(A
Treatise of Human Nature)
David
Hume
QUYỂN
1-PHẨN 4
MỤC
I.
Về
Thuyết Hoài Nghi Liên Quan Đến Lý Trí.[1]
T
1.4.1.1, SBN 180
Trong
tất cả những khoa học chứng minh, những quy tắc đều chắc chắn và không thể sai lầm; nhưng khi áp dụng chúng,
những năng lực dễ sai lầm và không chắc chắn của chúng ta rất dễ rời khỏi các
quy tắc ấy và rơi vào sai lầm. Vì vậy, trong mọi suy luận, chúng ta phải hình
thành một phán đoán mới, như một sự kiểm tra hay kiểm soát đối với phán đoán
hoặc tin tưởng ban đầu của mình; đồng thời phải mở rộng cái nhìn để bao quát
một dạng lịch sử về tất cả những trường hợp trong đó năng lực nhận thức của
chúng ta đã đánh lừa chúng ta, so sánh với những trường hợp trong đó sự chứng
thực của nó là đúng đắn và chân thực.[2]
Lý trí của
chúng ta phải được xem như một loại nguyên nhân, mà chân lý là kết quả tự nhiên
của nó; nhưng đó là một loại nguyên nhân có thể thường xuyên bị ngăn cản bởi sự
xâm nhập của những nguyên nhân khác và bởi tính bất ổn của các năng lực tinh
thần của chúng ta. Bằng cách này, mọi tri thức đều suy giảm thành xác suất; và
xác suất ấy lớn hơn hay nhỏ hơn tùy theo kinh nghiệm của chúng ta về tính đáng
tin cậy hay khả năng đánh lừa của năng lực nhận thức, cũng như tùy theo sự đơn
giản hay phức tạp của vấn đề.[3]
Bằng
cách này, mọi tri thức đều suy giảm thành xác suất; và xác suất này lớn hơn hay
nhỏ hơn tùy theo kinh nghiệm của chúng ta về tính trung thực hay tính dễ sai
lầm của năng lực nhận thức của mình, cũng như tùy theo mức độ đơn giản hay phức
tạp của vấn đề đang được xem xét.
T
1.4.1.2, SBN 180–181
Không
có nhà đại số học hay nhà toán học nào, dù thành thạo đến đâu trong khoa học
của mình, lại đặt một sự tin tưởng hoàn toàn vào bất kỳ chân lý nào ngay khi
vừa khám phá ra nó, hoặc xem nó là bất cứ điều gì khác ngoài một xác suất đơn
thuần.
Mỗi
lần ông ta xem xét lại các chứng minh của mình, sự tin tưởng của ông ta lại
tăng lên; nhưng nó còn tăng lên nhiều hơn nữa nhờ sự tán thành của những người
bạn của ông ta; và nó đạt đến mức hoàn hảo nhất nhờ sự đồng thuận phổ quát và
những lời tán thưởng của toàn bộ giới học thuật.
Giờ
đây, rõ ràng rằng sự gia tăng dần dần của mức độ chắc chắn này không gì khác
hơn là sự cộng thêm của những xác suất mới; và nó bắt nguồn từ sự kết hợp
thường xuyên giữa nguyên nhân và kết quả, dựa trên kinh nghiệm và sự quan sát
trong quá khứ.
T
1.4.1.3, SBN 181
Trong
những sổ sách kế toán dài hoặc quan trọng, các thương nhân hiếm khi chỉ dựa vào
sự chắc chắn tuyệt đối của những con số để bảo đảm rằng mình không sai sót;
trái lại, họ nhờ cách tổ chức sổ sách một cách có phương pháp để tạo ra một mức
xác suất còn cao hơn mức xác suất chỉ dựa vào kỹ năng và kinh nghiệm của người
làm sổ sách. Bởi vì bản thân kỹ năng và kinh nghiệm ấy hiển nhiên chỉ đem lại
một mức xác suất nào đó, tuy mức xác suất này không chắc chắn và luôn thay đổi
tùy theo trình độ kinh nghiệm của người làm sổ sách cũng như độ dài của bản ghi
chép. Nay, vì không ai chủ trương rằng mức độ tin tưởng của chúng ta đối với
một phép tính dài vượt quá xác suất, nên tôi có thể khẳng định rằng hầu như
không có mệnh đề nào liên quan đến những con số mà chúng ta có được sự bảo đảm
lớn hơn thế. Thật vậy, chỉ cần giảm dần số lượng các con số, chúng ta hoàn toàn
có thể rút gọn chuỗi cộng dài nhất về câu hỏi đơn giản nhất có thể hình thành,
tức là phép cộng giữa hai con số đơn lẻ; và nếu chấp nhận giả định ấy, chúng ta
sẽ thấy rằng không thể xác định chính xác ranh giới giữa tri thức và xác suất,
cũng không thể cho thấy con số cụ thể nào là điểm mà tri thức chấm dứt và xác
suất bắt đầu. Thế nhưng, tri thức và xác suất lại có những bản chất hoàn toàn
đối lập và không tương thích với nhau, đến mức chúng không thể chuyển dần dần,
một cách không nhận ra, từ cái này sang cái kia; bởi lẽ chúng không thể chia
nhỏ, mà hoặc phải hiện diện trọn vẹn, hoặc hoàn toàn vắng mặt. Hơn nữa, nếu chỉ
một phép cộng đơn lẻ là chắc chắn, thì mọi phép cộng đơn lẻ đều phải chắc chắn,
và do đó cả tổng số cuối cùng cũng phải chắc chắn; trừ khi toàn thể có thể khác
với tất cả những bộ phận của nó. Tôi suýt nữa đã nói rằng điều này là chắc
chắn; nhưng rồi tôi chợt nghĩ rằng chính lập luận ấy cũng phải quy về chính nó,
giống như mọi quá trình suy luận khác, và từ tri thức lại suy giảm thành xác
suất.
T
1.4.1.4, SBN 181
Vì
vậy, bởi mọi tri thức, khi phân tích đến cùng, đều quy về xác suất, và sau hết
mang cùng một bản chất với loại bằng chứng mà chúng ta sử dụng trong đời sống
thường ngày, nên giờ đây chúng ta phải khảo sát loại suy luận này và xem nó
được đặt trên nền tảng nào.
T
1.4.1.5, SBN 181–2
Trong
mọi phán đoán mà chúng ta có thể đưa ra, dù liên quan đến xác suất hay liên
quan đến tri thức, chúng ta luôn phải điều chỉnh phán đoán đầu tiên — vốn được
rút ra từ bản chất của đối tượng — bằng một phán đoán khác, được rút ra từ bản
chất của năng lực nhận thức.
Chắc
chắn rằng một người có phán đoán vững vàng và nhiều kinh nghiệm phải có, và
thông thường quả thật có, một mức độ tin tưởng vào các ý kiến của mình cao hơn
một người ngu dốt và thiếu hiểu biết; và ngay cả đối với chính chúng ta, những
cảm nhận của mình cũng có những mức độ đáng tin khác nhau, tương ứng với mức độ
lý trí và kinh nghiệm của chúng ta.
