhà bi kịch Hy Lạp – đã làm giảm đáng kể giá trị của những tác phẩm cao quý ấy, và mang lại lợi thế cho những tác giả hiện đại so với họ. Chúng ta không thực sự quan tâm đến số phận và cảm xúc của những anh hùng thô kệch như vậy: Chúng ta cảm thấy khó chịu khi thấy ranh giới giữa ác và thiện bị lẫn lộn đến thế; và dù có thể dành cho nhà văn sự khoan dung nào đó vì những thành kiến của ông, chúng ta vẫn không thể thuyết phục bản thân để đồng cảm với những cảm nhận của ông, hay nuôi dưỡng tình cảm yêu thích với những nhân vật mà chúng ta rõ ràng nhận ra là đáng trách. [4]

 

ST 33, Mil 246-7

Trường hợp của những nguyên lý đạo đức không giống với những ý kiến mang tính suy diễn thuộc bất kỳ loại nào. Những ý kiến này luôn nằm trong trạng thái biến chuyển và thay đổi liên tục. Người con có thể chấp nhận một hệ thống tư tưởng khác với người cha. Ngay cả, hiếm có người nào có thể tự hào về sự kiên định và đồng nhất tuyệt đối trong phương diện cụ thể này. Bất kể những sai lầm mang tính suy diễn nào được tìm thấy trong những tác phẩm văn chương lịch thiệp của bất kỳ thời đại hay quốc gia nào, chúng cũng rất ít khi làm giảm đi giá trị của những tác phẩm đó. Chúng ta chỉ cần một sự chuyển hướng nhất định trong suy nghĩ hay trí tưởng tượng để có thể bước vào tất cả những ý kiến vốn thịnh hành thời bấy giờ, và thưởng thức những tình cảm hay kết luận bắt nguồn từ chúng. Nhưng người ta cần một nỗ lực cực kỳ mãnh liệt mới có thể thay đổi phán đoán của mình về lề thói, và khơi dậy những tình cảm tán thưởng hay chê trách, yêu thương hay căm ghét, khác biệt với những gì mà tâm trí đã trở nên quen thuộc từ lâu do thói quen. Và ở đâu mà một người tự tin vào sự đúng đắn của thước đo đạo đức mà người này dùng để phán xét, thì người này có quyền bảo vệ nó một cách chính đáng, và sẽ không làm biến dạng những tình cảm trong trái tim người này dù chỉ trong chốc lát, để làm hài lòng bất kỳ nhà văn nào, cho dù đó là ai đi chăng nữa.

 

ST 34, Mil 247

 

Trong tất cả những sai lầm suy đoán, những sai lầm liên quan đến tôn giáo là những sai lầm dễ tha thứ nhất trong những tác phẩm của thiên tài; và không bao giờ được phép đánh giá sự văn minh hay trí tuệ của bất kỳ dân tộc nào, hay ngay cả của từng cá nhân riêng lẻ, dựa trên sự thô thiển hay tinh tế của những nguyên lý gót học của họ. Cùng một sự sáng suốt tốt lành hướng dẫn con người trong những việc xảy ra hàng ngày của đời sống, lại không được lắng nghe trong những vấn đề tôn giáo, vốn được cho là hoàn toàn vượt lên trên sự nhận thức của lý trí con người. Vì lý do này, tất cả những phi lý của hệ thống gót học ngoài-Kitô đều phải được tất cả những nhà phê bình bỏ qua nếu họ muốn tự cho rằng mình có thể hình thành một nhận thức công bằng về thơ ca cổ đại; và những thế hệ sau chúng ta, đến lượt họ, cũng phải dành cho tổ tiên họ sự khoan dung tương tự. Không một nguyên lý tôn giáo nào có thể bị coi là lỗi lầm của nhà thơ, chừng nào chúng vẫn chỉ đơn thuần là những nguyên lý và không chiếm hữu trái tim ông mạnh mẽ đến mức khiến ông bị buộc tội là người cuồng tín hay mê tín. Khi điều đó xảy ra, chúng sẽ làm đảo lộn những cảm nhận đạo đức và thay đổi những ranh giới tự nhiên giữa thiện và ác. Do đó, chúng trở thành những vết nhơ vĩnh viễn theo nguyên lý đã nêu ở trên; và ngay cả những tiên kiến hay ý kiến sai lầm của thời đại cũng không đủ để biện minh cho chúng. [5]

