Thursday, January 1, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Nguyên Lý của Đạo Đức (15)

Một Điều Tra Về Những Nguyên Lý của Đạo Đức

(An Enquiry Concerning the Principles of Morals)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 


 

PHỤ LỤC IV.

Về Một Số Tranh Luận về Từ Ngữ

 

M App4.1, SBN 312-3

KHÔNG GÌ thường xuyên hơn việc những triết gia xâm lấn vào lĩnh vực của những nhà ngữ pháp; và dấn thân vào những tranh luận về từ ngữ, trong khi họ tưởng tượng rằng đang giải quyết những tranh luận quan trọng có ý nghĩa sâu xa và đáng quan tâm nhất. Để tránh những tranh cãi phù phiếm và kéo dài vô tận, tôi đã cố gắng trình bày mục tiêu nghiên cứu hiện tại của chúng ta một cách hết sức thận trọng; và đưa ra chỉ đơn giản là thu thập, một mặt, một danh sách những phẩm tính tâm lý và đạo đức là đối tượng của yêu mến hay sự kính trọng, và tạo một phần của giá trị cá nhân, và mặt khác, một danh mục những phẩm tính, là đối tượng của sự chỉ trích hay chê trách, và làm giảm đi nhân cách của người sở hữu chúng; kèm theo một số suy ngẫm về nguồn gốc của những cảm xúc khen ngợi hay chê trách này. Trong mọi trường hợp, khi có thể nảy sinh chút do dự nhỏ nhất, tôi tránh dùng những thuật ngữ đức hạnhthói hư tật xấu; vì một số phẩm tính đó, vốn tôi xếp vào nhóm đối tượng của khen ngợi, được gọi, trong tiếng Anh, là những tài năng, thay vì những đức hạnh; vì một số phẩm tính đáng chê trách hay đáng lên án thường được gọi là khuyết điểm, thay vì tật xấu. Có lẽ giờ đây người ta sẽ mong đợi rằng, trước khi kết thúc điều tra về đạo đức này, chúng ta nên phân biệt một cách chính xác giữa hai bên; nên xác định ranh giới rõ ràng giữa những đức hạnh và tài năng, giữa những thói hư tật xấu và khuyết điểm; đồng thời giải thích lý do và nguồn gốc của sự phân biệt ấy. Nhưng để tự miễn trừ khỏi công việc này – vốn rốt cuộc chỉ là một nghiên cứu về ngữ pháp mà thôi – tôi sẽ bổ sung bốn suy ngẫm sau đây, trong đó chứa đựng tất cả những gì tôi định nói về chủ đề hiện tại

 

M App4.2, SBN 313-4

Trước hết, tôi không thấy trong tiếng Anh, hay bất kỳ ngôn ngữ thời nay nào khác, ranh giới giữa đức hạnh và tài năng, tật xấu và khuyết điểm được xác định chính xác, hay có thể đưa ra một định nghĩa chính xác về sự tương phản giữa cái này với cái kia. Thí dụ, nếu chúng ta nói rằng chỉ những phẩm tính đáng quý, vốn đều tự nguyện, mới xứng đáng được gọi là những đức hạnh; chúng ta sẽ sớm nhớ lại những phẩm tính can đảm, bình tĩnh, kiên nhẫn, tự chủ; cùng nhiều phẩm tính khác, vốn hầu như mọi ngôn ngữ đều xếp vào danh xưng này, mặc dù chúng phụ thuộc rất ít hay hoàn toàn không phụ thuộc vào sự lựa chọn của chúng ta. [1] Nếu chúng ta khẳng định rằng chỉ những phẩm tính thôi thúc chúng ta đóng vai trò của chúng ta trong xã hội mới xứng đáng nhận sự phân biệt danh dự ấy; thì lập tức chúng ta sẽ nhận ra rằng những phẩm tính này quả thực là đáng quý nhất, và thường được gọi là những đức hạnh xã hội; nhưng chính tính từ “xã hội” này đã ngầm định rằng còn tồn tại những đức hạnh thuộc một loại khác. Nếu chúng ta nắm vững sự phân biệt giữa giữa những thiên tư trí tuệ và những thiên tư đạo đức, và khẳng định chỉ những thiên tư đạo đức mới là đức hạnh thực sự và chân chính, vì chỉ có chúng mới dẫn đến hành động; chúng ta sẽ thấy rằng nhiều phẩm tính trong số đó, thường được gọi là đức hạnh trí tuệ, chẳng hạn như sự thận trọng, sự thấu hiểu, sự sáng suốt, sự thận trọng, cũng có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi. Sự phân biệt giữa con timđầu óc cũng có thể được áp dụng: Những phẩm tính của năng khiếu trí tuệ có thể được định nghĩa như khi được thể hiện trực tiếp, chúng đi kèm với một cảm xúc tình cảm; và chỉ những phẩm tính này mới được gọi là đức hạnh chân chính: Nhưng cần cù, tiết kiệm, điều độ, kín đáo, kiên trì, và nhiều năng lực hay tập quán đáng khen ngợi khác, những đức hạnh thường được thể hiện vốn không có bất kỳ cảm xúc trực tiếp nào ở người sở hữu chúng; và người ấy chỉ biết đến chúng qua tác động của chúng mà thôi.Thật may mắn, giữa tất cả những điều tưởng chừng như khó hiểu này, câu hỏi chỉ thuần túy thuộc về ngôn từ, nên không thể có bất kỳ quan trọng thực sự nào. Một nói viết về đạo đức, triết học không cần phải đề cập đến tất cả những biến đổi thất thường này của ngôn ngữ, vốn thay đổi rất nhiều giữa những phương ngữ khác nhau, và thậm chí trong cùng một phương ngữ qua những thời kỳ khác nhau. Nhưng nhìn chung, tôi thấy rằng, mặc dù luôn được chấp nhận rằng có nhiều loại đức hạnh khác nhau, nhưng khi một người được gọi là đức hạnh, hoặc được mệnh danh là người đức độ, chúng ta chủ yếu xem xét những phẩm tính xã hội của người đó, thực sự là những phẩm tính đáng quý nhất. Đồng thời, chắc chắn rằng bất kỳ khiếm khuyết đáng kể nào về dũng cảm, tiết độ, tiết kiệm, cần mẫn, trí tuệ, hay phẩm cách tinh thần, sẽ tước đi danh xưng danh dự ấy ngay cả với một người tốt bụng và lương thiện. Co ai đã từng nói, ngoại trừ một cách mỉa mai, rằng một người nào đó là người có đức hạnh lớn lao, nhưng lại là một kẻ ngu ngốc khét tiếng?

