Một Điều Tra Về Những Nguyên
Lý của Đạo Đức
(An Enquiry Concerning the
Principles of Morals)
David
Hume
PHỤ LỤC IV.
Về Một Số
Tranh Luận về Từ Ngữ
M App4.1, SBN
312-3
KHÔNG GÌ thường
xuyên hơn việc những triết gia xâm lấn vào lĩnh vực của những nhà ngữ pháp; và dấn
thân vào những tranh luận về từ ngữ, trong khi họ tưởng tượng rằng đang giải
quyết những tranh luận quan trọng có ý nghĩa sâu xa và đáng quan tâm nhất. Để
tránh những tranh cãi phù phiếm và kéo dài vô tận, tôi đã cố gắng trình bày mục
tiêu nghiên cứu hiện tại của chúng ta một cách hết sức thận trọng; và đưa ra chỉ
đơn giản là thu thập, một mặt, một danh sách những phẩm tính tâm lý và đạo đức
là đối tượng của yêu mến hay sự kính trọng, và tạo một phần của giá trị cá nhân,
và mặt khác, một danh mục những phẩm tính, là đối tượng của sự chỉ trích hay
chê trách, và làm giảm đi nhân cách của người sở hữu chúng; kèm theo một số suy
ngẫm về nguồn gốc của những cảm xúc khen ngợi hay chê trách này. Trong mọi trường
hợp, khi có thể nảy sinh chút do dự nhỏ nhất, tôi tránh dùng những thuật ngữ đức
hạnh và thói hư tật xấu; vì một số phẩm tính đó, vốn tôi xếp vào
nhóm đối tượng của khen ngợi, được gọi, trong tiếng Anh, là những tài năng,
thay vì những đức hạnh; vì một số phẩm tính đáng chê trách hay đáng lên án thường
được gọi là khuyết điểm, thay vì tật xấu. Có lẽ giờ đây người ta
sẽ mong đợi rằng, trước khi kết thúc điều tra về đạo đức này, chúng ta nên phân
biệt một cách chính xác giữa hai bên; nên xác định ranh giới rõ ràng giữa những
đức hạnh và tài năng, giữa những thói hư tật xấu và khuyết điểm; đồng thời giải
thích lý do và nguồn gốc của sự phân biệt ấy. Nhưng để tự miễn trừ khỏi công việc
này – vốn rốt cuộc chỉ là một nghiên cứu về ngữ pháp mà thôi – tôi sẽ bổ sung bốn
suy ngẫm sau đây, trong đó chứa đựng tất cả những gì tôi định nói về chủ đề hiện
tại
M App4.2, SBN
313-4
Trước hết, tôi không thấy trong tiếng Anh, hay bất
kỳ ngôn ngữ thời nay nào khác, ranh giới giữa đức hạnh và tài năng, tật xấu và
khuyết điểm được xác định chính xác, hay có thể đưa ra một định nghĩa chính xác
về sự tương phản giữa cái này với cái kia. Thí dụ, nếu chúng ta nói rằng chỉ những
phẩm tính đáng quý, vốn đều tự nguyện, mới xứng đáng được gọi là những đức hạnh;
chúng ta sẽ sớm nhớ lại những phẩm tính can đảm, bình tĩnh, kiên nhẫn, tự chủ;
cùng nhiều phẩm tính khác, vốn hầu như mọi ngôn ngữ đều xếp vào danh xưng này, mặc
dù chúng phụ thuộc rất ít hay hoàn toàn không phụ thuộc vào sự lựa chọn của
chúng ta. [1]
Nếu chúng ta khẳng định rằng chỉ những phẩm tính thôi thúc chúng ta đóng vai
trò của chúng ta trong xã hội mới xứng đáng nhận sự phân biệt danh dự ấy; thì lập
tức chúng ta sẽ nhận ra rằng những phẩm tính này quả thực là đáng quý nhất, và
thường được gọi là những đức hạnh xã hội; nhưng chính tính từ “xã hội”
này đã ngầm định rằng còn tồn tại những đức hạnh thuộc một loại khác. Nếu chúng
ta nắm vững sự phân biệt giữa giữa những thiên tư trí tuệ và những thiên
tư đạo đức, và khẳng định chỉ những thiên tư đạo đức mới là đức hạnh thực
sự và chân chính, vì chỉ có chúng mới dẫn đến hành động; chúng ta sẽ thấy rằng
nhiều phẩm tính trong số đó, thường được gọi là đức hạnh trí tuệ, chẳng hạn như
sự thận trọng, sự thấu hiểu, sự sáng suốt, sự thận trọng, cũng có ảnh hưởng
đáng kể đến hành vi. Sự phân biệt giữa con tim và đầu óc cũng có
thể được áp dụng: Những phẩm tính của năng khiếu trí tuệ có thể được định nghĩa
như khi được thể hiện trực tiếp, chúng đi kèm với một cảm xúc tình cảm; và chỉ
những phẩm tính này mới được gọi là đức hạnh chân chính: Nhưng cần cù, tiết kiệm,
điều độ, kín đáo, kiên trì, và nhiều năng lực hay tập quán đáng khen ngợi khác,
những đức hạnh thường được thể hiện vốn không có bất kỳ cảm xúc trực tiếp nào ở
người sở hữu chúng; và người ấy chỉ biết đến chúng qua tác động của chúng mà
thôi.Thật may mắn, giữa tất cả những điều tưởng chừng như khó hiểu này, câu hỏi
chỉ thuần túy thuộc về ngôn từ, nên không thể có bất kỳ quan trọng thực sự nào.
