Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con
Người
(An
Enquiry concerning Human Understanding)
David
Hume
Cũng
phải thú nhận rằng danh tiếng bền vững và chính đáng nhất thường thuộc về triết học dễ tiếp
cận, trong khi những nhà lý luận trừu tượng cho đến nay dường như chỉ có được
danh tiếng nhất thời, nhờ sự ngẫu hứng hay thiếu hiểu biết của thời đại họ
sống, nhưng không thể duy trì tiếng tăm trước sự đánh giá công bằng của hậu
thế. Một nhà triết học uyên thâm dễ dàng mắc sai lầm
trong những lý luận tinh vi của ông; và một sai lầm sẽ tất yếu sinh ra sai lầm
khác, khi tiếp tục đẩy lôgích của ông đi xa hơn mà không ngần ngại chấp nhận
bất kỳ kết luận nào, dù kết luận đó có vẻ khác lạ hay mâu thuẫn với quan điểm thông
thường. Nhưng
một triết gia, người chỉ muốn trình bày phán đoán thực tiễn dựa trên khiến thức thông thường
của loài người bằng những sắc màu đẹp đẽ và thu hút hơn, nếu vô tình mắc sai lầm, thì
sẽ không đi xa hơn; nhưng bằng cách khơi lại sự thẩm định từ phán đoán thực tiễn dựa trên
khiến thức thông thường của loài người và những cảm xúc tự nhiên của
não thức, từ đó trở về con đường đúng đắn, và tự bảo vệ khỏi những ảo tưởng
nguy hiểm. Danh tiếng của Cicero hiện vẫn nở rộ; nhưng danh tiếng của Aristotle
đã hoàn toàn phai nhạt. La Bruyère vượt qua eo biển, và tiếng tăm vãn còn;
nhưng vinh quang của Malebranche chỉ giới hạn trong dân tộc và thời đại của ông. Và có lẽ, người ta sẽ đọc
Addison một cách thích thú, khi Locke hoàn toàn bị lãng quên.
E
1. 5, SBN 8
Triết gia thuần túy là một kiểu nhân vật thường ít
được chấp nhận trong xã hội, vì người ta cho rằng ông không đóng góp gì cho lợi
ích hay vui thú của xã hội; trong khi ông sống tách biệt khỏi giao tiếp với loài người, và chìm
đắm trong những nguyên lý và khái niệm cũng xa lạ với hiểu biết của họ. Mặt khác, kẻ
vô học thuần túy còn bị khinh bỉ hơn nữa; và trong một thời đại cùng quốc gia
nơi khoa học phát triển, không dấu hiệu nào chắc chắn hơn cho thấy một tài năng
hẹp hòi bằng việc hoàn toàn không có chút hứng thú nào với những việc khơi động
trí óc cao quý ấy. Nhân cách hoàn toàn nhất được cho là nằm giữa hai cực đoan
đó: giữ được khả năng và sở thích cân bằng giữa sách vở, bạn hữu và công việc.
Trong giao tiếp, họ giữ được sự tinh tế và nhạy bén từ văn chương lịch lãm; còn
trong công việc, họ giữ được sự liêm chính và chính xác – những phẩm chất tự
nhiên phát sinh từ một triết học chân chính. Để truyền bá và vun trồng một nhân cách hoàn thiện như vậy,
không gì hữu ích hơn những tác phẩm có phong cách và lối viết dễ gần; không kéo
con người ra khỏi cuộc sống, không đòi hỏi sự vận dụng hay đào sâu để lĩnh hội, và đưa
người học trở về với loài người, tràn đầy tình cảm cao quý và những lời răn dạy
khôn ngoan, ứng dụng được vào tất cả những hoàn cảnh của đời sống. Nhờ những
tác phẩm như thế, đức hạnh trở nên đáng yêu, khoa học trở nên dễ đón nhận, việc
giao tiếp trở nên bổ ích, và những tĩnh tại trở nên hàm dưỡng.