 

M App4.3, SBN 314-5

Nhưng thứ hai, chẳng có gì lạ khi ngôn ngữ không phân định ranh giới giữa đức hạnh và tài năng, giữa tật xấu và khuyết điểm một cách chính xác; bởi chính trong sự đánh giá nội tâm của chúng ta, sự phân biệt giữa chúng cũng rất mờ nhạt. Quả thực, có vẻ chắc chắn rằng cảm xúc về giá trị ý thức, sự tự mãn xuất phát từ việc xem xét lại hành vi và tính cách của một người; tôi cho rằng, có vẻ chắc chắn rằng cảm xúc này, mặc dù phổ biến nhất trong số những cảm xúc khác, nhưng không có tên gọi riêng trong ngôn ngữ của chúng ta [66], phát sinh từ những thiên tư về dũng cảm và năng lực, cần mẫn và sáng tạo, cũng như từ bất kỳ bất kỳ phẩm tính tâm lý xuất sắc nào khác. Mặt khác, có ai không cảm thấy ê chề xấu hổ khi nghĩ về sự điên rồ và phóng đãng của bản thân, và không cảm thấy một cắn rứt hay hối hận thầm kín, mỗi khi ký ức hiện lên một sự việc quá khứ nào đó vốn đã hành xử ngu xuẩn hoặc thiếu giáo dục? Không có thời gian nào có thể xóa nhòa được những ký ức nghiệt ngã về hành vi ngu xuẩn của chính một người, hay về những nhục nhã vốn hèn nhát hoặc trơ trẽn đã chuốc lên đầu người này. Chúng vẫn ám ảnh những giờ phút cô đơn của người này, làm nguội lạnh những khát vọng cao cả nhất của người này, và cho người này thấy, ngay cả với chính mình, bằng những màu sắc đáng khinh bỉ và ghê tởm nhất có thể tưởng tượng được.

 

M App4.4, SBN 315

Vả lại, có điều gì chúng ta khao khát che giấu khỏi mắt thế gian hơn là những sai lầm ngớ ngẩn, những yếu đuối nhu nhược và những sự đê tiện của chính mình; hay có điều gì khiến ta khiếp sợ bị phơi bày bởi những lời chế nhạo và châm biếm hơn thế không? Và chẳng phải đối tượng chính của tự phụ ham danh chính là lòng can đảm hay học thức, trí thông minh hay giáo dục, tài hùng biện hay diễn thuyết, thẩm khiếu mỹ thuật hay khả năng của chúng ta sao? Chúng ta phô bày những điều ấy một cách cẩn trọng, nếu không muốn nói là phô trương; và thông thường, chúng ta khao khát vượt trội ở những phương diện đó hơn cả ở những đức hạnh xã hội – dù rằng xét về thực chất, những đức hạnh ấy mới mang giá trị cao quý hơn nhiều. Lòng nhân hậu và sự trung thực, đặc biệt là vế trung thực, là những điều kiện bắt buộc đến mức không thể thiếu, mà nếu vi phạm những nghĩa vụ này sẽ bị chỉ trích dữ dội, nhưng nếu thực hiện chúng một cách bình thường thì cũng chẳng nhận được lời tán dương hiển hách nào; bởi chúng được xem là nền tảng thiết yếu để duy trì xã hội loài người. Theo tôi, đó chính là lý do vì sao dù con người thường hào phóng tán dương những phẩm tính của con tim, nhưng họ lại rất dè dặt khi ca tụng những thiên tư của trí óc:. Đó là vì những đức hạnh kể sau, được cho là hiếm có và phi thường hơn, hường trở thành đối tượng phổ biến hơn của kiêu hãnh và tự phụ; và khi mang chúng ra khoe khoang, lập tức khơi dậy một nghi ngờ mạnh mẽ về những tình cảm này.

