Friday, January 2, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Nguyên Lý của Đạo Đức (16)

Một Điều Tra Về Những Nguyên Lý của Đạo Đức

(An Enquiry Concerning the Principles of Morals)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 

 


MỘT ĐỐI THOẠI.

 

M D.1, SBN 324

Người bạn của tôi, Palamedes, một người vốn ham thích xê dịch trong tư tưởng cũng giống như trong đời thực, người đã đi khắp mọi nơi trên thế giới trí tuệ và vật chất bằng cả học tập và du lịch, gần đây đã khiến tôi ngạc nhiên khi kể về một quốc gia vốn anh nói với tôi rằng anh đã dành phần lớn cuộc đời mình ở đó và thấy rằng nhìn chung, đó là một dân tộc vô cùng văn minh và thông minh.

 

M D.2, SBN 324-5

Anh nói, có một đất nước trên thế giới, tên là Fourli, bất kể kinh độ hay vĩ độ của nó ở đâu, người dân ở đó có cách suy nghĩ, trong nhiều vấn đề, đặc biệt là về đạo đức, hoàn toàn trái ngược với chúng ta. Khi tôi đến sống giữa họ, tôi thấy mình phải chịu công sức gấp đôi: trước tiên là để học ý nghĩa những thuật ngữ trong ngôn ngữ của họ, và sau đó là để hiểu được hàm ý của những thuật ngữ đó, cùng với sự khen ngợi hay chê trách đi kèm với chúng. Sau khi một từ được giải thích cho tôi, và tính cách mà nó biểu đạt được mô tả xong, tôi đã kết luận rằng một tên gọi như vậy hẳn phải là sự sỉ nhục lớn nhất trên đời; thế nhưng tôi đã cực kỳ ngạc nhiên khi thấy trong một buổi tụ họp công cộng, người ta lại dùng chính từ đó để gọi một người mà họ đang có quan hệ thân thiết và tình bạn bền chặt nhất.Một ngày nọ, tôi nói với một người quen rằng - bạn tưởng Changius là kẻ thù không đội trời chung của bạn: Tôi thích dập tắt những cãi vã; và vì thế ttôi phải nói với bạn rằng tôi đã nghe người này nói về bạn một cách cực kỳ lịch sự và thiện chí. Nhưng điều khiến tôi vô cùng ngạc nhiên là khi tôi nhắc lại lời của Changuis, mặc dù tôi đã nhớ và hiểu rõ chúng, tôi thấy rằng chúng bị coi là sự xúc phạm nghiêm trọng nhất, và rằng tôi đã vô tình khiến cho mối bất hòa giữa những người này trở nên không thể hàn gắn được.

 

M D.3, SBN 325

Vì tôi có may mắn đến với dân tộc này dưới một vị thế rất thuận lợi, tôi ngay lập tức được giới thiệu vào những tầng lớp xã hội thượng lưu nhất; và khi được Alcheic ngỏ ý mời đến sống cùng, tôi đã sẵn lòng chấp nhận lời mời đó; bởi tôi thấy anh được mọi người kính trọng khắp nơi vì giá trị cá nhân, và thực sự được mọi người ở Fourli coi là một nhân cách hoàn hảo.

 

M D.4, SBN 325

Một buổi tối nọ, Alcheic mời tôi đi cùng cho vui trong một buổi hát serenade (hát tình ca dưới cửa sổ) mà anh định dành tặng cho Gulki, người mà anh thú nhận là mình đang yêu say đắm; và tôi sớm nhận ra rằng sở thích của anh không phải là hiếm; vì chúng tôi gặp rất nhiều đối thủ của anh, cũng đến với cùng mục đích ấy. Tôi đương nhiên kết luận rằng người tình của bạn tôi chắc hẳn là một trong những mỹ nhân đẹp nhất thành phố; và tôi đã cảm thấy một sự thôi thúc thầm lặng muốn được nhìn thấy nàng và làm quen với nàng. Nhưng khi trăng bắt đầu lên, tôi vô cùng kinh ngạc khi nhận ra chúng tôi đang đứng giữa khuôn viên đại học – nơi chỉ có nam sinh viên theo học – nơi Gulki đang theo học: Và tôi cảm thấy có chút hổ thẹn vì đã đi cùng bạn mình trong một chuyến đi như vậy.

 

M D.5, SBN 325

Sau này tôi được biết, việc Alcheic chọn Gulki được tất cả những người tốt trong thành phố hết sức tán thành; và rằng, trong khi thỏa mãn đam mê của mình, người ta mong đợi anh sẽ làm cho chàng trai trẻ ấy một việc tốt tương tự như anh đã làm cho Elcouf. Dường như Alcheic rất đẹp trai hồi trẻ và được nhiều người theo đuổi; nhưng anh đã dành tình cảm chủ yếu cho nhà hiền triết Elcouf. Chính nhờ vị ấy mà Alcheic được cho là đã đạt được những tiến bộ phi thường trong triết học và đức hạnh. [1]

 

M D.6, SBN 325

Tôi đã khá ngạc nhiên khi thấy vợ của Alcheic (người mà nhân tiện tôi cũng nên nói thêm, chính là em gái của anh) chẳng hề cảm thấy bị xúc phạm hay nhục mạ trước kiểu không chung thủy này. [2]

 

M D.7, SBN 325-6

Cũng gần như cùng khỏng thời gian đó, tôi tìm ra (vì chuyện này chẳng hề được giấu giếm với tôi hay bất kỳ ai) rằng Alcheic là một kẻ giết người và giết cha, đã giết chết một người vô tội, người có quan hệ gần gũi nhất với hắn, người vốn anh có nghĩa vụ phải bảo vệ và che chở bằng tất cả những liên hệ của tự nhiên và loài người. Khi tôi hỏi, với tất cả sự thận trọng và tôn trọng có thể tưởng tượng được, động cơ nào khiến anh ta hành động như vậy; anh bình thản trả lời rằng lúc đó anh chưa dư dả như bây giờ, và anh đã làm theo lời khuyên của tất cả bạn bè mình. [3]

 

M D.8, SBN 326

Nghe thấy đức hạnh của Alcheic được ca ngợi hết lời, tôi giả vờ hòa vào tiếng hoan hô chung, và chỉ tò mò hỏi, như một người lạ, rằng trong tất cả những hành động cao quý của ông, hành động nào được hoan nghênh nhất; và tôi sớm nhận ra rằng tất cả tình cảm xúc đều thống nhất trong việc Alcheic ám sát Usbek là cao nhất. Usbek này cho đến phút cuối vẫn là người bạn thân thiết nhất của Alcheic, từng ban cho ông nhiều ân huệ lớn lao, thậm chí đã cứu mạng ông một lần, và sau khi bị giết, di chúc tìm thấy còn để lại cho Alcheic một phần gia tài đáng kể. Thế nhưng Alcheic vẫn cùng khoảng hai ba mươi người khác – hầu hết cũng là bạn bè của Usbek – lập mưu, bất ngờ xông vào đâm nạn nhân hàng trăm nhát, xé xác ông ta thảm khốc để đáp trả mọi ơn nghĩa trước đây. Tiếng nói chung của dân chúng cho rằng Usbek sở hữu nhiều phẩm chất vĩ đại và cao đẹp; ngay cả những thói hư tật xấu của ông cũng hào phóng, lộng lẫy và đáng kính. Nhưng hành động của Alcheic đã đặt anh ta cao vượt xa Usbek trong mắt mọi người đánh giá công trạng; và đó có lẽ là một trong những gì cao thượng nhất vốn mặt trời từng chiếu rọi.[4]

 

M D.9, SBN 326-7

Một phương diện khác trong hành vi của Alcheic, vốn tôi cũng thấy rất đáng khen ngợi, là cách cư xử của ông với Calish, người vốn ông cùng hợp tác trong một dự án hay một công trình quan trọng. Calish vốn tính tình nóng nảy, một hôm đã thẳng tay đánh Alcheic một trận đòn nhừ tử. Alcheic nhẫn nhục chịu đựng, kiên nhẫn chờ Calish nguôi giận, vẫn giữ quan hệ hòa nhã với hắn; nhờ vậy mà đưa dự án chung của hai người đến kết quả tốt đẹp, và giành được vinh dự bất hủ nhờ tính khí ôn hòa cùng sự tiết chế đáng kinh ngạc của của ông.

 

M D.10, SBN 327

Gần đây tôi nhận được một lá thư từ một người bạn ở Fourli, qua đó tôi được biết rằng, sau khi tôi rời đi, Alcheic, vì sức khỏe sa sút, đã treo cổ tự tử; và ông qua đời trong sự tiếc thương và tán dương của cả đất nước. Mỗi người Fourli đều nói rằng một cuộc đời đức hạnh và cao quý như vậy không thể nào được tôn vinh hơn bằng một kết cục cao quý như vậy; và Alcheic đã chứng minh bằng điều này, cũng như bằng tất cả những hành động khác của ông, nguyên lý bất biến của ông trong suốt cuộc đời, và điều đáng tự hào gần những giây phút cuối đời, một người khôn ngoan hầu như không hề thua kém vị thần vĩ đại Vitzli.