 

ST 35, Mil 247-8

Bản chất của hội nhà thờ Catô Rôma là khơi dậy lòng thù hận mãnh liệt đối với tất cả những hình thức thờ phụng khác, đồng thời mô tả tất cả những người không-Kitô, người Muslim và những người dị giáo như đối tượng của thịnh nộ và sự trừng phạt thần linh. Những tình cảm như vậy, dù trong thực tế là rất đáng chê trách, lại được những người cuồng tín trong tôn giáo đó coi là đức hạnh, và được khắc họa trong những vở bi kịch cũng như sử thi của họ như một loại chủ nghĩa thần thánh anh hùng. Sự cuồng tín này đã làm xấu đi hai vở bi kịch rất hay của sân khấu Pháp, Polieucte và Athalia; ở đó, lòng nhiệt thành thái quá đối với một số hình thức thờ phượng cụ thể được tô vẽ bằng tất cả những vẻ huy hoàng có thể tưởng tượng, và trở thành đặc trưng nổi bật nhất của những nhân vật anh hùng.

Ngươi làm gì vậy,” Joad cao cả nói với Josabet, khi thấy nàng đang trò chuyện với Mathan, thầy tế của Baal, “Con gái của David lại nói chuyện với tên phản bội này sao? Ngươi không sợ sao, rằng đất sẽ mở ra và phun lửa nuốt chửng cả hai? Hay những bức tường thánh này sẽ sụp đổ và nghiền nát những ngươi cùng nhau? Hắn muốn gì? Tại sao kẻ thù của Chúa lại đến đây để đầu độc không khí chúng ta hít thở bằng sự hiện diện kinh tởm của hắn?”

Những tình cảm như thế được đón nhận bằng những tràng pháo tay lớn trên sân khấu Paris; nhưng tại London, khán giả sẽ thấy hài lòng hơn nhiều khi nghe Achilles mắng Agamemnon rằng hắn có bộ mặt của loài chó và trái tim của loài hươu, hoặc nghe Jupiter đe dọa sẽ cho Juno một trận đòn nên thân nếu bà không chịu giữ yên lặng. [6]

 

ST 36, Mil 248-9

Những nguyên lý tôn giáo cũng là một vết nhơ trong bất kỳ tác phẩm tao nhã nào, khi chúng leo thang thành mê tín, và xâm nhập vào tất cả những cảm nhận, dù những cảm nhận ấy xa rời bất kỳ mối liên hệ nào với tôn giáo.

Không phải là lời bào chữa cho nhà thơ khi phong tục đất nước ông đã chất chồng đời sống bằng quá nhiều nghi lễ và quy tắc tôn giáo, đến mức không phần nào của đời sống được miễn trừ khỏi ách ấy.

Sẽ mãi mãi là điều lố bịch khi Petrarch so sánh người tình Laura của mình với Chúa Giê-su Ki-tô.

Cũng không kém phần lố bịch khi Boccace – người phóng đãng dễ mến ấy – rất nghiêm trangcảm tạ Đấng Toàn Năng và những quý bà vì đã giúp ông chống lại kẻ thù của mình.. [7]

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Dec/2023 – Jan/2026)

(Còn tiếp... )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 

 


[1] Aristoteles vs. Homer:

(a) Về Triết học (Sự sai lầm): Trong suốt gần 2.000 năm, cả châu Âu tin vào vật lý học và triết học tự nhiên của Aristoteles (rằng Trái Đất là trung tâm vũ trụ, vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ). Nhưng khi khoa học thực nghiệm ra đời, toàn bộ hệ thống này bị bác bỏ hoàn toàn. Một quốc gia văn minh ngày nay sẽ coi triết học tự nhiên của ông là một “sai lầm”.