 

M App4.5, SBN 315-6

Thật khó để nói liệu bạn làm tổn thương nhân cách của một người nhiều nhất khi gọi người này là kẻ gian xảo hay một tên hèn nhát, và liệu một kẻ phàm ăn tục uống hay một tên nát rượu có đáng ghét và đáng khinh bỉ như một kẻ bủn xỉn ích kỷ, hẹp hòi hay không. Hãy cho tôi lựa chọn, và tôi thà, vì hạnh phúc và sự tự hưởng thụ của bản thân, có một trái tim từ thiện, còn hơn là sở hữu tất cả những đức hạnh khác của Demosthenes và Philip cộng lại: Nhưng tôi thà được cả thế giới công nhận là một người được phú cho thiên tài uyên bác và lòng can đảm phi thường, và do đó sẽ mong đợi tán thưởng và ngưỡng mộ mạnh mẽ hơn. Vị thế một người tạo dựng trong đời, sự đón tiếp vốn người này nhận được trong công chúng, sự kính trọng vốn người quen dành cho người này; tất cả những thuận lợi này tùy thuộc nhiều vào sự sáng suốt và phán đoán của người này, cũng như vào bất kỳ phương diện nào khác trong nhân cách của người này. Dẫu cho một người có những ý định tốt đẹp nhất trần đời, và dẫu cho người này có cách biệt hoàn toàn khỏi mọi bất công và bạo lực nhất, thì người này cũng chẳng bao giờ có thể khiến bản thân được nể trọng nhiều, nếu không sở hữu ít nhất một phần năng lực và sự hiểu biết nhất định.

 

M App4.6, SBN 316-7

Vậy chúng ta còn điều gì để tranh luận ở đây nữa? Nếu sự nhạy bén và lòng quả cảm, sự tiết chế và lòng cần mẫn, trí tuệ và kiến thức đều hiển nhiên tạo nên một phần đáng kể trong giá trị cá nhân; nếu một người sở hữu những phẩm chất này vừa thấy hài lòng với bản thân hơn, vừa xứng đáng nhận được thiện chí, sự kính trọng và sự giúp đỡ của người khác hơn kẻ hoàn toàn thiếu vắng chúng; tóm lại, nếu những cảm xúc nảy sinh từ những thiên tư này cũng tương tự như những cảm xúc nảy sinh từ những đức hạnh xã hội; thì liệu có lý do gì để ta phải quá khắt khe về một từ ngữ, hay phải tranh luận xem liệu chúng có xứng đáng được gọi là ‘đức hạnh’ hay không? Có lẽ, người ta sẽ biện hộ rằng sự tán thành mà những năng lực đó tạo ra, ngoài việc ở cấp độ thấp hơn, thì cũng có đôi chút khác biệt so với sự tán thành dành cho những đức hạnh như lòng công bằng và nhân ái. Nhưng điều này dường như không phải là lý do đủ thuyết phục để xếp chúng hoàn toàn vào những hạng loại và danh xưng khác nhau. Hình tượng của Cæsar và Cato, qua ngòi bút của Sallust, cả hai đều là những người đức hạnh theo nghĩa nghiêm ngặt và giới hạn nhất của từ này, nhưng theo những cách thức khác nhau; và những tình cảm mà họ khơi gợi cũng không hoàn toàn giống nhau. Một người tạo ra sự yêu mến; người kia tạo ra sự kính trọng. Một người thật đáng mến; người kia thật uy nghiêm. Ta thường mong gặp được một tính cách như người trước ở một người bạn; còn phẩm chất của người sau là điều ta khát khao có được ở chính mình. Tương tự như vậy, sự tán thành dành cho tính tiết chế, lòng cần mẫn hay sự giản dị có thể hơi khác biệt so với sự tán thành dành cho những đức hạnh xã hội, nhưng không vì thế mà biến chúng thành một chủng loại hoàn toàn khác biệt. Và thực vậy, ta có thể quan sát thấy rằng chính những thiên tư này, thậm chí còn hơn cả những đức hạnh khác, không phải lúc nào cũng tạo ra cùng một kiểu tán thưởng. Sự minh mẫn và thiên tài nảy sinh sự kính trọng và nể trọng; trong khi nhanh trí, sắc bén, và hài hước lại khơi dậy tình yêu và lòng quý mến thân ái [67]. [2]

 

M App4.7, SBN 317

Tôi tin rằng hầu hết mọi người, một cách tự nhiên và chẳng cần tính toán trước, sẽ đồng tình với định nghĩa của nhà thơ tao nhã và sáng suốt kia. Rằng:

Đức hạnh (bởi nếu chỉ có lòng tốt đơn thuần thì đó là kẻ khờ)

Chính là sự thông tuệ và khí chất hòa quyện cùng lòng nhân ái. [68].

 

M App4.8, SBN 317-8

Một kẻ đã nướng sạch tài sản của mình vào những chi tiêu hoang phí, những phù phiếm hão huyền, những dự án viển vông, những thú vui trụy lạc, hay cờ bạc vô độ, thì có tư cách gì để đòi hỏi sự trợ giúp hào hiệp hay lòng tốt của chúng ta? Những thói hư tật xấu này (bởi ta chẳng ngần ngại gì mà không gọi chúng như thế) sẽ mang lại nỗi thống khổ mà không ai thương xót, và chuốc lấy sự khinh bỉ lên bất cứ kẻ nào lún sâu vào chúng.