Tuy
nhiên, ngay cả ở người có phán đoán sáng suốt nhất và nhiều kinh nghiệm nhất,
mức độ đáng tin ấy cũng không bao giờ là hoàn toàn; bởi vì ngay cả người như
vậy cũng phải nhận thức rằng mình đã từng phạm nhiều sai lầm trong quá khứ, và
vẫn phải lo sợ những sai lầm tương tự trong tương lai.
Do
đó, ở đây xuất hiện một loại xác suất mới, nhằm điều chỉnh và kiểm soát loại
xác suất đầu tiên, đồng thời xác định chuẩn mực và mức độ thích đáng của nó.
Cũng
như sự chứng minh phải chịu sự kiểm soát của xác suất, thì xác suất cũng phải
chịu một sự điều chỉnh mới thông qua một sự tự suy ngẫm của não thức, trong đó
bản chất của năng lực nhận thức của chúng ta, cùng với cách chúng ta suy luận
từ xác suất ban đầu, trở thành chính những đối tượng được xem xét.
T
1.4.1.6, SBN 182–3
Vì
vậy, sau khi nhận ra rằng trong mọi xác suất, ngoài sự không chắc chắn vốn có
trong chính đối tượng được xem xét, còn có một sự không chắc chắn mới phát sinh
từ sự yếu kém của năng lực đưa ra phán đoán; và sau khi đã điều chỉnh hai loại
không chắc chắn này với nhau, lý trí buộc chúng ta phải thêm vào một sự nghi
ngờ mới, phát sinh từ khả năng rằng chúng ta có thể sai lầm ngay trong việc
đánh giá sự đúng đắn và tính đáng tin cậy của chính các năng lực nhận thức của
mình.
Đây
là một sự nghi ngờ xuất hiện ngay lập tức trước chúng ta; và nếu chúng ta muốn
theo đuổi lý trí của mình một cách chặt chẽ, chúng ta không thể tránh khỏi việc
phải đưa ra một phán đoán về nó.
Nhưng
phán đoán này, dù có thuận lợi cho phán đoán trước đó của chúng ta đến đâu, thì
bởi vì bản thân nó cũng chỉ dựa trên xác suất, nó phải tiếp tục làm suy yếu
thêm bằng chứng ban đầu; rồi chính nó lại phải chịu sự suy yếu bởi một sự nghi
ngờ thứ tư cùng loại, và cứ tiếp tục như vậy đến vô hạn.
Cuối
cùng, sẽ không còn lại gì của xác suất ban đầu, dù chúng ta có giả định rằng
lúc đầu nó lớn đến đâu, và dù sự suy giảm do mỗi sự không chắc chắn mới gây ra
có nhỏ bé đến mức nào.
Không
có một đối tượng hữu hạn nào có thể tồn tại dưới một sự suy giảm được lặp lại
vô hạn lần; ngay cả đại lượng lớn nhất mà trí tưởng tượng con người có thể hình
dung cũng theo cách này sẽ bị giảm xuống thành không.
Dù
sự tin tưởng ban đầu của chúng ta có mạnh mẽ đến đâu, nó cũng chắc chắn sẽ tiêu
tan khi phải trải qua quá nhiều lần xem xét mới, bởi mỗi lần xem xét đều làm
suy giảm phần nào sức mạnh và sinh lực của nó.
Khi
tôi tự suy ngẫm về tính dễ sai lầm tự nhiên trong phán đoán của mình, tôi có ít
sự tin tưởng hơn vào những ý kiến của mình so với khi tôi chỉ xem xét những đối
tượng mà tôi đang suy luận về chúng; và khi tôi còn tiến xa hơn nữa, hướng sự
khảo sát ấy vào từng lần đánh giá kế tiếp mà tôi đưa ra về chính các năng lực
nhận thức của mình, thì mọi quy tắc của lôgíc đều đòi hỏi tôi phải liên tục làm
giảm bớt mức độ tin tưởng, và cuối cùng dẫn đến sự tiêu tan hoàn toàn của mọi
sự tin tưởng và mọi bằng chứng.[4]
T
1.4.1.7, SBN 183
Nếu
ở đây có người hỏi tôi rằng liệu tôi có thật lòng tán thành lập luận mà dường
như tôi đã bỏ nhiều công sức để trình bày này hay không, và liệu tôi có thực sự
là một trong những người theo Thuyết hoài nghi cho rằng mọi thứ đều bất định,
và rằng trong bất cứ điều gì, phán đoán của chúng ta cũng không hề có bất kỳ
tiêu chuẩn nào để phân biệt chân với giả hay không; thì tôi sẽ trả lời rằng câu
hỏi ấy hoàn toàn thừa thãi, và rằng chưa bao giờ có tôi, cũng như bất kỳ ai
khác, thực sự và nhất quán giữ quan điểm ấy. Tự nhiên, bằng một sự tất yếu
tuyệt đối và không gì cưỡng lại được, đã khiến chúng ta phải phán đoán cũng như
phải hô hấp và cảm nhận; cũng như chúng ta không thể ngăn mình nhìn một số đối
tượng dưới một ánh sáng mạnh mẽ và sinh động hơn vì chúng có sự liên kết theo
thói quen với một ấn tượng hiện tại, thì chúng ta cũng không thể ngăn mình suy
nghĩ chừng nào còn thức, hay ngăn mình nhìn thấy những vật thể chung quanh khi
hướng mắt về phía chúng dưới ánh nắng ban ngày rực rỡ. Bất kỳ ai đã bỏ công bác
bỏ những lời công kích của Thuyết hoài nghi triệt để này thì thực ra chỉ đang
tranh luận với một đối thủ không hề tồn tại, và đang cố dùng những lập luận để
thiết lập một năng lực mà tự nhiên đã có sẵn trong não thức từ trước và khiến
nó trở thành điều không thể tránh khỏi.
T
1.4.1.8, SBN 183–4
Vì
vậy, mục đích của tôi khi trình bày thật cẩn thận những lập luận của phái có
phần kỳ quặc ấy chỉ là làm cho người đọc nhận ra tính đúng đắn của giả thuyết
của tôi: rằng mọi suy luận của chúng ta liên quan đến nguyên nhân và kết quả
đều bắt nguồn không từ gì khác ngoài thói quen; và rằng sự tin tưởng, xét đúng
hơn, là một hành động thuộc về phần cảm nhận trong bản tính của chúng ta, chứ
không phải thuộc về phần suy tư của nó.[5]
Ở
đây, tôi đã chứng minh rằng chính những nguyên tắc khiến chúng ta hình thành
một phán đoán về bất kỳ vấn đề nào, rồi điều chỉnh phán đoán ấy bằng cách xem
xét khuynh hướng tự nhiên và năng lực của chính mình, cũng như trạng thái của
não thức khi chúng ta khảo sát vấn đề đó — chính những nguyên tắc ấy, nếu được
đẩy xa hơn và áp dụng vào mọi phán đoán tự suy ngẫm mới, sẽ do liên tục làm suy
giảm bằng chứng ban đầu mà cuối cùng đưa nó về con số không, và hoàn toàn phá
hủy mọi sự tin tưởng cũng như mọi ý kiến.
Vì
vậy, nếu sự tin tưởng chỉ là một hành động đơn thuần của tư tưởng, không kèm
theo một cách hình dung đặc thù nào, cũng không có sự bổ sung của sức mạnh và
tính sinh động, thì nó tất yếu sẽ tự hủy diệt chính mình, và trong mọi trường
hợp đều sẽ kết thúc bằng sự đình chỉ hoàn toàn phán đoán.
