Sunday, March 15, 2026

Machiavelli - Người Cầm Quyền Đứng Đầu (05)

Người Cầm Quyền Đứng Đầu

(Il Principe)

Niccolò Machiavelli

 

( ← . tiếp theo )



 



Chương XVI

Về Sự Rộng Rãi Và Sự Tiết Kiệm

 

Bắt đầu với phẩm tính đầu tiên trong số những phẩm tính đã nêu trên, tôi khẳng định rằng việc được coi là rộng rãi thì tốt; tuy nhiên, sự rộng rãi, khi được dùng theo cách để ngài được tiếng là rộng rãi, sẽ gây hại cho ngài.[1] Bởi vì nếu nó được dùng một cách có bản lĩnh chính trị và đúng như cách nó nên được dùng, nó có thể không được người đời công nhận, và ngài sẽ không thoát khỏi tai tiếng của sự keo kiệt. Vì vậy, nếu muốn duy trì cái danh rộng rãi trong thiên hạ, cần phải không bỏ sót bất kỳ kiểu phô trương xa hoa nào; kết quả là một người cầm quyền đứng đầu làm như vậy sẽ luôn tiêu tán hết nguồn lực của mình vào những việc đó. Cuối cùng, nếu muốn duy trì cái danh rộng rãi, vị này buộc phải đè nặng lên dân chúng một cách quá mức, phải khắt khe với những loại thuế, và làm mọi cách có thể làm để thu tiền. Điều này sẽ bắt đầu khiến vị này bị thần dân oán hận, và ít được kính nể bởi bất kỳ ai khi vị này trở nên nghèo túng; vì thế, sau khi đã xúc phạm số đông và ban thưởng cho số ít bằng sự rộng rãi đó của mình, vị này cảm nhận thấy mọi khó khăn nhỏ nhất và gặp rủi ro trước mọi nguy hiểm nhẹ nhàng nhất. Khi vị này nhận ra điều này và muốn rút lui khỏi đó, ngay lập tức vị này sẽ chuốc lấy tai tiếng của sự bần tiện.

 

Do đó, vì một người cầm quyền đứng đầu không thể dùng bản lĩnh chính trị của sự rộng rãi để thiên hạ công nhận nhưng không gây hại cho chính mình, vị này không nên bận tâm về cái danh bần tiện nếu vị này là kẻ thận trọng. Bởi vì theo thời gian, vị này sẽ luôn được coi là rộng rãi hơn và hơn nữa khi người đời thấy rằng nhờ sự tiết kiệm của mình, thu nhập của vị này là đủ cho mình, vị này có thể tự bảo vệ trước bất kỳ kẻ nào gây chiến với mình, và vị này có thể thực hiện những chiến dịch nhưng không cần đè nặng lên dân chúng. Như vậy, vị này đi đến chỗ dùng sự rộng rãi với tất cả những người mà vị này không lấy đi tài sản của họ — vốn là vô số, và tỏ ra bần tiện với tất cả những người mà vị này không ban thưởng — vốn chỉ là số ít. Trong thời đại của chúng ta, chúng ta không thấy những sự việc vĩ đại được thực hiện ngoại trừ bởi những kẻ bị coi là bần tiện; những kẻ khác đều đã bị tiêu diệt. vị Vua chiên Julius II, trong khi đã lợi dụng cái danh rộng rãi để đạt được ngôi vua chiên, đã không nghĩ đến việc duy trì nó sau đó để có thể tiến hành chiến tranh. Vị vua hiện tại của Pháp [2]đã thực hiện nhiều cuộc chiến nhưng không cần áp một khoản thuế bất thường nào lên thần dân, chỉ vì những chi phí phát sinh thêm đã được quản trị bằng sự tiết kiệm lâu đời của ông. Nếu vị vua hiện tại của Tây Ban Nha [3]được coi là rộng rãi, ông đã không thể thực hiện hay chiến thắng nhiều chiến dịch đến thế.

 

Vì vậy, để không phải cướp bóc thần dân, để có thể tự bảo vệ mình, để không trở nên nghèo túng và đáng khinh, cũng như không bị buộc phải trở nên tham bạo, một người cầm quyền đứng đầu nên ít để tâm đến việc mang tiếng bần tiện, bởi vì đây là một trong những thói xấu giúp vị này có thể trị vì. Và nếu ai đó nói rằng: Caesar đã đạt được đế quốc bằng sự rộng rãi, và nhiều người khác, vì họ đã và đã được coi là rộng rãi, nên đã đạt được địa vị rất cao sang, tôi đáp lại: hoặc ngài đã là một người cầm quyền đứng đầu, hoặc ngài đang trên con đường đạt được nó. Trong trường hợp thứ nhất, sự rộng rãi này là gây hại; trong trường hợp thứ hai, việc được coi là rộng rãi quả thực là cần thiết. Và Caesar là một trong những kẻ muốn đạt được quyền thống trị Rome; nhưng nếu sau khi đã tới đó, nếu ông còn sống nhưng không điều tiết chi tiêu của mình, ông hẳn đã hủy hoại đế quốc đó.