Vitzli chính là tên của vị thần tối cao trong tín ngưỡng của người Fourli.

 

M D.11, SBN 327

Palamedes nói tiếp, rằng những khái niệm của dân tộc này cũng phi thường về mặt phép lịch sự và tính hòa đồng, cũng như về mặt đạo đức. Bạn tôi, Alcheic, đã từng lập một nhóm để chiêu đãi tôi, gồm tất cả những người thông minh và triết gia hàng đầu của Fourli; và mỗi người chúng tôi đều mang theo bữa ăn của mình đến nơi chúng tôi tụ tập. Tôi thấy một người trong số họ có bữa ăn kém hơn những người còn lại, và đã mời người này một phần bữa ăn của tôi, tình cờ là một con gà mái quay: Và tôi không thể không nhận xét rằng, người này và tất cả những người còn lại trong nhóm đều mỉm cười trước sự ngây thơ của tôi. Tôi được biết, Alcheic đã từng rất quan tâm đến câu lạc bộ của ông đến mức thuyết phục mọi người ăn chung, và rằng Alcheic đã dùng mẹo nhỏ để đạt được điều đó: anh khéo léo khiến những người mang phần ăn kém nhất tự nguyện dâng lên cả nhóm;; sau đó, những người mang món ngon hơn xấu hổ không dám giữ riêng, đành làm theo. Đây được coi là một sự kiện phi thường đến nỗi, theo như tôi được biết, sự kiện này đã được ghi lại trong tiểu sử cuộc đời Alcheic do một trong những thiên tài lớn nhất Fourli biên soạn. [5]

 

M D.12, SBN 327-8

Tôi nói: ‘Này Palamedes, tôi hỏi thật, phải chăng hồi ở Fourli anh cũng học luôn cái thói đem bạn bè ra làm trò hề bằng cách kể những câu chuyện quái đản như vậy, rồi đứng cười nhạo nếu họ lỡ tin anh? Tôi đoan chắc với anh,’ anh ta đáp, ‘rằng nếu tôi có ý định học một bài học [về thói mỉa mai] như thế, thì chẳng có nơi nào trên thế giới này phù hợp hơn nơi đó. Người bạn mà tôi nhắc tới bấy lâu nay chẳng làm gì suốt từ sáng đến tối ngoài việc châm chọc, bông lơn và giễu cợt; bạn hầu như chẳng bao giờ có thể phân biệt được lúc nào ông ta đang nói đùa, lúc nào đang nói thật.

Nhưng có vẻ anh đang nghĩ câu chuyện của tôi là phi lý, và rằng tôi đã lạm dụng cái đặc quyền “thêu dệt” của một kẻ viễn du.’ - ‘Chắc chắn rồi,’ tôi nói, ‘anh chỉ đang đùa thôi. Những cách cư xử man rợ và tàn bạo như vậy không chỉ không phù hợp với một dân tộc văn minh và trí tuệ như anh mô tả; nhưng còn hầu như không phù hợp với bản chất con người. Chúng vượt xa tất cả những gì chúng ta từng đọc về người Mingrelian và người Topinamboues.

 

M D.13, SBN 328

Coi chừng đấy! – anh ta thốt lên – Coi chừng! Anh không nhận ra rằng anh đang nói những lời báng bổ, và đang sỉ nhục chính những thần tượng của anh: người Greece, đặc biệt là người Athenss, những người bấy lâu nay tôi vẫn ẩn giấu dưới những cái tên kỳ quái kia.

Nếu anh suy xét cho kỹ, thì không có một chi tiết nào trong tính cách [của nhân vật Alcheic] kể trên mà không thể tìm thấy ở một người có phẩm hạnh cao quý nhất tại Athens, mà không hề làm giảm đi dù chỉ một chút vẻ rực rỡ trong nhân cách của người đó. Những cuộc tình của người Greece, những cuộc hôn nhân của họ [79], và cả việc vứt bỏ trẻ sơ sinh chắc chắn sẽ đập ngay vào mắt anh. Còn cái chết của Usbek chính là bản sao chính xác của vụ ám sát Caesar.

 

M D.14, SBN 328

Gần như hoàn toàn đúng, chỉ thiếu một chi tiết nhỏ, tôi ngắt lời người này: Anh không hề nhắc đến việc Usbek là kẻ cướp ngôi.

 

M D.15, SBN 328-9

“Đúng thế,” Palamedes đáp, “tôi cố tình không nhắc để anh khỏi nhận ra ngay sự song song mà tôi nhắm tới. Nhưng ngay cả khi thêm chi tiết này, theo quan niệm và đạo đức của chúng ta, chúng ta vẫn không ngần ngại gọi Brutus và Cassius là những kẻ phản bội vong ân, những tên sát nhân. Mặc dù anh biết rằng, có lẽ, họ là những nhân vật cao quý nhất của mọi thời đại thời cổ; và người Athenss đã dựng tượng cho họ; họ đặt những bức tượng gần tượng của Harmodius và Aristogiton, những người giải phóng chính polis của họ.Và nếu anh cho rằng chi tiết Usbek là kẻ cướp ngôi ấy có sức nặng đến mức biện minh cho những người yêu nước này, thì tôi sẽ bù lại bằng một chi tiết khác mà tôi chưa kể – chi tiết càng làm tội ác của họ thêm nặng nề: chỉ vài ngày trước khi thực hiện ý định chết chóc, tất cả bọn họ đã thề trung thành với Caesar; họ long trọng tuyên bố sẽ mãi mãi tôn kính thân thể ông, và đã chạm tay vào bàn thờ bằng chính những bàn tay vốn họ đã chuẩn bị để tiêu diệt ông [80].

 

M D.16, SBN 329

Tôi không cần nhắc lại cho bạn nhớ câu chuyện nổi tiếng và từng được ca tụng về Themistocles và về sự nhẫn nhục của ông với Eurybiades – vị chỉ huy Sparta của ông. Trong một cuộc họp quân sự, khi cuộc tranh luận trở nên gay gắt, Eurybiades giơ gậy lên định đánh ông (tương đương với việc đã đánh ông thật sự). Themistocles, người Athens, liền thốt lên: “Đánh đi! Đánh đi! Nhưng hãy nghe tôi đã!” [6]

 

M D.17, SBN 329-30

Bạn là một học giả quá uyên thâm, nên chắc chắn không thể không nhận ra Socrates đầy mỉa mai cùng nhóm thân hữu Athens của ông trong câu chuyện cuối cùng của tôi; và bạn hẳn cũng thấy rằng nó được sao chép gần như nguyên văn từ Xenophon, chỉ thay đổi tên nhân vật mà thôi[81]. Tôi nghĩ tôi đã chứng minh một cách công bằng rằng một con người Athens có phẩm giá cao nhất (thời ấy) có thể, theo mắt nhìn của chúng ta ngày nay, chính là kẻ loạn luân, kẻ giết cha, kẻ sát nhân, kẻ phản bội vong ân và bội thề, cùng một thứ gì đó ghê tởm đến mức không thể gọi tên; chưa kể đến sự thô kệch và cách cư xử kém cỏi của người này. [7] Và sau khi sống một cuộc đời như thế, cái chết của người này cũng có thể hoàn toàn tương xứng: người này kết thúc vở kịch bằng một hành động tự sát tuyệt vọng, và ra đi với những lời báng bổ ngu xuẩn nhất trên môi.[8] Vậy mà bất chấp tất cả những điều này, người này vẫn sẽ được dựng tượng, nếu không muốn nói là lập bàn thờ để ca tụng; những môn phái lớn sẽ tự hào mang tên người này; và hậu thế xa xôi nhất sẽ tiếp tục nhắm mắt ngưỡng mộ người này: Dù rằng nếu một người như vậy xuất hiện giữa chúng ta ngày nay, người ta sẽ coi là một mục tiêu của sự kinh hãi và nguyền rủa một cách đích đáng.

 

M D.18, SBN 330

Tôi có thể đã nhận ra được sự giả tạo của bạn, tôi đáp. Bạn có vẻ thích thú với đề tài này: và thực sự là người duy nhất tôi từng biết, người rất am hiểu về những người xưa, nhưng lại không quá ngưỡng mộ họ. Nhưng thay vì công kích triết học, hùng biện hay thơ ca của họ, những đề tài thường gây tranh luận giữa chúng ta, giờ đây bạn lại có vẻ như chỉ trích đạo đức của họ và buộc tội họ là thiếu hiểu biết về một ngành khoa học, vốn theo tôi, là ngành duy nhất vốn người thời nay không vượt qua được. Hình học, vật lý, thiên văn học, giải phẫu học, thực vật học, địa lý, hàng hải; về những lĩnh vực này, chúng ta hoàn toàn có lý khi cho rằng mình vượt trội: Nhưng chúng ta có gì để đối chọi với những nhà đạo đức học của họ? Cách bạn diễn đạt những sự việc là ngụy biện. Bạn không hề khoan nhượng với phong tục và tập quán của những thời đại khác nhau. Bạn muốn dùng “thông luật” [9]của Anh để xét xử một người Greece hay Rôma sao? Hãy nghe người này tự biện hộ bằng chính những nguyên lý đạo đức, hay những châm ngôn sống của người này ; rồi hãy tuyên bố.