Nhưng
kinh nghiệm sẽ đủ sức thuyết phục bất kỳ ai chịu tự mình thử xét rằng: mặc dù
người ấy không thể tìm thấy bất kỳ sai lầm nào trong những lập luận vừa trình
bày, người ấy vẫn tiếp tục tin tưởng, suy nghĩ và suy luận như thường lệ. Do
đó, người ấy có thể kết luận một cách an toàn rằng suy luận và sự tin tưởng của
mình chính là một loại cảm giác, hay một cách hình dung đặc thù nào đó, mà
những ý niệm đơn thuần và những sự tự suy ngẫm không thể nào phá hủy được.
T
1.4.1.9, SBN 184–5
Nhưng
ở đây, có lẽ người ta sẽ hỏi rằng: ngay cả theo giả thuyết của tôi, vì sao
những lập luận vừa được giải thích ở trên lại không dẫn đến sự đình chỉ hoàn
toàn phán đoán, và bằng cách nào não thức vẫn duy trì một mức độ tin tưởng nào
đó đối với bất kỳ vấn đề nào? Bởi vì những xác suất mới này — vốn do sự lặp lại
mà liên tục làm suy giảm bằng chứng ban đầu — lại được xây dựng trên chính
những nguyên lý ấy, dù là những nguyên lý của tư tưởng hay của cảm giác, giống
như phán đoán ban đầu. Vì vậy, dường như không thể tránh khỏi rằng, trong cả
hai trường hợp, chúng cũng phải làm suy yếu chính phán đoán ấy một cách tương
tự, và thông qua sự đối lập giữa những tư tưởng hoặc những cảm giác trái ngược
nhau, đưa não thức đến một trạng thái hoàn toàn không còn chắc chắn.
Tôi
giả định rằng có một vấn đề nào đó được đặt ra trước tôi; và sau khi xem xét
những ấn tượng từ ký ức và giác quan của mình, rồi chuyển tư tưởng từ những ấn
tượng ấy sang những đối tượng thường được kết hợp với chúng, tôi cảm nhận một
cách hình dung mạnh mẽ hơn và có sức tác động hơn về một phía so với phía kia.
Cách hình dung mạnh mẽ ấy tạo thành phán đoán đầu tiên của tôi.[6]
Tôi
lại giả định rằng sau đó tôi khảo sát chính phán đoán của mình; và nhận thấy từ
kinh nghiệm rằng nó đôi khi đúng, đôi khi sai, tôi xem nó như được điều chỉnh
bởi những nguyên lý hay những nguyên nhân đối lập nhau, trong đó một số dẫn đến
chân lý, còn một số dẫn đến sai lầm. Khi cân bằng những nguyên nhân đối lập ấy,
tôi làm giảm bớt mức độ tin tưởng của phán đoán ban đầu bằng một xác suất mới.
Nhưng
xác suất mới này lại chịu sự suy giảm giống như xác suất trước đó, và cứ tiếp
tục như vậy đến vô hạn. Vì vậy, vấn đề được đặt ra là: làm thế nào mà ngay
cả sau tất cả quá trình ấy, chúng ta vẫn còn giữ lại một mức độ tin tưởng đủ
cho mục đích của mình, dù trong triết học hay trong đời sống thường ngày?
T
1.4.1.10, SBN 185
Tôi
trả lời rằng, sau phán đoán thứ nhất và phán đoán thứ hai, hoạt động của não
thức trở nên gượng ép và không còn tự nhiên, còn các ý niệm trở nên mờ nhạt và
không rõ ràng. Mặc dù những nguyên lý của phán đoán, cũng như việc cân nhắc các
nguyên nhân đối lập, vẫn giống như ngay từ lúc ban đầu; tuy nhiên, ảnh hưởng
của chúng đối với trí tưởng tượng, cũng như sức mạnh mà chúng thêm vào hoặc làm
suy giảm nơi tư tưởng, hoàn toàn không còn giống nhau. Khi não thức không thể
tiếp cận các đối tượng của nó một cách dễ dàng và thuận lợi, thì cùng những
nguyên lý ấy không còn tạo ra cùng một hiệu quả như khi các ý niệm được hình
thành trong một cách lĩnh hội tự nhiên hơn; và trí tưởng tượng cũng không còn
trải qua một cảm giác tương xứng với cảm giác phát sinh từ những phán đoán và ý
kiến thông thường của nó.
Sự
chú ý bị căng ra đến mức quá mức; trạng thái của não thức trở nên khó chịu; và
những vận động tự nhiên của cơ chế tâm–sinh lý [7] bị
chuyển hướng khỏi dòng vận hành quen thuộc của chúng, nên chúng không còn chịu
sự chi phối bởi cùng những quy luật — ít nhất không ở cùng mức độ — như khi
chúng vận hành trong trạng thái tự nhiên thường ngày.
T
1.4.1.11, SBN 185–6
Nếu
chúng ta muốn tìm những trường hợp tương tự, thì điều đó không khó. Chủ đề siêu
hình học mà chúng ta đang bàn sẽ cung cấp cho chúng ta rất nhiều ví dụ. Cùng
một lập luận mà trong một suy luận về lịch sử hay chính trị có thể được xem là
có sức thuyết phục, lại có rất ít hoặc hoàn toàn không có tác động trong những
lĩnh vực trừu tượng hơn này, ngay cả khi nó được hiểu một cách đầy đủ; và lý do
là vì để có thể hiểu được nó, cần phải có sự nghiên cứu và một nỗ lực của tư
tưởng; mà chính nỗ lực ấy lại làm xáo trộn hoạt động của những cảm thức, vốn là
nền tảng mà sự tin tưởng dựa vào.
Trường
hợp này cũng xảy ra trong những lĩnh vực khác. Việc làm căng trí tưởng tượng
luôn luôn cản trở dòng vận hành đều đặn của những đam mê và cảm thức. Một nhà
thơ bi kịch, nếu muốn miêu tả những nhân vật anh hùng của mình là những người
quá mức sắc sảo và hóm hỉnh ngay trong lúc họ đang chịu bất hạnh, thì sẽ không
bao giờ có thể lay động được những đam mê. Cũng như những cảm xúc của hồn người
ngăn cản mọi sự suy luận và sự tự suy ngẫm tinh tế, thì những hoạt động sau này
của não thức cũng gây trở ngại tương tự đối với những cảm xúc trước đó.
Não
thức, cũng như cơ thể, dường như được ban cho một mức độ nhất định và xác định
về sức mạnh cũng như hoạt động; nó không bao giờ sử dụng sức mạnh ấy cho một
hoạt động mà không phải trả giá bằng việc làm suy giảm tất cả những hoạt động
khác. Điều này càng rõ ràng hơn khi những hoạt động ấy thuộc về những bản chất
hoàn toàn khác nhau; bởi trong trường hợp đó, sức mạnh của não thức không chỉ
bị chuyển hướng, mà ngay cả khuynh hướng hoạt động của nó cũng bị thay đổi,
khiến chúng ta không thể chuyển đổi đột ngột từ hoạt động này sang hoạt động
khác, và càng không thể thực hiện cả hai hoạt động cùng một lúc.