 

Và nếu ai đó đáp lại: nhiều người đã là người cầm quyền đứng đầu và làm được những việc vĩ đại với quân đội của họ, những người từng được coi là rất rộng rãi, tôi trả lời ngài: hoặc người cầm quyền chi tiêu từ tài sản của chính mình và thần dân, hoặc từ tài sản thuộc về kẻ khác. Trong trường hợp đầu tiên, vị này nên dè xẻn; trong trường hợp kia, vị này không nên bỏ sót bất kỳ phần nào của sự rộng rãi. Và đối với người cầm quyền đứng đầu cầm quân ra trận, kẻ sống bằng chiến lợi phẩm, cướp phá và tiền chuộc, và quản lý dựa trên tài sản thuộc về kẻ khác, thì sự rộng rãi này là cần thiết; nếu không, vị này sẽ không được binh lính đi theo. Và với những gì không thuộc về ngài hay thần dân của ngài, ngài có thể là một người ban thưởng hào phóng hơn, giống như Cyrus, Caesar và Alexander; bởi vì chi tiêu tài sản của kẻ khác không tước đi uy tín của ngài mà bồi đắp thêm cho ngài; chỉ có chi tiêu tài sản của chính mình mới là thứ gây hại cho ngài.

 

Và chẳng có gì tự bào mòn chính nó nhiều như sự rộng rãi: trong khi ngài dùng nó, ngài mất khả năng để dùng nó; và ngài trở nên hoặc nghèo túng và đáng khinh, hoặc để thoát khỏi cảnh nghèo túng, ngài trở nên tham bạo và bị oán hận. Trong tất cả những sự việc mà một người cầm quyền đứng đầu nên canh chừng là việc bị đáng khinh và bị oán hận, và sự rộng rãi dẫn ngài đến cả hai. Vì vậy, có nhiều sự khôn ngoan hơn trong việc duy trì cái danh bần tiện — thứ tạo ra tai tiếng nhưng không có oán hận — hơn là vì muốn có cái danh rộng rãi mà buộc phải mang danh tham bạo — thứ tạo ra tai tiếng đi kèm với sự oán hận.

 

Chương XVII

Về Sự Tàn nhẫn Và Lòng Nhân Từ,[4] Và Liệu Nên Được Yêu Hay Bị Sợ Thì Tốt Hơn, Hay Ngược Lại

 

Tiếp tục xem xét những phẩm tính khác đã được trích dẫn trước đó, tôi khẳng định rằng mỗi người cầm quyền đứng đầu nên mong muốn được coi là nhân từ chứ không phải tàn nhẫn; tuy nhiên, vị này nên cẩn trọng đừng dùng lòng nhân từ đó một cách sai lầm. Cesare Borgia từng bị coi là tàn nhẫn; thế nhưng sự tàn nhẫn của ông đã phục hồi vùng Romagna, thống nhất nó, và đưa nó về trạng thái hòa bình cùng với tín nghĩa. Nếu xem xét kỹ điều này, người ta sẽ thấy ông nhân từ hơn nhiều so với dân chúng Florence, những kẻ vì muốn tránh cái danh tàn nhẫn mà đã để mặc vùng Pistoia bị tiêu diệt.[5]

 

Do đó, một người cầm quyền đứng đầu, để giữ cho thần dân đoàn kết và giữ trọn tín nghĩa, không nên bận tâm đến tai tiếng tàn nhẫn; bởi lẽ, chỉ bằng một vài hình phạt làm gương, vị này sẽ nhân từ hơn những kẻ vì quá nhân từ mà để mặc cho sự hỗn loạn tiếp diễn, dẫn đến giết chóc hoặc cướp phá; vì những biến loạn này thường gây hại[6] cho toàn thể cộng đồng, [7] nhưng những cuộc hành hình đến từ người cầm quyền đứng đầu chỉ gây hại [8] cho một cá nhân cụ thể. Và trong tất cả những người đứng đầu, một người mới lên cầm quyền không thể nào tránh khỏi cái danh tàn nhẫn vì những nhà nước mới luôn đầy rẫy hiểm nguy. Như Virgil đã mượn lời Dido: “Sự nghiệt ngã của hoàn cảnh và sự mới mẻ của vương quốc buộc ta phải trù tính những sự việc như thế, và phải canh phòng cẩn mật mọi biên cương.” [9]

 

Tuy nhiên, vị này nên thận trọng trong việc tin tưởng và hành động, cũng không nên khiến bản thân trở thành nỗi khiếp sợ; vị này nên tiến hành một cách chừng mực với sự khôn ngoan và tính nhân đạo, sao cho sự tự tin thái quá không làm vị này mất cảnh giác và sự quá đa nghi không khiến vị này trở nên không thể dung thứ.