 

M D.19, SBN 330-1

Chẳng có phong tục nào dù ngây thơ hay hợp lý đến mấy mà không bị biến thành đáng ghét hay nực cười, nếu ta đem đo lường chúng bằng một tiêu chuẩn hoàn toàn xa lạ với những người trong cuộc; nhất là khi bạn lại sử dụng một chút xảo thuật hay tài hùng biện để thổi phồng vài chi tiết này và giảm nhẹ những chi tiết kia sao cho phù hợp nhất với mục đích phát biểu của bạn.Tất cả những chiêu trò đó đều có thể dễ dàng bị bật ngược lại nhắm vào chính bạn . Chẳng hạn, nếu tôi kể với người dân Athens rằng: có một quốc gia mà ở đó ngoại tình – dù là chủ động hay bị động – lại cực kỳ thịnh hành và được trọng vọng; nơi mà mọi người đàn ông có học thức đều chọn một phụ nữ đã có gia đình (thậm chí là vợ của bạn thân hay đồng hành của mình) để làm nhân tình, rồi tự đắc về những ‘chiến tích’ nhơ nhuốc đó chẳng kém gì những nhà vô địch quyền anh hay đấu vật tại Thế vận hội Olympic. Cũng tại quốc gia đó, người đàn ông lại lấy làm tự hào về sự nhu nhược và dễ dãi đối với vợ mình, sẵn lòng kết giao bạn bè hay trục lợi bằng cách để vợ mình ‘bán rẻ’ sự quyến rũ; thậm chí chẳng vì động cơ nào cả, họ vẫn cho vợ mình toàn quyền tự do và nuông chiều thái quá. Tôi hỏi anh, người dân Athens sẽ có cảm xúc gì về một dân tộc như thế – họ, những người chưa bao giờ nhắc đến tội ngoại tình nhưng chỉ nhắc đến cướp bóc và đầu độc? Họ sẽ kinh tởm điều gì hơn: sự đê tiện hay tính hèn hạ của lối hành xử đó? [10] Ở đó mọi con người cũng tự hào về sự ngoan ngoãn và dễ dàng của mình với vợ mình, và vui mừng kết bạn hay thu hút sự chú ý bằng cách cho phép cô ấy bán rẻ sự quyến rũ của mình; và ngay cả, không hề có động cơ nào như vậy, đã cho bà toàn quyền tự do và khoan dung: Tôi tự hỏi, người Athenss sẽ có cảm tình gì với một dân tộc như vậy; những người chưa bao giờ nhắc đến tội ngoại tình mà không gắn liền nó với tội cướp bóc và đánh bùa thuốc độc? Họ sẽ ngưỡng mộ điều gì hơn, sự đồi bại hay sự đê tiện của hành vi đó?

 

M D.20, SBN 331

Tôi có nên nói thêm rằng, cùng dân tộc ấy lại tự hào về sự nô lệ và lệ thuộc của mình chẳng kém gì người Athens tự hào về quyền tự do; và dù một người trong số họ có bị bạo chúa áp bức, sỉ nhục, bần cùng hóa, lăng mạ hay tống giam, người này vẫn coi việc yêu thương, phụng sự và phục tùng kẻ bạo chúa đó là đức hạnh cao quý nhất; thậm chí sẵn lòng chết vì một vinh quang hay sự hài lòng nhỏ mọn nhất của bạo chúa Những người Greece cao quý này có thể sẽ hỏi tôi, liệu tôi có đang nói về một xã hội loài người, hay một loài thấp kém, nô lệ nào đó hay không.

 

M D.21, SBN 331

Đến lúc đó, tôi mới có thể thông báo với khán giả Athenss của tôi rằng, tuy nhiên, những người này không hề thiếu tinh thần và lòng can đảm. Nếu một người, tôi nói, dù là bạn thân của họ, lại buông lời chế giễu họ trong một nhóm riêng tư, gần giống với bất kỳ lời chế giễu nào vốn những tướng lĩnh và những người mị dân của những vị vẫn thường dùng để chế giễu nhau hàng ngày, trước mặt toàn thể thành phố, họ sẽ không bao giờ tha thứ cho người đó; nhưng để trả thù, họ buộc người đó phải đâm họ ngay lập tức, hay chính họ sẽ bị giết. Và nếu một người hoàn toàn xa lạ với họ, muốn họ, dù có nguy hiểm đến tính mạng, cắt cổ người bạn đồng hành thân thiết của họ, họ sẽ ngay lập tức tuân theo và nghĩ rằng mình vô cùng biết ơn và vinh dự khi được giao nhiệm vụ này. Đây là châm ngôn danh dự của họ: Đây là luân lý ưa thích của họ.

 

M D.22, SBN 331-2

Nhưng dù sẵn sàng rút kiếm chống lại bạn bè và đồng bào của họ [người hiện đại]; không một sự ô nhục, không một nỗi nhục, không một đau đớn, không một sự nghèo đói nào có thể khiến những người này dám quay mũi kiếm vào chính lồng ngực mình. Một người có địa vị sẵn lòng đi chèo thuyền nô lệ, sẵn lòng đi ăn xin, sẵn lòng mòn mỏi trong tù ngục hay chịu đựng bất kỳ sự tra tấn nào, chỉ để bảo toàn cái mạng sống khốn khổ của mình. Thay vì thoát khỏi kẻ thù bằng một sự coi khinh cái chết đầy hào hiệp, anh ta lại chấp nhận cái chết nhục nhã từ tay kẻ thù, một cái chết càng thêm đớn đau bởi sự sỉ nhục chiến thắng và những khổ hình tàn khốc nhất của chúng.

 

M D.23, SBN 332

Tôi tiếp tục: ‘Ở dân tộc này, người ta cũng thường xuyên xây dựng nên những nhà tù, nơi mà mọi ngón đòn gây khốn khổ và hành hạ những tù nhân bất hạnh đều được nghiên cứu và thực hành một cách kỹ lưỡng. Trong những nhà tù ấy, việc một người cha tự nguyện nhốt vài đứa con của mình vào là chuyện thường tình; mục đích là để một đứa con khác – đứa mà chính ông ta cũng thừa nhận là chẳng có tài đức gì hơn, thậm chí là kém cạnh hơn những đứa còn lại – có thể hưởng trọn vẹn gia tài, và đắm mình trong mọi thứ lạc thú xa hoa. Trong mắt họ, chẳng có gì đức hạnh bằng sự thiên vị man rợ này.[11]

 

M D.24, SBN 332

Tôi nói với người dân Athens rằng: ‘Nhưng điều kỳ quặc hơn cả ở cái dân tộc quái đản này là một trò đùa của các bạn trong lễ Saturnalia – khi nô lệ được chính chủ nhân phục vụ – lại được họ thực hiện một cách nghiêm cẩn suốt cả năm, và trong suốt cả cuộc đời họ; lại còn đi kèm với một vài tình tiết càng làm tăng thêm sự phi lý và nực cười. Trò vui của các bạn chỉ nâng vị thế của những kẻ bị số phận quật ngã trong vài ngày, những kẻ mà biết đâu số phận cũng có thể thật sự nâng họ lên trên các bạn mãi mãi. Thế nhưng, dân tộc này lại trịnh trọng tôn vinh những kẻ mà tự nhiên đã bắt phải phục tùng họ, và những kẻ mà sự thấp kém cùng yếu đuối là hoàn toàn không thể cứu vãn được. Phụ nữ, dù chẳng có đức hạnh, vẫn là chủ nhân và nữ hoàng của họ: Những người phụ nữ này được họ tôn kính, ca tụng và tán dương; được họ dành cho sự cung kính và tôn trọng cao nhất. Ở mọi nơi và mọi lúc, sự ưu việt của phái nữ luôn được thừa nhận và phục tùng bởi bất kỳ ai có chút học thức hay lịch thiệp. Hiếm có tội lỗi nào bị căm ghét phổ biến bằng việc vi phạm quy luật này. [12]

 

M D.25, SBN 332-3

Palamedes đáp: Bạn không cần phải nói thêm nữa. Tôi có thể dễ dàng đoán ra dân tộc mà bạn đang nhắm tới. Những nét vẽ mà bạn dùng để khắc họa họ khá chuẩn xác; thế nhưng bạn phải thừa nhận rằng, hiếm có dân tộc nào, dù thời cổ hay thời nay, mà tính cách quốc gia lại ít bị chê trách hơn họ. Nhưng tôi phải cảm ơn bạn đã giúp tôi hoàn tất lập luận của mình.Tôi không hề có ý định đề cao người thời nay bằng cách hạ thấp người xưa. Tôi chỉ muốn chỉ ra sự bấp bênh của mọi phán xét về nhân cách, và thuyết phục bạn rằng: thời thượng, xu hướng, phong tục và luật pháp chính là là nền tảng chính của mọi chuẩn mực đạo đức. Người Athens chắc chắn là một dân tộc văn minh và thông tuệ bậc nhất; vậy mà mẫu mực đạo đức của họ lại có thể bị coi là nỗi kinh hoàng và ghê tởm ở thời đại này. Người Pháp cũng nghi ngờ gì nữa, là một dân tộc rất văn minh và thông tuệ; thế nhưng mẫu mực đạo đức của họ, đối với người Athens, có thể lại là đối tượng của sự khinh bỉ, nực cười và thậm chí là thù ghét. Và điều làm cho vấn đề này trở nên kỳ lạ hơn nữa là: hai dân tộc này được cho là có tính cách quốc gia tương đồng nhất trong số các dân tộc cổ đại và hiện đại; trong khi người Anh tự huyễn hoặc rằng mình giống người La Mã, thì những người láng giềng của họ ở lục địa [người Pháp] lại tìm thấy sự tương đồng giữa chính họ và những người Greece lịch lãm kia. Vậy thì, sự khác biệt về quan niệm đạo đức giữa các dân tộc văn minh và những kẻ dã man, hoặc giữa các dân tộc vốn chẳng có điểm gì chung, sẽ còn sâu sắc đến nhường nào? Làm sao chúng ta có thể dám đặt ra một tiêu chuẩn chung cho những phán xét loại này?

