(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT VI.
Về Xác Suất [10].
E 6.1, SBN 56
MẶC DÙ không có gì
như là Sự Ngẫu Nhiên trong thế giới; sự thiếu hiểu biết của chúng ta về
nguyên nhân thực của sự kiện bất kỳ nào cũng cùng có ảnh hưởng đến khả
năng hiểu biết và sinh ra một loại tin tưởng hay ý kiến tương tự..
E 6.2, SBN 56-7
Chắc chắn có một xác suất, nảy sinh từ một vượt trội của sự ngẫu nhiên ở bất kỳ phía nào; và theo như sự vượt trội này tăng
lên và vượt quá những ngẫu nhiên đối lập, thì xác suất nhận được một sự tăng lên tương ứng, và lại càng sinh ra một mức độ tin tưởng hay
chấp thuận cao hơn nữa cho phía vốn chúng ta nhận thấy sự vượt trội.
Nếu một con xúc xắc được đánh dấu bằng một hình vẽ hay số những đốm trên bốn mặt, và bằng một hình hay số những đốm khác trên hai mặt
còn lại thì
khả năng xảy ra xuất hiện trường hợp thứ nhất sẽ cao hơn trường hợp thứ hai; tuy nhiên,
nếu nó có một nghìn mặt được đánh dấu theo cùng một cách, và chỉ có một mặt
khác biệt, thì xác suất sẽ cao hơn nhiều, và tin tưởng hay mong đợi của chúng ta về sự kiện đó sẽ vững vàng và chắc chắn
hơn.
Tiến trình suy
nghĩ hay lý luận này có vẻ tầm thường và hiển nhiên; nhưng với những người xem
xét nó một cách kỹ lưỡng hơn, có lẽ nó sẽ mang lại chất liệu cho sự suy ngẫm kỳ
thú.
E 6.3, SBN 57
Điều là hiển
nhiên rằng, khi não thức mong đợi để tìm ra sự kiện, vốn có thể là kết quả của
việc gieo một con xúc xắc như vậy, nó xem xét việc lật lên của mỗi mặt cụ thể như có
khả năng xảy ra như nhau; và đây chính là bản chất của sự ngẫu nhiên, khiến cho
tất cả những sự kiện cụ thể bao hàm trong đó hoàn toàn ngang bằng. Nhưng khi tìm
thấy một số lượng lớn hơn nhiều mặt của một sự kiện hội tụ vào một sự kiện hơn là
váo sự kiện còn lại, não thức sẽ thường xuyên hướng đến sự kiện đó hơn, và gặp
nó thường xuyên hơn trong việc xem đi xét lại những khả năng hay cơ hội khác
nhau vốn kết quả cuối cùng phụ thuộc.
Sự trùng hợp của
nhiều quan sát vào một sự kiện cụ thể nảy sinh lập tức cảm giác của tin tưởng, bởi
một sự xếp đặt không thể giải thích của tự nhiên, và mang cho sự kiện đó ưu thế
hơn so với đối nghịch của nó, vốn được một số lượng nhỏ hơn những quan sát hỗ trợ,
và ít thường xuyên lập lại hơn tới não thức.
Nếu chúng ta thừa
nhận rằng tin tưởng không là gì khác ngoài một quan niệm vững chắc và mạnh mẽ
hơn về một đối tượng so với những gì đi kèm với những hư cấu thuần túy của trí
tưởng tượng, thì hoạt động này có thể được giải thích trong một mức độ nào đó.
Sự hội tụ của
những quan sát hoặc cái nhìn thoáng qua này khắc sâu ý niệm mạnh mẽ hơn vào trí
tưởng tượng; mang cho nó sức mạnh và sức sống vượt trội; làm cho ảnh hưởng của
nó lên cảm xúc và tình cảm trở nên rõ rệt hơn; và nói tóm lại, sinh ra sự tin
cậy hoặc sự an tâm, vốn cấu thành bản chất của tin tưởng và ý kiến.
E 6.4, SBN 57-9
Trường hợp xác
suất của những nguyên nhân cũng tương tự như trường hợp xác suất của sự ngẫu
nhiên. Có một số nguyên nhân hoàn toàn đồng nhất và ổn định trong việc tạo ra
một tác động cụ thể; và chưa từng có trường hợp nào được tìm thấy về sự thất
bại hoặc bất thường trong hoạt động của chúng. Lửa luôn luôn cháy, và nước luôn
làm ngạt thở tất cả những sinh vật: Sự tạo ra chuyển động bởi xung lực và trọng
lực là một quy luật phổ quát, cho đến nay chưa có ngoại lệ nào. Nhưng có những
nguyên nhân khác được tìm thấy là bất thường và không chắc chắn hơn; và cây đại
hoàng không phải lúc nào cũng có tác dụng nhuận tràng, hoặc thuốc phiện không
phải lúc nào cũng gây buồn ngủ cho tất cả những người đã dùng những loại thuốc
này.