Một nói viết về đạo đức, triết học không cần phải đề cập đến tất cả những biến
đổi thất thường này của ngôn ngữ, vốn thay đổi rất nhiều giữa những phương ngữ
khác nhau, và thậm chí trong cùng một phương ngữ qua những thời kỳ khác nhau. Nhưng
nhìn chung, tôi thấy rằng, mặc dù luôn được chấp nhận rằng có nhiều loại đức hạnh
khác nhau, nhưng khi một người được gọi là đức hạnh, hoặc được mệnh danh là người
đức độ, chúng ta chủ yếu xem xét những phẩm tính xã hội của người đó, thực sự
là những phẩm tính đáng quý nhất. Đồng thời, chắc chắn rằng bất kỳ khiếm khuyết
đáng kể nào về dũng cảm, tiết độ, tiết kiệm, cần mẫn, trí tuệ, hay phẩm cách
tinh thần, sẽ tước đi danh xưng danh dự ấy ngay cả với một người tốt bụng và
lương thiện. Co ai đã từng nói, ngoại trừ một cách mỉa mai, rằng một người nào
đó là người có đức hạnh lớn lao, nhưng lại là một kẻ ngu ngốc khét tiếng?
M App4.3, SBN
314-5
Nhưng thứ hai,
chẳng có gì lạ khi ngôn ngữ không phân định ranh giới giữa đức hạnh và tài năng,
giữa tật xấu và khuyết điểm một cách chính xác; bởi chính trong sự đánh giá nội
tâm của chúng ta, sự phân biệt giữa chúng cũng rất mờ nhạt. Quả thực, có vẻ chắc
chắn rằng cảm xúc về giá trị ý thức, sự tự mãn xuất phát từ việc xem xét lại
hành vi và tính cách của một người; tôi cho rằng, có vẻ chắc chắn rằng cảm xúc
này, mặc dù phổ biến nhất trong số những cảm xúc khác, nhưng không có tên gọi
riêng trong ngôn ngữ của chúng ta [66], phát sinh từ những thiên tư về dũng cảm
và năng lực, cần mẫn và sáng tạo, cũng như từ bất kỳ bất kỳ phẩm tính tâm lý xuất
sắc nào khác. Mặt khác, có ai không cảm thấy ê chề xấu hổ khi nghĩ về sự điên rồ
và phóng đãng của bản thân, và không cảm thấy một cắn rứt hay hối hận thầm kín,
mỗi khi ký ức hiện lên một sự việc quá khứ nào đó vốn đã hành xử ngu xuẩn hoặc
thiếu giáo dục? Không có thời gian nào có thể xóa nhòa được những ký ức nghiệt
ngã về hành vi ngu xuẩn của chính một người, hay về những nhục nhã vốn hèn nhát
hoặc trơ trẽn đã chuốc lên đầu người này. Chúng vẫn ám ảnh những giờ phút cô
đơn của người này, làm nguội lạnh những khát vọng cao cả nhất của người này, và
cho người này thấy, ngay cả với chính mình, bằng những màu sắc đáng khinh bỉ và
ghê tởm nhất có thể tưởng tượng được.
M App4.4, SBN 315
Vả lại, có điều
gì chúng ta khao khát che giấu khỏi mắt thế gian hơn là những sai lầm ngớ ngẩn,
những yếu đuối nhu nhược và những sự đê tiện của chính mình; hay có điều gì khiến
ta khiếp sợ bị phơi bày bởi những lời chế nhạo và châm biếm hơn thế không? Và
chẳng phải đối tượng chính của tự phụ ham danh chính là lòng can đảm hay học thức,
trí thông minh hay giáo dục, tài hùng biện hay diễn thuyết, thẩm khiếu mỹ thuật
hay khả năng của chúng ta sao? Chúng ta phô bày những điều ấy một cách cẩn trọng,
nếu không muốn nói là phô trương; và thông thường, chúng ta khao khát vượt trội
ở những phương diện đó hơn cả ở những đức hạnh xã hội – dù rằng xét về thực chất,
những đức hạnh ấy mới mang giá trị cao quý hơn nhiều. Lòng nhân hậu và sự trung
thực, đặc biệt là vế trung thực, là những điều kiện bắt buộc đến mức không thể
thiếu, mà nếu vi phạm những nghĩa vụ này sẽ bị chỉ trích dữ dội, nhưng nếu thực
hiện chúng một cách bình thường thì cũng chẳng nhận được lời tán dương hiển
hách nào; bởi chúng được xem là nền tảng thiết yếu để duy trì xã hội loài người.
Theo tôi, đó chính là lý do vì sao dù con người thường hào phóng tán dương những
phẩm tính của con tim, nhưng họ lại rất dè dặt khi ca tụng những thiên tư của trí
óc:. Đó là vì những đức hạnh kể sau, được cho là hiếm có và phi thường hơn, hường
trở thành đối tượng phổ biến hơn của kiêu hãnh và tự phụ; và khi mang chúng ra khoe
khoang, lập tức khơi dậy một nghi ngờ mạnh mẽ về những tình cảm này.