 

M D.26, SBN 333

Bằng cách lần theo sự việc, tôi đáp, cao hơn một chút, và xem xét những nguyên lý đầu tiên vốn mỗi quốc gia đặt ra để đổ lỗi hay chỉ trích. Sông Rhine chảy về hướng bắc, sông Rhone chảy về hướng nam; thế nhưng cả hai đều bắt nguồn từ cùng một dãy núi, và cũng đều chi phối bởi cùng một nguyên lý trọng lực trong những hướng ngược nhau. Sự khác biệt về độ nghiêng của địa hình mà chúng chảy qua chính là nguyên nhân duy nhất tạo nên sự khác biệt trong dòng chảy của chúng.

 

M D.27, SBN 333-4

Trong bao nhiêu phương diện vốn một người dân Athens và một người Pháp có phẩm giá lại giống nhau? Sự khôn ngoan, kiến thức, hóm hỉnh, tài hùng biện, lòng nhân ái, trung tín, chân thật, công bằng, dũng cảm, tiết độ, kiên định, phẩm cách tinh thần cao thượng: tất cả những phẩm chất ấy bạn đều bỏ qua; chỉ để nhấn mạnh những điểm mà họ có thể, do ngẫu nhiên, khác biệt nhau. Rất tốt: tôi sẵn lòng theo bạn ; và sẽ cố gắng giải thích những khác biệt này dựa trên những nguyên lý đạo đức phổ quát và được thừa nhận rộng rãi nhất.

 

M D.28, SBN 334

Tôi không cần xem xét kỹ hơn về tình yêu của người Greece. Tôi chỉ nhận xét rằng, dù có đáng trách đến đâu, chúng cũng phát sinh từ một nguyên nhân rất vô hại: sự thường xuyên thực hành các môn thể dục khỏa thân của dân tộc ấy; và chúng được khuyến khích, mặc dù vô lý, như là nguồn gốc của tình thân hữu, sự đồng cảm, sự gắn bó lẫn nhau và lòng chung thủy [83]; những phẩm tính được coi trọng ở mọi quốc gia và mọi thời đại.

 

M D.29, SBN 334

Việc kết hôn giữa anh chị em cùng cha khác mẹ (hoặc cùng mẹ khác cha) dường như không gây khó khăn lớn. Tình yêu giữa những người thân cận hơn nữa thì trái với lý trí và và lợi ích công cộng; nhưng điểm chính xác, nơi chúng ta sẽ dừng lại, khó có thể được xác định bằng lý trí tự nhiên; và do đó, nó là một đề tài rất phù hợp cho luật pháp hay phong tục địa phương . Nếu người Athens đi hơi quá xa về một phía, thì luật giáo hội (canon law) chắc chắn đã đẩy sự việc rất xa về phía cực đoan ngược lại. [84]. [13]

 

M D.30, SBN 334

Nếu bạn hỏi một người làm cha mẹ ở Athenss, tại sao ông ấy lại tước đi mạng sống vốn con mình vừa mới trao cho nó gần đây. Người ấy sẽ trả lời rằng: “Vì tôi yêu nó, và coi nỗi nghèo khó vốn nó phải thừa hưởng từ tôi là một điều bất hạnh lớn hơn cả cái chết, điều vốn nó không thể sợ hãi, cảm nhận hay oán giận”. [85].

 

M D.31, SBN 334-5

Làm sao tự do cho công chúng, phước lành quý giá nhất trong mọi phước lành, có thể được giành lại từ tay một kẻ tiếm quyền hay bạo chúa, nếu quyền lực của hắn che chở hắn khỏi sự nổi loạn của công chúng, và sự nghi ngại của chúng ta khỏi sự báo thù cá nhân? Rằng tội lỗi của bạo chúa là tử hình theo luật, bạn công nhận: Và liệu hình phạt nặng nhất trong tội lỗi của bạo chúa, việc tự đặt mình lên trên luật pháp, lại chính là thứ mang lại cho kẻ này sự an toàn tuyệt đối sao? BẠn không thể trả lời gì cả, ngoại trừ việc cho thấy những bất tiện nghiêm trọng của việc ám sát; mà nếu ai đó có thể chứng minh điều này một cách rõ ràng cho người xưa, thì người đó hẳn đã thay đổi được quan điểm của họ về vấn đề cụ thể này rồi. [14]

 

M D.32, SBN 335

Một lần nữa, hãy nhìn vào bức tranh tôi đã vẽ về phong tục thời nay; tôi phải thừa nhận rằng, việc bào chữa cho thói trăng hoa của người Pháp cũng khó khăn chẳng kém gì việc biện hộ cho tình yêu đồng giới của người Greece; ngoại trừ một điều là thói quen của người Pháp trông tự nhiên và dễ chịu hơn. Có vẻ như những người láng giềng của chúng ta [người Pháp] đã quyết định hy sinh sự bình yên của gia đình để đổi lấy những niềm vui ngoài xã hội; họ thích sự thoải mái, tự do và giao thiệp cởi mở hơn là sự thủy chung và kiên định nghiêm ngặt. Cả hai mục đích này (ổn định gia đình và vui vẻ xã hội) đều tốt đẹp, nhưng lại khó mà vẹn cả đôi đường; vì vậy, chúng ta không nên ngạc nhiên nếu phong tục của mỗi quốc gia đôi khi nghiêng hẳn về bên này, lúc lại lệch hẳn về bên kia.

 

M D.33, SBN 335

Sự gắn bó kiên định nhất với luật pháp của đất nước chúng ta được công nhận ở mọi nơi là một đức hạnh đức hạnh cốt tử; và ở những nơi mà người dân không có được may mắn sở hữu một cơ quan lập pháp nào khác ngoài một cá nhân duy nhất [nhà vua], thì trong trường hợp đó, sự trung thành tuyệt đối chính là lòng yêu nước chân chính nhất.

 

M D.34, SBN 335

Chắc chắn chẳng có gì phi lý và dã man hơn tục đấu kiếm; thế nhưng, những người bào chữa cho nó lại nói rằng phong tục này sinh ra sự lịch thiệp và cung cách hành xử đúng mực. Và bạn có thể quan sát thấy, một kẻ đấu kiếm luôn tự hào về lòng can đảm, ý thức về danh dự, sự thủy chung và tình bằng hữu của mình; đó thực sự là những phẩm chất đang bị đặt sai chỗ một cách kỳ quặc, nhưng chúng lại là những điều vốn được tôn trọng phổ biến kể từ khi thế gian này mới hình thành

 

M D.35, SBN 335

Những thần linh có cấm tự sát không? Một người Athens thừa nhận rằng nên kiêng tránh hành động ấy. Liệu Gót có cho phép nó không? Một người Pháp thừa nhận rằng cái chết đáng chọn hơn là đau đớn và nhục nhã.

 

M D.36, SBN 335-6

Bạn thấy đấy, tôi tiếp tục, rằng những nguyên lý mà con người dùng để suy luận trong đạo đức luôn luôn giống nhau; dù những kết luận mà họ rút ra thường rất khác biệt. Không cần bất kỳ nhà đạo đức học nào phải chứng minh rằng họ suy luận đúng đắn hơn về đề tài này so với bất kỳ đề tài nào khác. Chỉ cần thừa nhận rằng những nguyên lý gốc rễ của chỉ trích hay trách cứ là đồng nhất, và rằng những kết luận sai lầm có thể được sửa chữa bằng lập luận vững chắc hơn cùng kinh nghiệm rộng lớn hơn là đủ. Dù nhiều thế kỷ đã trôi qua kể từ khi Greece và Rôma sụp đổ; dù nhiều biến đổi đã xảy ra trong tôn giáo, ngôn ngữ, luật pháp và phong tục; không một cuộc cách mạng nào trong số ấy từng tạo ra sự đổi mới đáng kể trong những tình cảm đạo đức cơ bản, cũng giống như trong những tình cảm về vẻ đẹp ngoại hình. Có lẽ chỉ có vài khác biệt nhỏ nhoi trong cả hai lĩnh vực. Horace[86] ca ngợi trán thấp, còn Anacreon thích lông mày nối liền[87]: Nhưng thần Apollo và nữ thần Venus của thời cổ đại vẫn là mẫu mực của chúng ta về vẻ đẹp nam và nữ; cũng giống như nhân cách của Scipio vẫn là tiêu chuẩn cho vinh quang của của những anh hùng, và nhân cách của Cornelia cho danh dự của những bậc mẫu nghi.

