Sunday, January 11, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (02)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )





E 1. 4, SBN 7

Cũng phải thú nhận rằng danh tiếng bền vững và chính đáng nhất thường thuộc về triết học dễ tiếp cận, trong khi những nhà lý luận trừu tượng cho đến nay dường như chỉ có được danh tiếng nhất thời, nhờ sự ngẫu hứng hay thiếu hiểu biết của thời đại họ sống, nhưng không thể duy trì tiếng tăm trước sự đánh giá công bằng của hậu thế. Một nhà triết học uyên thâm dễ dàng mắc sai lầm trong những lý luận tinh vi của ông; và một sai lầm sẽ tất yếu sinh ra sai lầm khác, khi tiếp tục đẩy lôgích của ông đi xa hơn mà không ngần ngại chấp nhận bất kỳ kết luận nào, dù kết luận đó có vẻ khác lạ hay mâu thuẫn với quan điểm thông thường. Nhưng một triết gia, người chỉ muốn trình bày phán đoán thực tiễn dựa trên khiến thức thông thường của loài người bằng những sắc màu đẹp đẽ và thu hút hơn, nếu vô tình mắc sai lầm, thì sẽ không đi xa hơn; nhưng bằng cách khơi lại sự thẩm định từ phán đoán thực tiễn dựa trên khiến thức thông thường của loài người và những cảm xúc tự nhiên của não thức, từ đó trở về con đường đúng đắn, và tự bảo vệ khỏi những ảo tưởng nguy hiểm. Danh tiếng của Cicero hiện vẫn nở rộ; nhưng danh tiếng của Aristotle đã hoàn toàn phai nhạt. La Bruyère vượt qua eo biển, và tiếng tăm vãn còn; nhưng vinh quang của Malebranche chỉ giới hạn trong dân tộc và thời đại của ông. Và có lẽ, người ta sẽ đọc Addison một cách thích thú, khi Locke hoàn toàn bị lãng quên.

 

E 1. 5, SBN 8

Triết gia thuần túy là một kiểu nhân vật thường ít được chấp nhận trong xã hội, vì người ta cho rằng ông không đóng góp gì cho lợi ích hay vui thú của xã hội; trong khi ông sống tách biệt khỏi giao tiếp với loài người, và chìm đắm trong những nguyên lý và khái niệm cũng xa lạ với hiểu biết của họ. Mặt khác, kẻ vô học thuần túy còn bị khinh bỉ hơn nữa; và trong một thời đại cùng quốc gia nơi khoa học phát triển, không dấu hiệu nào chắc chắn hơn cho thấy một tài năng hẹp hòi bằng việc hoàn toàn không có chút hứng thú nào với những việc khơi động trí óc cao quý ấy. Nhân cách hoàn toàn nhất được cho là nằm giữa hai cực đoan đó: giữ được khả năng và sở thích cân bằng giữa sách vở, bạn hữu và công việc. Trong giao tiếp, họ giữ được sự tinh tế và nhạy bén từ văn chương lịch lãm; còn trong công việc, họ giữ được sự liêm chính và chính xác – những phẩm chất tự nhiên phát sinh từ một triết học chân chính. Để truyền bá và vun trồng một nhân cách hoàn thiện như vậy, không gì hữu ích hơn những tác phẩm có phong cách và lối viết dễ gần; không kéo con người ra khỏi cuộc sống, không đòi hỏi sự vận dụng hay đào sâu để lĩnh hội, và đưa người học trở về với loài người, tràn đầy tình cảm cao quý và những lời răn dạy khôn ngoan, ứng dụng được vào tất cả những hoàn cảnh của đời sống. Nhờ những tác phẩm như thế, đức hạnh trở nên đáng yêu, khoa học trở nên dễ đón nhận, việc giao tiếp trở nên bổ ích, và những tĩnh tại trở nên hàm dưỡng.