Vì
vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi sự xác tín phát sinh từ một suy luận tinh
tế lại suy giảm tương ứng với mức độ nỗ lực mà trí tưởng tượng phải bỏ ra để đi
vào quá trình suy luận ấy và lĩnh hội nó trong tất cả các bộ phận của nó. Sự
tin tưởng, bởi vì nó là một sự lĩnh hội sống động, không bao giờ có thể đạt đến
mức độ đầy đủ khi nó không được đặt trên một điều gì đó tự nhiên và dễ dàng.[8]
T
1.4.1.12, SBN 186–7
Tôi
cho rằng đây mới là trạng thái thực sự của vấn đề, và tôi không thể tán thành
cách giải quyết quá nhanh chóng mà một số người dành cho những người theo Thuyết
hoài nghi: đó là bác bỏ ngay lập tức tất cả các lập luận của họ mà không điều
tra hay xem xét. Họ nói rằng: nếu những lập luận hoài nghi có sức mạnh, thì đó
là bằng chứng cho thấy lý trí vẫn có một mức độ sức mạnh và thẩm quyền nào đó;
còn nếu chúng yếu, thì chúng không bao giờ có thể đủ sức làm mất hiệu lực tất
cả những kết luận của khả năng nhận thức của chúng ta.
Lập
luận này không đúng; bởi vì những lập luận hoài nghi — nếu chúng có thể tồn
tại, và nếu chúng không bị chính sự tinh tế của mình làm cho tự tiêu tan — thì
sẽ lần lượt vừa mạnh vừa yếu, tùy theo những trạng thái kế tiếp nhau của não
thức. Ban đầu, lý trí xuất hiện như kẻ đang nắm giữ ngai vàng, ban hành luật lệ
và áp đặt những nguyên tắc với quyền lực và thẩm quyền tuyệt đối. Vì vậy, kẻ
thù của nó buộc phải tìm nơi ẩn náu dưới chính sự bảo vệ của nó; và bằng cách
sử dụng những lập luận của lý trí để chứng minh tính sai lầm và sự yếu đuối của
lý trí, nó tạo ra, theo một nghĩa nào đó, một văn kiện được cấp dưới chính tay
và con dấu của lý trí.
Lúc
đầu, văn kiện ấy có một thẩm quyền tương xứng với thẩm quyền hiện tại và trực
tiếp của lý trí, bởi vì nó bắt nguồn từ chính lý trí. Nhưng vì nó được giả định
là mâu thuẫn với lý trí, nên nó dần dần làm suy giảm sức mạnh của quyền lực
đang cai trị ấy, đồng thời cũng làm suy giảm chính sức mạnh của bản thân nó;
cho đến cuối cùng, cả hai đều tan biến thành hư vô qua một quá trình suy giảm
đều đặn và hợp lý.
Những
lập luận hoài nghi và những lập luận khẳng định thuộc cùng một bản chất, mặc dù
chúng đối lập nhau trong tác động và khuynh hướng. Vì vậy, khi những lập luận
khẳng định mạnh mẽ, chúng phải đối mặt với một đối thủ có sức mạnh tương đương
trong những lập luận hoài nghi; và vì sức mạnh của chúng ban đầu ngang nhau,
nên chúng vẫn tiếp tục ngang nhau chừng nào cả hai còn tồn tại. Không bên nào
mất đi sức mạnh trong cuộc đấu tranh này mà không đồng thời làm suy giảm một
mức tương ứng sức mạnh của bên kia.
Do
đó, thật may mắn rằng tự nhiên kịp thời làm suy yếu sức mạnh của tất cả các lập
luận hoài nghi và ngăn không cho chúng có một ảnh hưởng đáng kể đối với khả
năng nhận thức của chúng ta. Bởi nếu chúng ta hoàn toàn trông cậy vào sự tự hủy
diệt của chính những lập luận ấy, thì sự tự hủy diệt đó sẽ không bao giờ xảy ra
trước khi chúng đã phá hủy mọi sự xác tín và hoàn toàn làm sụp đổ lý trí con
người.[9]
Lê
Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Chú thích
dẫn nhập cho Phần IV: Học thuyết hoài nghi và những hệ thống triết học
Phần
IV là phần kết thúc của Quyển I, đồng thời cũng là cao điểm của toàn bộ công
trình nhận thức luận mà Hume đã triển khai từ đầu Khảo luận về Bản tính Con
người. Trong ba phần trước, ông lần lượt khảo sát nguồn gốc của những tri
giác và những ý niệm, những nguyên tắc liên kết của não thức, bản chất của quan
hệ nhân quả, xác suất, sự tin tưởng và hoạt động của lý trí. Đến đây, sau khi
đã cho thấy rằng mọi suy luận về những sự kiện cuối cùng đều dựa trên tập quán
(custom) chứ không dựa trên một tất yếu của lý trí, Hume đặt ra câu hỏi
quyết định: nếu vậy, những sự tin tưởng nền tảng nhất của con người còn đứng
vững trên cơ sở nào? Liệu lý trí có đủ khả năng biện minh cho chính mình, cho
sự hiện hữu của các vật thể, cho hồn người hay cho bản ngã hay không?
Đó
là một trong những vấn đề lâu đời nhất của triết học phương Tây. Từ thời
Hellas, những nhà Ngụy biện (Sophists), đặc biệt Protagoras, đã đặt nghi vấn về
khả năng đạt tới một chân lý khách quan khi khẳng định rằng "con người là
thước đo của mọi sự vật". Tuy chưa hình thành một học thuyết hoài nghi
theo nghĩa đầy đủ, lập trường ấy đã làm lung lay quan niệm truyền thống cho
rằng lý trí có thể trực tiếp nắm bắt chân lý phổ quát.
Đến
Pyrrhon xứ Elis (khoảng 360–270 TCN), học thuyết hoài nghi lần đầu tiên trở
thành một lập trường triết học hoàn chỉnh. Theo Pyrrhon, con người chỉ trực
tiếp tiếp xúc với những gì xuất hiện (phainomena), chứ không bao
giờ nắm bắt được bản tính tự thân của các sự vật (pragmata). Vì không có
một tiêu chuẩn chắc chắn nào để quyết định giữa những khẳng định đối lập, người
khôn ngoan nên thực hành epochē (đình chỉ phán đoán), từ đó đạt tới ataraxia
(sự bình thản của tâm hồn). Điều đáng chú ý là Pyrrhon không phủ nhận sự hiện
hữu của các sự vật; ông chỉ phủ nhận khả năng con người có thể chứng minh hoặc
nhận biết chắc chắn bản tính của chúng.
Song
song với Pyrrhonism là truyền thống Hoài nghi Học viện (Academic Skepticism),
được Arcesilaus và Carneades phát triển trong Học viện của Plato. Khác với
Pyrrhon, những nhà Hoài nghi Học viện cho rằng mặc dù tri thức chắc chắn (epistēmē)
không thể đạt tới, con người vẫn phải hành động dựa trên những điều có vẻ hợp
lý hoặc có xác suất cao hơn những khả năng khác. Chính ở đây xuất hiện ý tưởng
rằng đời sống thực tiễn không đòi hỏi sự chắc chắn tuyệt đối, mà chỉ đòi hỏi
những mức độ khác nhau của sự tin tưởng. Quan niệm này là một trong những tiền
đề lịch sử quan trọng cho học thuyết về xác suất và sự tin tưởng mà Hume sẽ
phát triển.