 

M D.37, SBN 336

Dường như chưa từng có phẩm chất nào được bất kỳ ai khuyến khích như một đức hạnh hay sự xuất sắc đạo đức, mà không phải vì nó hữu ích hoặc dễ chịu đối với chính bản thân người ấy, hoặc với những người khác. Vì còn lý do nào khác có thể đưa ra để giải thích sự khen ngợi hay tán thành? Hoặc việc ca tụng một nhân cách hay hành động tốt đẹp sẽ có ý nghĩa gì, nếu đồng thời lại thừa nhận rằng nó chẳng mang lại lợi ích gì? Do đó, mọi sự khác biệt trong đạo đức học đều có thể quy về một nền tảng chung duy nhất này, và có thể được giải thích bằng những quan điểm khác nhau vốn con người có về những hoàn cảnh này.

 

M D.38, SBN 336

Đôi khi con người bất đồng trong phán đoán về tính hữu ích của một thói quen hay hành động nào đó: đôi khi hoàn cảnh đặc thù của sự việc cũng khiến một phẩm tính đạo đức trở nên hữu ích hơn các phẩm tính khác, và nhờ đó giành được sự ưu tiên đặc biệt.

 

M D.39, SBN 337

Không có gì đáng ngạc nhiên khi, trong một thời kỳ chiến tranh và hỗn loạn, những đức hạnh quân sự lại được ca tụng hơn những đức hạnh hòa bình, và thu hút sự ngưỡng mộ cùng chú ý của loài người nhiều hơn. Cicero[88] nói: Thật hữu ích biết bao khi thấy người Cimbria, người Celtiberia và những người man rợ khác, những người kiên trì không lay chuyển, chịu đựng mọi mệt mỏi và nguy hiểm của chiến trường; nhưng lại ngay lập tức nản lòng trước đau đớn và nguy hiểm của một căn bệnh dai dẳng. Ngược lại, người Greece kiên nhẫn chịu đựng sự chết dần chết mòn khi bị tấn công hành hạ bằng bệnh tật; nhưng lại khiếp sợ chạy trốn trước sự hiện diện của thần chết khi bị thần này tấn công dữ dội bằng gươm giáo! Ngay cả cùng một đức hạnh dũng cảm cũng khác biệt đến thế giữa những dân tộc hiếu chiến và những dân tộc yêu hòa bình! Và quả thật, chúng ta có thể nhận thấy rằng, vì sự khác biệt giữa chiến tranh và hòa bình là lớn nhất trong những khác biệt nảy sinh giữa những dân tộc và cộng đồng, nên nó cũng tạo ra những biến đổi lớn nhất trong tình cảm đạo đức, và làm đa dạng nhất những quan niệm của chúng ta về đức hạnh cùng giá trị cá nhân.

 

M D.40, SBN 337

Đôi khi, lòng bao dung lớn lao, sự vĩ đại của tâm hồn, sự khinh miệt chế độ nô lệ, sự nghiêm khắc và chính trực không lay chuyển, có thể phù hợp hơn với hoàn cảnh của thời đại này so với thời đại khác, và có ảnh hưởng tích cực hơn, cả với những vấn đề công cộng lẫn sự an toàn và thăng tiến của một người. Do đó, quan niệm của chúng ta về phẩm giá cũng sẽ thay đổi đôi chút theo những biến thể này; và biết đâu Labeo lại bị khiển trách vì chính những phẩm chất đã từng mang lại cho Cato sự tán thưởng cao nhất.

 

M D.41, SBN 337

Một mức độ xa hoa có thể gây xụp đổ và tác hại cho một người Thụy Sĩ bản xứ, trong khi chính mức độ ấy lại chỉ nuôi dưỡng nghệ thuật và khích lệ công nghiệp ở một người Pháp hay người Anh. Vì vậy, chúng ta không nên mong đợi những tình cảm giống nhau, hay những luật pháp giống nhau ở Berne như những gì đang thịnh hành ở London hay Paris.

 

M D.42, SBN 337-8

Những phong tục khác nhau cũng có một phần ảnh hưởng, tương tự như những tính hữu dụng khác nhau; và bằng cách tạo nên một thiên kiến hình thành từ sớm trong não thức, chúng có thể sinh ra một khuynh hướng ưu tiên mạnh mẽ hơn, hoặc đối với những phẩm chất hữu ích, hoặc đối với những phẩm chất dễ chịu; hoặc đối với những phẩm chất hướng về bản thân, hoặc đối với những phẩm chất mở rộng đến xã hội.. Bốn nguồn gốc của tình cảm đạo đức ấy vẫn tồn tại; nhưng những hoàn cảnh đặc biệt có thể, vào một thời điểm nào đó, khiến bất kỳ nguồn nào trong chúng tuôn chảy dồi dào hơn so với thời điểm khác.

 

M D.43, SBN 338

Phong tục của một số quốc gia giam hãm phụ nữ, cắt đứt mọi giao tiếp xã hội của họ: Phong tục của những quốc gia khác lại coi phụ nữ là một phần thiết yếu của xã hội và trò chuyện giao tiếp, đến nỗi, ngoại trừ những lúc giao dịch kinh doanh, nam giới đơn thuần gần như hoàn toàn coi là không có khả năng trò chuyện và giải trí với nhau. Vì sự khác biệt này là hệ trọng nhất có thể xảy ra trong đời sống riêng tư, nên nó cũng phải tạo ra sự biến đổi lớn nhất trong những tình cảm đạo đức của chúng ta.

 

M D.44, SBN 338

Trong số những quốc gia trên thế giới, nơi chế độ đa thê không được phép, người Greece dường như là những người dè dặt nhất trong việc giao tiếp với phái đẹp, và đã áp đặt lên họ những luật lệ nghiêm ngặt nhất về sự khiêm tốn và đoan trang. Chúng ta có một thí dụ điển hình về điều này trong bài hùng biện của Lysias [89]. Một góa phụ bị tổn thương, phá sản, suy sụp, triệu tập một cuộc họp với một vài người bạn và họ hàng thân thiết nhất của mình; và mặc dù trước đây, theo lời diễn giả, bà chưa bao giờ quen nói trước mặt đàn ông, nhưng hoàn cảnh khốn khổ của bà đã buộc bà phải trình bày sự việc trước họ. Có vẻ như, ngay cả việc bà mở lời trong một nhóm người như vậy, đã đòi hỏi một lời xin lỗi (phải cất tiéng nói).

 

M D.45, SBN 338-9

Khi Demosthenes truy tố những giám hộ của ông để buộc họ hoàn trả tài sản thừa kế, trong tiến trình kiện tụng, ông buộc phải chứng minh rằng hôn nhân giữa em gái của Aphobus với Onetor hoàn toàn là gian dối, và rằng, và rằng dù đã giả vờ kết hôn, nàng vẫn sống với anh trai mình tại Athens suốt hai năm qua, kể từ khi ly hôn chồng cũ. Điều đáng chú ý là, dù đây là những người thuộc gia đình giàu có và danh giá bậc nhất thành phố, nhà hùng biện vẫn không thể chứng minh sự việc bằng cách nào khác ngoài việc yêu cầu thẩm vấn những nữ nô lệ của cô, và bằng chứng từ một bác sĩ, người đã khám cho cô tại nhà anh trai cô trong thời gian cô bị bệnh [90]. thật nghiêm ngặt và kín đáo đến mức ấy.

 

M D.46, SBN 339

Chúng ta có thể chắc chắn rằng sự thuần khiết cực độ trong phong tục là hệ quả của lối sống kín đáo ấy. Vì vậy, chúng ta thấy rằng – ngoại trừ những câu chuyện huyền thoại về Helen và Clytemnestra – hầu như không có một sự kiện nào trong lịch sử Hy Lạp bắt nguồn từ những âm mưu của phụ nữ. Ngược lại, trong thời thời nay, đặc biệt tại một dân tộc láng giềng, phụ nữ tham gia vào mọi giao dịch cũng như mọi việc quản lý hội nhà thờ và quốc gia: không một người đàn ông nào có thể hy vọng thành công nếu không khéo léo lấy lòng phái đẹp. Henry Đệ Tam, chỉ vì làm phật ý phái đẹp, đã nguy hại đến ngai vàng và mất mạng không kém gì vì ông đã dung túng dị giáo. [15]

 

M D.47, SBN 339

Không cần phải che giấu: Hậu quả của một giao thiệp quá tự do giữa hai giới, và việc họ chung sống với nhau nhiều, thường sẽ kết thúc bằng những thói trăng hoa (intrigues of gallantry). Chúng ta buộc phải hy sinh một phần nào đó cái 'hữu dụng' nếu chúng ta quá khao khát có được tất cả những phẩm chất 'dễ chịu'; và không thể đòi hỏi đạt được mọi loại lợi thế cùng một lúc. Những trường hợp phóng túng, ngày càng nhân lên, sẽ làm giảm bớt sự tai tiếng đối với phái này, và dần dần dạy cho phái kia chấp nhận câu châm ngôn nổi tiếng của La Fontaine về sự không thủy chung của phụ nữ, rằng: 'Nếu ta biết chuyện, đó chỉ là chuyện nhỏ; nếu ta không biết, thì chẳng có chuyện gì cả'.