 

E 1. 6, SBN 8-9

Con người là một sinh vật có lý trí; và với tư cách đó, họ nhận từ khoa học nguồn thức ăn và dưỡng chất thích hợp của họ. Nhưng giới hạn của trí tuệ con người lại quá hẹp, nên ít hy vọng có thể đạt được sự thỏa mãn từ phạm vi hay độ tin cậy của những tri thức vốn con người đã tích lũy. Con người cũng là một sinh vật xã hội, không kém phần so với là sinh vật có lý trí: Tuy nhiên, không phải lúc nào con người cũng có thể hưởng dược sự giao tiếp dễ chịu và thú vị, hay giữ mãi được sự thích thú đúng mực với chúng. Còn là một sinh vật năng động; và từ bản tính ấy, cũng như từ những nhu cầu nhiều loại của đời sống, con người buộc phải tham dự vào công việc và những hoạt động. Nhưng não thứccần thư giãn, không thể lúc nào cũng duy trì sự căng thẳng vào những lo toan tinh thần và sự cần cù lao lực. Dường như, Tự nhiên đã chỉ ra một lối sống pha trộn như phù hợp nhất với loài người, và âm thầm khuyên bảo họ đừng để bất kỳ khuynh hướng nào trong số đó lấn át quá mức, đến nỗi mất khả năng tham gia vào những công việc và thú vui khác. Hãy cứ nuông chiều đam mê khoa học của ngươi, Tự nhiên nói thế, nhưng hãy để khoa học của ngươi là khoa học nhân văn, và phải có liên hệ trực tiếp với hành động và xã hội. Những suy nghĩ trừu tượng và những nghiên cứu sâu xa, ta cấm đoán, và sẽ trừng phạt nghiêm khắc, bằng u sầu trầm mặc vốn chúng mang lại, bằng sự bất định vô tận vốn chúng chúng bủa vây ngươi, và bằng sự đón nhận lạnh nhạt mà những gì ngươi gọi là tìm ra sẽ phải gặp phải khi được truyền bá. Hãy là một nhà triết học; nhưng giữa tất cả những triết lý của ngươi, hãy vẫn cứ là một con người. [1]

 

E 1. 7, SBN 9

Nếu phần đông loài người hài lòng với việc ưa chuộng triết học dễ dãi hơn triết học trừu tượng và sâu xa, nhưng không chê trách hay khinh miệt đối với lối triết học sau, thì có lẽ cũng không có gì sai trái nếu chúng ta chiều theo dư luận tổng quát này, và để cho mỗi người tự do vui hưởng, không phản đối, sở thích và tình cảm của riêng mỗi người . Nhưng vì vấn đề thường được đẩy xa hơn, ngay cả đến mức bác bỏ hoàn toàn tất cả những suy luận sâu xa, hay nhữngthường được gọi là siêu hình học, nên giờ đây chúng ta sẽ tiến hành xem xét những gì có thể hợp lý được biện hộ cho những suy luận sâu xa ấy.

 

E 1. 8, SBN 9-10

Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc nhận thấy rằng: một lợi thế đáng kể của triết học chuẩn xác và trừu tượng là nó phục vụ cho lối triết học dễ gần và nhân văn; bởi nếu thiếu đi triết học trừu tượng, thì lối triết học nhân văn kia chẳng bao giờ có thể đạt được mức độ chuẩn xác cần thiết trong những tình cảm, nguyên tắc hay lý luận của nó. tất cả những tác phẩm văn chương thanh nhã chẳng qua chỉ là những bức tranh về cuộc sống con người trong nhiều dáng vẻ và hoàn cảnh khác nhau; những tác phẩm ấy truyền cảm hứng cho chúng ta những tình cảm khác biệt, như ngợi ca hay chỉ trích, thán phục hay chế giễu, tùy thuộc vào phẩm chất của đối tượng mà chúng miêu tả. Một nghệ sĩ sẽ có khả năng thành công hơn trong công việc này nếu, ngoài khiếu thẩm mỹ tinh tế và sự nhạy bén, họ còn sở hữu kiến thức chuẩn xác về cấu trúc nội tại, về cách thức hoạt động của trí tuệ, về sự vận hành của đam mê, và về những loại tình cảm khác nhau giúp phân biệt giữa ác và đức hạnh.