M App4.5, SBN
315-6
Thật khó để nói
liệu bạn làm tổn thương nhân cách của một người nhiều nhất khi gọi người này là
kẻ gian xảo hay một tên hèn nhát, và liệu một kẻ phàm ăn tục uống hay một tên
nát rượu có đáng ghét và đáng khinh bỉ như một kẻ bủn xỉn ích kỷ, hẹp hòi hay
không. Hãy cho tôi lựa chọn, và tôi thà, vì hạnh phúc và sự tự hưởng thụ của bản
thân, có một trái tim từ thiện, còn hơn là sở hữu tất cả những đức hạnh khác của
Demosthenes và Philip cộng lại: Nhưng tôi thà được cả thế giới công nhận là một
người được phú cho thiên tài uyên bác và lòng can đảm phi thường, và do đó sẽ
mong đợi tán thưởng và ngưỡng mộ mạnh mẽ hơn. Vị thế một người tạo dựng trong đời,
sự đón tiếp vốn người này nhận được trong công chúng, sự kính trọng vốn người
quen dành cho người này; tất cả những thuận lợi này tùy thuộc nhiều vào sự sáng
suốt và phán đoán của người này, cũng như vào bất kỳ phương diện nào khác trong
nhân cách của người này. Dẫu cho một người có những ý định tốt đẹp nhất trần đời,
và dẫu cho người này có cách biệt hoàn toàn khỏi mọi bất công và bạo lực nhất,
thì người này cũng chẳng bao giờ có thể khiến bản thân được nể trọng nhiều, nếu
không sở hữu ít nhất một phần năng lực và sự hiểu biết nhất định.
M App4.6, SBN
316-7
Vậy chúng ta còn
điều gì để tranh luận ở đây nữa? Nếu sự nhạy bén và lòng quả cảm, sự tiết chế
và lòng cần mẫn, trí tuệ và kiến thức đều hiển nhiên tạo nên một phần đáng kể
trong giá trị cá nhân; nếu một người sở hữu những phẩm chất này vừa thấy
hài lòng với bản thân hơn, vừa xứng đáng nhận được thiện chí, sự kính trọng và
sự giúp đỡ của người khác hơn kẻ hoàn toàn thiếu vắng chúng; tóm lại, nếu những
cảm xúc nảy sinh từ những thiên tư này cũng tương tự như những cảm xúc nảy
sinh từ những đức hạnh xã hội; thì liệu có lý do gì để ta phải quá khắt khe về một
từ ngữ, hay phải tranh luận xem liệu chúng có xứng đáng được gọi là ‘đức
hạnh’ hay không? Có lẽ, người ta sẽ biện hộ rằng sự tán thành mà những năng lực
đó tạo ra, ngoài việc ở cấp độ thấp hơn, thì cũng có đôi chút khác biệt
so với sự tán thành dành cho những đức hạnh như lòng công bằng và nhân ái. Nhưng
điều này dường như không phải là lý do đủ thuyết phục để xếp chúng hoàn toàn
vào những hạng loại và danh xưng khác nhau. Hình tượng của Cæsar và Cato, qua
ngòi bút của Sallust, cả hai đều là những người đức hạnh theo nghĩa nghiêm ngặt
và giới hạn nhất của từ này, nhưng theo những cách thức khác nhau; và những
tình cảm mà họ khơi gợi cũng không hoàn toàn giống nhau. Một người tạo ra sự
yêu mến; người kia tạo ra sự kính trọng. Một người thật đáng mến; người kia thật
uy nghiêm. Ta thường mong gặp được một tính cách như người trước ở một người bạn;
còn phẩm chất của người sau là điều ta khát khao có được ở chính mình. Tương tự
như vậy, sự tán thành dành cho tính tiết chế, lòng cần mẫn hay sự giản dị có thể
hơi khác biệt so với sự tán thành dành cho những đức hạnh xã hội, nhưng không
vì thế mà biến chúng thành một chủng loại hoàn toàn khác biệt. Và thực vậy, ta
có thể quan sát thấy rằng chính những thiên tư này, thậm chí còn hơn cả những đức
hạnh khác, không phải lúc nào cũng tạo ra cùng một kiểu tán thưởng. Sự minh mẫn
và thiên tài nảy sinh sự kính trọng và nể trọng; trong khi nhanh trí, sắc bén, và
hài hước lại khơi dậy tình yêu và lòng quý mến thân ái [67]. [2]
M App4.7, SBN 317
Tôi tin rằng hầu
hết mọi người, một cách tự nhiên và chẳng cần tính toán trước, sẽ đồng tình với
định nghĩa của nhà thơ tao nhã và sáng suốt kia. Rằng:
Đức hạnh (bởi nếu chỉ có lòng tốt đơn thuần thì đó
là kẻ khờ)
Chính là sự thông tuệ và khí chất hòa quyện cùng
lòng nhân ái. [68].
M App4.8, SBN
317-8
Một kẻ đã nướng sạch
tài sản của mình vào những chi tiêu hoang phí, những phù phiếm hão huyền, những
dự án viển vông, những thú vui trụy lạc, hay cờ bạc vô độ, thì có tư cách gì để
đòi hỏi sự trợ giúp hào hiệp hay lòng tốt của chúng ta? Những thói hư tật xấu
này (bởi ta chẳng ngần ngại gì mà không gọi chúng như thế) sẽ mang lại nỗi thống
khổ mà không ai thương xót, và chuốc lấy sự khinh bỉ lên bất cứ kẻ nào lún sâu
vào chúng.