 

M App4.9, SBN 318

Achaeus, một quân vương khôn ngoan và thận trọng, đã sa vào một cái bẫy chết người khiến ông mất cả ngai vàng lẫn mạng sống, dù trước đó ông đã dùng mọi biện pháp phòng ngừa hợp lý để bảo vệ bản thân. Chính vì lý do đó, sử gia nhận định rằng, ông là một đối tượng xứng đáng được kính trọng và thương cảm; còn những kẻ phản bội ông mới là đối tượng duy nhất đáng bị căm ghét và khinh miệt [69].

 

M App4.10, SBN 318

Việc Pompey vội vã bỏ trốn và sự bất cẩn thiếu suy nghĩ của ông ngay khi nội chiến bùng nổ đã hiện ra với Cicero như những sai lầm quá hiển nhiên, đến nỗi làm phai nhạt hẳn tình bạn của ông đối với vị danh nhân ấy. Cũng giống như, ông nói, sự thiếu sạch sẽ, đoan trang, hay kín đáo ở một người tình có thể làm mất đi tình cảm của chúng ta. Vì ông tự diễn đạt như vậy, khi nói chuyện với người bạn Atticus của ông, không phải với tư cách của một triết gia, nhưng với tư cách một chính khách và một con người từng trải trong đời. [70]

 

M App4.11, SBN 318-9

Nhưng cùng một Cicero, khi lập luận với tư cách một triết gia giống như tất cả nhà đạo đức học thời cổ, đã mở rộng khái niệm về đức hạnh của của ông rộng rất nhiều, và bao hàm mọi phẩm chất hoặc thiên tư đáng khen ngợi của trí óc dưới danh xưng danh dự ấy.Điều này dẫn chúng ta đến suy ngẫm thứ ba vốn chúng ta đã định đưa ra, đó là, những nhà đạo đức học thời cổ, những mẫu mực tốt nhất, không phân biệt rõ rệt giữa những loại thiên tư và khuyết điểm tinh thần khác nhau, mà coi tất cả như nhau dưới tên gọi đức hạnh và thói hư tật xấu, đồng thời lấy chúng làm đối tượng không phân biệt cho những lập luận đạo đức của họ, Sự thận trọng được giải thích trong tác phẩm Bàn về Nghĩa vụ (De Officiis) của Cicero [71], chính là sự minh mẫn giúp chúng ta khám phá chân lý và giữ cho chúng ta khỏi sai lầm, lạc lối. Sự cao thượng, tiết độ và đoan trang cũng được thảo luận sâu rộng tại đó. Và vì nhà đạo đức học hùng biện ấy tuân theo cách phân loại phổ biến về bốn đức hạnh cốt yếu, nên những nghĩa vụ xã hội của chúng ta chỉ cấu thành một phần trong hệ thống phân chia tổng quát về chủ đề của ông [72].

 

M App4.12, SBN 319

Chúng ta chỉ cần lướt qua những tên của những chương sách trong Đạo đức học của Aristotle để thấy rằng ông xếp can đảm, sự tiết độ, sự vĩ đại, lòng độ lượng, sự khiêm tốn, thận trọng và cương nghị bản lĩnh vào hàng những đức hạnh, cũng như công lý và tình bằng hữu.

 

M App4.13, SBN 319

Đối với một số nhà tư tưởng thời xưa, kiên trì chịu đựng và kiềm chế ham muốn, nghĩa là tức là nhẫn nại và tiết dục, dường như là một tóm tắt toàn bộ của tất cả đạo đức học.

 

M App4.14, SBN 319-20

Epictetus hiếm khi nhắc đến tình cảm của lòng nhân đạo và lòng trắc ẩn, ngoại trừ nhằm cảnh giác những học trò của ông phải dè chừng chúng. Đức hạnh của những người Stoics dường như chủ yếu nằm ở tính khí kiên định và trí tuệ minh mẫn. Với họ, cũng như với Solomon và những nhà đạo đức học phương Đông, sự diên rồ và khôn ngoan cũng tương đương với thói hư tật xấu và đức hạnh.

 

M App4.15, SBN 320

Người ta sẽ khen ngợi ngươi, khi ngươi làm điều tốt cho chính mình. [73]. Tôi ghét một người khôn ngoan, nhà thơ Greece nói, nhưng lại không khôn ngoan với chính mình [74]. [3]

 

M App4.16, SBN 320

Plutarch không hề bị bó buộc bởi hệ thống triết học như trong lịch sử. Khi so sánh những vĩ nhân Greece và Rôma, ông thẳng thắn đặt ra đối lập mọi khuyết điểm và thành tựu của họ, cho dù thuộc loại nào, và không bỏ sót bất cứ điều gì đáng kể, có thể làm giảm hay tôn vinh tính cách của họ. Những bài diễn thuyết đạo đức của ông cũng chứa đựng sự phê phán tự do và tự nhiên về con người và lề thói xã hội.