[91].

 

M D.48, SBN 339-40

Một số người có khuynh hướng nghĩ rằng cách tốt nhất để dung hòa mọi khác biệt và duy trì sự cân bằng thích hợp giữa những phẩm tính dễ chịu và có lợi của của phái đẹp, là chung sống với họ theo cung cách của người Rôma và người Anh (vì phong tục của hai dân tộc này có vẻ tương đồng về mặt này [92]); nghĩa là: không có thói trăng hoa (gallantry), và cũng không có sự ghen tuông. Theo cùng một logic đó, phong tục của người nước Spain và người Ý của một thời đại trước (vì hiện nay đã rất khác) hẳn phải là tệ nhất trong tất cả; bởi vì chúng dung dưỡng cả thói trăng hoa lẫn sự ghen tuông mù quáng.

 

M D.49, SBN 340

Những phong tục khác biệt này của những quốc gia không chỉ ảnh hưởng đến riêng một giới: Quan niệm của họ về giá trị cá nhân ở nam giới cũng phải có chút khác biệt, ít nhất là về phương diện trò chuyện, cung cách ứng xử và sự hài hước. Quốc gia mà đàn ông sống tách biệt nhiều [với phụ nữ] sẽ tự nhiên tán thưởng sự thận trọng; quốc gia còn lại sẽ ưa chuộng sự vui tươi. Ở dân tộc này, sự giản dị trong phong thái sẽ được tôn trọng cao nhất; ở dân tộc kia lại là sự lịch thiệp. Một bên sẽ tạo nên sự khác biệt bằng lẽ phải và sự phán đoán; bên còn lại bằng khiếu thẩm mỹ và sự tinh tế. Tài hùng biện của bên trước sẽ tỏa sáng nhất tại nghị trường; của bên sau lại thăng hoa trên sân khấu.

 

M D.50, SBN 340

Tôi cho rằng, đây là những hệ quả tự nhiên của những phong tục như vậy. Bởi phải công nhận rằng, sự ngẫu nhiên có ảnh hưởng lớn đến phong tục tập quán của những dân tộc; và nhiều sự kiện xảy ra trong xã hội không thể được giải thích bằng những quy luật chung. Thí dụ, ai có thể tưởng tượng rằng người Rôma, những người sống phóng khoáng với phụ nữ, lại rất lãnh đạm với âm nhạc, và coi khiêu vũ là điều đáng xấu hổ: Trong khi người Greece, những người hầu như chưa bao giờ nhìn thấy phụ nữ ngoài nhà mình, lại liên tục thổi sáo, ca hát và nhảy múa?

 

M D.51, SBN 340-1

Những khác biệt trong tình cảm đạo đức xuất phát từ chế độ cộng hòa hay quân chủ cũng rất rõ ràng; tương tự như những khác biệt do sự giàu có hay nghèo khó nói chung, sự đoàn kết hay chia rẽ phe phái, sự ngu muội hay học thức mang lại. Tôi sẽ kết thúc bài luận dài này bằng nhận xét rằng: những phong tục và hoàn cảnh khác nhau không làm thay đổi những ý tưởng ban đầu về giá trị đạo đức (dù chúng có thể ảnh hưởng đến một số hệ quả) ở bất kỳ điểm cốt yếu nào, và chủ yếu chiếm ưu thế với những người trẻ tuổi, những người có thể khao khát những phẩm tính dễ chịu và có thể cố gắng làm hài lòng người khác. PHONG CÁCH ỨNG XỬ, NHỮNG TRANG SỨC, NHỮNG DUYÊN DÁNG, vốn thành công trong hình thức này, thì tùy tiện và ngẫu nhiên hơn nhiều: Nhưng giá trị đạo đức của những năm tháng trưởng thành hầu như ở mọi nơi đều giống nhau; và chủ yếu gồm sự chính trực, tình nhân đạo, khả năng, kiến thức và những phẩm tính vững chắc và có lợi khác của tâm lý con người.

 

M D.52, SBN 341

Palamedes đáp, những gì bạn khăng khăng đòi hỏi có thể có cơ sở nào đó, nếu bạn tuân thủ những nguyên tắc của đời sống thường nhật và cách ứng xử thông thường. Kinh nghiệm và thực tế cuộc đời sẵn sàng điều chỉnh bất kỳ sự thái quá nào từ cả hai phía. Thế nhưng bạn nghĩ sao về những lối sống và phong cách 'nhân tạo' (artificial lives and manners)? Làm thế nào bạn có thể dung hòa được những tôn chỉ mà dựa trên đó – qua các thời đại và quốc gia khác nhau – những lối sống này được thiết lập?

 

M D.53, SBN 341-2

Tôi hỏi: Bạn hiểu thế nào về đời sống và phong tục nhân tạo? Palamedes đáp: Tôi sẽ giải thích rõ. Bạn biết đấy, tôn giáo, vào thời thời cổ, có rất ít ảnh hưởng đến đời sống thường nhật, và rằng, sau khi con người đã hoàn thành bổn phận của mình bằng những lễ hiến tế và cầu nguyện tại những đền thờ, họ nghĩ rằng những vị gót để mặc họ tự lo liệu phần còn lại của hành vi, và chẳng mấy quan tâm hay phật ý với những đức hạnh hay thói hư tật xấuchỉ liên quan đến sự bình yên và hạnh phúc của xã hội loài người. Vào thời đó, triết học chỉ mới đảm nhận việc hướng dẫn cách ứng xử và hành vi hàng ngày của con người; và theo đó, chúng ta có thể thấy rằng, đây là nguyên lý duy nhất vốn con người có thể tự nâng mình lên trên đồng loại, nó đã đạt được một vị thế áp đảo mạnh mẽ so với nhiều nguyên lý khác, và tạo ra những điểm kỳ dị lớn về châm ngôn và hành vi. Ngày nay, khi triết học đã mất đi sức hấp dẫn của sự mới lạ, nó không còn ảnh hưởng rộng rãi như vậy nữa; mà dường như chỉ giới hạn chủ yếu trong những suy tư riêng tư trong phòng kín, giống như tôn giáo thời cổ chỉ giới hạn ở việc cúng tế trong đền miếu. Vị trí của nó hiện nay được tôn giáo thời nay thay thế. Tôn giáo này theo dõi toàn bộ hành vi của chúng ta, và đặt ra một quy tắc phổ quát cho mọi hành động, lời nói, thậm chí cả ý nghĩ và khuynh hướng sâu kín nhất của chúng ta – một quy tắc càng khắc nghiệt hơn vì được bảo vệ bởi những phần thưởng và hình phạt vô hạn (dù ở xa xôi), và không một vi phạm nào có thể che giấu hay ngụy trang được.

 

M D.54, SBN 342

Diogenes là mô hình nổi tiếng nhất của triết học cực đoan đến ngông cuồng. Chúng ta hãy tìm một tương đương với ông trong thời nay. Chúng ta sẽ không hạ thấp bất kỳ tên tuổi triết học nào bằng một so sánh với những thày dòng Dominic hay Loyola, hay bất kỳ thày chăn chiên hay thầy dòng nào được phong thánh (vì những triết gia hành động dựa trên lý trí, dù là một lý trí cực đoan, còn những người “tu hành” kia chỉ hành động dựa trên sự phục tùng mù quáng). Hãy so sánh ông với Pascal, một người tài năng và thiên tư không kém Diogenes; và có thể đã trở thành một người đức hạnh thực sự nếu như đẫ để ông ấy để cho những khuynh hướng đạo đức bẩm sinh thể hiện và bộc lộ [thay vì kìm hãm]

 

M D.55, SBN 342-3

Nền tảng của hành vi ứng xử của Diogenes là một cố gắng nhằm biến thành một hữu thể độc lập nhất có thể thể được, và để giới hạn tất cả những nhu cầu, ham muốn và thú vui vào trong tự thân và não thức của ông : Mục đích của Pascal là để giữ trước mắt một ý thức thường trực về sự lệ thuộc của bản thân, và không cho phép được quên vô số những nhu cầu và khuyết điểm của ông. Người xưa tự nuôi sống mình bằng lòng độ lượng, sự phô trương, lòng kiêu hãnh và ý tưởng về sự vượt trội của bản thân so với đồng loại. Người nay liên tục tuyên bố sự khiêm nhường và hạ mình, sự khinh miệt và căm ghét bản thân; và cố gắng đạt được những đức hạnh được giả định là này, trong chừng mực có thể được. Sự khắc khổ của người Greece Lạp là để rèn luyện bản thân chịu đựng gian khổ, nhằm ngăn chặn mọi sự đau khổ về sau; còn những sự khắc khổ của người Pháp được thực hiện chỉ vì hữu ích của chính họ, và để chịu đựng đau khổ càng nhiều càng tốt. Nhà triết học tự do hưởng thụ những thú vui thể xác thô thiển nhất, ngay cả nơi công cộng. Ngược lại, vị thánh nhân lại từ chối ngay cả những thú vui vô hại nhất, kể cả trong riêng tư. Người trước tin rằng bổn phận của ông là yêu thương bạn bè, nhưng cũng phải chế giễu, khiển trách và quở trách họ. Người sau cố gắng trở nên hoàn toàn lãnh đạm với những người thân thiết nhất, trong khi rèn luyện bản thân để yêu thương và nói tốt về kẻ thù.