(b) Về Văn chương (Sự bền vững): Thế nhưng, chính quốc gia đó chưa bao giờ thôi ngưỡng mộ Homer với hai bộ sử thi Iliad và Odyssey. Dù suy nghĩ khoa học thay đổi, nhưng nỗi đau của Achilles hay hành trình của Odysseus vẫn chạm đến trái tim con người một cách mãnh liệt như ngày đầu. Hume muốn nói: Chúng ta có thể bỏ rơi triết học của Aristoteles, nhưng không bao giờ bỏ rơi thi ca của Homer.

Triết học dựa trên Suy luận (Reason): Suy luận của con người thường bị giới hạn bởi tri thức của từng thời đại. Khi có tri thức mới, hệ thống cũ sụp đổ. Văn chương dựa trên Tình cảm (Sentiment): Những tác giả sử thi hay bi kịch vĩ đại đánh vào bản chất cốt lõi của con người (đam mê, yêu thương, thù hận, nỗi sợ cái chết). Vì bản chất con người không thay đổi qua hàng ngàn năm, nên sự yêu mến dành cho những tác phẩm này là vĩnh cửu.

[2] (a) Ovid (43 TCN – 17/18 SCN): Nhà thơ La Mã nổi tiếng với những tác phẩm về tình yêu và sự biến hình (Metamorphoses). Ông đại diện cho sự nồng nhiệt, lãng mạn và đam mê của tuổi trẻ. (b) Horace (65 TCN – 8 TCN): Nhà thơ trữ tình La Mã, nổi tiếng với những bản tụng ca (Odes) và những bài thơ trào phúng, mang tính chất trung dung, đạo đức và sự tinh tế của tuổi trung niên. (c) Tacitus (khoảng 56 – 120 SCN): Nhà sử học và chính trị gia La Mã, người có ngòi bút sắc sảo, nghiêm cẩn và đầy những suy ngẫm triết học sâu sắc về quyền lực và bản chất con người, phù hợp với sự chiêm nghiệm của tuổi già.

[3] Hume lấy thí dụ từ sử thi Homer để minh họa sự giản dị của phong tục cổ xưa: công chúa Nausicaä (Odyssey) tự tay giặt giũ và gánh nước từ suối, các anh hùng như Achilles (Iliad) tự cắt thịt, nướng và chuẩn bị thức ăn trong lều trại – những hình ảnh khiến người hiện đại phải nỗ lực mới có thể chấp nhận và cảm nhận vẻ đẹp của chúng.

[4] Tranh luận giữa phe Cổ điển và phe Hiện đại (thường được gọi là The Quarrel of the Ancients and the Moderns) là một trong những cột mốc trí tuệ rực rỡ nhất tại châu Âu thế kỷ 17 và 18, khởi nguồn từ Pháp (khoảng 1680–1715) rồi lan rộng sang Anh. Không đơn thuần là một cuộc tranh luận về văn chương, nhưng là một bước ngoặt về cách con người nhìn nhận tiến trình lịch sử. Hai phe đối lập chính: Phe Cổ điển (Ancients): Với những đại diện như Boileau, họ tôn thờ những bậc vĩ nhân Hy Lạp - La Mã (như Homer, Virgil, Aristotle) là những đỉnh cao không thể vượt qua. Họ tin rằng tất cả những chân lý, chuẩn mực cái đẹp và kiến thức đã được xác lập hoàn thiện từ cổ đại; vì vậy, hậu thế chỉ có thể đạt đến sự ưu tú bằng mô phỏng (imitatio) những khuôn mẫu vĩnh cửu đó. Phe Hiện đại (Moderns): Tiêu biểu như Charles Perrault hay Fontenelle, lại tin vào sức mạnh tiến bộ của dòng thời gian. Họ lập luận rằng nhân loại giống như một thực thể đang trưởng thành, càng về sau càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm, phương pháp khoa học và sự tinh lọc về lý trí. Họ tin rằng người hiện đại có thể vượt qua (aemulatio) tiền nhân nhờ đứng trên vai những "người khổng lồ" đi trước.