 

Từ đây nảy sinh một tranh luận: liệu được yêu hay bị sợ thì tốt hơn, hay ngược lại. Câu trả lời là người ta sẽ muốn có cả cả hai; nhưng vì khó có thể kết hợp chúng lại với nhau, nên sẽ an toàn hơn nhiều nếu bị sợ hơn là được yêu, nếu người ta phải thiếu một trong hai. Bởi vì người ta có thể nói điều này một cách tổng quát về con người: rằng họ là những kẻ vô ơn, hay thay đổi, giả tạo và gian trá, lảng tránh hiểm nguy, hám lợi. Chừng nào ngài còn ban ơn cho họ, họ hoàn toàn thuộc về ngài, dâng hiến cho ngài máu mủ, tài sản, mạng sống và con cái, như tôi đã nói ở trên [10] , khi mà nhu cầu về chúng còn ở xa; nhưng khi nhu cầu đó đến gần, họ sẽ phản bội. Và người cầm quyền đứng đầu nào đặt nền móng hoàn toàn vào lời hứa của họ, mà thiếu đi những sự chuẩn bị khác, sẽ bị hủy diệt; vì những hứu nghị có được bằng giá trả chứ không phải bằng sự vĩ đại và cao quý của tinh thần thì được mua về nhưng không thực sự sở hữu, và khi thời cơ đến chúng không thể đem ra dùng được. Và con người ít do dự hơn trong việc xúc phạm một kẻ khiến mình yêu hơn là một kẻ khiến mình sợ; vì thương yêu được giữ bằng sợi dây ân nghĩa, những gì vốn vì con người vốn đê tiện, sẽ bị cắt đứt ở mọi cơ hội vì lợi ích riêng của họ; nhưng sợ hãi được giữ bằng sự khiếp sợ hình phạt, thứ không bao giờ rời bỏ ngài.

 

Tuy nhiên, người cầm quyền đứng đầu nên khiến mình bị sợ theo cách mà nếu vị này không có được thương yêu, thì vị này cũng tránh được sự oán hận; bởi vì việc bị sợ và việc không bị oán hận có thể song hành với nhau rất tốt. Vị này sẽ luôn làm được điều này nếu vị này kiềm chế việc đụng đến tài sản của những công dân và thần dân của mình, cũng như phụ nữ của họ; và nếu vị này cần phải tước đoạt mạng sống của ai đó [11], vị này phải làm điều đó khi có sự biện minh thỏa đáng và nguyên nhân rõ ràng. Nhưng trên hết, vị này phải kiềm chế việc đụng đến tài sản của người khác, bởi vì con người quên cái chết của cha mình nhanh hơn là việc mất đi tài sản thừa kế. Hơn nữa, những lý do để chiếm đoạt tài sản thì không bao giờ thiếu, và kẻ nào bắt đầu sống bằng nghề cướp bóc luôn tìm thấy lý do để chiếm đoạt tài sản của người khác; trái lại, những lý do để tước đoạt mạng sống [12] thì hiếm hơn và biến mất nhanh hơn.

 

Nhưng khi người cầm quyền đứng đầu đang ở cùng quân đội của mình và nắm giữ một khối lượng binh lính dưới quyền, khi đó trên hết thảy, vị này cần thiết không được bận tâm về cái danh tàn nhẫn; bởi vì nếu không có cái danh này, vị này không bao giờ giữ được quân đội thống nhất, hoặc sẵn sàng cho bất kỳ hành động nào. Trong số những hành động đáng ngưỡng mộ của Hannibal có việc này: khi ông có một đạo quân khổng lồ, hỗn tạp vô số loại người, và đã dẫn dắt họ đi chiến đấu ở những vùng đất ngoại bang, không bao giờ có bất kỳ sự bất đồng nào nảy sinh trong đó, dù là giữa binh lính với nhau hay chống lại người chỉ huy, ngay cả trong vận rủi cũng như thời vận may rủi của ông. Điều này không thể nảy sinh từ điều gì khác ngoài sự tàn nhẫn phi nhân tính của ông, những gì vốn cùng với những năng lực vô hạn của mình, luôn khiến ông trở nên đáng kính và khủng khiếp trong mắt binh lính; và nếu không có nó, những phẩm tính khác của ông sẽ không đủ để mang lại hiệu quả này. Và những người viết, vì ít xem xét điều này, một mặt ngưỡng mộ hành động này của ông nhưng mặt khác lại lên án nguyên nhân chính dẫn đến nó.

 