Dù tìm kiếm hay điều tra nội tâm có nhọc nhằn đến đâu, nó vẫn là điều cần thiết đối với những ai muốn miêu tả thành công vẻ bề ngoài rõ rệt cùng những phong thái ứng xử thường nhật. Nhà giải phẫu học phô bày trước mắt những hình ảnh ghê tởm và khó chịu nhất; nhưng khoa học của ông ta lại hữu ích cho họa sĩ ngay cả khi phác họa một nàng Venus hay một nàng Helen. Trong khi người họa sĩ dùng những màu sắc phong phú nhất của nghệ thuật và trau chuốt cho hình ảnh của mình những dáng vẻ duyên dáng và quyến rũ nhất; ông ta vẫn phải chú tâm đến cấu trúc bên trong của cơ thể con người, vị trí của những bắp thịt, cấu tạo của xương, cũng như chức năng và hình dạng của từng bộ phận hay cơ quan. Sự chuẩn xác, trong tất cả những trường hợp, đều có lợi cho cái đẹp, và lý luận đúng đắn sẽ hỗ trợ cho tình cảm tinh tế. Chúng ta sẽ chỉ hoài công nếu muốn nâng cao cái này bằng cách hạ thấp cái kia.

 

E 1. 9, SBN 10

Bên cạnh đó, chúng ta có thể quan sát thấy trong tất cả những nghệ thuật hay nghề nghiệp, , ngay cả những lĩnh vực liên quan nhất đến đời sống và hành động, rằng một tinh thần chuẩn xác, dù đạt được bằng cách nào, cũng đều đưa tất cả chúng tiến gần hơn đến sự hoàn thiện, và khiến chúng phục vụ tốt hơn cho lợi ích của xã hội. Và mặc dù một nhà triết học có thể sống xa rời công việc thực tế, nhưng tinh thần triết học, nếu được nhiều người dày công vun xới, chắc chắn sẽ dần lan tỏa ra khắp toàn xã hội, và mang lại một sự chuẩn xác tương tự cho tất cả những nghệ thuật và nghề nghiệp. Chính trị gia sẽ có được tầm nhìn xa và sự tinh tế hơn trong việc phân chia và cân bằng quyền lực; luật gia có nhiều phương pháp và nguyên lý tinh tế hơn ttrong suy luận; vị tướng lĩnh sẽ có kỷ luật nề nếp hơn, cũng như sự thận trọng hơn trong những kế hoạch và chiến dịch của ông. Sự ổn định của những chính phủ hiện đại so với cổ đại, cùng với sự chính xác của triết học hiện đại, đã được cải thiện, và rất có thể sẽ còn tiếp tục được cải thiện, theo những mức độ tương tự như vậy.

 

E 1. 10, SBN 11

Nếu những nghiên cứu này không mang lại lợi ích gì ngoài việc thỏa mãn sự tò mò trong sáng, thì ngay cả điều này cũng không nên bị coi thường; vì nó là một phần bổ sung vào số ít những thú vui an toàn và lành mạnh được ban tặng cho loài người. Con đường ngọt ngào và ít gây tổn hại nhất của đời sống chính là đi qua những lối vào của khoa học và học vấn; và bất kỳ ai có thể dỡ bỏ một chướng ngại nào đó trên con đường này, hay mở ra một viễn cảnh mới, đều đáng được coi là người có công với loài người.Và dẫu cho những nghiên cứu này có vẻ nhọc nhằn và mệt mỏi, thì điều đó với một số não thứccũng như với một số cơ thể: vốn được phú cho một sức khỏe dồi dào và tráng kiện, chúng đòi hỏi những bài tập luyện khắt khe và gặt hái được niềm vui từ chính những gì vốn với đa số người đời có vẻ là nặng nề và khổ nhọc. Sự mù mờ, quả thực, gây mệt mỏi cho não thứccũng như cho đôi mắt; nhưng việc khơi mở ánh sáng từ trong bóng tối mịt mù, dù phải trả giá bằng bất cứ sự lao khổ tứ nào, chắc chắn sẽ mang lại hân hoan và sự khoan khoái tột cùng.

