Tuesday, March 31, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (07)

Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )





TIẾT VI.

Về Xác Suất [10].

 

E 6.1, SBN 56

MẶC DÙ không có gì như là Sự Ngẫu Nhiên trong thế giới; sự thiếu hiểu biết của chúng ta về nguyên nhân thực của sự kiện bất kỳ nào cũng cùng ảnh hưởng đến khả năng hiểu biết và sinh ra một loại tin tưởng hay ý kiến tương tự..

 

E 6.2, SBN 56-7

Chắc chắn có một xác suất, nảy sinh từ một vượt trội của sự ngẫu nhiên ở bất kỳ phía nào; và theo như sự vượt trội này tăng lên và vượt quá những ngẫu nhiên đối lập, thì xác suất nhận được một sự tăng lên tương ứng, và lại càng sinh ra một mức độ tin tưởng hay chấp thuận cao hơn nữa cho phía vốn chúng ta nhận thấy sự vượt trội.

Nếu một con xúc xắc được đánh dấu bằng một hình vẽ hay số những đốm trên bốn mặt, và bằng một hình hay số những đốm khác trên hai mặt còn lại thì khả năng xảy ra xuất hiện trường hợp thứ nhất sẽ cao hơn trường hợp thứ hai; tuy nhiên, nếu nó có một nghìn mặt được đánh dấu theo cùng một cách, và chỉ có một mặt khác biệt, thì xác suất sẽ cao hơn nhiều, và tin tưởng hay mong đợi của chúng ta về sự kiện đó sẽ vững vàng và chắc chắn hơn.

Tiến trình suy nghĩ hay lý luận này có vẻ tầm thường và hiển nhiên; nhưng với những người xem xét nó một cách kỹ lưỡng hơn, có lẽ nó sẽ mang lại chất liệu cho sự suy ngẫm kỳ thú.

 

E 6.3, SBN 57

Điều là hiển nhiên rằng, khi não thức mong đợi để tìm ra sự kiện, vốn có thể là kết quả của việc gieo một con xúc xắc như vậy, nó xem xét việc lật lên của mỗi mặt cụ thể như có khả năng xảy ra như nhau; và đây chính là bản chất của sự ngẫu nhiên, khiến cho tất cả những sự kiện cụ thể bao hàm trong đó hoàn toàn ngang bằng. Nhưng khi tìm thấy một số lượng lớn hơn nhiều mặt của một sự kiện hội tụ vào một sự kiện hơn là váo sự kiện còn lại, não thức sẽ thường xuyên hướng đến sự kiện đó hơn, và gặp nó thường xuyên hơn trong việc xem đi xét lại những khả năng hay cơ hội khác nhau vốn kết quả cuối cùng phụ thuộc.

Sự trùng hợp của nhiều quan sát vào một sự kiện cụ thể nảy sinh lập tức cảm giác của tin tưởng, bởi một sự xếp đặt không thể giải thích của tự nhiên, và mang cho sự kiện đó ưu thế hơn so với đối nghịch của nó, vốn được một số lượng nhỏ hơn những quan sát hỗ trợ, và ít thường xuyên lập lại hơn tới não thức.

Nếu chúng ta thừa nhận rằng tin tưởng không là gì khác ngoài một quan niệm vững chắc và mạnh mẽ hơn về một đối tượng so với những gì đi kèm với những hư cấu thuần túy của trí tưởng tượng, thì hoạt động này có thể được giải thích trong một mức độ nào đó.

Sự hội tụ của những quan sát hoặc cái nhìn thoáng qua này khắc sâu ý niệm mạnh mẽ hơn vào trí tưởng tượng; mang cho nó sức mạnh và sức sống vượt trội; làm cho ảnh hưởng của nó lên cảm xúc và tình cảm trở nên rõ rệt hơn; và nói tóm lại, sinh ra sự tin cậy hoặc sự an tâm, vốn cấu thành bản chất của tin tưởng và ý kiến.

 

E 6.4, SBN 57-9

Trường hợp xác suất của những nguyên nhân cũng tương tự như trường hợp xác suất của sự ngẫu nhiên. Có một số nguyên nhân hoàn toàn đồng nhất và ổn định trong việc tạo ra một tác động cụ thể; và chưa từng có trường hợp nào được tìm thấy về sự thất bại hoặc bất thường trong hoạt động của chúng. Lửa luôn luôn cháy, và nước luôn làm ngạt thở tất cả những sinh vật: Sự tạo ra chuyển động bởi xung lực và trọng lực là một quy luật phổ quát, cho đến nay chưa có ngoại lệ nào. Nhưng có những nguyên nhân khác được tìm thấy là bất thường và không chắc chắn hơn; và cây đại hoàng không phải lúc nào cũng có tác dụng nhuận tràng, hoặc thuốc phiện không phải lúc nào cũng gây buồn ngủ cho tất cả những người đã dùng những loại thuốc này.