M App4.9, SBN 318
Achaeus, một quân
vương khôn ngoan và thận trọng, đã sa vào một cái bẫy chết người khiến ông mất
cả ngai vàng lẫn mạng sống, dù trước đó ông đã dùng mọi biện pháp phòng ngừa hợp
lý để bảo vệ bản thân. Chính vì lý do đó, sử gia nhận định rằng, ông là một đối
tượng xứng đáng được kính trọng và thương cảm; còn những kẻ phản bội ông mới là
đối tượng duy nhất đáng bị căm ghét và khinh miệt [69].
M App4.10, SBN
318
Việc Pompey vội
vã bỏ trốn và sự bất cẩn thiếu suy nghĩ của ông ngay khi nội chiến bùng nổ đã
hiện ra với Cicero như những sai lầm quá hiển nhiên, đến nỗi làm phai nhạt hẳn
tình bạn của ông đối với vị danh nhân ấy. Cũng giống như, ông nói, sự thiếu sạch
sẽ, đoan trang, hay kín đáo ở một người tình có thể làm mất đi tình cảm của
chúng ta. Vì ông tự diễn đạt như vậy, khi nói chuyện với người bạn Atticus của ông,
không phải với tư cách của một triết gia, nhưng với tư cách một chính khách và
một con người từng trải trong đời. [70]
M App4.11, SBN
318-9
Nhưng cùng một
Cicero, khi lập luận với tư cách một triết gia giống như tất cả nhà đạo đức học
thời cổ, đã mở rộng khái niệm về đức hạnh của của ông rộng rất nhiều, và bao
hàm mọi phẩm chất hoặc thiên tư đáng khen ngợi của trí óc dưới danh xưng danh dự
ấy.Điều này dẫn chúng ta đến suy ngẫm thứ ba vốn chúng ta đã định đưa ra, đó là,
những nhà đạo đức học thời cổ, những mẫu mực tốt nhất, không phân biệt rõ rệt
giữa những loại thiên tư và khuyết điểm tinh thần khác nhau, mà coi tất cả như
nhau dưới tên gọi đức hạnh và thói hư tật xấu, đồng thời lấy chúng làm đối tượng
không phân biệt cho những lập luận đạo đức của họ, Sự thận trọng được giải
thích trong tác phẩm Bàn về Nghĩa vụ (De Officiis) của Cicero [71], chính
là sự minh mẫn giúp chúng ta khám phá chân lý và giữ cho chúng ta khỏi sai lầm,
lạc lối. Sự cao thượng, tiết độ và đoan trang cũng được thảo luận sâu rộng
tại đó. Và vì nhà đạo đức học hùng biện ấy tuân theo cách phân loại phổ biến về
bốn đức hạnh cốt yếu, nên những nghĩa vụ xã hội của chúng ta chỉ cấu thành một
phần trong hệ thống phân chia tổng quát về chủ đề của ông [72].
M App4.12, SBN
319
Chúng ta chỉ cần lướt
qua những tên của những chương sách trong Đạo đức học của
Aristotle để thấy rằng ông xếp can đảm, sự tiết độ, sự vĩ đại, lòng độ lượng, sự
khiêm tốn, thận trọng và cương nghị bản lĩnh vào hàng những đức hạnh, cũng như công
lý và tình bằng hữu.
M App4.13, SBN
319
Đối với một số
nhà tư tưởng thời xưa, kiên trì chịu đựng và kiềm chế ham muốn, nghĩa là
tức là nhẫn nại và tiết dục, dường như là một tóm tắt toàn bộ của tất cả đạo đức
học.
M App4.14, SBN
319-20
Epictetus hiếm
khi nhắc đến tình cảm của lòng nhân đạo và lòng trắc ẩn, ngoại trừ nhằm cảnh
giác những học trò của ông phải dè chừng chúng. Đức hạnh của những người Stoics
dường như chủ yếu nằm ở tính khí kiên định và trí tuệ minh mẫn. Với họ, cũng
như với Solomon và những nhà đạo đức học phương Đông, sự diên rồ và khôn ngoan
cũng tương đương với thói hư tật xấu và đức hạnh.
M App4.15, SBN
320
Người ta sẽ khen
ngợi ngươi, khi ngươi làm điều tốt cho chính mình. [73]. Tôi ghét một người
khôn ngoan, nhà thơ Greece nói, nhưng lại không khôn ngoan với chính mình [74].
[3]
M App4.16, SBN
320
Plutarch không hề
bị bó buộc bởi hệ thống triết học như trong lịch sử. Khi so sánh những vĩ nhân
Greece và Rôma, ông thẳng thắn đặt ra đối lập mọi khuyết điểm và thành tựu của
họ, cho dù thuộc loại nào, và không bỏ sót bất cứ điều gì đáng kể, có thể làm
giảm hay tôn vinh tính cách của họ. Những bài diễn thuyết đạo đức của ông cũng
chứa đựng sự phê phán tự do và tự nhiên về con người và lề thói xã hội.