E
1. 6, SBN 8-9
Con người là một sinh vật có lý trí; và với tư cách
đó, họ nhận từ khoa học nguồn thức ăn và dưỡng chất thích hợp của họ. Nhưng
giới hạn của trí tuệ con người lại quá hẹp, nên ít hy vọng có thể đạt được sự
thỏa mãn từ phạm vi hay độ tin cậy của những tri thức vốn con người đã tích lũy. Con người
cũng là một sinh vật xã hội, không kém phần so với là sinh vật có lý trí: Tuy
nhiên, không phải lúc nào con người cũng có thể hưởng dược sự giao tiếp dễ chịu
và thú vị, hay giữ mãi được sự thích thú đúng mực với chúng. Còn là một sinh vật năng
động; và từ bản tính ấy, cũng như từ những nhu cầu nhiều loại của đời sống, con
người buộc phải tham dự vào công việc và những hoạt động. Nhưng não thứccần thư
giãn, không
thể lúc nào cũng duy trì sự căng thẳng vào những lo toan tinh thần và sự cần cù lao lực. Dường như, Tự nhiên đã chỉ ra một lối sống pha
trộn như phù hợp nhất với loài người, và âm thầm khuyên bảo họ đừng để bất kỳ khuynh
hướng nào trong số đó lấn át quá mức, đến nỗi mất khả năng tham gia vào những công việc và thú vui khác. Hãy cứ nuông
chiều đam mê khoa học của ngươi, Tự nhiên nói thế, nhưng hãy để khoa học của
ngươi là khoa học nhân văn, và phải có liên hệ trực tiếp với hành động và xã
hội.
Những suy nghĩ trừu tượng và những nghiên cứu sâu xa, ta cấm đoán, và sẽ trừng phạt nghiêm
khắc, bằng u sầu trầm mặc vốn chúng mang lại, bằng sự bất định vô tận vốn chúng chúng bủa
vây ngươi, và bằng sự đón nhận lạnh nhạt mà những gì ngươi gọi là tìm ra sẽ
phải gặp phải khi được truyền bá. Hãy là một nhà triết học; nhưng giữa tất cả
những triết lý của ngươi, hãy vẫn cứ là một con người. [1]
E
1. 7, SBN 9
Nếu
phần đông loài người hài lòng với việc ưa chuộng triết học dễ dãi hơn triết học trừu tượng và sâu
xa, nhưng không chê trách hay khinh miệt đối với lối triết học sau, thì có lẽ
cũng không có gì sai trái nếu chúng ta chiều theo dư luận tổng quát này, và để cho mỗi người tự do vui hưởng, không phản đối, sở thích
và tình cảm của riêng mỗi người . Nhưng vì vấn đề thường được đẩy xa hơn, ngay cả
đến mức bác bỏ hoàn toàn tất cả những suy luận sâu xa, hay những gì thường được gọi là siêu hình học,
nên giờ đây chúng ta sẽ tiến hành xem xét những gì có thể hợp lý được biện hộ
cho những suy luận sâu xa ấy.
E
1. 8, SBN 9-10
Chúng
ta có thể bắt đầu bằng việc nhận thấy rằng: một lợi thế đáng kể của triết học
chuẩn xác và trừu tượng là nó phục vụ cho lối triết học dễ gần và nhân văn; bởi
nếu thiếu đi triết học trừu tượng, thì lối triết học nhân văn kia chẳng bao giờ
có thể đạt được mức độ chuẩn xác cần thiết trong những tình cảm, nguyên tắc hay
lý luận của nó. tất cả những tác phẩm
văn chương thanh nhã chẳng qua chỉ là những bức tranh về cuộc sống con người
trong nhiều dáng vẻ và hoàn cảnh khác nhau; những tác phẩm ấy truyền cảm hứng
cho chúng ta những tình cảm khác biệt, như ngợi ca hay chỉ trích, thán phục hay
chế giễu, tùy thuộc vào phẩm chất của đối tượng mà chúng miêu tả. Một nghệ sĩ sẽ
có khả năng thành công hơn trong công việc này nếu, ngoài khiếu thẩm mỹ tinh tế
và sự nhạy bén, họ còn sở hữu kiến thức chuẩn xác về cấu trúc nội tại, về cách
thức hoạt động của trí tuệ, về sự vận hành của đam mê, và về những loại tình cảm
khác nhau giúp phân biệt giữa tà ác và đức
hạnh.
