Áo Trắng Em Bay Chiều Ấy Vẫn Trên Đồi Lộng Gió
Quá khứ không
biến mất — nó chỉ chuyển sang một dạng hiện hữu khác trong cấu trúc của vũ trụ.[1]
I. Khúc dạo đầu: Bản nhạc của những gì đã qua
Áo Trắng Em Bay Chiều Ấy Vẫn Trên Đồi Lộng Gió
Quá khứ không
biến mất — nó chỉ chuyển sang một dạng hiện hữu khác trong cấu trúc của vũ trụ.[1]
I. Khúc dạo đầu: Bản nhạc của những gì đã qua
PHÊ BÌNH LÝ
TÍNH THUẦN TÚY
Khái Lược Lập
luận
(Critique
of Pure Reason - The
Complete Argument)
Immanuel Kant
Khái Lược Toàn Bộ Lập
Luận Của Phê Bình Lý Tính Thuần Túy [1]
Giới Thiệu
Năm 1781, Immanuel
Kant xuất bản quyển Phê bình lý tính thuần túy (Critique of Pure
Reason). Lúc mới ra đời, tác phẩm này không được đón nhận rộng rãi. Nhiều
người đọc đầu tiên cho rằng Kant chỉ lặp lại thuyết hoài nghi của David Hume dưới
một hình thức mới. Chính Kant đã phải dành nhiều năm sau đó để giải thích và
làm rõ những luận điểm của ông. Tuy nhiên, ảnh hưởng của quyển sách ngày càng
lan rộng. Chỉ trong vài thập niên, hầu như mọi triết gia quan trọng ở châu Âu đều
phải đối diện với những vấn đề mà Kant đặt ra. Từ Schopenhauer đến Nietzsche,
dù đồng ý hay phản đối, những nhà tư tưởng sau ông đều phải xác định lập trường
của họ trước triết học Kant.
(A Treatise of Human
Nature)
David Hume
QUYỂN I - PHẦN III.
Về tri thức và xác suất.
MỤC X.
Về Ảnh Hưởng Của Sự Tin Tưởng
T 1.3.10.1, SBN 118
Nhưng mặc dù triết học
bác bỏ giáo dục như một cơ sở không đáng tin cậy để chấp nhận một quan điểm, nó
vẫn có một ảnh hưởng rất lớn trong đời sống; và chính nó là nguyên nhân khiến mọi
hệ thống tư tưởng mới, lúc đầu, đều dễ bị bác bỏ chỉ vì chúng còn mới lạ và
khác thường.
(A Treatise of Human
Nature)
David Hume
QUYỂN I - PHẦN III.
Về tri thức và xác suất.
MỤC. VIII.
Về Những Nguyên Nhân
Của Sự Tin Tưởng
T 1.3.8.1, SBN 98
Vậy là chúng ta đã giải
thích bản chất của sự tin tưởng, và đã cho thấy rằng nó gồm một ý niệm sống động
có quan hệ với một ấn tượng hiện diện trước mắt. Bây giờ, chúng ta hãy tiếp tục
xem xét sự tin tưởng ấy phát sinh từ những nguyên lý nào, và điều gì đem lại sức
sống cùng tính sinh động cho ý niệm đó.
阿彌陀佛四十八大願
TỊNH ĐỘ TÔNG
(Khái lược như một phụ đính cho Bốn
Mươi Tám Đại Nguyện Của Phật ADiĐà)
A. HỆ THỐNG KINH ĐIỂN
Trong Tịnh Độ
tông, hệ thống kinh điển nền tảng cốt lõi nhất được gọi là “Tịnh Độ Tam Kinh” (三經). Sau này, những vị sư lớn có công với tông phái đã bổ sung
thêm để hình thành nên bộ “Tịnh Độ Ngũ Kinh” (五 經) như hiện nay.
Dưới đây là
chi tiết những bộ kinh nền tảng của pháp môn Tịnh Độ:
(四十八願)
BẢN ĐỌC TỤNG
BỐN MƯƠI TÁM ĐẠI NGUYỆN CỦA PHẬT ADIĐÀ
(佛說無量壽經 – bản hiệu đính dịch nghĩa)
41
Đại nguyện 41:
Sự viên mãn của những căn — giác ngộ như sự khai mở toàn bộ năng lực hiện hữu của
con người
Nguyên văn:
設我得佛,他方菩薩聞我名字,諸根不具足者,不取正覺。
Thiết ngã đắc
Phật, tha phương Bồ Tát văn ngã danh tự, chư căn bất cụ túc giả, bất thủ Chánh
giác.
Nếu khi tôi
thành Phật, những vị Bồ Tát ở những phương khác nghe danh hiệu của tôi mà những
căn không được đầy đủ, thì tôi không thành tựu Chánh giác.