M App4.17, SBN
320
Nhân vật
Hannibal, qua nét bút của Livy [75], bị coi là có phần thiên vị, nhưng vẫn thừa
nhận ông có nhiều đức hạnh kiệt xuất. Nhà sử học nói rằng, chưa bao giờ có một
thiên tài nào lại phù hợp một cách đồng đều đến thế cho những trọng trách đối lập
là chỉ huy và phục tùng; vì vậy, thật khó để xác định liệu ông được vị chủ tướng
hay quân đội yêu mến hơn. Không một ai được Hasdrubal sẵn lòng tin cậy giao phó
việc điều hành những nhiệm vụ nguy hiểm hơn ông; và cũng không dưới quyền ai mà
binh sĩ lại bộc lộ nhiều lòng dũng cảm và sự tự tin hơn thế. Sự táo bạo lớn lao
khi đối mặt với hiểm nguy; sự thận trọng lớn lao khi ở giữa lằn ranh ấy. Không
sự lao nhọc nào có thể làm kiệt quệ thân xác hay khuất phục được ý chí của ông.
Nóng và lạnh đối với ông cũng như nhau: Ông tìm đến đồ ăn thức uống như để đáp ứng
những nhu cầu thiết yếu của tự nhiên, chứ không phải để thỏa mãn những ham muốn
xa hoa: Ông thức hay nghỉ một cách bất định, bất kể đêm hay ngày.— Những ĐỨC HẠNH
lớn lao này được đối trọng bởi những THÓI HƯ TẬT XẤU cũng lớn lao không kém: Sự
tàn ác phi nhân tính; sự phản trắc còn hơn cả người Carthage; không chân thật,
không đức tin, không màng đến lời thề, lời hứa hay tôn giáo.
M App4.18, SBN
320-1
Nhân vật
Alexander VI, được tìm thấy trong Guicciardin [76], cũng khá tương tự, nhưng
công bằng hơn; và đó là một bằng chứng cho thấy ngay cả những người thời nay,
khi họ nói một cách tự nhiên, cũng có cùng ngôn ngữ với những người xưa. Ông
nói, trong vị vua chiên này có một năng lực và phán đoán đặc biệt: Sự thận trọng
đáng ngưỡng mộ; một tài năng thuyết phục tuyệt vời; và trong tất cả những dự án
trọng đại, một sự siêng năng và khéo léo đáng kinh ngạc. Nhưng những đức hạnh ấy
bị những thói hư tật xấu của ông lấn át hoàn toàn:; thiếu đức tin chân thành và
đạo đức tôn giáo. tham lam vô độ, tham vọng quá mức, và một sự tàn ác còn hơn cả
man rợ. [4]
M App4.19, SBN
321
Polybius[77], khi
chỉ trích Timaeus vì thiên vị chống lại Agathocles – người mà chính ông thừa nhận
là bạo chúa tàn ác và bất kính nhất trong tất cả – đã nói: Nếu ông ta từng lánh
nạn ở Syracuse, như sử gia ấy khẳng định, để trốn tránh bụi bẩn, khói lửa và
lao động khổ cực của nghề làm gốm trước kia; và nếu từ những khởi đầu nhỏ bé
như vậy, ông ta chỉ trong một thời gian ngắn đã làm chủ toàn bộ Sicily; đẩy nhà
nước Carthage vào tình thế nguy ngập nhất; rồi cuối cùng qua đời ở tuổi già
trong địa vị tối cao: Há chẳng phải ông ta phải được thừa nhận có điều gì phi
thường và xuất chúng, đồng thời sở hữu những tài năng và năng lực lớn lao cho sự
nghiệp và hành động sao? Vì thế, người viết sử về ông ta không nên chỉ kể những
gì dẫn đến sự chỉ trích và tai tiếng của ông; mà còn phải kể những gì có thể
mang lại lời KHEN NGỢI và VINH DỰ cho ông. [5]
M App4.20, SBN
321-2
Nói tổng quát, chúng
ta có thể quan sát thấy rằng sự phân biệt giữa tự nguyện hay không tự nguyện ít
được người xưa coi trọng trong những lập luận đạo đức của họ; nơi mà họ thường
xuyên xem xét vấn đề như một nghi vấn lớn: liệu đức hạnh có thể dạy được hay
không? [78]? Họ đã đúng khi cân nhắc rằng sự hèn nhát, đê tiện, phù phiếm,
lo âu, thiếu kiên nhẫn, dại dột và nhiều phẩm chất khác của tâm trí có thể trở
nên lố bịch và biến dạng, đáng khinh và đáng ghét, dù cho chúng không phụ thuộc
vào ý chí. Cũng không thể cho rằng mọi người, trong mọi lúc, đều có khả năng đạt
được mọi loại của cái đẹp tinh thần, cũng như của cái đẹp ngoại hình.