 

M App4.17, SBN 320

Nhân vật Hannibal, qua nét bút của Livy [75], bị coi là có phần thiên vị, nhưng vẫn thừa nhận ông có nhiều đức hạnh kiệt xuất. Nhà sử học nói rằng, chưa bao giờ có một thiên tài nào lại phù hợp một cách đồng đều đến thế cho những trọng trách đối lập là chỉ huy và phục tùng; vì vậy, thật khó để xác định liệu ông được vị chủ tướng hay quân đội yêu mến hơn. Không một ai được Hasdrubal sẵn lòng tin cậy giao phó việc điều hành những nhiệm vụ nguy hiểm hơn ông; và cũng không dưới quyền ai mà binh sĩ lại bộc lộ nhiều lòng dũng cảm và sự tự tin hơn thế. Sự táo bạo lớn lao khi đối mặt với hiểm nguy; sự thận trọng lớn lao khi ở giữa lằn ranh ấy. Không sự lao nhọc nào có thể làm kiệt quệ thân xác hay khuất phục được ý chí của ông. Nóng và lạnh đối với ông cũng như nhau: Ông tìm đến đồ ăn thức uống như để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của tự nhiên, chứ không phải để thỏa mãn những ham muốn xa hoa: Ông thức hay nghỉ một cách bất định, bất kể đêm hay ngày.— Những ĐỨC HẠNH lớn lao này được đối trọng bởi những THÓI HƯ TẬT XẤU cũng lớn lao không kém: Sự tàn ác phi nhân tính; sự phản trắc còn hơn cả người Carthage; không chân thật, không đức tin, không màng đến lời thề, lời hứa hay tôn giáo.

 

M App4.18, SBN 320-1

Nhân vật Alexander VI, được tìm thấy trong Guicciardin [76], cũng khá tương tự, nhưng công bằng hơn; và đó là một bằng chứng cho thấy ngay cả những người thời nay, khi họ nói một cách tự nhiên, cũng có cùng ngôn ngữ với những người xưa. Ông nói, trong vị vua chiên này có một năng lực và phán đoán đặc biệt: Sự thận trọng đáng ngưỡng mộ; một tài năng thuyết phục tuyệt vời; và trong tất cả những dự án trọng đại, một sự siêng năng và khéo léo đáng kinh ngạc. Nhưng những đức hạnh ấy bị những thói hư tật xấu của ông lấn át hoàn toàn:; thiếu đức tin chân thành và đạo đức tôn giáo. tham lam vô độ, tham vọng quá mức, và một sự tàn ác còn hơn cả man rợ. [4]

 

M App4.19, SBN 321

Polybius[77], khi chỉ trích Timaeus vì thiên vị chống lại Agathocles – người mà chính ông thừa nhận là bạo chúa tàn ác và bất kính nhất trong tất cả – đã nói: Nếu ông ta từng lánh nạn ở Syracuse, như sử gia ấy khẳng định, để trốn tránh bụi bẩn, khói lửa và lao động khổ cực của nghề làm gốm trước kia; và nếu từ những khởi đầu nhỏ bé như vậy, ông ta chỉ trong một thời gian ngắn đã làm chủ toàn bộ Sicily; đẩy nhà nước Carthage vào tình thế nguy ngập nhất; rồi cuối cùng qua đời ở tuổi già trong địa vị tối cao: Há chẳng phải ông ta phải được thừa nhận có điều gì phi thường và xuất chúng, đồng thời sở hữu những tài năng và năng lực lớn lao cho sự nghiệp và hành động sao? Vì thế, người viết sử về ông ta không nên chỉ kể những gì dẫn đến sự chỉ trích và tai tiếng của ông; mà còn phải kể những gì có thể mang lại lời KHEN NGỢI và VINH DỰ cho ông. [5]

 

M App4.20, SBN 321-2

Nói tổng quát, chúng ta có thể quan sát thấy rằng sự phân biệt giữa tự nguyện hay không tự nguyện ít được người xưa coi trọng trong những lập luận đạo đức của họ; nơi mà họ thường xuyên xem xét vấn đề như một nghi vấn lớn: liệu đức hạnh có thể dạy được hay không? [78]? Họ đã đúng khi cân nhắc rằng sự hèn nhát, đê tiện, phù phiếm, lo âu, thiếu kiên nhẫn, dại dột và nhiều phẩm chất khác của tâm trí có thể trở nên lố bịch và biến dạng, đáng khinh và đáng ghét, dù cho chúng không phụ thuộc vào ý chí. Cũng không thể cho rằng mọi người, trong mọi lúc, đều có khả năng đạt được mọi loại của cái đẹp tinh thần, cũng như của cái đẹp ngoại hình.