(四十八願)
BẢN ĐỌC TỤNG
BỐN MƯƠI TÁM ĐẠI NGUYỆN CỦA PHẬT ADIĐÀ
(佛說無量壽經 – bản hiệu đính dịch nghĩa)
31
設我得佛,國土清淨,皆悉照見十方諸佛世界,如明鏡睹其面像,若不爾者,不取正覺。
thiết ngã đắc Phật, quốc thổ thanh tịnh, giai tất chiếu
kiến thập phương chư Phật thế giới, như minh kính đổ kỳ diện tượng, nhược bất
nhĩ giả, bất thủ chánh giác
Nếu khi tôi thành Phật, cõi nước của tôi không thanh tịnh
đến mức có thể phản chiếu rõ ràng vô lượng cõi Phật trong mười phương như gương
sáng soi thấy khuôn mặt mình, thì tôi không nhận lấy quả vị Chánh giác.
Đại nguyện này là một trong những đại nguyện rất giàu ý
nghĩa triết học, nhưng cũng rất dễ bị đọc theo hướng thần thoại: Cực Lạc giống
như một “tấm gương thần” phản chiếu vô lượng thế giới. Nếu giữ sát văn kinh, trọng
tâm không nằm ở phép màu, mà nằm ở quan hệ giữa sự thanh tịnh và khả năng thấy
đúng thực tại. Cả hình ảnh “gương sáng” (明鏡) lẫn “chiếu kiến” (照見) đều là những
hình ảnh nhận thức luận rất sâu. Vì vậy, tôi sẽ triển khai theo hướng đó, không
đưa thêm ý ngoài đại nguyện.
Bốn Mươi
Tám Đại Nguyện Của Phật ADiĐà
(四十八願)
BẢN ĐỌC TỤNG
BỐN MƯƠI TÁM ĐẠI NGUYỆN CỦA PHẬT ADIĐÀ
(佛說無量壽經 – bản hiệu đính dịch nghĩa)
21
設我得佛,國中人天,不悉成滿三十二大人相者,不取正覺。
thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, bất tất thành mãn tam thập nhị đại
nhân tướng giả, bất thủ chánh giác
Nếu khi tôi thành Phật, người và trời trong cõi nước của tôi không đều
thành tựu đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhân — biểu tượng của sự viên mãn nơi một
bậc giác ngộ — thì tôi không nhận lấy quả vị Chánh giác.
Bốn
Mươi Tám Đại Nguyện Của Phật ADiĐà
(四十八願)
BẢN ĐỌC TỤNG:
BỐN MƯƠI TÁM ĐẠI NGUYỆN CỦA PHẬT ADIĐÀ
(佛說無量壽經 – bản hiệu đính dịch nghĩa)
11
設我得佛,國中人天,不住正定聚,必至滅度者,不取正覺。
thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, bất trụ chánh
định tụ, tất chí diệt độ giả, bất thủ chánh giác
Nếu khi tôi thành Phật, người và trời trong cõi nước của
tôi không đều an trú trong Chánh định tụ, không chắc chắn tiến đến Niết-bàn (diệt
độ), thì tôi không nhận lấy quả vị Chánh giác.
(四十八願)
BẢN ĐỌC TỤNG
BỐN MƯƠI TÁM ĐẠI NGUYỆN CỦA PHẬT ADIĐÀ
(佛說無量壽經 – hiệu đính dịch nghĩa)
1
設我得佛,國有地獄餓鬼畜生者,不取正覺。
thiết ngã đắc Phật, quốc hữu địa ngục ngạ quỷ súc sanh giả,
bất thủ chánh giác.
Nếu khi tôi thành Phật, trong cõi nước của tôi vẫn còn có
địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, thì tôi quyết không nhận lấy quả vị Chánh giác.
阿彌陀佛四十八大願
Bốn Mươi Tám Đại Nguyện Của Phật Adiđà
A. DẪN NHẬP
Bốn mươi tám đại nguyện của Phật ADD là gốc lõi của tông phái Tịnh Độ ở
Tàu, Nhật và VNam, tông phái Đại Thừa đặc biệt mở cánh cửa giải thoát bằng con
đường khởi đi từ tha lực. “Nam mô ADiĐà Phật” là lời chào hàng ngày trong
sân chùa. Tuy thế, tìm một bản tiếng Việt, không có nhiều từ Hán phiên âm, câu
văn dung dị, ý nghĩa dễ hiểu, giữ ý kinh gốc, nhưng bằng ngôn từ gần gũi, có
văn phong hiện đại Việt ngữ, không phải là dễ, nên mạo muội tự dịch đoạn kinh nổi
tiếng này để tự học, và ghi lại đây để chia sẻ với những ai muốn nghiên cứu văn
bản quan trọng này.
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I - PHẦN III.
Về tri thức và xác suất.
MỤC I.
Về Tri Thức
T 1.3.1.1, SBN 69–70
Có bảy [15] loại
quan hệ triết học khác nhau, đó là: tương tự, đồng nhất, những quan hệ về thời
gian và nơi chốn, tỉ lệ về lượng hay số, những mức độ của bất kỳ phẩm chất nào,
sự đối lập và nhân quả.
Những quan hệ này có
thể được chia thành hai loại: một loại hoàn toàn phụ thuộc vào những ý niệm mà
chúng ta đem ra so sánh với nhau; và một loại có thể thay đổi mà không cần có bất
kỳ sự thay đổi nào trong những ý niệm ấy.
Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người
(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN
I – PHẦN 2
Về
Những Ý Niệm Không Gian Và Thời Gian
MỤC IV.
Trả
Lời Những Phản Đối