Đúng vậy, khi bất
kỳ nguyên nhân nào không tạo ra tác dụng thông thường của nó, những triết gia
không gán điều này cho bất kỳ sự bất thường nào trong tự nhiên; nhưng giả định
rằng, một số nguyên nhân bí ẩn trong cấu trúc cụ thể của những thành phần đã
ngăn cản hoạt động đó. Tuy nhiên, lập luận và kết luận của chúng ta về sự kiện
này cũng giống như thể nguyên lý đó không hiện hữu.Theo thói quen quyết định, chúng ta
luôn chuyển quá khứ sang tương lai trong tất cả những suy luận của chúng ta; khi quá khứ hoàn toàn đều đặn và đồng nhất, chúng ta mong
đợi sự kiện với sự bảo đảm lớn nhất và không để chỗ cho bất kỳ giả định trái
ngược nào. Nhưng khi những
tác dụng khác nhau được tìm thấy theo sau những nguyên nhân vốn bề ngoài
có vẻ hoàn toàn giống nhau, tất cả những tác dụng khác nhau này phải xuất hiện
trong não thức trong việc chuyển quá khứ sang tương lai; và đi vào sự xem xét của chúng ta, khi
chúng ta xác định xác suất của sự kiện. Dù chúng ta ưu tiên cho những gì được
thấy là thường gặp nhất, và tin rằng tác dụng này sẽ hiện hữu, chúng ta không
được bỏ qua những tác dụng khác, mà phải gán cho mỗi tác dụng một trọng số và
thẩm quyền cụ thể, theo đúng tỷ lệ mà chúng ta đã thấy nó xảy ra thường xuyên
hay ít hơn.
Là điều thường
xảy ra hơn, trong hầu hết những quốc gia châu Âu, sẽ có sương giá vào tháng
Giêng hơn hơn là việc thời tiết sẽ tiếp tục quang đãng trong suốt toàn bộ tháng
đó; mặc dù xác suất này thay đổi theo những khí hậu khác nhau, và gần như tiến
tới sự chắc chắn ở những vương quốc phía Bắc. Ở đây khi đó, dường như hiển
nhiên, rằng khi chúng ta chuyển dịch quá khứ sang tương lai, để
xác định hậu quả, vốn sẽ nảy sinh từ bất kỳ nguyên nhân nào, chúng ta chuyển
tất cả những sự kiện khác nhau, theo đúng tỷ lệ như chúng đã xuất hiện trong quá khứ, và hình
dung một sự kiện đã hiện hữu hàng trăm lần, chẳng hạn, một sự kiện khác mười
lần, và và một sự kiện khác
nữa chỉ một lần.
Khi một số lượng
lớn những quan sát cùng hội tụ vào một sự kiện, chúng củng cố và xác nhận sự
kiện ấy trong trí tưởng tượng, sinh ra cảm giác vốn chúng ta gọi là tin tưởng
và khiến đối tượng của nó được ưu tiên hơn sự kiện ngược lại, vốn không được số lượng thí nghiệm tương đương hỗ trợ, và cũng không thường xuyên xuất hiện trong suy nghĩ khi chúng ta chuyển từ
quá khứ sang tương lai.
Hãy để bất cứ ai
cố gắng giải thích hoạt động này của não thức dựa trên bất kỳ hệ thống triết
học nào được chấp nhận, và họ sẽ nhận ra sự khó khăn. Về phần tôi, tôi cho rằng
chỉ cần những gợi ý hiện tại khơi dậy sự tò mò của những triết gia, và khiến họ nhận thấy sự thiếu
sót của mọi lý thuyết thông thường khi giải quyết những những
vấn đề kỳ thú và cao siêu như vậy.
E 6.0n10, SBN 56
10. Ông Locke chia tất cả những lập luận thành
hai loại: chứng minh diễn dịch (demonstrative) và xác suất (probable). Theo
quan điểm này, chúng ta buộc phải nói rằng việc mọi người đều phải chết, hay
việc ngày mai mặt trời sẽ mọc, chỉ là những điều 'có khả năng xảy ra'. Tuy
nhiên, để ngôn ngữ của chúng ta phù hợp hơn với cách dùng thông thường, chúng
ta nên chia lập luận thành ba loại: minh định (demonstrations), bằng
chứng xác thực (proofs) và xác suất (probabilities). [1].
Trong đó, 'bằng chứng xác thực' ý chỉ những lập luận rút ra từ kinh nghiệm nhưng
không để lại kẽ hở nào cho sự nghi ngờ hay phản bác. [2]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] demonstrations, proofs, and probabilities.
[2] Trong đoạn này, David Hume nhắc đến cách phân loại tri thức của John Locke trong An Essay Concerning Human Understanding. Locke chia các lập luận thành hai loại: demonstrative (tri thức tiên nghiệm, thuần lý trí như toán học) và probable (tri thức dựa trên kinh nghiệm). Tuy nhiên, Hume cho rằng cách phân chia này không phản ánh đúng thực tiễn nhận thức: nó buộc phải xếp những tri thức kinh nghiệm gần như chắc chắn—chẳng hạn các quy luật quy nạp—vào cùng một phạm trù với những phỏng đoán bấp bênh.
Để khắc phục, Hume đề xuất một phân biệt tinh tế hơn: ngoài demonstrations (minh định), ông tách phần “probable” của Locke thành proofs (xác thực: tuy dựa trên kinh nghiệm nhưng có tính đồng nhất cao, hầu như không thể nghi ngờ) và probabilities (xác suất: những trường hợp còn bất định hoặc có khả năng sai lầm). Cách phân chia này cho phép Hume vừa giữ lập trường duy nghiệm (rằng tri thức về sự kiện không đạt tới tính tất yếu logic), vừa giải thích vì sao trong thực tế, một số niềm tin dựa trên kinh nghiệm vẫn có sức thuyết phục gần như chắc chắn.