 

E 1. 11, SBN 11

Thế nhưng, sự mù mờ trong lối triết học sâu kín và trừu tượng này không chỉ bị chỉ trích vì gây nhọc nhằn và mệt mỏi, mà còn vì nó tất yếu trở thành nguồn gốc của sự bất định và sai lầm. Quả thực, đây chính là lời phản đối chính đáng và hợp lý nhất với một phần đáng kể của siêu hình học, rằng chúng không phải là một khoa học đúng nghĩa; nhưng xuất phát từ những nỗ lực vô ích của lòng phù phiếm của con người, vốn sẽ thâm nhập vào những đề tài hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu biết, hay từ thủ đoạn của những mê tín dị đoan phổ biến, vốn không thể tự vệ trên mặt đất, dựng lên những bụi gai rối rắm này để che đậy và bảo vệ sự yếu kém của chúng. Bị đuổi khỏi vùng đất trống, những tên cướp này chạy vào rừng, rình rập để đột nhập vào tất cả những ngõ ngách không được canh gác của não thức, và áp đảo nó bằng những sợ hãi và định kiến tôn giáo. Ngay cả kẻ đối địch can trường nhất, nếu lơ là giây lát, cũng sẽ bị áp đảo. Và nhiều người, vì hèn nhát và ngu muội, còn mở toang cổng đón kẻ thù vào, và sẵn sàng tiếp nhận chúng với sự kính trọng và phục tùng, như những bậc chủ tể hợp pháp.

 

E 1. 12, SBN 12-13

Nhưng liệu đây có phải là lý do đủ thuyết phục để những triết gia từ bỏ những nghiên cứu như vậy và để mặc sự mê tín vẫn chiếm giữ chỗ ẩn náu của nó? Chẳng phải sẽ đúng đắn hơn nếu rút ra kết luận ngược lại, và nhận ra sự cần thiết phải tiến hành chiến tranh vào tận những nơi ẩn khuất nhất của kẻ thù? Chúng ta hy vọng một cách viển vông rằng con người, sau nhiều lần thất vọng, cuối cùng sẽ từ bỏ những môn khoa học hão huyền đó và tìm ra ra lĩnh vực đích thực của lý trí con người. Ngoài ra, vì nhiều người tìm thấy những lợi ích quá đỗi thiết thực trong việc không ngừng khơi lại những đề tài như vậy; ngoài ra, tôi phải nói thêm rằng, động cơ của sự tuyệt vọng mù quáng không bao giờ có chỗ đứng hợp lý trong khoa học; bởi vì, dù những nỗ lực trước đây có thất bại đến đâu, vẫn còn chỗ để hy vọng rằng sự cần cù, may mắn, hay sự sáng suốt được cải thiện của những thế hệ sau có thể đạt được những tìm ra vốn những thời đại trước chưa từng biết đến. Mỗi thiên tài ưa mạo hiểm vẫn sẽ luôn dấn thân để đoạt lấy phần thưởng đầy gian truân ấy, và thấy được khích lệ, thay vì nản lòng, bởi những thất bại của những người đi trước; trong khi họ hy vọng rằng vinh quang của việc thực hiện một phiêu lưu gian nan như vậy chỉ dành riêng cho mình họ. Phương pháp duy nhất để giải phóng học vấn ngay lập tức khỏi những câu hỏi khó hiểu này là nghiêm túc tìm hiểu bản chất của sự hiểu biết của con người, và chứng minh, từ một phân tích chính xác về sức mạnh và khả năng của nó, rằng nó hoàn toàn không phù hợp với những đề tài xa vời và khó hiểu như vậy. Chúng ta phải chịu đựng sự mệt mỏi này, để sau đó sống an nhàn mãi mãi: Và phải vun đắp siêu hình học chân chính một cách cẩn thận, để tiêu diệt siêu hình học giả tạo và pha tạp. Sự lười biếng, với một số người, là lá chắn chống lại triết học lừa dối này, nhưng đối với người khác lại bị sự tò mò lấn át; và sự tuyệt vọng, đôi khi chiếm ưu thế, sau đó cũng có thể nhường chỗ cho những hy vọng và kỳ vọng lạc quan. Suy luận chính xác và công bằng là phương thuốc phổ quát duy nhất, phù hợp với tất cả mọi người và tất cả những khuynh hướng; và chỉ có nó mới có thể lật đổ thứ triết học khó hiểu sâu kín cùng thứ ngôn ngữ siêu hình lộn xộn ấy, thứ vốn khi bị trộn lẫn với mê tín phổ biến dân gian, khiến nó gần như bất khả xâm phạm đối với những người suy nghĩ hời hợt, và mang cho nó vẻ ngoài của khoa học và trí tuệ.