Đúng vậy, khi bất kỳ nguyên nhân nào không tạo ra tác dụng thông thường của nó, những triết gia không gán điều này cho bất kỳ sự bất thường nào trong tự nhiên; nhưng giả định rằng, một số nguyên nhân bí ẩn trong cấu trúc cụ thể của những thành phần đã ngăn cản hoạt động đó. Tuy nhiên, lập luận và kết luận của chúng ta về sự kiện này cũng giống như thể nguyên lý đó không hiện hữu.Theo thói quen quyết định, chúng ta luôn chuyển quá khứ sang tương lai trong tất cả những suy luận của chúng ta; khi quá khứ hoàn toàn đều đặn và đồng nhất, chúng ta mong đợi sự kiện với sự bảo đảm lớn nhất và không để chỗ cho bất kỳ giả định trái ngược nào. Nhưng khi những tác dụng khác nhau được tìm thấy theo sau những nguyên nhân vốn bề ngoài có vẻ hoàn toàn giống nhau, tất cả những tác dụng khác nhau này phải xuất hiện trong não thức trong việc chuyển quá khứ sang tương lai; và đi vào sự xem xét của chúng ta, khi chúng ta xác định xác suất của sự kiện. Dù chúng ta ưu tiên cho những gì được thấy là thường gặp nhất, và tin rằng tác dụng này sẽ hiện hữu, chúng ta không được bỏ qua những tác dụng khác, mà phải gán cho mỗi tác dụng một trọng số và thẩm quyền cụ thể, theo đúng tỷ lệ mà chúng ta đã thấy nó xảy ra thường xuyên hay ít hơn.

Là điều thường xảy ra hơn, trong hầu hết những quốc gia châu Âu, sẽ có sương giá vào tháng Giêng hơn hơn là việc thời tiết sẽ tiếp tục quang đãng trong suốt toàn bộ tháng đó; mặc dù xác suất này thay đổi theo những khí hậu khác nhau, và gần như tiến tới sự chắc chắn ở những vương quốc phía Bắc. Ở đây khi đó, dường như hiển nhiên, rằng khi chúng ta chuyển dịch quá khứ sang tương lai, để xác định hậu quả, vốn sẽ nảy sinh từ bất kỳ nguyên nhân nào, chúng ta chuyển tất cả những sự kiện khác nhau, theo đúng tỷ lệ như chúng đã xuất hiện trong quá khứ, và hình dung một sự kiện đã hiện hữu hàng trăm lần, chẳng hạn, một sự kiện khác mười lần, và và một sự kiện khác nữa chỉ một lần.

Khi một số lượng lớn những quan sát cùng hội tụ vào một sự kiện, chúng củng cố và xác nhận sự kiện ấy trong trí tưởng tượng, sinh ra cảm giác vốn chúng ta gọi là tin tưởng và khiến đối tượng của nó được ưu tiên hơn sự kiện ngược lại, vốn không được số lượng thí nghiệm tương đương hỗ trợ, và cũng không thường xuyên xuất hiện trong suy nghĩ khi chúng ta chuyển từ quá khứ sang tương lai.

Hãy để bất cứ ai cố gắng giải thích hoạt động này của não thức dựa trên bất kỳ hệ thống triết học nào được chấp nhận, và họ sẽ nhận ra sự khó khăn. Về phần tôi, tôi cho rằng chỉ cần những gợi ý hiện tại khơi dậy sự tò mò của những triết gia, và khiến họ nhận thấy sự thiếu sót của mọi lý thuyết thông thường khi giải quyết những những vấn đề kỳ thú và cao siêu như vậy.

 

E 6.0n10, SBN 56

10. Ông Locke chia tất cả những lập luận thành hai loại: chứng minh diễn dịch (demonstrative) và xác suất (probable). Theo quan điểm này, chúng ta buộc phải nói rằng việc mọi người đều phải chết, hay việc ngày mai mặt trời sẽ mọc, chỉ là những điều 'có khả năng xảy ra'. Tuy nhiên, để ngôn ngữ của chúng ta phù hợp hơn với cách dùng thông thường, chúng ta nên chia lập luận thành ba loại: minh định (demonstrations), bằng chứng xác thực (proofs) và xác suất (probabilities). [1]. Trong đó, 'bằng chứng xác thực' ý chỉ những lập luận rút ra từ kinh nghiệm nhưng không để lại kẽ hở nào cho sự nghi ngờ hay phản bác. [2]


 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Mar/2026)

(Còn tiếp... →)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 


[1] demonstrationsproofs, and probabilities.

[2] Trong đoạn này, David Hume nhắc đến cách phân loại tri thức của John Locke trong An Essay Concerning Human Understanding. Locke chia các lập luận thành hai loại: demonstrative (tri thức tiên nghiệm, thuần lý trí như toán học) và probable (tri thức dựa trên kinh nghiệm). Tuy nhiên, Hume cho rằng cách phân chia này không phản ánh đúng thực tiễn nhận thức: nó buộc phải xếp những tri thức kinh nghiệm gần như chắc chắn—chẳng hạn các quy luật quy nạp—vào cùng một phạm trù với những phỏng đoán bấp bênh.

Để khắc phục, Hume đề xuất một phân biệt tinh tế hơn: ngoài demonstrations (minh định), ông tách phần “probable” của Locke thành proofs (xác thực: tuy dựa trên kinh nghiệm nhưng có tính đồng nhất cao, hầu như không thể nghi ngờ) và probabilities (xác suất: những trường hợp còn bất định hoặc có khả năng sai lầm). Cách phân chia này cho phép Hume vừa giữ lập trường duy nghiệm (rằng tri thức về sự kiện không đạt tới tính tất yếu logic), vừa giải thích vì sao trong thực tế, một số niềm tin dựa trên kinh nghiệm vẫn có sức thuyết phục gần như chắc chắn.