 

M App4.21, SBN 322

Và ở đây, suy ngẫm thứ tư vốn tôi dự định đưa ra, trong việc nêu lên lý do những triết gia thời nay thường theo đuổi một hướng đi, trong những điều tra đạo đức của họ, rất khác so với hướng đi của những người xưa. Trong những thời về sau, triết học thuộc mọi loại, đặc biệt là đạo đức học, đã được gắn kết chặt chẽ với gót học hơn bao giờ hết so với những gì người ta quan sát được ở những người ngoại đạo [6], và vì hệ thống lý luận phức tạp này (thần học) không chấp nhận bất kỳ sự thỏa hiệp nào, nhưng uốn nắn mọi nhánh tri thức theo mục đích riêng của nó, chẳng mấy bận tâm đến những hiện tượng tự nhiên hay những cảm xúc khách quan của não thức, nên từ đó những lập luận, và thậm chí cả ngôn ngữ, đã bị bẻ cong khỏi tiến trình tự nhiên của chúng, và người ta đã nỗ lực thiết lập những sự phân biệt ở ngay cả những nơi mà sự khác biệt giữa những đối tượng, theo một cách nào đó, là không thể nhận thấy được.Những triết gia, hay đúng hơn là những nhà gót học trá hình dưới danh nghĩa ấy coi tất cả những vấn đề đạo đức, ngang hàng với luật dân sự, được bảo vệ bởi những chế tài thưởng phạt, tất yếu đã bị dẫn dắt đến việc lấy yếu tố tự nguyện hay bất đắc dĩ làm nền tảng cho toàn bộ lý thuyết của họ. Mỗi người có quyền dùng thuật ngữ theo ý mình: Nhưng ít nhất cũng phải thừa nhận rằng, hàng ngày chúng ta đều kinh nghiệm những tình cảm trách cứ và khen ngợi nhắm vào những đối tượng nằm ngoài sự chi phối của ý chí hay lựa chọn, và rằng chúng ta – nếu không với tư cách nhà đạo đức học, thì ít nhất với tư cách những triết gia suy diễn – cần phải đưa ra một lý thuyết và giải thích thỏa đáng về chúng.

 

M App4.22, SBN 322-3

Một vết nhơ, một lỗi lầm, một thói hư tật xấu, một tội lỗi; những cách diễn đạt này dường như biểu thị những mức độ chỉ trích và phản đối khác nhau; tuy nhiên, xét cho cùng, tất cả chúng đều gần như cùng một loại. . Việc giải thích một khái niệm này sẽ dễ dàng dẫn chúng ta đến một quan niệm đúng đắn về những khái niệm còn lại; và điều quan trọng hơn cả là phải chú trọng vào bản chất sự vật thay vì những tên gọi bằng lời nói. Việc chúng ta có bổn phận với chính bản thân mình là điều được thừa nhận ngay cả trong những hệ thống đạo đức phổ thông nhất; và việc xem xét bổn phận đó là cần thiết để thấy liệu nó có bất kỳ điểm tương đồng nào với bổn phận mà chúng ta nợ xã hội hay không. Rất có thể rằng sự tán thành đi kèm với việc tuân thủ cả hai loại bổn phận này đều có bản chất tương tự nhau, và nảy sinh từ những nguyên lý giống nhau; bất kể chúng ta dành tên gọi nào cho những phẩm chất xuất sắc đó. [7]

 

------------------------------------------------

 

M App4.3n66

66. Xem CHÚ THÍCH [SS].

 

M App4.3n66. 1, SBN 314

Thuật ngữ “kiêu hãnh” thường bị hiểu theo nghĩa xấu; nhưng cảm xúc này dường như lãnh đạm, và có thể tốt hay xấu, tùy thuộc vào việc nó có nền tảng hay không, và tùy thuộc vào những hoàn cảnh khác đi kèm. Người Pháp diễn đạt cảm xúc này bằng thuật ngữ “amour propre”, nhưng vì họ cũng dùng cùng một thuật ngữ để diễn tả tình cảm vị kỷ và tự phụ ham danh, nên từ đó nảy sinh một nhầm lẫn lớn trong Rochefoucault, và nhiều nhà văn đạo đức của họ.

 

M App4.6n67

67. Xem CHÚ THÍCH [TT].

 

M App4.6n67. 1, SBN 317

YÊU THƯƠNG và sự kính trọng gần như là cùng một tình cảm, và bắt nguồn từ những nguyên nhân tương tự. Những phẩm tính tạo nên cả hai đều mang lại vui sướng. Nhưng khi vui sướng này mãnh liệt và nghiêm trang; hay khi đối tượng của nó lớn lao, gây ấn tượng mạnh mẽ, hay khi nó tạo ra bất kỳ mức độ khiêm nhường và kính sợ nào: Trong tất cả những trường hợp này, niềm tình cảm, xuất phát từ vui sướng, được gọi chính xác hơn là sự kính trọng hơn là yêu thương. Lòng từ thiện xuất hiện ở cả hai: Nhưng lại gắn liền với tình yêu ở mức độ nổi bật hơn. Dường như vẫn có sự pha trộn mạnh mẽ hơn giữa lòng kiêu hãnh và sự khinh miệt hơn là sự khiêm nhường trong sự kính trọng; và lý do sẽ không khó hiểu với một người đã nghiên cứu kỹ lưỡng những tình cảm này. Tất cả những hỗn hợp, thành phần và biểu hiện khác nhau của tình cảm này tạo nên một đề tài nghiên cứu rất thú vị, nhưng lại nằm ngoài mục đích hiện tại của chúng ta. Trong suốt tiến trình tìm hiểu này, chúng ta luôn xem xét một cách tổng quát những phẩm chất nào là đối tượng của sự khen ngợi hay chỉ trích, không đi sâu vào tất cả những khác biệt nhỏ nhặt về tình cảm vốn chúng khơi dậy. Rõ ràng là bất cứ gì bị khinh miệt cũng đều bị ghét bỏ, cũng giống như những gì bị ghét bỏ;; và ở đây chúng ta cố gắng xem xét những đối tượng theo những góc nhìn và những vẻ ngoài đơn giản nhất của chúng.. Những khoa học này vốn đã quá dễ mang vẻ trừu tượng với những người đọc thông thường, ngay cả khi chúng ta đã cố gắng hết sức để loại bỏ những suy diễn thừa thãi và đem chúng xuống mức độ phù hợp với mọi khả năng tìm hiểu.