 

E 1. 13, SBN 13

Bên cạnh lợi thế này của việc gạt bỏ, sau thămkỹ lưỡng, những phần bất định và đáng chán nhất của học thuật, còn có nhiều lợi ích tích cực khác nảy sinh từ việc khảo sát một cách chính xác những năng lực và khả năng của bản tính con người. Điều đáng chú ý về những hoạt động của não thức là, dù chúng hiện diện mật thiết nhất với chúng ta, nhưng mỗi khi chúng thành đối tượng của việc tự suy ngẫm, chúng dường như bị tối tăm bao phủ mắt nhìn cùng khó có thể dễ dàng nhận ra những đường ranh giới vốn phân biệt và tách bạch chúng. Những đối tượng này đều quá nhỏ bé, quá mong mnah, quá bén nhậy, để có thể trụ lại lâu trong cùng một dáng vẻ hay trạng thái; chúng chỉ có thể được nắm bắt trong khoảnh khắc, bằng một khả năng thấu triệt vượt trội, vốn là ân huệ của tự nhiên và được trau dồi nhờ thói quen cùng tự suy ngẫm. Do đó, việc chỉ biết được những hoạt động khác nhau của não thức, phân tách chúng ra khỏi nhau, phân loại chúng dưới những đầu đề thích hợp, và sửa chữa trật tự bề ngoài rối loạn vốn chúng rơi vào khi trở thành đối tượng của phản tỉnh và điều tra, đã là một phần không nhỏ của khoa học. Công việc sắp xếp và phân loại này, vốn hầu như không mấy đáng kể khi được thực hiện đối với những vật thể bên ngoài – là đối tượng của giác quan, lại tăng giá trị lên khi được hướng vào những hoạt động của não thức, tỷ lệ thuận với mức độ khó khăn và công phu mà ta gặp phải khi thực hiện nó. Và nếu ta không thể tiến xa hơn mức "địa lý tinh thần " này, nghĩa là việc phác họa những phần và năng lực riêng biệt của não thức, thì ít nhất cũng đã là một điều đáng thỏa mãn khi đạt tới mức đó; hơn nữa, khoa học này càng có vẻ hiển nhiên (mà thực ra nó hoàn toàn không hiển nhiên), thì sự dốt nát về nó ở những kẻ tự nhận mình là học giả và triết gia lại càng đáng bị coi thường hơn.

 

E 1. 14, SBN 13-4

Cũng không thể còn ngờ vực gì nữa, rằng khoa học này là bất định và hư ảo; trừ phi chúng ta chấp nhận một hoài nghi loại như hoàn toàn phá hủy tất cả những suy đoán, và ngay cả hành động. Không thể nghi ngờ rằng não thức được ban cho nhiều năng lực và khả năng, rằng những năng lực này đều tách biệt nhau, rằng những gì thực sự tách biệt trong nhận thức trực tiếp có thể được phân biệt bằng tự suy ngẫm; và do đó, có một sự thật và sự giả trá trong tất cả những mệnh đề về đề tài này, và một sự thật và sự giả trá, vốn không nằm ngoài phạm vi hiểu biết của con người. Có nhiều những phân biệt hiển nhiên thuộc loại này, như giữa ý chí và hiểu biết, tưởng tượng và đam mê, vốn nằm trong phạm vi hiểu biết của mọi con người; và những phân biệt tinh tế và triết học hơn cũng không kém phần thực và chắc chắn, dù khó thấu hiểu hơn. Một số trường hợp, đặc biệt là những thành tựu gần đây, trong những nghiên cứu này, có thể cho chúng ta một ý niệm xác đáng hơn về tính chắc chắn và vững chãi của ngành học này. Và liệu chúng ta có coi việc một triết gia bỏ công sức để đưa ra một hệ thống những hành tinh chính xác, sắp xếp vị trí và trật tự của những thiên thể xa xôi ấy là xứng đáng, Trong khi chúng ta lại cố tình bỏ qua những người đã rất thành công trong việc mô tả những phần của não thức vốn chúng ta vô cùng quan tâm? [2]