David Hume bước vào tranh luận này với một cái nhìn đầy tỉnh táo và thấu đáo. Ông không mù quáng đi theo phe nào mà sử dụng "thước đo của gu thưởng thức" để phân xử. Ông chỉ ra rằng, chúng ta thường nhầm lẫn giữa hai loại lỗi lầm: Những khác biệt về "vỏ ngoài": Đó là những lề thói sinh hoạt, cách ăn mặc, hay việc những anh hùng cổ đại phải tự tay nấu nướng. Hume cho rằng phe Hiện đại đã quá khắt khe khi dùng sự "trau chuốt giả tạo" của mình để chê bai những chi tiết này. Với ông, đây là những nét riêng biệt vô hại, và một độc giả công tâm phải biết bao dung cho sự xoay vần của thời đại. Những sai lệch về "cốt lõi": Đó là những ý niệm về đạo đức và nhân tính. Ở đây, Hume lại đứng về phía phe Hiện đại. Ông khẳng định rằng nếu một tác phẩm cổ đại ca ngợi sự tàn bạo hay sự đồi bại mà không có sự phê phán, thì đó là một "sự xấu xí thực sự" trong nghệ thuật. Theo Hume, bộ máy cảm xúc của con người không thể bị ép buộc để yêu mến những gì trái với lương tâm, dù cho tác giả đó có lừng lẫy đến đâu. Qua đó, Hume nhắc nhở chúng ta rằng: Nghệ thuật có thể trường tồn, nhưng sự trường tồn đó không đến từ việc sao chép quá khứ, mà từ khả năng chạm đến những giá trị nhân văn bền vững vốn đã được dòng thời gian lọc sạch khỏi những định kiến nhất thời.

[5] Hume phân định tinh vi: (a) Thần thoại là “Vô hại” (Speculative Absurdities): Hume cho rằng chúng ta không nên chê trách Homer vì ông tin vào những vị thần trên đỉnh Olympus. Gót học thường nằm ngoài lý trí, nên việc tác giả sử dụng những hệ thống niềm tin kỳ quái của thời đại họ là điều chấp nhận được. Nhà phê bình phải biết “lờ đi” (overlooked) những điều này để thưởng thức nghệ thuật. (b) Ranh giới của Sự Cuồng tín (Bigotry and Superstition): Tuy nhiên, tôn giáo trở thành lỗi thẩm mỹ khi nó xâm lấn vào đạo đức. Nếu niềm tin tôn giáo của nhà thơ khiến ông ta ca ngợi việc sát hại người ngoại đạo hoặc cổ xúy sự tàn độc, thì đó không còn là “sai lầm suy luận” nữa mà đã trở thành “vết nhơ vĩnh cửu” (eternal blemish). (c) Tính Phổ quát của Đạo đức: Hume tái khẳng định rằng trong khi tôn giáo có thể thay đổi và kỳ quái, thì ranh giới tự nhiên giữa đức hạnh và thói xấu là bất biến. Nghệ thuật vĩ đại phải tôn trọng ranh giới đạo đức này để có thể chạm đến trái tim của tất cả những thế hệ.