Và để thấy rằng sự thực là những phẩm tính khác của Hannibal vốn không đủ để tạo nên thành công đó, ta hãy xem xét trường hợp của Scipio — một nhân vật cực kỳ hiếm có không chỉ trong thời đại của mình mà còn trong toàn bộ sử sách về những sự việc nhân loại đã biết — người mà những đạo quân tại Tây Ban Nha đã nổi loạn chống lại. Cuộc nổi loạn này nảy sinh không từ điều gì khác ngoài lòng nhân từ quá mức của ông, thứ đã cho phép binh lính của mình hưởng sự phóng túng nhiều hơn mức phù hợp với kỷ luật quân đội. Fabius Maximus đã quở trách lòng nhân từ này của Scipio trước Thượng viện và gọi ông là kẻ làm hư hỏng quân đội La Mã. Ngay cả khi một phó tướng của Scipio tàn phá người Locrian, ông cũng không bắt tên đó phải đền tội cho họ, cũng không trừng phạt sự xấc xược của tên phó tướng đó — tất cả những sai lầm này đều nảy sinh từ bản tính dễ dãi của ông; đến mức khi có người tại Thượng viện muốn bào chữa cho ông, họ đã nói rằng có nhiều người biết cách tự mình không phạm sai lầm tốt hơn là biết cách trừng phạt sai lầm của kẻ khác. Bản tính như vậy theo thời gian chắc chắn sẽ làm hoen ố danh tiếng và vinh quang của Scipio nếu ông tiếp tục duy trì nó trong quyền cai trị của một người cầm quyền đứng đầu; nhưng vì ông sống dưới sự giám sát của Thượng viện, phẩm tính gây hại này không những bị che lấp mà còn góp phần tạo nên vinh quang cho ông.[13]

 

Tôi kết luận, do đó, quay lại việc bị sợ và được yêu, rằng vì con người yêu theo sự thuận tiện của họ và sợ theo sự thuận tiện của người cầm quyền đứng đầu, nên một người cầm quyền đứng đầu khôn ngoan nên đặt nền móng dựa trên những gì thuộc về mình, chứ không phải những gì thuộc về kẻ khác; vị này chỉ nên nỗ lực để tránh sự oán hận, như đã nói.

 

Chương XVIII

Những Người Cầm Quyền Đứng Đầu Nên Giữ Lời Hứa Theo Cách Nào

 

Mọi người đều hiểu rằng việc một người cầm quyền đứng đầu giữ lời hứa, sống liêm chính chứ không bằng thủ đoạn tinh khôn, là điều đáng ca ngợi biết bao. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế trong thời đại chúng ta cho thấy rằng: những người cầm quyền làm được những việc lớn lao lại chính là những người ít coi trọng lời hứa. Họ biết cách dùng sự tinh ranh để xoay chuyển trí óc con người; và cuối cùng, họ khuất phục được những kẻ vốn chỉ biết xây dựng nền tảng dựa trên sự trung thành.

 

Vì vậy, ngài [14] cần biết rằng có hai cách chiến đấu: một bằng luật pháp, hai bằng sức mạnh. Cách thứ nhất phù hợp với con người, cách thứ hai phù hợp với dã thú. Nhưng vì cách thứ nhất thường không đủ hiệu lực, vị này phải viện đến cách thứ hai. Do đó, một người cầm quyền đứng đầu cần phải biết cách dùng khéo léo cả bản tính của dã thú lẫn bản tính của con người. Những nhà văn thời cổ đã ngầm dạy bài học này cho những vị quân vương khi họ viết rằng: Achilles, cùng nhiều người cầm quyền thời cổ khác, đã được gửi đến cho nhân mã Chiron nuôi dưỡng, để rèn luyện họ dưới kỷ luật của mình. Việc những bậc tiền nhân chọn một người thầy nửa người nửa thú chỉ nhằm mục đích duy nhất: họ muốn dạy rằng một người cầm quyền cần phải biết cách vận dụng cả hai bản chất; và nếu thiếu một trong hai, vị này sẽ không thể giữ vững quyền lực lâu dài.

 

Vậy nên, khi hoàn cảnh buộc một người cầm quyền đứng đầu phải vận dụng bản chất dã thú, vị này nên chọn hình tượng con cáo và con sư tử [15] . Bởi vì sư tử không thể tự bảo vệ mình trước cạm bẫy, còn cáo thì lại bất lực trước bầy sói. Vị này phải hóa thân thành con cáo để nhận diện cạm bẫy, và trở thành con sư tử để làm bầy sói khiếp sợ. Những người chỉ đơn thuần đóng vai sư tử sẽ không bao giờ hiểu được điều này. Do đó, một bậc thủ lĩnh khôn ngoan không thể và không nên giữ lời hứa, nếu việc tuân thủ đó gây bất lợi cho mình, và khi những lý do khiến vị này hứa hẹn đã không còn nữa. Nếu toàn nhân loại đều lương thiện, thì giáo huấn này sẽ là tồi tệ; nhưng vì con người vốn đê tiện và họ sẽ không giữ lời với ngài, nên ngài cũng chẳng cần phải giữ lời với họ.

 

Một người cầm quyền cũng chẳng bao giờ thiếu những lý do chính đáng để tô vẽ cho việc bội tín của mình. Người ta có thể dẫn ra vô số ví dụ thời hiện đại để chứng minh điều này: biết bao hòa ước và lời hứa đã trở nên vô giá trị bởi sự phản bội của những người cầm quyền; và vị nào biết vận dụng bản tính con cáo nhuần nhuyễn nhất, kẻ đó sẽ thành công nhất. Nhưng vị này phải biết cách che đậy bản tính này thật khéo, phải là một kẻ ngụy trang và che dấu đại tài. Con người vốn quá đơn thuần và quá lệ thuộc vào những nhu cầu hiện tại, đến mức kẻ đi lừa dối sẽ luôn tìm thấy những kẻ sẵn lòng để mình bị lừa.