 

E 1. 15, SBN 14-5

Nhưng lẽ nào ta không thể hy vọng rằng, triết học, nếu được trau giồi cẩn thận và được công chúng chú ý khích lệ, sẽ đẩy những nghiên cứu của nó tiến xa hơn nữa, và tìm ra ra, ít nhất ở một mức độ nào đó, những mạch nguồn bí mật và nguyên tắc dẫn động não thức con người trong những hoạt động của nó? Những nhà thiên văn đã lâu nay chỉ hài lòng với việc chứng minh, từ những hiện tượng, những chuyển động thực, trật tự và kích thước thực của những thiên thể: Cho đến khi một triết gia cuối cùng xuất hiện, người dường như, từ những lập luận tuyệt vời nhất, đã cũng xác định được những quy luật và năng lực dẫn dắt và định hướng những quĩ đạo của hành tinh. Điều tương tự đã được thực hiện với những phần khác của tự nhiên. Và không có lý do gì để tuyệt vọng về thành công tương tự trong những truy vấn của chúng ta liên quan đến những năng lực não thức và nền kinh tế của nó, nếu được tiến hành với năng lực và thận trọng tương tự. Rất có thể, một hoạt động và nguyên lý của não thức phụ thuộc vào một hoạt động và nguyên lý khác; điều này, một lần nữa, có thể được quy về một nguyên lý tổng quát và phổ quát hơn: Và đến mức độ nào những nghiên cứu này có thể được tiến hành, chúng ta sẽ khó có thể xác định chính xác, trước hay thậm chí sau một thử nghiệm cẩn thận. Điều chắc chắn là, những nỗ lực kiểu này vẫn được thực hiện mỗi ngày, ngay cả bởi những người triết lý một cáchcẩu thả nhất: Và không gì cần thiết hơn là bắt tay vào công việc với sự cẩn trọng và chú ý kỹ lưỡng; để nếu nó nằm trong khả năng hiểu biết của con người, cuối cùng nó có thể được hoàn thành một cách tốt đẹp; nếu không, ít nhất nó cũng có thể bị từ chối với một sự tự tin và an tâm nhất định. Kết luận cuối cùng này chắc chắn không phải là điều đáng mong muốn; và cũng không nên vội vàng chấp nhận nó. Bởi vì, dựa trên một giả định như vậy, chúng ta sẽ làm giảm đi bao nhiêu vẻ đẹp và giá trị của loại triết học này? Những nhà đạo đức học cho đến nay đã quen với việc, khi xem xét vô số và đa dạng những hành động khơi dậy sự tán thành hay ghét bỏ của chúng ta, tìm kiếm một nguyên lý tổng quát nào đó vốn sự đa dạng của những tình cảm ấy có thể phụ thuộc vào. Dù đôi khi họ đã đi quá xa, vì đam mê một nguyên lý tổng quát nào đó; thì vẫn phải thừa nhận rằng họ có lý khi kỳ vọng tìm thấy một số nguyên lý tổng quát mà tất cả những thói xấu và đức hạnh đều có thể được quy về một cách chính đáng. Những nỗ lực tương tự cũng đã được những nhà phê bình, nhà lôgích học, và thậm chí cả nhà chính trị thực hiện: Và những nỗ lực của họ không hoàn toàn vô ích; dù có lẽ cần thêm thời gian, sự chính xác lớn hơn, và sự tận tụy nhiệt thành hơn để đưa những khoa học này tiến gần hơn đến sự hoàn hảo. Việc từ bỏ ngay lập tức tất cả những tham vọng loại này có thể coi đúng là là hấp tấp, vội vàng và giáo điều, ngay cả còn hơn thứ triết học táo bạo và quả quyết nhất đã từng cố gắng áp đặt những mệnh lệnh và nguyên lý thô thiển của nó lên loài người.