[6] Polieucte & Athalia: Hai vở bi kịch kinh điển của những tác giả Pháp (Pierre Corneille và Jean Racine). Hume sử dụng chúng để minh chứng cho việc sự cuồng tín tôn giáo (bigotry) có thể xâm chiếm nghệ thuật cao quý như thế nào. Joad & Mathan: những nhân vật trong vở Athalia. Joad đại diện cho đức tin cuồng nhiệt, coi việc đối thoại với tư tế thần Baal (Mathan) là một tội ác kinh hoàng. Achilles & Agamemnon: Tham chiếu đến sử thi Iliad của Homer. Hume ngụ ý rằng khán giả Anh (theo truyền thống Tin lành và thực dụng hơn) thà chấp nhận sự thô lỗ mang tính con người của những anh hùng Hy Lạp còn hơn là sự cuồng tín tôn giáo cực đoan.

Thái độ của Hume đối với sự cuồng tín. Ông lập luận rằng: (a) Nghệ thuật bị bóp méo bởi ý thức hệ: Khi tôn giáo biến thành lòng căm thù, nó không còn là một “sai lầm suy luận” vô hại nữa. Nó trở thành một khiếm khuyết đạo đức làm hỏng đi vẻ đẹp của tác phẩm. (b) Sự khác biệt mang tính địa phương (Paris vs. London): Hume mỉa mai rằng cùng một hành vi cuồng tín có thể được Paris tán thưởng nhưng lại bị London ghẻ lạnh. Điều này cho thấy định kiến tôn giáo của một thời đại hay một quốc gia có thể làm sai lệch thị hiếu của cả một dân tộc. (c) Ưu tiên bản tính tự nhiên: Hume thà chấp nhận những “lỗi” như sự nóng nảy của Achilles hay lời đe dọa của Jupiter (vốn thuộc về bản tính con người tự nhiên) hơn là sự “đức hạnh giả tạo” nảy sinh từ lòng cuồng tín tôn giáo.

[7]

(a)

Hume chỉ trích sự “thiếu tiết độ” (lack of decorum) khi tôn giáo bị sử dụng sai chỗ: (a) Sự xâm lấn của Mê tín (Intrusion of Superstition): Hume cho rằng một tác phẩm nghệ thuật mất đi tính “lịch thiệp” (polite) khi tôn giáo xuất hiện ở những nơi không liên quan. Ông coi việc biến tất cả những khía cạnh cuộc sống thành một phần của tôn giáo là một “cái ách” (yoke) kìm hãm tự do thẩm mỹ. (b) Petrarch và Laura: Francesco Petrarch là nhà thơ lớn thời Phục hưng Ý, nổi tiếng với những bản sonnet tặng Laura. Hume chế giễu việc Petrarch thánh hóa tình yêu nam nữ bằng những phép so sánh tôn giáo nặng nề, coi đó là sự lệch lạc về thị hiếu. (c) Boccaccio (Boccace) và sự mâu thuẫn: Giovanni Boccaccio là tác giả của Decameron. Hume chỉ ra sự nực cười khi một người viết về những chuyện phong tình, phóng đãng (libertine) lại đặt lời tạ ơn Chúa ngang hàng với những quý bà. Sự pha trộn giữa cái thiêng liêng và cái trần tục một cách thiếu tinh tế làm hỏng giá trị của tác phẩm.

(b)

Trong thế giới nghệ thuật, chúng ta thường bảo nhau rằng “đẹp hay xấu là tùy mắt người nhìn”. Thế nhưng, David Hume lại có một góc nhìn sắc sảo hơn: dù cái đẹp bắt nguồn từ cảm nhận cá nhân, nhưng không phải tất cả những đánh giá đều có sức nặng như nhau. Để chạm tới giá trị đích thực của một tác phẩm, ông cho rằng mỗi người cần rèn luyện năm năng lực cốt lõi để đưa “chiếc cân” thẩm mỹ về trạng thái chuẩn xác nhất.