 

Tôi không muốn giữ im lặng về một trong những ví dụ gần đây. Alexander VI chưa bao giờ làm bất cứ điều gì, cũng chưa bao giờ nghĩ đến điều gì khác, ngoài việc làm thế nào để lừa dối con người, và ông luôn tìm thấy đối tượng để ông có thể thực hiện việc đó. Và chưa từng có một người nào có hiệu quả lớn hơn trong việc khẳng định một điều, và trong việc xác nhận điều đó bằng những lời thề thốt trọng thể hơn, nhưng lại ít tuân thủ nó hơn; tuy nhiên, những sự lừa dối của ông luôn thành công theo ý nguyện của ông, bởi vì ông am tường tường tận khía cạnh này của thế gian.

 

Vì vậy, không nhất thiết một người cầm quyền đứng đầu phải thực sự sở hữu tất cả những phẩm tính đã nêu trên, nhưng thực sự cần thiết phải tỏ ra là mình có chúng. Thậm chí, tôi dám nói điều này, rằng bằng việc sở hữu chúng và luôn tuân thủ chúng, chúng sẽ gây hại; còn bằng việc tỏ ra có chúng, chúng sẽ hữu ích, chẳng hạn như tỏ ra nhân từ, trung tín, nhân đạo, liêm chính, sùng đạo, và thực sự là người như thế; nhưng phải duy trì một tinh thần được xây dựng sao cho, nếu ngài cần phải không là những thứ đó, ngài có khả năng và biết cách xoay chuyển sang điều ngược lại.

 

Điều này cần phải được thấu hiểu: rằng một người cầm quyền đứng đầu, và đặc biệt là một người cầm quyền mới, không thể tuân giữ tất cả những sự việc mà nhờ đó con người được coi là tốt đẹp, vì để giữ vững nhà nước của mình, vị này thường xuyên bị đặt dưới sự cấp thiết phải hành động ngược lại lòng tin, ngược lại lòng từ thiện, ngược lại tính nhân đạo, ngược lại tôn giáo. Và vì thế, vị này cần phải có một tinh thần sẵn sàng thay đổi theo sự đưa đẩy của những ngọn gió thời vận may rủi và sự biến chuyển của sự vật; và như tôi đã nói ở trên, không rời bỏ cái thiện khi có thể, nhưng phải biết cách bước vào cái ác khi bị sự cấp thiết cưỡng bách.

 

Bởi vậy, một người cầm quyền đứng đầu phải hết sức cẩn trọng, không để một lời nào thoát ra khỏi miệng mà không chứa đựng năm phẩm tính: hoàn toàn nhân từ, hoàn toàn trung thành, hoàn toàn thành thật, hoàn toàn nhân đạo và hoàn toàn sùng đạo. Đặc biệt, việc “tỏ ra sùng đạo” là điều tối quan trọng. Con người nói tổng quát [16] phán xét bằng mắt thường nhiều hơn là bằng trải nghiệm thực tế, vì ai cũng có thể nhìn thấy, nhưng rất ít người có thể chạm tới [17] bản chất. Mọi người đều thấy ngài phô diễn thế nào, nhưng ít ai chạm được vào con người thật của ngài; và số ít đó không đời nào dám chống lại ý kiến của đa số – những kẻ đang được uy quyền của nhà nước che chở cho họ.

 

Trong mọi hành động của con người, và nhất là của những người cầm quyền đứng đầu, nơi không có tòa án nào để khiếu nại, người ta chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng. Vậy nên, chỉ cần một người cầm quyền đứng đầu chiến thắng và duy trì được quốc gia: mọi phương tiện vị này dùng sẽ luôn được coi là vẻ vang và được mọi người ca ngợi. Bởi lẽ những kẻ hạ đẳng luôn bị thu phục bởi vẻ bề ngoài và kết quả của sự việc, mà thế gian này thì chẳng có ai ngoài những kẻ hạ đẳng; Số ít [18] [những kẻ tinh khôn] chỉ có chỗ đứng ở đó [trong thế gian] khi số đông đã có nơi nào đó để tựa vào.

Một người cầm quyền đứng đầu thời nay, [19] người mà tôi không tiện nêu tên, chẳng bao giờ rao giảng điều gì ngoài hòa bình và lòng tin, nhưng lại cực kỳ thù địch với cả hai. Nếu vị này thực sự tuân thủ cả hai điều đó, thì danh tiếng hoặc nhà nước của vị này đã bị lấy mất nhiều lần rồi.