 

M App4.7n68, SBN 317

68. Nghệ thuật giữ gìn sức khỏe. Quyển 4.

 

M App4.9n69, SBN 318

69. Polybius, lib. iii. cap. 2.

 

M App4.10n70, SBN 318

70. Lib. ix. epist. 10.

 

M App4.11n71, SBN 318

71. Lib. i. cap. 6.

 

M App4.11n72

72. Xem GHI CHÚ [UU].

 

M App4.11n72. 1, SBN 319

Đoạn văn sau đây của Cicero đáng được trích dẫn, vì là đoạn văn rõ ràng và súc tích nhất theo mục đích của chúng ta, rằng bất kỳ điều gì cũng có thể có thể hình dung được; và và trong một tranh luận, chủ yếu là bằng lời nói thì đoạn này, nhờ uy tín của tác giả, tất yếu mang một quyền uy mà không ai có thể bác bỏ hay kêu nài/thay đổi nào nữa.”

 

M App4.11n72. 2, SBN 319

[ Latin: Virtus autem, quæ est per se ipsa laudabilis, et sine qua nihil laudari potest, tamen habet plures partes, quarum alia est aliâ ad laudationem aptior. Sunt enim aliæ Virtutes, quæ videntur in moribus hominum, et quadam comitate ac beneficentia positæ: aliæ quæ in ingenii aliqua facultate, aut animi magnitudine ac robore. Nam clementia, justitia, lành tính, fides, fortitudo in periculis communibus, jucunda estaudu in laudationibus. Omnes enim hæ virtutes non tam ipsis, qui eas in se habent, quam generic hominum fructuosæ putantur. Sapientia et magnitudo animi, qua omnes res humanæ, tenues et pro nihilo putantur, et in cogitando vis quædam ingenii, et ipsa eloquentia khâm phục là habet non-minus, jucunditatis-min. Ipsos enim magis videtur, quos laudamus, quam illos, apud quos laudamus, ornare ac tueri: sed tamen in laudenda jungenda sunt etiam hæc genera virtutum. Ferunt enim aures hominum, cum illa quæ jucunda et grata, tum etiam ilia, quæ mirabilia sunt in đức hạnh, laudari. De orat. lib. ii. cap. 89. ]

 

Đức hạnh, vốn tự thân đã đáng khen ngợi, và không có nó thì không gì có thể được khen ngợi, vẫn gồm nhiều phần, trong đó có phần này thích hợp hơn phần kia để được ca tụng. Thật vậy, có những đức hạnh dường như nằm ở phong thái con người, ở sự hòa nhã và lòng nhân ái nào đó; còn có những đức hạnh khác nằm ở một năng lực nào đó của trí tuệ, hoặc ở sự cao thượng và sức mạnh của tâm hồn. Vì clementia (lòng khoan dung), justitia (công lý), benignitas (lòng nhân hậu), fides (lòng trung tín), fortitudo (dũng cảm) trong những hiểm nguy chung – tất cả những đức hạnh này đều dễ nghe, dễ chịu khi được ca tụng. Bởi người ta cho rằng chúng mang lại lợi ích không hẳn chỉ cho chính người sở hữu, mà cho toàn thể loài người. Còn sapientia (sự khôn ngoan) và magnitudo animi (sự cao thượng của tâm hồn) – nhờ đó mọi sự việc nhân sinh đều bị coi là nhỏ bé, không đáng kể – cùng với sức mạnh nào đó của trí tuệ trong suy tư, và chính tài hùng biện, thì gây được sự ngưỡng mộ không kém, dù mang lại khoái cảm ít hơn. Vì chúng dường như trang điểm và bảo vệ chính người được ca tụng hơn là những người nghe lời ca tụng ấy. Tuy nhiên, khi ca tụng, vẫn cần kết hợp cả những loại đức hạnh này nữa. Bởi tai người ta thích nghe ca ngợi cả những gì dễ chịu và đáng quý, lẫn những gì kỳ diệu trong đức hạnh.

 

M App4.11n72. 3, SBN 319

Tôi cho rằng, nếu Cicero còn sống đến ngày nay, sẽ rất khó để trói buộc tình cảm đạo đức của ông vào trong những hệ thống hạn hẹp; hoặc thuyết phục ông rằng không một phẩm chất nào được phép coi là đức hạnh, hay được công nhận là một phần của giá trị cá nhân, ngoại trừ những điều được khuyến nghị trong cuốn ‘Bổn phận trọn vẹn của con người’ (The Whole Duty of Man).