Mục tiêu chính trong châm biếm của Diogenes là mọi loại mê tín dị đoan, tức là mọi loại tôn giáo tồn tại vào thời đó. Nguyên tắc chủ đạo của ông là sự hữu hạn của hồn người; và ngay cả quan điểm về sự an bài của thần thánh dường như cũng khá phóng túng. Những mê tín dị đoan nực cười nhất đã định hướng đức tin và hành động của Pascal; và sự khinh thường tột độ đối với cuộc sống này, so với tương lai, là nền tảng chính trong hành vi của ông.

 

M D.56, SBN 34

Hai con người này đứng trong một sự tương phản đáng chú ý như vậy: Tuy nhiên, cả hai đều được mọi người ngưỡng mộ ở những thời đại khác nhau, và được coi là khuôn mẫu để noi theo. Vậy thì chuẩn mực đạo đức phổ quát vốn bạn nói đến ở đâu? Và chúng ta sẽ thiết lập quy luật nào cho nhiều tình cảm khác nhau, ngay cả trái ngược nhau của loài người?

 

M D.57, SBN 343

Một thí nghiệm, tôi nói, đã thành công trong không gian mở chưa chắc đã thành công trong một chân không. Khi con người rời bỏ những nguyên tắc của lý trí thực tiễn với kiến thức thông thường và sống theo những lối sống nhân tạo, như các bạn gọi, thì không ai có thể trả lời được điều gì sẽ làm họ hài lòng hay phật lòng. Họ ở trong một môi trường khác biệt so với phần còn lại của loài người; và những nguyên lý tự nhiên trong não thức họ không vận hành đều đặn như khi được tự do, thoát khỏi những ảo tưởng của những mê tín tôn giáo hay của nhiệt tình triết học.

 

-----------------------------------------------------------

 

M D.13n79, SBN 328

79.  Luật pháp của thành Athens cho phép một người đàn ông kết hôn với chị em gái cùng cha khác mẹ. Còn luật của Solon thì cấm nô lệ thực hiện hành vi luyến ái đồng giới (pederasty), vì coi đó là một hành động của phẩm giá quá cao quý (không xứng ) với những kẻ hèn hạ như vậy.

 

M D.15n80, SBN 329

80. Appian. Bell. Civ. lib. iii. Suetonius in vita Cæsaris.

 

M D.17n81, SBN 329

81. Mem. Soc. lib. iii. sub fine.

 

M D.24n82, SBN 332

82. Người Greece cũng tổ chức lễ hội Saturn hay Chronus, giống như người Rôma. Xem Lucian. Epist. Saturn.

 

M D.28n83, SBN 334

83. Plat. symp. p. 182. Ex edit. Ser.

 

M D.29n84, SBN 334

84. See Enquiry, Sect. IV.

 

M D.30n85, SBN 334

85. Plut. de amore prolis, sub fine.

 

M D.36n86, SBN 336

86. Epist. lib. i. epist. 7. Also lib. i. ode 3.

 

M D.36n87, SBN 336

87. Bài thơ Ode 28. Petronius (chương 86) kết hợp cả hai hoàn cảnh này như những nững cái đẹp.

 

M D.39n88, SBN 337

88. Tusc. Quæst. lib. ii.

 

M D.44n89, SBN 338

89. Orat. 33.

 

M D.45n90, SBN 339

90. Ở Onetorem.

 

M D.47n91, SBN 339

91. Quand on le sçait c”est peu de choose;

Quand on l”ignore, ce n”est rien.

 

M D.48n92

92. Xem CHÚ THÍCH [XX].

 

M D.48n92. 1, SBN 340

Dưới thời các hoàng đế, người Rôma dường như sa đà vào những chuyện tình tự và lăng nhăng nhiều hơn người Anh hiện nay. Và những phụ nữ có địa vị, để giữ chân những người tình của mình, đã nỗ lực gán một cái tên đầy miệt thị cho những kẻ nam giới nào chỉ đam mê hạng lầu xanh hay những cuộc tình tầm thường. Những kẻ đó bị gọi là Ancillarioli (kẻ chuyên chạy theo hầu gái). Hãy xem Seneca trong cuốn De beneficiis (Về các ân huệ), Quyển I, Chương 9. Xem thêm Martial, Quyển XII, bài thơ Epigram số 58.

 

M D.48n93, SBN 340

93. Thói phong lưu (gallantry) được đề cập ở đây là để chỉ những tình tự và sự gắn kết ái tình, không phải sự lịch thiệp hào hoa (complaisance) vốn vẫn được dành cho phái đẹp ở nước Anh như trong ở bất kỳ quốc gia nào khác.

 

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(May/2025)

(Còn tiếp... )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] Ở Hellas thời cổ (đặc biệt Athens, Thebes thế kỷ 6-4 TCN), phong tục pederasty – quan hệ tình yêu giữa nam trưởng thành (erastes) và thiếu niên (eromenos, 12-18 tuổi) – được xã hội thượng lưu thừa nhận rộng rãi. Người lớn làm mentor hướng dẫn người trẻ về triết học, đạo đức, chiến tranh, nhằm nâng cao nhân cách và dũng cảm. Ví dụ nổi bật: Achilles-Patroclus, Đoàn Quân Thánh Thebes (150 cặp tình nhân), Harmodius-Aristogeiton, Zeus-Ganymede, và Plato ca ngợi trong Symposium. Hume dùng hình ảnh này để chứng minh chuẩn mực đạo đức tình yêu phụ thuộc phong tục xã hội.

[2] Qua chi tiết Alcheic kết hôn với em gái (Ai Cập hoặc polis Greece, như Sparta, cho phép kết hôn cùng cha khác mẹ).và công khai theo đuổi chàng trai trẻ Gulki (đồng tính) mà vợ không hề ghen tuông, Hume phơi bày sự xung đột gay gắt giữa những hệ giá trị. Những hành vi bị xã hội hiện đại coi là tội ác loạn luân hay phản bội kép thì tại Fourli (mô phỏng Greece thời cổ) lại là chuẩn mực bình thường. Hume muốn chứng minh rằng cảm giác “bị xúc phạm đạo đức” không phải là bản năng tự nhiên mà là sản phẩm của quy ước xã hội và bối cảnh văn hóa.

[3] Qua ví dụ cực đoan về tội giết cha (parricide) của Alcheic, Hume minh họa cho Thuyết duy cảm đạo đức: đạo đức không dựa trên lý trí hay chân lý vĩnh cửu, mà bắt nguồn từ cảm nhận của xã hội về “tính hữu dụng”. Ông mượn những tập tục có thật trong lịch sử (như việc bỏ rơi người già tại đảo Kea, Greece) để cho thấy rằng khi hoàn cảnh sống thay đổi, cảm xúc của con người về cái đúng - cái sai cũng thay đổi theo. Hành vi bị coi là “nghịch thiên” ở thời đại này có thể được coi là “đức hạnh” ở thời đại khác nếu nó phục vụ cho sự sinh tồn của cộng đồng, minh chứng rằng chuẩn mực đạo đức thực chất là sản phẩm của tập tục và thói quen xã hội.

[4] Hume dùng vụ ám sát Usbek – người bạn thân nhất, từng cứu mạng và để lại gia tài – để minh họa cực đoan về sự khác biệt phong tục đạo đức. Hành động phản bội tàn bạo này lại được cả xã hội “quốc gia kia” ca ngợi là “cao quý nhất”, vượt xa mọi phẩm chất tốt đẹp của nạn nhân.

Chi tiết này gợi nhớ trực tiếp đến vụ Julius Caesar bị Brutus và những đồng minh ám sát (44 TCN). Brutus là người Caesar tin tưởng nhất (gần như con nuôi), từng nhận vô số ân huệ từ Caesar, nhưng đã cùng hơn 20 nghị sĩ đâm hàng chục nhát dao vào ông vì tin rằng đó là nghĩa vụ đạo đức cao cả: hy sinh tình bạn cá nhân để cứu Cộng hòa Roma khỏi chế độ độc tài. Ở Roma thời ấy, nhiều người (như Cicero) ca ngợi Brutus là anh hùng tự do; về sau Kitô giáo lại lên án hành động ấy vì vi phạm nghĩa vụ tôn giáo và nhân đạo (“Ngươi chớ giết người”). Hume mượn motif tương tự để chứng minh: cùng một hành vi (ám sát ân nhân vì “lợi ích lớn hơn”) có thể bị xã hội này tôn vinh là đức hạnh tối thượng, xã hội khác kết án là tội ác kinh hoàng – tất cả chỉ tùy thuộc phong tục và niềm tin chung, chứ không phải chân lý đạo đức tuyệt đối.