Dù
tìm kiếm hay điều tra nội tâm có nhọc nhằn đến đâu, nó vẫn là điều cần thiết đối
với những ai muốn miêu tả thành công vẻ bề ngoài rõ rệt cùng những phong thái ứng
xử thường nhật. Nhà giải phẫu học phô bày trước mắt những hình ảnh ghê tởm và
khó chịu nhất; nhưng khoa học của ông ta lại hữu ích cho họa sĩ ngay cả khi
phác họa một nàng Venus hay một nàng Helen. Trong khi người họa sĩ dùng những
màu sắc phong phú nhất của nghệ thuật và trau chuốt cho hình ảnh của mình những
dáng vẻ duyên dáng và quyến rũ nhất; ông ta vẫn phải chú tâm đến cấu trúc bên
trong của cơ thể con người, vị trí của những bắp
thịt, cấu tạo của xương, cũng như chức năng và hình dạng của
từng bộ phận hay cơ quan. Sự chuẩn xác, trong tất cả những trường hợp, đều có lợi
cho cái đẹp, và lý luận đúng đắn sẽ hỗ trợ cho tình cảm tinh tế. Chúng ta sẽ chỉ
hoài công nếu muốn nâng cao cái này bằng cách hạ thấp cái kia.
E
1. 9, SBN 10
Bên cạnh đó, chúng ta có thể quan sát thấy trong tất
cả những nghệ thuật hay nghề nghiệp, , ngay cả những lĩnh vực liên quan nhất
đến đời sống và hành động, rằng một tinh thần chuẩn xác, dù đạt được bằng cách nào, cũng đều đưa
tất cả chúng tiến gần hơn đến sự hoàn thiện, và khiến chúng phục vụ tốt hơn cho
lợi ích của xã hội. Và mặc dù một nhà triết học có thể sống xa rời công việc
thực tế, nhưng
tinh thần triết học, nếu được nhiều người dày công vun xới, chắc chắn sẽ dần
lan tỏa ra khắp toàn xã hội, và mang lại một sự chuẩn xác tương tự cho tất cả
những nghệ thuật và nghề nghiệp. Chính trị gia sẽ có được tầm nhìn xa và sự tinh tế hơn trong việc phân
chia và cân bằng quyền lực; luật gia có nhiều phương pháp và nguyên lý
tinh tế hơn ttrong suy luận; vị tướng lĩnh sẽ có kỷ luật nề nếp hơn, cũng
như sự thận trọng hơn trong những kế hoạch và chiến dịch của ông. Sự ổn định của những chính
phủ hiện đại so với cổ đại, cùng với sự chính xác của triết học hiện đại, đã
được cải thiện, và rất có thể sẽ còn tiếp tục được cải thiện, theo những mức độ
tương tự như vậy.
E
1. 10, SBN 11
Nếu những nghiên cứu này không mang lại lợi ích gì
ngoài việc thỏa mãn sự tò mò trong sáng, thì ngay cả điều này cũng không nên bị
coi thường; vì nó là một phần bổ sung vào số ít những thú vui an toàn và lành
mạnh được ban tặng cho loài người. Con đường ngọt ngào và ít gây tổn hại nhất
của đời sống chính là đi qua những lối vào của khoa học và học vấn; và bất kỳ
ai có thể dỡ bỏ một chướng ngại nào đó trên con đường này, hay mở ra một viễn
cảnh mới, đều đáng được coi là người có công với loài người.Và dẫu cho những
nghiên cứu này có vẻ nhọc nhằn và mệt mỏi, thì điều đó với một số não thứccũng
như với một số cơ thể: vốn được phú cho một sức khỏe dồi dào và tráng kiện,
chúng đòi hỏi những bài tập luyện khắt khe và gặt hái được niềm vui từ chính
những gì vốn với đa số người đời có vẻ là nặng nề và khổ nhọc. Sự mù mờ, quả
thực, gây mệt mỏi cho não thứccũng như cho đôi mắt; nhưng việc khơi mở ánh sáng
từ trong bóng tối mịt mù, dù phải trả giá bằng bất cứ sự lao khổ tứ nào, chắc
chắn sẽ mang lại hân hoan và sự khoan khoái tột cùng.