 

M App4.15n73, SBN 320

73. Psalm 49th.

M App4.15n74, SBN 320

74. Μισω σοφις ην οσις ουκ αυτω σοφος. Euripides.

M App4.17n75, SBN 320

75. Lib. xxi. cap. 4.

M App4.18n76, SBN 321

76. Lib. i.

M App4.19n77, SBN 321

77. Lib. xii.

M App4.20n78, SBN 321

78. Vid. Plato in Menone, Seneca de otio sap. cap. 31. So also Horace, Virtutem doctrina paret, naturane donet. Epist. lib. i. ep. 18. Æschines Socraticus. Dial. I.

 

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(May/2025)

(Còn tiếp... )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] lập luận rằng nếu định nghĩa “đức hạnh” (virtues) chỉ bao gồm những phẩm chất tự nguyện (voluntary, tức do ta chủ động chọn lựa), thì định nghĩa đó sẽ gặp vấn đề. Vì những phẩm chất như dũng cảm (courage), bình tĩnh (equanimity), nhẫn nại (patience), tự chủ (self-command) thường được hầu hết những ngôn ngữ gọi là “đức hạnh”, nhưng chúng không hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát ý chí của con người – chúng phần lớn là bẩm sinh, hoặc phụ thuộc vào tính khí tự nhiên, chứ không phải lúc nào cũng do ta “chọn” mà có.

[2] “Đức hạnh” không phải là một khối đồng nhất. Ngay cả trong những thứ ta gọi là đức hạnh, có những thứ thiên về cảm xúc (khiến ta được yêu), có những thứ thiên về năng lực (khiến ta được nể). Vì vậy, không có lý do gì để tách rời “tài năng trí tuệ” ra khỏi danh sách những đức hạnh chỉ vì chúng khơi dậy những cảm giác hơi khác nhau.

[3] Hume dẫn lời vua Israel, David (Thánh vịnh 49:18) để chỉ ra rằng xã hội luôn ca ngợi những người biết tự làm giàu và lo liệu tốt cho cuộc đời mình, đồng thời mượn lời nhà thơ Greece Euripides để khẳng định rằng trí khôn sẽ trở nên vô nghĩa nếu không mang lại lợi ích thiết thực cho chính người sở hữu. những người “khôn nhà dại chợ” hoặc những triết gia chỉ biết lý thuyết suông mà để cuộc đời mình khốn khó. Qua đó, Hume nhấn mạnh rằng theo đuổi lợi ích cá nhân một cách thông minh là một giá trị được cả tôn giáo lẫn triết học thời cổ công nhận.

[4] Guicciardini miêu tả cua chiên Alexander VI (Rodrigo Borgia) là người có tài năng phi thường: năng lực và phán đoán xuất chúng, thận trọng đáng ngưỡng mộ, tài thuyết phục kỳ diệu, cùng sự cần mẫn và khéo léo khó tin trong những sự nghiệp lớn.Tuy nhiên, những đức hạnh này bị những thói hư lấn át hoàn toàn: không lòng tin, không tôn giáo (tức thiếu đức tin chân thành, dùng Hội nhà thờ làm công cụ cá nhân), tham lam vô độ, tham vọng quá đáng, và tàn ác còn hơn cả man rợ. Hume dùng ví dụ này để chứng minh rằng ngay cả những nhà sử học hiện đại, khi nói tự nhiên, vẫn giữ cùng cách nhìn với cổ nhân: không phân biệt nghiêm ngặt giữa tài năng trí tuệ và đức hạnh đạo đức, mà đánh giá tổng thể nhân cách bằng việc cân bằng giữa phẩm chất đáng khen và thói xấu.

[5] Polybius chỉ trích Timaeus vì quá thiên vị, chỉ nhấn mạnh sự tàn ác của Agathocles – bạo chúa độc ác nhất Sicily.

Nhưng Polybius nhấn mạnh: từ xuất thân thấp hèn (làm gốm), Agathocles nhanh chóng chinh phục Sicily, suýt diệt Carthage và chết với quyền lực tối cao → chứng tỏ tài năng phi thường. Do đó, sử gia phải công bằng: kể cả điều đáng trách lẫn điều đáng khen ngợi. Hume dùng ví dụ này để minh họa: cổ nhân không phân biệt nghiêm ngặt tài năng (talents) và đức hạnh (virtues), mà đánh giá nhân cách tổng thể qua sự cân bằng phẩm chất và khuyết điểm.

[6] heathens

[7] Hume đề nghị xóa bỏ rào cản từ vựng để tập trung vào bản chất sự vật thay vì những tên gọi như “tì vết” hay “tội lỗi”, vì thực chất chúng đều bắt nguồn từ cùng một loại cảm xúc chê trách của con người. Ông bác bỏ những sự phân biệt phức tạp của thần học để khẳng định tính thống nhất của đạo đức: dù là bổn phận với bản thân (sự khôn ngoan, điềm tĩnh) hay bổn phận với xã hội (lòng nhân từ, công bằng), chúng ta đều khen ngợi chúng dựa trên cùng một nguyên tắc là tính hữu ích hoặc sự dễ chịu mà chúng mang lại.