[5] Sparta: Bữa ăn chung (syssitia) là bắt buộc đối với nam công dân. Mọi người mang góp phần ăn, sống khắc khổ, tư hữu bị hạn chế tối đa. Lycurgus được ca ngợi vì đã thiết lập chế độ này để rèn luyện tính kỷ luật và bình đẳng

[6] Hume dùng ví dụ này để tiếp tục chứng minh rằng ngay cả ở Greece thời cổ – cái nôi văn minh mà châu Âu thế kỷ 18 ngưỡng mộ – những hành vi mà xã hội hiện đại coi là “man rợ” hay “đáng xấu hổ” (như nhẫn nhục chịu vũ nhục công khai từ cấp trên) lại từng được ca ngợi là biểu hiện cao nhất của đức hạnh (ở đây là sự ôn hòa, tiết chế và ưu tiên lợi ích chung – cứu Greece khỏi Ba Tư – hơn danh dự cá nhân). Themistocles sẵn sàng chịu nhục để thuyết phục Eurybiades chấp nhận kế hoạch hải chiến Salamis, nhờ đó Greece chiến thắng. Hành động này của ông được sử sách thời cổ tôn vinh là đỉnh cao trí tuệ và đức hạnh, tương tự cách Alcheic nhẫn nhục chịu đòn của Calish để hoàn thành dự án chung. Một lần nữa, Hume nhấn mạnh: chuẩn mực khen/che hoàn toàn phụ thuộc phong tục và giá trị xã hội, chứ không phải chân lý đạo đức bất biến.

[7] Rusticity (Sự thô lỗ/mộc mạc quá mức): Ám chỉ vẻ ngoài lôi thôi, đi chân đất và lối sống khắc khổ, đôi khi thiếu vệ sinh của Socrates giữa một xã hội Athens hào nhoáng. Ill-manners (Cách cư xử kém cỏi, không nhã nhặn): Ám chỉ thói quen chặn đường người khác, đặt những câu hỏi hóc búa khiến họ bẽ mặt, và lối nói mỉa mai (irony) bị coi là bất lịch sự theo tiêu chuẩn xã hội thượng lưu (cả ở Athens lẫn London thời Hume).

[8] Những cái chết nổi tiếng được truyền tụng thời cổ: (a) Socrates uống thuốc độc (hemlock) Khi Socrates sắp chết, ông bảo Crito hãy dâng một con gà cho thần y học Asclepius. Hoặc khi những triết gia Khắc kỷ chết, họ thường tuyên bố rằng “Nỗi đau không phải là điều xấu” – thách thức quy luật tự nhiên. Trong mắt một người Anh thời Hume, những lời trăng trối không hướng về sự ăn năn hay cầu xin Gót mà lại nói về thần thoại hoặc sự kiêu hãnh cá nhân thì bị coi là “điên rồ” và “báng bổ”. (b) Cato Trẻ (Cato the Younger) tự sát bằng kiếm để không rơi vào tay Caesar – được giới thời Khắc kỷ và Cộng hòa ca ngợi là hành động cao quý nhất, nhưng Hume ngầm cho là “tuyệt vọng” và kiêu ngạo. Đoạn này là đỉnh cao châm biếm của Hume: chính Socrates – biểu tượng đức hạnh châu Âu – nếu sống ở Anh thế kỷ 18 sẽ bị coi là lập dị, báng bổ và nguy hiểm. Điều chứng minh chuẩn mực khen/che chỉ phụ thuộc phong tục thời đại, không có đạo đức phổ quát bất biến.

[9] common law: hệ thống pháp luật dựa trên tiền lệ tư pháp (precedents) hay án lệ, do những thẩm phán thiết lập qua những phán quyết trong những vụ án, chứ không chủ yếu dựa vào luật thành văn (statutes) do nghị viện ban hành.

[10] Mô tả xã hội Châu Âu thế kỷ 18: (a) Mistress a married woman (Nhân tình là phụ nữ có chồng): Đây là ám chỉ trực tiếp đến văn hóa Gallantry của Pháp và giới thượng lưu Anh thời bấy giờ, nơi việc có nhân tình được coi là sành điệu và là biểu tượng của địa vị xã hội. (b) Tameness” (Sự nhu nhược của người chồng): Trong mắt người Greece (vốn cực kỳ khắt khe về sự chung thủy của phụ nữ để bảo vệ dòng máu gia đình), việc đàn ông hiện đại để vợ tự do giao tiếp xã hội bị coi là hèn nhát và vô liêm sỉ. (c) Tội ngoại tình ở Athens: Đối với người Athens, ngoại tình không chỉ là vi phạm đạo đức mà còn bị xếp ngang hàng với cướp bóc và đầu độc vì nó phá hủy cấu trúc thiêng liêng của gia đình và thành bang.

Nhân vật “Tôi” thực hiện một cuộc “phản đảo ngược” nhận thức. Ông chứng minh rằng nếu người Athens sống dậy, họ sẽ coi những quý ông lịch lãm của London hay Paris là những kẻ “đê tiện và hèn hạ” vì thói quen ngoại tình. Qua đó, ông khẳng định: Không có nền văn hóa nào là hoàn hảo tuyệt đối. Sự “văn minh” hay “dã man” chỉ là kết quả của việc ta đang đứng ở “tòa án” nào để phán xét. Đây là lúc Hume xuất hiện để hòa giải. Ông sẽ không bênh vực bên nào nữa. Ông sẽ đưa ra kết luận vĩ đại nhất: “Nguyên tắc là đồng nhất, nhưng ứng dụng thì đa dạng”.

[11] Hume dùng từ nặng như “nhà tù” và “hành hạ” để mỉa mai phong tục quý tộc châu Âu thời ông: theo luật con trưởng, để giữ nguyên gia sản và tước vị cho con trai cả, các gia đình thường ép con thứ (cả trai lẫn gái) vào tu viện – sống độc thân, khổ hạnh, từ bỏ thế gian. Hume (với tư tưởng Khai sáng, hoài nghi tôn giáo) coi đây là “giam cầm tinh thần” và “nghệ thuật gây khốn khổ”.

 

[12] Hume mượn hình ảnh lễ hội Saturnalia – dịp hiếm hoi người thời cổ đảo ngược trật tự chủ tớ để vui chơi – để mỉa mai rằng văn hóa “ga lăng” của đàn ông châu Âu thế kỷ 18 chính là một lễ hội Saturnalia kéo dài vĩnh viễn. Dưới lăng kính của người Athens thời cổ (vốn chịu ảnh hưởng từ tư tưởng Aristotle về sự yếu thế tự nhiên của phái nữ), việc các quý ông lịch lãm tại London hay Paris tôn thờ và phục tùng phụ nữ như những “nữ hoàng” trong các phòng trà là một sự đảo lộn tự nhiên đầy nực cười và phi lý. Hume chỉ ra một thực tế trớ trêu: ở xã hội hiện đại, việc vi phạm các nghi thức lịch thiệp với phụ nữ đôi khi còn bị cộng đồng căm ghét và trừng phạt nặng nề hơn cả những tội lỗi đạo đức thực sự. Qua đó, ông khẳng định rằng những gì chúng ta gọi là “phép lịch sự văn minh” thực chất chỉ là những quy ước mang tính thời đại, hoàn toàn có thể bị coi là “điên rồ” dưới một góc nhìn văn hóa khác.

[13] Ngược lại, luật hội nhà thờ Ki tô (canon law) thời Trung cổ và sau đó mở rộng lệnh cấm rất xa (cấm đến họ hàng xa hàng thứ bảy, nhưng chỉ cần đặc miễn của vua chiên là vẫn có thể kết hôn với người họ hàng gần hơn.

[14] Hume mỉa mai rằng: lý do duy nhất khiến chúng ta ngày nay lên án ám sát Caesar/Usbek là vì chúng ta sợ hậu quả bất tiện (inconveniences) cho xã hội ổn định. Nếu ai đó thuyết phục được người thời cổ rằng ám sát gây bất tiện lớn hơn lợi ích tự do, thì họ đã thay đổi quan điểm. Nhưng họ không thay đổi, vì hệ giá trị của họ ưu tiên tự do hơn sự ổn định – chứng tỏ không có chân lý đạo đức tuyệt đối, chỉ có sự cân bằng lợi ích theo phong tục và hoàn cảnh riêng của mỗi thời đại.

[15] Harry the Third: Henry III của Pháp (1574–1589). Ông bị ám sát năm 1589 chủ yếu do mất lòng giới quý tộc Catô cực đoan, kết hợp với tin đồn đồng tính và không lấy lòng phụ nữ quý tộc. Hume mỉa mai rằng việc “làm phật ý phái đẹp” nguy hiểm ngang với việc khoan dung Tin Lành (dị giáo trong mắt đạo Catô Pháp thời ấy).