M App4.21, SBN
322
Và ở đây, suy
ngẫm thứ tư vốn tôi dự định đưa ra, trong việc nêu lên lý do những triết
gia thời nay thường theo đuổi một hướng đi, trong những điều tra đạo đức của họ,
rất khác so với hướng đi của những người xưa. Trong những thời về sau, triết học
thuộc mọi loại, đặc biệt là đạo đức học, đã được gắn kết chặt chẽ với gót học
hơn bao giờ hết so với những gì người ta quan sát được ở những người ngoại đạo [6],
và vì hệ thống lý luận phức tạp này (thần học) không chấp nhận bất kỳ sự thỏa
hiệp nào, nhưng uốn nắn mọi nhánh tri thức theo mục đích riêng của nó, chẳng mấy
bận tâm đến những hiện tượng tự nhiên hay những cảm xúc khách quan của não thức,
nên từ đó những lập luận, và thậm chí cả ngôn ngữ, đã bị bẻ cong khỏi tiến
trình tự nhiên của chúng, và người ta đã nỗ lực thiết lập những sự phân biệt ở
ngay cả những nơi mà sự khác biệt giữa những đối tượng, theo một cách nào đó,
là không thể nhận thấy được.Những triết gia, hay đúng hơn là những nhà gót học trá
hình dưới danh nghĩa ấy coi tất cả những vấn đề đạo đức, ngang hàng với luật
dân sự, được bảo vệ bởi những chế tài thưởng phạt, tất yếu đã bị dẫn dắt đến việc
lấy yếu tố tự nguyện hay bất đắc dĩ làm nền tảng cho toàn bộ lý thuyết của
họ. Mỗi người có quyền dùng thuật ngữ theo ý mình: Nhưng ít nhất cũng phải thừa
nhận rằng, hàng ngày chúng ta đều kinh nghiệm những tình cảm trách cứ và khen
ngợi nhắm vào những đối tượng nằm ngoài sự chi phối của ý chí hay lựa chọn, và
rằng chúng ta – nếu không với tư cách nhà đạo đức học, thì ít nhất với tư cách
những triết gia suy diễn – cần phải đưa ra một lý thuyết và giải thích thỏa
đáng về chúng.
M App4.22, SBN
322-3
Một vết nhơ, một
lỗi lầm, một thói hư tật xấu, một tội lỗi; những cách diễn đạt này dường như biểu
thị những mức độ chỉ trích và phản đối khác nhau; tuy nhiên, xét cho cùng, tất
cả chúng đều gần như cùng một loại. . Việc giải thích một khái niệm này sẽ dễ
dàng dẫn chúng ta đến một quan niệm đúng đắn về những khái niệm còn lại; và điều
quan trọng hơn cả là phải chú trọng vào bản chất sự vật thay vì những tên gọi bằng
lời nói. Việc chúng ta có bổn phận với chính bản thân mình là điều được thừa nhận
ngay cả trong những hệ thống đạo đức phổ thông nhất; và việc xem xét bổn phận
đó là cần thiết để thấy liệu nó có bất kỳ điểm tương đồng nào với bổn phận mà
chúng ta nợ xã hội hay không. Rất có thể rằng sự tán thành đi kèm với việc tuân
thủ cả hai loại bổn phận này đều có bản chất tương tự nhau, và nảy sinh từ những
nguyên lý giống nhau; bất kể chúng ta dành tên gọi nào cho những phẩm chất xuất
sắc đó. [7]
------------------------------------------------
M App4.3n66
66. Xem CHÚ
THÍCH [SS].
M App4.3n66.
1, SBN 314
Thuật ngữ “kiêu
hãnh” thường bị hiểu theo nghĩa xấu; nhưng cảm xúc này dường như lãnh đạm, và
có thể tốt hay xấu, tùy thuộc vào việc nó có nền tảng hay không, và tùy thuộc vào những hoàn cảnh khác đi kèm. Người Pháp diễn
đạt cảm xúc này bằng thuật ngữ “amour propre”, nhưng vì họ cũng dùng cùng một
thuật ngữ để diễn tả tình cảm vị kỷ và tự phụ ham danh, nên từ đó nảy sinh một nhầm lẫn lớn trong Rochefoucault, và nhiều nhà
văn đạo đức của họ.
M App4.6n67
67. Xem CHÚ
THÍCH [TT].
M App4.6n67.
1, SBN 317
YÊU THƯƠNG và sự kính trọng gần như là cùng một tình cảm,
và bắt nguồn từ những nguyên nhân tương tự. Những phẩm tính tạo nên cả hai đều
mang lại vui sướng. Nhưng khi vui sướng này mãnh liệt và nghiêm trang; hay khi
đối tượng của nó lớn lao, gây ấn tượng mạnh mẽ, hay khi nó tạo ra bất kỳ mức độ
khiêm nhường và kính sợ nào: Trong tất cả những trường hợp này, niềm tình cảm,
xuất phát từ vui sướng, được gọi chính xác hơn là sự kính trọng hơn là yêu thương. Lòng từ thiện xuất hiện ở cả hai: Nhưng lại gắn
liền với tình yêu ở mức độ nổi bật hơn. Dường như vẫn có sự pha trộn mạnh mẽ
hơn giữa lòng kiêu hãnh và sự khinh miệt hơn là sự khiêm nhường trong sự kính
trọng; và lý do sẽ không khó hiểu với một người đã
nghiên cứu kỹ lưỡng những tình cảm này. Tất cả những hỗn hợp, thành phần và biểu
hiện khác nhau của tình cảm này tạo nên một đề tài nghiên cứu rất thú vị, nhưng lại nằm ngoài mục đích hiện tại của chúng ta. Trong suốt tiến trình tìm hiểu này, chúng
ta luôn xem xét một cách tổng quát những phẩm chất nào là đối tượng của sự khen
ngợi hay chỉ trích, không đi sâu vào tất cả những khác biệt nhỏ nhặt về tình cảm
vốn chúng khơi dậy. Rõ ràng là bất cứ gì bị khinh miệt cũng đều bị ghét bỏ,
cũng giống như những gì bị ghét bỏ;; và ở đây chúng ta cố gắng xem xét những đối
tượng theo những góc nhìn và những vẻ ngoài đơn giản nhất của chúng.. Những
khoa học này vốn đã quá dễ mang vẻ trừu tượng với những người đọc thông thường,
ngay cả khi chúng ta đã cố gắng hết sức để loại bỏ những suy diễn thừa thãi và đem
chúng xuống mức độ phù hợp với mọi khả năng tìm hiểu.