 

Chương XIX

Về Việc Tránh Bị Khinh Miệt Và Bị Oán Hận

 

Bởi vì tôi đã bàn về những phẩm chất quan trọng nhất trong số những phẩm chất nêu trên, tôi muốn nghị luận ngắn gọn về những phẩm chất khác dưới nguyên lý tổng quát này: rằng người cầm quyền đứng đầu, như đã nói một phần ở trên, nên suy tính cách tránh những sự việc khiến vị này bị oán hận và bị khinh miệt. Khi vị này tránh được chúng, vị này sẽ làm tròn vai trò của mình và sẽ không gặp nguy hiểm nào trong những tai tiếng khác của mình

 

Điều khiến vị này bị oán hận trên hết thảy, như tôi đã nói, [20] chính là sự tham tàn, chiếm đoạt tài sản cũng như phụ nữ của thần dân. Vị này phải kiêng cữ những sự việc này; và bất cứ khi nào tài sản hay danh dự của đa số mọi người không bị tước đoạt, họ sẽ sống mãn nguyện.[21] Khi đó, người ta chỉ còn phải chống lại tham vọng của một số ít người – thứ có thể được kiểm soát bằng nhiều cách và với dễ dàng.

 

Điều khiến vị này bị khinh miệt là việc vị này bị coi là hay thay đổi, nông nổi, yếu đuối, hèn nhát, thiếu quyết đoán; những sự việc này người cầm quyền đứng đầu phải tự canh chừng như canh chừng một bãi đá ngầm. Vị này nên nỗ lực để thiên hạ nhìn thấy sự vĩ đại, lòng quả cảm, sự trang nghiêm và sức mạnh trong các hành động của mình; và vị này nên kiên định rằng những phán quyết của mình trong các sự việc riêng tư của thuộc hạ là không thể thay đổi. Vị này nên duy trì một dư luận về bản thân sao cho không một ai nghĩ đến việc lừa dối vị này hay nghĩ đến việc qua mặt vị này.

 

Người cầm quyền đứng đầu nào tạo ra dư luận như thế về bản thân sẽ có uy tín lớn; và đối với kẻ nào có uy tín lớn, kẻ khác khó lòng âm mưu chống lại, khó lòng mở cuộc tấn công, miễn là thiên hạ hiểu rằng vị này xuất sắc và được chính thần dân của mình tôn kính. Bởi vì một người cầm quyền đứng đầu nên có hai nỗi sợ: một ở bên trong, do chính thần dân của mình; nỗi sợ kia ở bên ngoài, do những thế lực ngoại bang. Trước những thế lực ngoại bang, binh lực mạnh và những đồng minh trung thành sẽ bảo vệ vị này; và nếu ngài có binh lực mạnh, ngài sẽ luôn có những đồng minh trung thành.

Mọi việc bên trong sẽ luôn giữ được sự ổn định nếu mọi việc bên ngoài ổn định, trừ khi có một âm mưu quấy nhiễu chúng; và ngay cả khi mọi việc bên ngoài biến động, miễn là vị này đã sắp đặt và sống như tôi đã nói, chừng nào vị này không tự bỏ rơi chính mình, vị này sẽ luôn chống đỡ được mọi đòn tấn công, như tôi đã nói Nabis người Sparta làm được.[22] Nhưng về phía thần dân, khi mọi việc bên ngoài không biến động, người ta phải sợ rằng họ có thể đang âm mưu bí mật. Người cầm quyền đứng đầu có thể bảo vệ bản thân đầy đủ trước điều này nếu vị này tránh việc bị oán hận hoặc bị khinh miệt, và giữ cho dân chúng hài lòng với mình; đây là điều cần phải đạt được, như đã nói ở trên một cách dài dòng.[23]

 

Và một trong những biện pháp hữu hiệu nhất mà một người cầm quyền đứng đầu có thể dùng để chống lại các âm mưu là không bị dân chúng nói tổng quát oán hận. [24] Bởi vì bất cứ ai âm mưu đều tin rằng họ sẽ làm hài lòng dân chúng bằng cái chết của người cầm quyền đứng đầu, nhưng khi hắn tin rằng hắn sẽ gây hấn với họ, hắn sẽ không có đủ can đảm để theo đuổi con đường đó, bởi vì những khó khăn về phía những kẻ âm mưu là vô tận. Và kinh nghiệm cho thấy rằng đã có nhiều âm mưu, nhưng rất ít trong số đó có một kết cục tốt đẹp. Vì kẻ âm mưu không thể hành động một mình; nhưng hắn cũng không thể tìm được đồng bọn, trừ những kẻ mà hắn tin là bất mãn; và ngay khi hắn bộc lộ ý định của mình cho một kẻ bất mãn, hắn trao cho kẻ đó chính chất liệu để trở nên thỏa mãn, bởi vì hiển nhiên kẻ ấy có thể hy vọng đạt được mọi lợi lộc từ việc đó.Do đó, khi nhìn thấy lợi ích chắc chắn ở phía này, và ở phía kia là lợi ích mơ hồ đầy nguy hiểm, thì kẻ ấy hẳn phải hoặc là một người bạn hiếm có, hoặc là một kẻ thù hoàn toàn ngoan cố của người cầm quyền đứng đầu thì mới giữ trọn lòng trung thành với kẻ âm mưu.