E
1. 11, SBN 11
Thế nhưng, sự mù mờ trong lối triết học sâu kín và
trừu tượng này không chỉ bị chỉ trích vì gây nhọc nhằn và mệt mỏi, mà còn vì nó
tất yếu trở thành nguồn gốc của sự bất định và sai lầm. Quả thực, đây chính là lời phản
đối chính đáng và hợp lý nhất với một phần đáng kể của siêu hình học, rằng
chúng không phải là một khoa học đúng nghĩa; nhưng xuất phát từ những nỗ lực vô ích
của lòng phù phiếm của con người, vốn sẽ thâm nhập vào những đề tài hoàn toàn
vượt ngoài tầm hiểu biết, hay từ thủ đoạn của những mê tín dị đoan phổ biến,
vốn không thể tự vệ trên mặt đất, dựng lên những bụi gai rối rắm này để che đậy
và bảo vệ sự yếu kém của chúng. Bị đuổi khỏi vùng đất trống, những tên
cướp này chạy vào rừng, rình rập để đột nhập vào tất cả những ngõ ngách không
được canh gác của não thức, và áp đảo nó bằng những sợ hãi và định kiến tôn
giáo. Ngay cả kẻ đối địch can trường nhất, nếu lơ là
giây lát, cũng sẽ bị áp đảo. Và nhiều người, vì hèn nhát và ngu muội, còn mở
toang cổng đón kẻ thù vào, và sẵn sàng tiếp nhận chúng với sự kính trọng và
phục tùng, như những bậc chủ tể hợp pháp.
E
1. 12, SBN 12-13
Nhưng
liệu đây có phải là lý do đủ thuyết phục để những triết gia từ bỏ những nghiên cứu
như vậy và để mặc sự mê tín vẫn chiếm giữ chỗ ẩn náu của nó? Chẳng phải sẽ đúng
đắn hơn nếu rút ra kết luận ngược lại, và nhận ra sự cần thiết phải tiến hành
chiến tranh vào tận những nơi ẩn khuất nhất của kẻ thù? Chúng ta hy vọng một cách
viển vông rằng con người, sau nhiều lần thất vọng, cuối cùng sẽ từ bỏ những môn
khoa học hão huyền đó và tìm ra ra lĩnh vực đích thực của lý trí con người. Ngoài ra,
vì nhiều người tìm thấy những lợi ích quá đỗi thiết thực trong việc không ngừng
khơi lại những đề tài như vậy; ngoài ra, tôi phải nói thêm rằng, động cơ của sự tuyệt vọng mù quáng không bao giờ
có chỗ đứng hợp lý trong khoa học; bởi vì, dù những nỗ lực trước đây có thất
bại đến đâu, vẫn còn chỗ để hy vọng rằng sự cần cù, may mắn, hay sự sáng suốt
được cải thiện của những thế hệ sau có thể đạt được những tìm ra vốn những thời
đại trước chưa từng biết đến. Mỗi thiên tài ưa mạo hiểm vẫn sẽ luôn dấn
thân để đoạt lấy phần thưởng đầy gian truân ấy, và thấy được khích lệ, thay vì
nản lòng, bởi những thất bại của những người đi trước; trong khi họ hy vọng
rằng vinh quang của việc thực hiện một phiêu lưu gian nan như vậy chỉ dành
riêng cho mình họ. Phương pháp duy nhất để giải phóng học vấn ngay lập tức khỏi những câu
hỏi khó hiểu này là nghiêm túc tìm hiểu bản chất của sự hiểu biết của con
người, và chứng minh, từ một phân tích chính xác về sức mạnh và khả năng của
nó, rằng nó hoàn toàn không phù hợp với những đề tài xa vời và khó hiểu như
vậy. Chúng ta phải chịu đựng sự mệt mỏi này, để sau đó sống an nhàn mãi mãi: Và phải vun
đắp siêu hình học chân chính một cách cẩn thận, để tiêu diệt
siêu hình học giả tạo và pha tạp. Sự lười biếng, với một số người, là lá chắn chống
lại triết học lừa dối này, nhưng đối với người khác lại bị sự tò mò lấn át; và
sự tuyệt vọng, đôi khi chiếm ưu thế, sau đó cũng có thể nhường chỗ
cho những hy vọng và kỳ vọng lạc quan. Suy luận
chính xác và
công bằng là phương thuốc phổ quát duy nhất, phù hợp với tất cả mọi người và tất cả
những khuynh hướng; và chỉ có nó mới có thể lật đổ thứ triết học khó hiểu sâu kín cùng thứ ngôn ngữ siêu hình lộn xộn ấy, thứ vốn khi bị trộn lẫn với mê
tín phổ biến dân gian, khiến nó gần như bất khả xâm phạm đối với những
người suy nghĩ hời hợt, và mang cho nó vẻ ngoài của khoa học và trí tuệ.