 

E 1. 16, SBN 15-6

Dù những lý luận về bản chất con người này có vẻ trừu tượng và khó hiểu đến thế nào? Điều này không hề cho phép chúng ta suy diễn rằng chúng là giả trá sai lầm. Ngược lại, dường như không thể nào những điều vốn cho đến nay nhiều triết gia khôn ngoan và uyên bác chưa hiểu lại có thể rất hiển nhiên và dễ dàng. Và dù những nghiên cứu này có tốn kém bao nhiêu công sức, chúng ta cũng có thể tự cho mình là đã được đền đáp xứng đáng, không chỉ về mặt lợi ích vốn còn về mặt niềm vui, nếu nhờ đó, chúng ta có thể bổ sung thêm kiến thức vào những đề tài quan trọng đến mức không thể diễn tả bằng lời như vậy.

 

E 1. 17, SBN 16

Nhưng xét cho cùng, tính trừu tượng của những suy đoán này không phải là một ưu điểm nhưng đúng hơn là một bất lợi đối với chúng; và vì khó khăn ấy có lẽ có thể vượt qua bằng sự cẩn trọng và khéo léo, cùng với việc tránh tất cả những chi tiết không cần thiết, nên trong khảo cứu sau đây, chúng ta đã cố gắng soi sáng phần nào những đề tài mà cho đến nay, sự bất định đã khiến người khôn ngoan phải chùn bước, còn sự tối nghĩa làm nản lòng người thiếu hiểu biết. Thật may mắn nếu chúng ta có thể thống nhất những ranh giới giữa những loại triết học khác nhau, bằng dung hòa sự tìm tòi sâu xa với sự rõ ràng, và sự thật với sự mới lạ! Và còn may mắn hơn nữa, nếu bằng cách lập luận theo lối dễ hiểu này, chúng ta có thể làm lung lay nền tảng của một thứ triết học huyền áo, vốn dường như cho đến nay chỉ phục vụ như nơi ẩn náu cho mê tín, và như tấm màn che cho sự phi lý và sai lầm!



Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Jan/2026)

(Còn tiếp... )

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 


[1] Trong Hume, Tự nhiên không là môi trường sinh thái, nhưng bản chất con người và những quy luật tất yếu điều khiển sự sống. Hume nhân hóa Tự nhiên như một người mẹ hiền nhưng nghiêm khắc, người thiết lập sự cân bằng giữa lý trí và bản năng. Sở dĩ tác giả để “Tự nhiên” lên tiếng răn dạy là vì ông tin rằng: Dù lý trí có thể bay bổng đến đâu trong những học thuyết trừu tượng, nó vẫn phải chịu khuất phục trước những nhu cầu căn bản (ăn, ngủ, giao tiếp, hành động). Sự “trừng phạt” của Tự nhiên đối với những triết gia quá tách biệt với đời thường chính là sự u sầu và sự cô độc—những dấu hiệu cho thấy cuộc sống đang mất đi sự hài hòa vốn có.

[2] Hume nói về Isaac Newton, người đã xây dựng hệ thống thiên văn học giải thích chuyển động của những hành tinh. Trong thời Hume, thuật ngữ “philosopher” (triết gia) gồm cả những nhà khoa học tự nhiên như Newton. Ông lập luận rằng nếu chúng ta tôn vinh Newton vì đã làm sáng tỏ vị trí và trật tự của những thiên thể cách xa hàng triệu dặm, thì thật phi lý khi lại xem nhẹ những người nghiên cứu về tâm lý con người—những người phác họa cách thức chúng ta tư duy, cảm nhận và hành động, tức những phương diện về bản chất gần gũi và thiết yếu nhất với chúng ta.