 

Và để thu gọn điều này thành những thuật ngữ ngắn gọn, tôi nói rằng về phía kẻ âm mưu chẳng có gì ngoài sự sợ hãi, ghen tị và sự dự cảm về hình phạt khủng khiếp; nhưng về phía người cầm quyền đứng đầu có sự oai nghiêm của lãnh địa, luật pháp, sự bảo vệ của đồng minh và của nhà nước che chở cho vị này, đến nỗi khi sự thiện chí của nhân dân được thêm vào tất cả những sự việc này, không ai có thể liều lĩnh đến mức mưu phản. Bởi lẽ trong khi một kẻ âm mưu thông thường phải sợ hãi trước khi hành sự, thì trong trường hợp này (có dân chúng là kẻ thù) hắn phải sợ hãi cả sau đó nữa, khi sự việc quá mức đã xảy ra, và hắn cũng chẳng thể hy vọng vào bất kỳ nơi trú ẩn nào.

 

Người ta có thể đưa ra vô số ví dụ về vấn đề này, nhưng tôi chỉ muốn bằng lòng với một ví dụ duy nhất xảy ra trong ký ức của cha ông chúng ta. Ngài Annibale Bentivoglio, ông nội của Ngài Annibale hiện tại, người từng là người cầm quyền đứng đầu tại Bologna, đã bị nhà Canneschi ám sát trong một âm mưu chống lại ông, và không ai thuộc dòng dõi ông sống sót ngoại trừ Ngài Giovanni, lúc đó vẫn còn quấn tã. Ngay sau vụ giết người đó, dân chúng đã nổi dậy và giết sạch toàn bộ nhà Canneschi. Điều này nảy sinh từ thiện cảm của nhân dân mà nhà Bentivoglio có được trong thời gian đó; thiện cảm này lớn đến mức dù không còn ai thuộc dòng họ đó ở Bologna có thể cai quản nhà nước sau cái chết của Annibale, và vì có dấu hiệu cho thấy ở Florence có một người thuộc dòng dõi Bentivogli (người mà cho đến lúc đó vẫn được coi là con trai của một thợ rèn), người dân Bologna đã đến Florence tìm vị này và trao quyền cai quản thành phố; vị này đã cai trị cho đến khi Ngài Giovanni đến đủ tuổi. [25] để cai trị.

 

Do đó, tôi kết luận rằng, một người cầm quyền đứng đầu nên ít bận tâm đến những âm mưu nếu dân chúng bày tỏ sự thiện cảm với mình; nhưng nếu họ thù địch và mang lòng oán hận vị này, vị này nên sợ hãi mọi sự vật việc và mọi người. Những nhà nước được tổ chức tốt và những người cầm quyền đứng đầu khôn ngoan luôn dùng mọi sự tận tâm để suy tính cách không làm cho giới quyền quý tuyệt vọng, cũng như cách làm thỏa mãn dân chúng và giữ cho họ hài lòng, bởi vì đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến người cầm quyền đứng đầu.

 

Trong số những vương quốc được tổ chức và cai trị tốt trong thời đại chúng ta có Pháp;[26] và trong đó có vô số thiết chế tốt đẹp mà sự tự do cũng như an ninh của nhà vua phụ thuộc vào. Thiết chế đầu tiên trong số này là nghị viện và thẩm quyền của nó. Bởi vì người thiết lập vương quốc đó, [27] biết được tham vọng và sự hỗn xược của kẻ quyền thế và cho rằng cần thiết phải có một cái “hàm thiếc” trong miệng chúng để sửa sai; mặt khác, biết được sự oán hận của đại đa số người dân [28] đối với giới quý tộc (dựa trên nỗi sợ hãi), nên muốn bảo vệ họ. Ông không muốn điều này trở thành mối bận tâm đặc biệt của nhà vua nhằm tránh những lời khiển trách từ giới quý tộc khi ưu ái dân chúng, hoặc từ dân chúng khi ưu ái quý tộc; vì vậy ông đã chỉ định một vị trọng tài thứ ba để đàn áp kẻ mạnh và ưu ái kẻ yếu mà không đổ lỗi cho nhà vua.

 

Mệnh lệnh này không thể tốt hơn, thận trọng hơn, hoặc là nguyên nhân quan trọng hơn đối với sự an toàn của nhà vua và lãnh địa. Từ đó có thể suy ra một điều đáng chú ý khác: những người cầm quyền đứng đầu nên để cho những việc gây thù chuốc oán được quản lý bởi người khác, còn tự mình thực hiện những việc ban ân huệ [29] Một lần nữa tôi kết luận rằng một người cầm quyền đứng đầu nên kính trọng giới quý tộc, nhưng đừng khiến bản thân bị dân chúng oán hận.