E
1. 13, SBN 13
Bên cạnh lợi thế này của việc gạt bỏ, sau thăm dò kỹ lưỡng, những phần bất định và
đáng chán nhất của học thuật, còn có nhiều lợi ích tích cực khác nảy sinh từ
việc khảo sát một cách chính xác những năng lực và khả năng của bản tính con
người. Điều đáng chú ý về những hoạt động của não thức là, dù chúng hiện diện mật thiết nhất với chúng ta, nhưng mỗi khi chúng thành đối tượng của việc tự suy ngẫm, chúng dường như bị tối tăm bao phủ mắt nhìn cùng khó có thể dễ dàng nhận ra những đường ranh giới vốn phân biệt và tách bạch chúng.
Những đối tượng này đều quá nhỏ bé, quá mong mnah, quá bén nhậy, để có thể trụ lại lâu trong cùng
một dáng vẻ hay trạng thái; chúng chỉ có thể được nắm bắt trong khoảnh khắc,
bằng một khả năng thấu triệt vượt trội, vốn là ân huệ của tự nhiên và được trau
dồi nhờ thói quen cùng tự suy ngẫm. Do đó, việc chỉ biết được
những hoạt động khác nhau của não thức, phân tách chúng ra khỏi nhau, phân loại
chúng dưới những đầu đề thích hợp, và sửa chữa trật tự bề ngoài rối loạn vốn
chúng rơi vào khi trở thành đối tượng của phản tỉnh và điều tra, đã là một phần
không nhỏ của khoa học. Công việc sắp xếp và phân loại này, vốn hầu như không mấy đáng kể khi
được thực hiện đối với những vật thể bên ngoài – là đối tượng của giác quan,
lại tăng giá trị lên khi được hướng vào những hoạt động của não thức, tỷ lệ
thuận với mức độ khó khăn và công phu mà ta gặp phải khi thực hiện nó. Và nếu
ta không thể tiến xa hơn mức "địa lý tinh thần " này, nghĩa là việc phác
họa những phần và năng lực riêng biệt của não thức, thì ít nhất cũng đã là một
điều đáng thỏa mãn khi đạt tới mức đó; hơn nữa, khoa học này càng có vẻ hiển
nhiên (mà thực ra nó hoàn toàn không hiển nhiên), thì sự dốt nát về nó ở những
kẻ tự nhận mình là học giả và triết gia lại càng đáng bị coi thường hơn.