Năm chiếc chìa khóa mở cửa nghệ thuật:

Trước hết là Sự nhạy bén. Đây là khả năng nắm bắt những chi tiết siêu vi mà mắt thường hay bỏ qua. Thiếu đi nó, chúng ta chỉ thấy một tác phẩm “hay” hoặc “dở” một cách mơ hồ. Nhưng khi đã tinh tường, chúng ta sẽ chỉ ra được chính xác nốt nhạc nào bị phô, câu văn nào chưa mượt, hay vệt màu nào còn dư thừa trên bức tranh.

Tiếp đến là Sự quen tay, quen mắt. Nghệ thuật đòi hỏi sự kiên nhẫn. Khi chúng ta dành thời gian để xem, đọc và nghe đủ nhiều, cảm giác bối rối trước những thứ mới lạ sẽ tan biến. Cấu trúc và ý đồ của tác giả vốn mờ mịt ở lần đầu tiếp xúc sẽ dần hiện rõ sau lần thứ mười. Càng kinh nghiệm sâu, cái nhìn của chúng ta càng thêm sắc sảo.

Năng lực thứ ba là Khả năng so sánh. Một người thưởng thức giỏi không bao giờ đánh giá một tác phẩm trong sự cô lập. Họ luôn đặt nó cạnh những đỉnh cao của nhân loại để soi chiếu. Nhờ có hệ quy chiếu này, chúng ta không dễ dàng tâng bốc một thứ tầm thường chỉ vì chưa thấy điều gì tốt hơn. Khi đã hiểu thế nào là “vàng thật”, chúng ta sẽ nhận ra ngay những thứ chỉ lấp lánh vẻ bên ngoài.

Thứ tư là việc Gạt bỏ định kiến. Đây là bản lĩnh bước ra khỏi cái tôi, sở thích cá nhân hay lòng tự tôn dân tộc. Một người công tâm vẫn có thể thán phục cái hay của một cuốn sách dù không ưa tính cách tác giả, hoặc thẳng thắn chỉ ra điểm yếu của một bộ phim dù nó đang ca ngợi đúng đức tin hay đất nước của mình.

Cuối cùng là một Đầu óc sáng suốt. Nghệ thuật không chỉ có cảm xúc mà còn cần lý trí để kiểm chứng tính hợp lý. Một suy nghĩ tỉnh táo giúp chúng ta nhận ra những thành phần trong tác phẩm có ăn khớp với nhau không, và liệu tác giả có thực sự chạm tới đích đến mà họ đã vạch ra ban đầu hay không.

Ranh giới của sự bao dung

Bên cạnh việc rèn luyện năng lực, Hume cũng vạch ra ranh giới giữa sự bao dung và khắt khe. Có những khác biệt chấp nhận được vì đó là bản tính tự nhiên: người trẻ thường yêu sự nồng nhiệt, người già lại chuộng vẻ sâu lắng; thời xưa gánh nước bằng vai, thời nay dùng máy móc hiện đại. Với những điều thuộc về tính cách hay phong tục này, không có đúng hay sai, chúng ta cần tôn trọng sở thích riêng của nhau.

Tuy nhiên, có những lỗi không thể tha thứ. Đó là khi tác phẩm ca ngợi sự tàn bạo, gieo rắc lòng thù hận hay cổ xúy những hành vi vô nhân tính. Với Hume, đây là những “vết nhơ” làm hỏng giá trị nghệ thuật từ bên trong, và chúng ta không bao giờ nên nhân nhượng cho chúng dưới bất kỳ danh nghĩa nào.

Giá trị thật nằm ở thời gian

Sau cùng, một tác phẩm thực sự đẹp không dựa vào những tiếng vang rầm rộ nhất thời. Vẻ đẹp đích thực là kết tinh từ tiếng nói chung của những người am hiểu, tinh tế và công bằng, đã được sàng lọc qua hàng trăm năm lịch sử. Vì vậy, đừng vội cuốn theo những gì đang “hot” trên mạng hôm nay; hãy xem thứ gì còn trụ lại được sau dòng chảy khắc nghiệt của thời gian, bởi đó mới chính là giá trị thật.