Đối
thủ lớn nhất của những trường phái hoài nghi trong thời cổ đại là phái Khắc kỷ
(Stoics). Những nhà Khắc kỷ chủ trương rằng tồn tại những "ấn tượng xác
thực" (kataleptic impressions) mang trong chính chúng dấu hiệu của
chân lý và vì thế có thể làm nền tảng cho tri thức chắc chắn. Cuộc tranh luận
kéo dài nhiều thế kỷ giữa Stoics và những nhà hoài nghi thực chất xoay quanh
một câu hỏi duy nhất: liệu con người có một tiêu chuẩn tuyệt đối nào để phân
biệt chân lý với sai lầm hay không. Hầu hết những cuộc tranh luận nhận thức
luận của châu Âu sau này đều bắt nguồn từ chính vấn đề ấy.
Đến
thời Phục hưng, khi những trước tác của Sextus Empiricus được tái phát hiện và
phổ biến rộng rãi trong thế kỷ XVI và XVII, học thuyết hoài nghi trở thành một
trong những thách thức lớn nhất đối với toàn bộ triết học châu Âu. Michel de
Montaigne khai thác những lập luận hoài nghi để phê phán sự tự phụ của lý trí;
Pierre Bayle sử dụng chúng nhằm cho thấy những mâu thuẫn mà nhiều hệ thống siêu
hình và thần học không thể vượt qua. Có thể nói, phần lớn triết học cận đại
được hình thành như một nỗ lực trả lời thách thức ấy.
Trong
bối cảnh đó, những nhà duy lý, đặc biệt René Descartes, Baruch Spinoza và
Gottfried Wilhelm Leibniz, đều tìm cách thiết lập một nền tảng tuyệt đối chắc
chắn cho tri thức. Descartes sử dụng phương pháp hoài nghi như một công cụ để
tìm ra một điểm khởi đầu không thể nghi ngờ (cogito), rồi từ đó tái
thiết toàn bộ khoa học và siêu hình học. Trái lại, truyền thống duy nghiệm Anh,
từ John Locke đến George Berkeley, đều quy nguồn gốc của tri thức về kinh
nghiệm. Locke cho rằng chúng ta chỉ trực tiếp nhận biết những ý niệm, còn những
ý niệm ấy biểu thị các vật thể bên ngoài; Berkeley phủ nhận vật chất như một
thực thể độc lập, nhưng vẫn quy toàn bộ trật tự của kinh nghiệm về hoạt động
của Thượng đế.
Hume
tiếp nhận toàn bộ cuộc tranh luận ấy, nhưng đồng thời thay đổi tận gốc vấn đề.
Ông không còn hỏi liệu chúng ta có thể chứng minh sự hiện hữu của thế giới bên
ngoài, của hồn người hay của bản ngã hay không; bởi theo ông, lý trí không bao
giờ có khả năng vượt ra ngoài phạm vi những tri giác để xác lập hoặc bác bỏ
những thực tại như vậy. Thay vào đó, ông chuyển toàn bộ câu hỏi từ bình diện
siêu hình học sang bình diện khảo sát bản tính con người. Điều ông muốn biết
không phải là các vật thể có thật hay không, mà là vì sao con người tất yếu
hình thành sự tin tưởng rằng các vật thể hiện hữu liên tục, hiện hữu tách biệt
và hiện hữu độc lập với não thức. Từ đây, siêu hình học truyền thống được thay
thế bằng một khoa học về bản tính con người; câu hỏi "cái gì hiện
hữu?" được chuyển thành câu hỏi "điều gì trong bản tính con người làm
phát sinh những sự tin tưởng về sự hiện hữu ấy?"
Toàn
bộ Phần IV được triển khai theo hướng đó. Mục I khảo sát giới hạn của lý trí và
cho thấy rằng nếu lý trí liên tục tự xét mình bằng chính lý trí, nó sẽ đi đến
sự tiêu giảm của mọi bằng chứng và cuối cùng rơi vào sự hoài nghi triệt để. Mục
II chuyển sang khảo sát nguồn gốc của sự tin tưởng vào sự hiện hữu của các vật
thể, lần lượt xem xét vai trò của các giác quan, lý trí và trí tưởng tượng. Mục
III và Mục IV phê phán những hệ thống của triết học cổ đại và triết học cận
đại. Mục V mở rộng sự phê phán sang học thuyết về tính phi vật chất của hồn
người. Mục VI áp dụng cùng phương pháp ấy cho vấn đề đồng nhất tính cá nhân và
đưa đến học thuyết nổi tiếng về "bó tri giác" (bundle of
perceptions). Mục VII khép lại Quyển I bằng kết luận rằng mặc dù lý trí có
thể đưa chúng ta đến bờ vực của sự hoài nghi triệt để, nhưng tự nhiên luôn mạnh
hơn lý trí: con người vẫn tiếp tục suy luận, tiếp tục tin tưởng và tiếp tục
sống theo những nguyên tắc tự nhiên chi phối sự vận hành của não thức.
Theo
nghĩa ấy, học thuyết hoài nghi của Hume không phải là mục tiêu cuối cùng của
triết học ông, mà là một phương pháp phê phán. Ông sử dụng nó để cho thấy những
giới hạn của lý trí và bác bỏ những yêu sách của siêu hình học khi vượt quá
kinh nghiệm; nhưng đồng thời ông cũng cho thấy rằng con người không thể sống
bằng hoài nghi tuyệt đối. Cuối cùng, chính tập quán, trí tưởng tượng và những
nguyên tắc tự nhiên của não thức chứ không phải những chứng minh siêu hình mới
là nền tảng của hầu hết những sự tin tưởng trong đời sống.
Di
sản của Hume vì thế vượt xa phạm vi của một học thuyết hoài nghi đơn thuần. Ông
đã chuyển trọng tâm của nhận thức luận châu Âu từ việc truy tìm những nền tảng
tuyệt đối của tri thức sang việc khảo sát những điều kiện và những giới hạn của
nhận thức con người. Chính sự chuyển hướng ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ
triết học sau này. Immanuel Kant nổi tiếng thừa nhận rằng Hume đã "đánh
thức tôi khỏi giấc ngủ giáo điều", từ đó mở đường cho triết học phê phán.
Đồng thời, cách Hume phân tích những sự tin tưởng như những hiện tượng của bản
tính con người cũng trở thành một trong những nguồn cảm hứng quan trọng đối với
học thuyết thực chứng, triết học phân tích và nhiều khuynh hướng nhận thức luận
hiện đại. Theo nghĩa đó, Hume không kết thúc truyền thống hoài nghi của châu
Âu; ông đã biến nó từ một học thuyết phủ định thành một phương pháp tích cực để
xác định những giới hạn của lý trí và mở ra một cách hiểu mới về con người.