E
1. 14, SBN 13-4
Cũng không thể còn ngờ vực gì nữa, rằng khoa học
này là bất định và hư ảo; trừ phi chúng ta chấp nhận một hoài nghi loại như
hoàn toàn phá hủy tất cả những suy đoán, và ngay cả hành động. Không thể nghi ngờ rằng não thức
được ban cho nhiều năng lực và khả năng, rằng những năng lực này đều tách biệt nhau, rằng những
gì thực sự tách biệt trong nhận thức trực tiếp có thể được phân biệt bằng tự
suy ngẫm; và do đó, có một sự thật và sự giả trá trong tất cả những mệnh đề về đề tài này, và một sự
thật và sự giả trá, vốn không nằm ngoài phạm vi hiểu biết của con người. Có nhiều những phân biệt hiển nhiên thuộc loại này, như giữa ý chí và
hiểu biết, tưởng tượng và đam mê, vốn nằm trong phạm vi hiểu biết của mọi con người; và những
phân biệt tinh tế và triết học hơn cũng không kém phần thực và chắc chắn, dù
khó thấu hiểu hơn. Một số trường hợp, đặc biệt là những thành tựu gần đây, trong
những
nghiên cứu này, có thể cho chúng ta một ý niệm xác đáng hơn về tính chắc chắn và
vững chãi của ngành học này. Và liệu chúng ta có coi việc một triết gia bỏ
công sức để đưa ra một hệ thống những hành tinh chính xác, sắp xếp vị trí và
trật tự của những thiên thể xa xôi ấy là xứng đáng, Trong khi chúng ta lại cố
tình bỏ qua những người đã rất thành công trong việc mô tả những phần của não
thức vốn chúng ta vô cùng quan tâm? [2]
E
1. 15, SBN 14-5
Nhưng
lẽ nào ta không thể hy vọng rằng, triết học, nếu được trau giồi cẩn thận và
được công chúng chú ý khích lệ, sẽ đẩy những nghiên cứu của nó tiến xa hơn nữa, và tìm ra ra, ít
nhất ở một mức độ nào đó, những mạch nguồn bí mật và nguyên tắc dẫn động não
thức con người trong những hoạt động của nó? Những nhà thiên văn đã lâu nay chỉ hài
lòng với việc chứng minh, từ những hiện tượng, những chuyển động thực, trật tự
và kích thước thực của những thiên thể: Cho đến khi một triết gia cuối cùng xuất hiện, người dường
như, từ những lập luận tuyệt vời nhất, đã cũng xác định được những quy luật và năng lực dẫn dắt và định hướng những quĩ đạo của hành tinh. Điều tương tự đã
được thực hiện với những phần khác của tự nhiên. Và không có lý do gì để tuyệt
vọng về thành công tương tự trong những truy vấn của chúng ta liên quan đến
những năng lực não thức và nền kinh tế của nó, nếu được tiến hành với năng lực
và thận trọng tương tự. Rất có thể, một hoạt động và nguyên lý của não thức phụ thuộc vào một
hoạt động và nguyên lý khác; điều này, một lần nữa, có thể được quy về một
nguyên lý tổng quát và phổ quát hơn: Và đến mức độ nào những nghiên cứu này có
thể được tiến hành, chúng ta sẽ khó có thể xác định chính xác, trước hay thậm
chí sau một thử nghiệm cẩn thận. Điều chắc chắn là, những nỗ lực kiểu này vẫn
được thực hiện mỗi ngày, ngay cả bởi những người triết lý một cáchcẩu thả nhất: Và không gì cần
thiết hơn là bắt tay vào công việc với sự cẩn trọng và chú ý kỹ lưỡng; để nếu
nó nằm trong khả năng hiểu biết của con người, cuối cùng nó có thể được hoàn
thành một cách tốt đẹp; nếu không, ít nhất nó cũng có thể bị từ chối với một sự
tự tin và an tâm nhất định. Kết luận cuối cùng này chắc chắn không phải là
điều đáng mong muốn; và cũng không nên vội vàng chấp nhận nó. Bởi vì, dựa trên
một giả định như vậy, chúng ta sẽ làm giảm đi bao nhiêu vẻ đẹp và giá trị của
loại triết học này? Những nhà đạo đức học cho đến nay đã quen với việc, khi xem
xét vô số và đa dạng những hành động khơi dậy sự tán thành hay ghét bỏ của
chúng ta, tìm kiếm một nguyên lý tổng quát nào đó vốn sự đa dạng của những tình
cảm ấy có thể phụ thuộc vào. Dù đôi khi họ đã đi quá xa, vì đam mê một nguyên
lý tổng quát nào đó; thì vẫn phải thừa nhận rằng họ có lý khi kỳ vọng tìm thấy
một số nguyên lý tổng quát mà tất cả những thói xấu và đức hạnh đều có thể được
quy về một cách chính đáng. Những nỗ lực tương tự cũng đã được những nhà phê
bình, nhà lôgích học, và thậm chí cả nhà chính trị thực hiện: Và những nỗ lực
của họ không hoàn toàn vô ích; dù có lẽ cần thêm thời gian, sự chính xác lớn
hơn, và sự tận tụy nhiệt thành hơn để đưa những khoa học này tiến gần hơn đến
sự hoàn hảo. Việc từ bỏ ngay lập tức tất cả những tham vọng loại này có thể coi đúng là là hấp tấp, vội vàng và giáo
điều, ngay cả còn hơn thứ triết học táo bạo và quả quyết
nhất đã từng cố gắng áp đặt những mệnh lệnh và nguyên lý thô thiển của nó lên
loài người.