M App4.7n68, SBN
317
68. Nghệ thuật
giữ gìn sức khỏe. Quyển
4.
M App4.9n69,
SBN 318
69. Polybius,
lib. iii. cap. 2.
M App4.10n70,
SBN 318
70. Lib. ix. epist. 10.
M App4.11n71, SBN 318
71. Lib. i.
cap. 6.
M App4.11n72
72. Xem GHI
CHÚ [UU].
M App4.11n72.
1, SBN 319
Đoạn văn
sau đây của Cicero đáng được trích dẫn, vì là đoạn văn rõ ràng và súc tích nhất
theo mục đích của chúng ta, rằng bất kỳ điều gì cũng có thể có thể hình dung được; và và trong một tranh luận, chủ yếu là
bằng lời nói thì đoạn này, nhờ
uy tín của tác giả, tất yếu mang một quyền uy mà không ai có thể bác bỏ hay kêu
nài/thay đổi nào nữa.”
M App4.11n72. 2,
SBN 319
[ Latin: Virtus autem, quæ est per se ipsa
laudabilis, et sine qua nihil laudari potest, tamen habet plures partes, quarum
alia est aliâ ad laudationem aptior. Sunt enim aliæ Virtutes, quæ videntur in
moribus hominum, et quadam comitate ac beneficentia positæ: aliæ quæ in ingenii
aliqua facultate, aut animi magnitudine ac robore. Nam clementia, justitia,
lành tính, fides, fortitudo in periculis communibus, jucunda estaudu in
laudationibus. Omnes enim hæ virtutes non tam ipsis, qui eas in se habent, quam
generic hominum fructuosæ putantur. Sapientia et magnitudo animi, qua omnes res
humanæ, tenues et pro nihilo putantur, et in cogitando vis quædam ingenii, et
ipsa eloquentia khâm phục là habet non-minus, jucunditatis-min. Ipsos enim
magis videtur, quos laudamus, quam illos, apud quos laudamus, ornare ac tueri:
sed tamen in laudenda jungenda sunt etiam hæc genera virtutum. Ferunt enim
aures hominum, cum illa quæ jucunda et grata, tum etiam ilia, quæ mirabilia
sunt in đức hạnh, laudari. De orat. lib. ii. cap. 89. ]
Đức hạnh, vốn tự
thân đã đáng khen ngợi, và không có nó thì không gì có thể được khen ngợi, vẫn
gồm nhiều phần, trong đó có phần này thích hợp hơn phần kia để được ca tụng. Thật
vậy, có những đức hạnh dường như nằm ở phong thái con người, ở sự hòa nhã và
lòng nhân ái nào đó; còn có những đức hạnh khác nằm ở một năng lực nào đó của
trí tuệ, hoặc ở sự cao thượng và sức mạnh của tâm hồn. Vì clementia (lòng khoan
dung), justitia (công lý), benignitas (lòng nhân hậu), fides (lòng trung tín),
fortitudo (dũng cảm) trong những hiểm nguy chung – tất cả những đức hạnh này đều
dễ nghe, dễ chịu khi được ca tụng. Bởi người ta cho rằng chúng mang lại lợi ích
không hẳn chỉ cho chính người sở hữu, mà cho toàn thể loài người. Còn sapientia
(sự khôn ngoan) và magnitudo animi (sự cao thượng của tâm hồn) – nhờ đó mọi sự
việc nhân sinh đều bị coi là nhỏ bé, không đáng kể – cùng với sức mạnh nào đó của
trí tuệ trong suy tư, và chính tài hùng biện, thì gây được sự ngưỡng mộ không
kém, dù mang lại khoái cảm ít hơn. Vì chúng dường như trang điểm và bảo vệ
chính người được ca tụng hơn là những người nghe lời ca tụng ấy. Tuy nhiên, khi
ca tụng, vẫn cần kết hợp cả những loại đức hạnh này nữa. Bởi tai người ta thích
nghe ca ngợi cả những gì dễ chịu và đáng quý, lẫn những gì kỳ diệu trong đức hạnh.
M App4.11n72. 3,
SBN 319
Tôi cho rằng, nếu
Cicero còn sống đến ngày nay, sẽ rất khó để trói buộc tình cảm đạo đức của ông vào
trong những hệ thống hạn hẹp; hoặc thuyết phục ông rằng không một phẩm chất nào
được phép coi là đức hạnh, hay được công nhận là một phần của giá trị cá
nhân, ngoại trừ những điều được khuyến nghị trong cuốn ‘Bổn phận trọn vẹn của
con người’ (The Whole Duty of Man).