[2] Đoạn mở
đầu này đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong Phần IV của Quyển I, A
Treatise of Human Nature: sau khi khảo sát nguồn gốc của tin tưởng, nhân
quả và suy luận quy nạp, Hume quay sự phân tích trở lại chính công cụ nhận thức
của con người — tức lý trí. Ông đặt câu hỏi không chỉ “chúng ta suy luận như
thế nào?”, mà còn “chúng ta có thể tin tưởng vào chính năng lực suy luận của
mình đến mức nào?”.
Hume không
nói rằng toán học hay khoa học chứng minh trở thành sai lầm. Ông nói rằng khi
con người áp dụng ngay cả những quy tắc chắc chắn ấy, thì hoạt động nhận thức
của con người vẫn có thể mắc lỗi. Vì vậy, sự chắc chắn của mệnh đề không đồng
nhất với sự chắc chắn tuyệt đối của tin tưởng tâm lý mà con người dành cho mệnh
đề ấy.
Đây chính là
bước mở đầu cho hình thức hoài nghi giảm nhẹ (mitigated scepticism) của Hume:
ông không hoài nghi giá trị của lý trí, mà chỉ yêu cầu lý trí tự kiểm tra chính
những giới hạn của chúng ta.
Điểm
then chốt của Hume là: ngay cả lý trí cũng phải được xem xét theo phương pháp
thực nghiệm. Bởi vì lý trí là một năng lực tự nhiên, và mọi năng lực tự nhiên
đều có thể bị ảnh hưởng bởi những điều kiện khác nhau, nên tin tưởng vào lý trí
cũng phải dựa trên kinh nghiệm về mức độ thành công và sai lầm của nó. Chính vì
vậy, theo Hume, ngay cả tri thức toán học — lĩnh vực dường như chắc chắn nhất —
khi được con người thực sự sử dụng cũng vẫn đi kèm với một mức độ tin tưởng
được củng cố dần qua việc kiểm tra, lặp lại và sự xác nhận của cộng đồng những
người có năng lực.
[3] “Hoài
nghi giảm nhẹ” (mitigated scepticism) của Hume và ý nghĩa của những khoa
học chứng minh (demonstrative sciences): Trong phần này của Treatise
of Human Nature, khi Hume bàn về “scepticism with regard to reason” (sự
hoài nghi liên quan đến lý trí), thuật ngữ scepticism cần được hiểu theo nghĩa
đặc thù trong triết học của ông. Hume không phải là một người theo Thuyết hoài
nghi triệt để, tức quan điểm cho rằng con người hoàn toàn không thể đạt được
tri thức hoặc rằng mọi tin tưởng đều không có cơ sở. Điều ông thực hiện là một
sự khảo sát phê phán đối với phạm vi và giới hạn của năng lực nhận thức con
người.
Thái
độ này thường được gọi là “hoài nghi giảm nhẹ” (mitigated scepticism).
Đây là một hình thức hoài nghi có tính điều độ: nó không phủ nhận giá trị của
lý trí, khoa học hay kinh nghiệm, mà yêu cầu chúng ta xác định đúng mức độ chắc
chắn mà mỗi loại tri thức có thể đạt tới. Hume không hỏi liệu con người có thể
biết hay không, mà hỏi: chúng ta có cơ sở nào để gán cho một tin tưởng một mức
độ chắc chắn nhất định, và giới hạn của mức độ ấy nằm ở đâu?
Điểm
xuất phát của Hume là sự phân biệt giữa những quy tắc của lý trí và năng lực
nhận thức của con người khi vận dụng những quy tắc ấy. Một quy tắc chứng minh
có thể hoàn toàn chắc chắn và không thể sai lầm; nhưng con người áp dụng quy
tắc ấy lại là một hữu thể hữu hạn, với trí nhớ, sự chú ý và khả năng phán đoán
đều có thể mắc sai lầm. Vì vậy, ngay cả khi bản thân nguyên tắc lý luận là bất
khả sai, tin tưởng của chúng ta rằng mình đã hiểu đúng và áp dụng đúng nguyên
tắc ấy vẫn phải được củng cố bằng kinh nghiệm.
Chính
vì lý do đó, Hume cho rằng mọi tri thức của con người, xét như một trạng thái
tin tưởng thực tế của não thức, đều có một chiều kích xác suất. “Xác suất” ở
đây không có nghĩa rằng mọi chân lý đều chỉ là phỏng đoán, mà có nghĩa rằng mức
độ tin tưởng của con người vào một kết luận phụ thuộc vào kinh nghiệm về độ
đáng tin của chính năng lực nhận thức của mình.
Ngay
cả trong lĩnh vực chắc chắn nhất là toán học, Hume vẫn phân biệt giữa tính tất
yếu của chân lý và quá trình tâm lý khiến con người tin rằng mình đã nắm bắt
chân lý ấy. Một định lý toán học có thể có tính tất yếu trong hệ thống những ý
niệm; nhưng nhà toán học vẫn có thể mắc lỗi khi thực hiện phép tính, bỏ sót một
bước chứng minh hoặc hiểu sai một lập luận. Vì vậy, sự chắc chắn trong hoạt
động nhận thức của con người không chỉ đến từ bản thân đối tượng nhận thức, mà
còn đến từ việc kiểm tra, lặp lại và xác nhận qua kinh nghiệm.
Ý
nghĩa của “demonstrative sciences” (các khoa học chứng minh): Trong đoạn này,
“demonstrative sciences” chỉ những lĩnh vực mà chân lý được xác lập thông qua
sự chứng minh dựa trên quan hệ giữa những ý niệm (relations of ideas),
chứ không dựa trên việc quan sát những sự kiện trong thế giới bên ngoài.
Ví
dụ điển hình là toán học và hình học. Trong những lĩnh vực này, chúng ta không
cần kinh nghiệm để biết một mệnh đề là đúng, bởi sự phủ định của nó dẫn đến mâu
thuẫn trong chính cấu trúc ý niệm.
Chẳng
hạn: “Hai lần hai bằng bốn”. Mệnh đề này không đúng vì chúng ta đã quan sát
hàng nghìn lần những nhóm hai vật kết hợp thành bốn vật. Nó đúng bởi khi xem
xét những ý niệm liên quan, ta nhận thấy một quan hệ tất yếu giữa chúng.
Tương
tự: “Ba góc của một tam giác bằng hai góc vuông”. Trong hình học Euclid, kết
luận này được chứng minh từ những định nghĩa và tiên đề của hệ thống hình học,
chứ không phải từ việc đo tất cả những tam giác tồn tại trong tự nhiên.
Đây
là loại tri thức mà Hume xem là có tính chắc chắn cao nhất, bởi nó không phụ
thuộc vào kinh nghiệm về thế giới mà dựa trên việc phân tích quan hệ giữa những
ý niệm. Tuy nhiên, điều Hume muốn cho thấy trong đoạn này là: sự chắc chắn của
hệ thống chứng minh không đồng nhất với sự bất khả sai của con người khi thực
hiện hoạt động chứng minh.
Ý
nghĩa triết học của lập luận này: Điểm sâu sắc trong lập luận của Hume là ông
không đặt lý trí bên ngoài tự nhiên để làm tiêu chuẩn tuyệt đối đánh giá mọi
thứ. Lý trí, đối với Hume, cũng là một năng lực tự nhiên của con người; vì vậy
nó phải được khảo sát bằng cùng một phương pháp mà ta dùng để nghiên cứu những
hiện tượng khác: quan sát hoạt động của nó, xem xét những điều kiện khiến nó
thành công hoặc thất bại.