E
1. 16, SBN 15-6
Dù những lý luận về bản chất con người này có vẻ
trừu tượng và khó hiểu đến thế nào? Điều này không hề cho phép chúng ta suy
diễn rằng chúng là giả trá sai lầm. Ngược lại, dường như không thể nào những điều vốn cho đến nay
nhiều triết gia khôn ngoan và uyên bác chưa hiểu lại có thể rất hiển nhiên và
dễ dàng. Và dù những nghiên cứu này có tốn kém bao nhiêu công sức, chúng ta
cũng có thể tự cho mình là đã được đền đáp xứng đáng, không chỉ về mặt lợi ích
vốn còn về mặt niềm vui, nếu nhờ đó, chúng ta có thể bổ sung thêm kiến thức vào
những đề tài quan trọng đến mức không thể diễn tả bằng lời như vậy.
E
1. 17, SBN 16
Nhưng xét cho cùng, tính trừu tượng của những suy
đoán này không phải là một ưu điểm nhưng đúng hơn là một bất lợi đối với chúng;
và vì khó khăn ấy có lẽ có thể vượt qua bằng sự cẩn trọng và khéo léo, cùng với
việc tránh tất cả những chi tiết không cần thiết, nên trong khảo cứu sau đây,
chúng ta đã cố gắng soi sáng phần nào những đề tài mà cho đến nay, sự bất định
đã khiến người khôn ngoan phải chùn bước, còn sự tối nghĩa làm nản lòng người
thiếu hiểu biết. Thật may mắn nếu chúng ta có thể thống nhất những ranh giới
giữa những loại triết học khác nhau, bằng dung hòa sự tìm tòi sâu xa với sự rõ ràng, và
sự thật với sự mới lạ! Và còn may mắn hơn nữa, nếu bằng cách lập luận theo lối dễ hiểu này,
chúng ta có thể làm lung lay nền tảng của một thứ triết học huyền áo, vốn dường
như cho đến nay chỉ phục vụ như nơi ẩn náu cho mê tín, và như tấm màn che cho
sự phi lý và sai lầm!
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Jan/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Trong Hume, Tự nhiên không là môi trường sinh thái, nhưng là bản chất con người và những quy luật tất yếu điều khiển sự sống. Hume nhân hóa Tự nhiên
như một người mẹ hiền nhưng nghiêm khắc, người thiết lập sự cân bằng giữa lý
trí và bản năng. Sở dĩ tác giả để “Tự nhiên” lên tiếng răn dạy là vì ông tin rằng:
Dù lý trí có thể bay bổng đến đâu trong những học thuyết trừu tượng, nó vẫn phải
chịu khuất phục trước những nhu cầu căn bản (ăn, ngủ, giao tiếp, hành động). Sự
“trừng phạt” của Tự nhiên đối với những triết gia quá tách biệt với đời thường chính là
sự u sầu
và sự cô độc—những dấu hiệu cho thấy cuộc sống đang mất đi sự hài hòa vốn có.
[2] Hume nói về Isaac Newton, người đã xây dựng hệ thống thiên văn học giải thích chuyển động của những hành tinh. Trong thời Hume, thuật ngữ “philosopher” (triết gia) gồm cả những nhà khoa học tự nhiên như Newton. Ông lập luận rằng nếu chúng ta tôn vinh Newton vì đã làm sáng tỏ vị trí và trật tự của những thiên thể cách xa hàng triệu dặm, thì thật phi lý khi lại xem nhẹ những người nghiên cứu về tâm lý con người—những người phác họa cách thức chúng ta tư duy, cảm nhận và hành động, tức những phương diện về bản chất gần gũi và thiết yếu nhất với chúng ta.