M App4.15n73, SBN 320
73. Psalm 49th.
M App4.15n74, SBN 320
74. Μισω σοφις ην οσις ουκ αυτω σοφος. Euripides.
M App4.17n75, SBN
320
75. Lib. xxi.
cap. 4.
M App4.18n76,
SBN 321
76. Lib. i.
M App4.19n77,
SBN 321
77. Lib. xii.
M App4.20n78,
SBN 321
78. Vid.
Plato in Menone, Seneca de otio sap. cap. 31. So also Horace, Virtutem doctrina
paret, naturane donet. Epist. lib. i. ep. 18. Æschines Socraticus. Dial. I.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ
nhất
(May/2025)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] lập luận rằng nếu định nghĩa “đức hạnh”
(virtues) chỉ bao gồm những phẩm chất tự nguyện (voluntary, tức do ta chủ động
chọn lựa), thì định nghĩa đó sẽ gặp vấn đề. Vì những phẩm chất như dũng cảm
(courage), bình tĩnh (equanimity), nhẫn nại (patience), tự chủ (self-command)
thường được hầu hết những ngôn ngữ gọi là “đức hạnh”, nhưng chúng không hoàn
toàn nằm trong sự kiểm soát ý chí của con người – chúng phần lớn là bẩm sinh,
hoặc phụ thuộc vào tính khí tự nhiên, chứ không phải lúc nào cũng do ta “chọn”
mà có.
[2] “Đức hạnh” không phải là một khối đồng nhất. Ngay cả trong những thứ ta gọi
là đức hạnh, có những thứ thiên về cảm xúc (khiến ta được yêu), có những thứ
thiên về năng lực (khiến ta được nể). Vì vậy, không có lý do gì để tách rời “tài
năng trí tuệ” ra khỏi danh sách những đức hạnh chỉ vì chúng khơi dậy những cảm
giác hơi khác nhau.
[3] Hume dẫn lời vua Israel, David (Thánh vịnh
49:18) để chỉ ra rằng xã hội luôn ca ngợi những người biết tự làm giàu và lo liệu
tốt cho cuộc đời mình, đồng thời mượn lời nhà thơ Greece Euripides để khẳng định
rằng trí khôn sẽ trở nên vô nghĩa nếu không mang lại lợi ích thiết thực cho
chính người sở hữu. những người “khôn nhà dại chợ” hoặc những triết gia chỉ biết
lý thuyết suông mà để cuộc đời mình khốn khó. Qua đó, Hume nhấn mạnh rằng theo
đuổi lợi ích cá nhân một cách thông minh là một giá trị được cả tôn giáo lẫn
triết học thời cổ công nhận.
[4] Guicciardini miêu tả cua chiên Alexander
VI (Rodrigo Borgia) là người có tài năng phi thường: năng lực và phán đoán xuất
chúng, thận trọng đáng ngưỡng mộ, tài thuyết phục kỳ diệu, cùng sự cần mẫn và
khéo léo khó tin trong những sự nghiệp lớn.Tuy nhiên, những đức hạnh này bị những
thói hư lấn át hoàn toàn: không lòng tin, không tôn giáo (tức thiếu đức tin
chân thành, dùng Hội nhà thờ làm công cụ cá nhân), tham lam vô độ, tham vọng
quá đáng, và tàn ác còn hơn cả man rợ. Hume dùng ví dụ này để chứng minh rằng
ngay cả những nhà sử học hiện đại, khi nói tự nhiên, vẫn giữ cùng cách nhìn với
cổ nhân: không phân biệt nghiêm ngặt giữa tài năng trí tuệ và đức hạnh đạo đức,
mà đánh giá tổng thể nhân cách bằng việc cân bằng giữa phẩm chất đáng khen và
thói xấu.
[5] Polybius chỉ trích Timaeus vì quá thiên vị,
chỉ nhấn mạnh sự tàn ác của Agathocles – bạo chúa độc ác nhất Sicily.
Nhưng Polybius nhấn
mạnh: từ xuất thân thấp hèn (làm gốm), Agathocles nhanh chóng chinh phục
Sicily, suýt diệt Carthage và chết với quyền lực tối cao → chứng tỏ tài năng
phi thường. Do đó, sử gia phải công bằng: kể cả điều đáng trách lẫn điều đáng
khen ngợi. Hume dùng ví dụ này để minh họa: cổ nhân không phân biệt nghiêm ngặt
tài năng (talents) và đức hạnh (virtues), mà đánh giá nhân cách tổng thể qua sự
cân bằng phẩm chất và khuyết điểm.
[6] heathens
[7] Hume đề nghị xóa bỏ rào cản từ vựng để tập
trung vào bản chất sự vật thay vì những tên gọi như “tì vết” hay “tội lỗi”, vì
thực chất chúng đều bắt nguồn từ cùng một loại cảm xúc chê trách của con người.
Ông bác bỏ những sự phân biệt phức tạp của thần học để khẳng định tính thống nhất
của đạo đức: dù là bổn phận với bản thân (sự khôn ngoan, điềm tĩnh) hay bổn phận
với xã hội (lòng nhân từ, công bằng), chúng ta đều khen ngợi chúng dựa trên
cùng một nguyên tắc là tính hữu ích hoặc sự dễ chịu mà chúng mang lại.