Đây
là sự mở rộng triệt để của phương pháp duy nghiệm. Trước Hume, người ta thường
dùng lý trí như một công cụ để khám phá bản chất của thế giới; Hume quay sự
khảo sát ấy trở lại chính lý trí: lý trí hoạt động như thế nào, tại sao nó tạo
ra tin tưởng, và đâu là giới hạn của những tin tưởng ấy?
Theo
nghĩa này, hoài nghi giảm nhẹ của Hume không phá hủy tri thức, mà điều chỉnh
tham vọng của tri thức. Nó buộc con người từ bỏ ý tưởng rằng mình có thể đạt
đến một sự chắc chắn tuyệt đối trong mọi lĩnh vực, đồng thời bảo vệ một quan
niệm khiêm tốn hơn về khoa học: khoa học không dựa trên việc nắm bắt những bản
chất ẩn giấu hay những tất yếu siêu hình, mà dựa trên sự quan sát, kiểm chứng,
điều chỉnh và mở rộng liên tục của kinh nghiệm.
Điểm
này hoàn toàn nhất quán với phân tích trước đó của Hume về nhân quả. Trong quan
hệ nhân quả, chúng ta không phát hiện một “năng lực tất yếu” nằm trong sự vật;
chúng ta chỉ phát hiện những sự kết hợp thường xuyên và từ đó hình thành trong
não thức một khuynh hướng chuyển từ ý niệm này sang ý niệm khác. Tương tự,
trong lĩnh vực lý trí, chúng ta không sở hữu một năng lực nhận thức tuyệt đối
bất khả sai; chúng ta chỉ có kinh nghiệm về mức độ đáng tin của năng lực ấy.
Vì
vậy, hoài nghi giảm nhẹ của Hume là một hình thức duy nghiệm tự suy ngẫm: kinh
nghiệm không chỉ cho chúng ta biết thế giới vận hành như thế nào, mà còn giúp
chúng ta hiểu chính hoạt động nhận thức của mình và giới hạn của những gì chúng
ta có thể biết.
[4] Đoạn này
trình bày một hệ quả quan trọng trong phân tích của Hume về giới hạn của năng
lực nhận thức. Khi một phán đoán được hình thành dựa trên kinh nghiệm, chúng ta
không chỉ xem xét đối tượng mà còn phải xem xét khả năng sai lầm của chính năng
lực đã đưa ra phán đoán ấy. Nhưng khi sự kiểm tra này được tiếp tục áp dụng vào
chính những đánh giá trước đó — tức khi não thức không chỉ xét đối tượng, mà
còn xét sự đáng tin của chính cách nó phán đoán về đối tượng — thì một chuỗi
nghi ngờ mới có thể được mở ra vô tận.
Hume
cho thấy rằng nếu theo đuổi sự tự kiểm tra này đến cùng một cách tuyệt đối, mọi
mức độ tin tưởng ban đầu đều sẽ liên tục bị suy giảm. Mỗi lần xem xét lại đều
thêm vào một khả năng sai lầm mới, và bởi không có điểm dừng cuối cùng, ngay cả
sự tin tưởng mạnh mẽ nhất cũng có nguy cơ bị giảm xuống thành không. Đây chính
là nghịch lý của một hình thức hoài nghi triệt để: nỗ lực bảo đảm sự chắc chắn
tuyệt đối cho tri thức bằng cách không ngừng kiểm tra nền tảng của nó cuối cùng
lại phá hủy chính khả năng tin tưởng vào bất kỳ điều gì.
Tuy
nhiên, mục đích của Hume không phải là dẫn đến một sự phủ nhận hoàn toàn tri
thức hay một Thuyết hoài nghi tuyệt đối. Phân tích này chỉ cho thấy rằng con
người không thể xây dựng toàn bộ đời sống nhận thức trên một nền tảng của sự
chắc chắn không thể sai lầm. Lý trí, khi tự xem xét chính mình một cách vô hạn,
không thể cung cấp một điểm tựa cuối cùng vượt ra ngoài mọi khả năng nghi ngờ.
Vì
vậy, Hume sẽ chuyển hướng sang một cách giải thích tự nhiên hơn về hoạt động
nhận thức của con người: chúng ta không duy trì tin tưởng chỉ nhờ những chứng
minh tuyệt đối của lý trí, mà còn nhờ những nguyên tắc tự nhiên của não thức,
đặc biệt là thói quen (custom) được hình thành qua kinh nghiệm lặp lại. Chính
thói quen khiến chúng ta tiếp tục chuyển từ một ý niệm sang một ý niệm khác, từ
quá khứ sang tương lai, và từ những trường hợp đã quan sát sang những dự đoán
về những trường hợp chưa quan sát.
Theo
nghĩa đó, đoạn này không phải là sự từ bỏ tri thức, mà là bước chuẩn bị cho
quan niệm hoài nghi giảm nhẹ (mitigated scepticism) của Hume: con người phải từ
bỏ tham vọng đạt đến một sự chắc chắn tuyệt đối trong những vấn đề thực nghiệm,
nhưng vẫn có thể xây dựng tri thức thực tiễn dựa trên kinh nghiệm, xác suất và
những nguyên tắc vận hành tự nhiên của não thức.
[5] Ở đây Hume gọi những
người theo lập trường hoài nghi cực đoan là “phái có phần kỳ quặc” (that
fantastic sect). Cách gọi này không có nghĩa là ông bác bỏ hoàn toàn những
lập luận của họ, mà muốn chỉ đến một nhóm người đã đẩy những nguyên tắc hoài
nghi của lý trí đến giới hạn cuối cùng. Họ cho rằng mỗi phán đoán phải được
kiểm tra bằng một phán đoán khác về năng lực nhận thức đã tạo ra nó; nhưng phán
đoán thứ hai lại cần một sự kiểm tra tiếp theo, và cứ như vậy kéo dài vô tận.
Nếu áp dụng nguyên tắc này một cách triệt để, mọi bằng chứng cuối cùng đều bị
suy giảm đến mức không còn nền tảng nào cho sự tin tưởng.
Điểm quan trọng là Hume sử dụng lập luận của những người hoài nghi
này không phải để kết luận rằng con người không thể tin tưởng hay không thể suy
luận, mà để cho thấy giới hạn của việc tìm kiếm một nền tảng thuần lý cho mọi tin
tưởng. Chính sự thất bại của hoài nghi cực đoan lại giúp Hume chứng minh luận
điểm của mình: tin tưởng của con người không thể chỉ được giải thích bằng lý
trí. Nếu lý trí tự kiểm tra chính nó vô hạn, nó sẽ tự làm suy yếu mọi bằng
chứng; nhưng trong thực tế, con người vẫn tiếp tục tin tưởng, suy nghĩ và hành
động. Vì vậy, nguồn gốc của sự tin tưởng phải nằm trong những cơ chế tự nhiên
của não thức, đặc biệt là thói quen hình thành từ kinh nghiệm lặp lại.
Câu này diễn đạt một trong những luận điểm quan trọng nhất của
Hume về bản chất của sự tin tưởng (belief). Ông không muốn nói rằng tin
tưởng chỉ là một cảm giác đơn thuần, cũng không phủ nhận vai trò của suy luận.
Ý ông là: sự tin tưởng không phải là kết quả cuối cùng của một phép suy luận lý
tính, trong đó não thức nhìn thấy một bằng chứng tất yếu rồi từ đó buộc phải
chấp nhận kết luận. Trái lại, tin tưởng là một trạng thái đặc biệt của não
thức, trong đó một ý niệm được hình thành với mức độ mạnh mẽ và sinh động hơn
nhờ ảnh hưởng của kinh nghiệm và thói quen.
Khi một người nhiều lần quan sát thấy hai hiện tượng đi cùng nhau
— chẳng hạn một loại nguyên nhân thường xuyên theo sau bởi một loại kết quả —
sự lặp lại ấy không làm phát sinh một năng lực mới trong bản thân những sự vật.
Điều thay đổi là cách hoạt động của não thức: nó dần hình thành một khuynh
hướng tự nhiên chuyển từ ý niệm về sự kiện thứ nhất sang sự mong đợi về sự kiện
thứ hai. Chính sự chuyển tiếp được củng cố bởi thói quen này tạo ra cảm giác về
sự chắc chắn và là nền tảng của sự tin tưởng.
Vì vậy, Hume thực hiện một sự chuyển đổi quan trọng trong cách
hiểu về tri thức. Thay vì xem tin tưởng như sản phẩm của lý trí thuần túy, ông
cho rằng lý trí chỉ hoạt động trên nền tảng của những khuynh hướng tự nhiên đã
có sẵn trong đời sống nhận thức của con người. Sự tin tưởng thuộc về “phần cảm
nhận” (sensitive part) bởi nó liên quan đến cách một ý niệm được cảm
nhận với sức mạnh và tính sinh động; nó thuộc về đời sống trực tiếp của não
thức trước khi trở thành một kết luận được diễn đạt bằng suy luận.
Theo nghĩa này, Hume không hạ thấp tri thức xuống thành cảm tính
chủ quan, mà chỉ cho thấy rằng nền tảng sâu xa của tri thức thực nghiệm không
nằm trong những chứng minh lý tính tuyệt đối, mà nằm trong cách thức tự nhiên
của não thức hình thành tin tưởng từ kinh nghiệm và thói quen.
[6] “Cách hình dung” = ở
đoạn này Hume cố ý dùng “conception” thay vì “belief”. Ông đang chuẩn bị cho
kết luận sau đó rằng nếu sự tin tưởng chỉ là một hành vi của suy tưởng (act
of thought) thì chuỗi hoài nghi sẽ tất yếu phá hủy nó; nhưng vì trong thực
tế sự tin tưởng vẫn tồn tại, nên nó phải là một cách hiện hữu đặc biệt của ý
niệm trong não thức — một ý niệm có sức mạnh và tính sinh động hơn, chứ không
chỉ là một kết luận lý luận.
Ở đây Hume đang tự đưa ra phản bác mạnh nhất đối với chính phân
tích hoài nghi của mình. Nếu mỗi tin tưởng ban đầu đều phải bị giảm bớt bởi sự
nhận thức rằng năng lực nhận thức của chúng ta có thể sai lầm, rồi sự đánh giá
ấy lại phải tiếp tục bị đánh giá lại, thì một chuỗi suy giảm vô hạn dường như
phải dẫn đến kết quả cuối cùng là không còn bất kỳ mức độ tin tưởng nào.
Điểm tinh tế trong lập luận này là Hume không phủ nhận tính hợp lý
của chuỗi suy luận trên. Ông thừa nhận rằng nếu chỉ xét hoạt động của lý trí
trong việc kiểm tra và điều chỉnh những phán đoán, ta thực sự có thể đi đến
hoài nghi triệt để. Nhưng ông đặt ra câu hỏi: nếu lý trí dẫn đến sự đình chỉ
hoàn toàn phán đoán, tại sao trong thực tế con người vẫn tiếp tục tin tưởng?
Câu trả lời sẽ dẫn Hume đến sự phân biệt quan trọng giữa hoạt động
lý tính của não thức và cơ chế tự nhiên tạo ra sự tin tưởng. Chuỗi suy giảm vô
hạn chỉ tác động đến những đánh giá trừu tượng của lý trí; nó không thể xóa bỏ
sức mạnh tự nhiên của những ấn tượng, ký ức và thói quen. Chính vì sự tin tưởng
không phải chỉ là một kết luận của suy tưởng, mà là một trạng thái của não thức
được tạo ra bởi sức mạnh và tính sinh động của ý niệm, nên con người vẫn duy
trì được một mức độ tin tưởng thực tiễn dù không đạt đến sự chắc chắn tuyệt
đối.
[7] spirits không có
nghĩa là “linh hồn” theo nghĩa một thực thể tinh thần độc lập, cũng không đồng
nghĩa với soul mà Hume đôi khi sử dụng. Thuật ngữ này thuộc về ngôn ngữ
sinh lý học thế kỷ XVII–XVIII, gần với khái niệm animal spirits, dùng để
chỉ những vận động tự nhiên của cơ chế tâm–sinh lý — tức những chuyển động tinh
tế trong cơ thể được cho là liên quan đến cảm giác, trí tưởng tượng và hoạt
động của não thức.
Khi nói rằng the spirits are diverted from their natural course,
Hume muốn chỉ rằng trong quá trình tự xem xét vô hạn về chính những phán đoán
của mình, hoạt động của não thức trở nên gượng ép và lệch khỏi cách vận hành tự
nhiên thường ngày. Vì vậy, những nguyên tắc vốn điều khiển tin tưởng và suy
luận trong đời sống thông thường không còn tác động với cùng mức độ như trước.
[8] Hume đang giải thích vì
sao hoài nghi triết học quá mức không thể phá hủy hoàn toàn tin tưởng tự nhiên:
không phải vì lập luận hoài nghi sai, mà vì bản thân cơ chế tâm–sinh lý của não
thức không thể duy trì một trạng thái suy luận trừu tượng liên tục. Khi suy
luận quá xa khỏi những gì tự nhiên và quen thuộc, nó làm suy yếu chính cảm thức
tạo nên sự tin tưởng.
[9] Luận điểm cốt lõi của
đoạn kết: Hume không nói rằng những lập luận hoài nghi bị bác bỏ bằng một lập
luận mạnh hơn. Ông đưa ra một phân tích tâm lý–nhận thức: nếu lý trí dùng chính
mình để phá hủy mọi nền tảng của lý trí, thì quá trình ấy sẽ làm suy yếu cả lập
luận hoài nghi lẫn nền tảng mà nó dựa vào. Vì vậy, sự hoài nghi triệt để không
thể tồn tại như một trạng thái lâu dài của con người; tự nhiên can thiệp trước
khi nó đạt đến kết quả cuối cùng là phá hủy hoàn toàn tin tưởng và hành động.
Đây là điểm chuyển quan trọng từ hoài nghi lý luận sang duy tự nhiên
(naturalism) của Hume: con người không sống nhờ một sự biện minh tuyệt đối của
lý trí, mà nhờ những nguyên tắc tự nhiên của não thức, thói quen và cảm thức.