 

Có lẽ với nhiều người, xét đến cuộc đời và cái chết của một số hoàng đế La Mã, sẽ thấy những ví dụ trái ngược với ý kiến của tôi, vì có những người luôn sống xuất sắc và thể hiện bản lĩnh đạo đức cao quý, tuy nhiên vẫn mất đế quốc hoặc bị chính thần dân âm mưu giết chết. Để đáp lại những phản đối này, tôi sẽ thảo luận về phẩm tính của một số hoàng đế, cho thấy nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của họ không giống như điều tôi đã trình bày; đồng thời tôi sẽ đề xuất những sự việc đáng chú ý cho bất kỳ ai đọc về hành động của thời đó.

 

Tôi muốn lấy tất cả những hoàng đế kế vị từ Marcus nhà triết học đến Maximinus: Marcus, Commodus con trai ông, Pertinax, Julianus, Severus, con trai ông Antoninus Caracalla, Macrinus, Heliogabalus, Alexander, [30] và Maximinus. Cần lưu ý rằng trong khi ở những quốc gia khác người ta chỉ phải đối mặt với tham vọng của kẻ quyền thế và sự ngạo mạn của dân chúng, thì những hoàng đế La Mã gặp khó khăn thứ ba: phải chịu đựng sự tàn nhẫn và tham lam của binh lính. Điều này khó đến nỗi gây ra sự phá sản của nhiều người, vì việc làm hài lòng cả binh lính và dân chúng là điều khó khăn. Dân chúng yêu sự yên tĩnh và yêu người cầm quyền đứng đầu khiêm nhường, trong khi binh lính yêu kẻ có tinh thần quân phiệt, ngạo mạn, tàn nhẫn và tham lam. Họ muốn hoàng đế thực thi những sự việc đó lên dân chúng để họ được tăng lương bổng và thỏa mãn lòng tham cũng như sự tàn ác của mình. những sự việc này luôn mang lại sự diệt vong cho những hoàng đế nào, do bản tính hay do thủ đoạn, không có được uy tín lớn lao để có thể kìm chế cả hai bên.

 

Hầu hết trong số họ, đặc biệt là những người mới lên nắm quyền, một khi nhận ra sự khó khăn từ hai tính khí khác biệt này, đã chuyển sang làm hài lòng binh lính mà ít bận tâm đến việc gây tổn hại cho dân chúng. Biện pháp này là tất yếu; vì người cầm quyền đứng đầu không thể tránh khỏi việc bị ai đó ghét bỏ, nên trước hết họ buộc không bị cộng đồng dân chúng ghét bỏ; [31] khi không thể duy trì điều này, họ phải nỗ lực để tránh sự oán hận của những cộng đồng quyền lực nhất. Vì vậy, những hoàng đế mới cần sự hỗ trợ đặc biệt đã bám sát binh lính hơn dân chúng; điều này hữu ích hay không tùy thuộc vào việc vị này có biết cách giữ gìn uy tín với họ hay không.

 

Marcus, Pertinax và Alexander đều sống giản dị, yêu công lý, ghét sự tàn ác, nhân đạo và tử tế; nhưng ngoại trừ Marcus, tất cả đều có kết cục bi thảm. Chỉ Marcus sống và chết danh dự nhất, bởi vì ông kế vị theo quyền thừa kế nên không cần phải mang ơn binh lính hay dân chúng; sau đó, nhờ những đức tính khiến ông được tôn kính, ông luôn giữ cả hai nhóm trong giới hạn và chưa bao giờ bị ghét bỏ hay khinh miệt. Nhưng binh lính đã tạo ra Pertinax làm hoàng đế trái với ý muốn của họ; vì họ đã quen sống phóng túng dưới thời Commodus, họ không thể chịu đựng cuộc sống nề nếp mà Pertinax muốn họ quay trở lại; do đó, Pertinax khi đã tự chuốc lấy oán hận cho mình, và thêm vào sự oán hận đó là sự coi thường vì ông đã già, ông đã bị hủy diệt ngay trong những bước đầu cai trị của mình.

 

Và ở đây người ta nên lưu ý rằng người ta chuốc lấy oán hận qua những việc tốt cũng nhiều như qua những việc xấu; và vì vậy, như tôi đã nói ở trên, [32] một người cầm quyền đứng đầu muốn duy trì nhà nước của mình thường buộc phải không được làm người tốt. Bởi vì khi cái cộng đồng [33] mà ngài phán đoán rằng mình cần họ để duy trì quyền lực đã bị thối nát, dù họ là dân chúng, binh lính hay giới quyền quý, ngài phải đi theo tư tưởng của họ để làm thỏa mãn họ, và khi đó những việc tốt chính là kẻ thù của ngài. Nhưng hãy nói về Alexander. Ông có lòng tốt đến mức trong số những lời ca ngợi dành cho ông có điều này: trong mười bốn năm nắm giữ đế quốc, ông chưa bao giờ xử tử ai mà không qua xét xử. Tuy nhiên, vì thiên hạ coi ông là kẻ yếu đuối và là người để mẹ mình chi phối, và vì điều này mà ông bị khinh miệt, quân đội đã âm mưu chống lại ông và giết chết ông.

 

Xem xét lại [34] phẩm tính của Commodus, Severus, [35] Antoninus Caracalla và Maximinus, ngài [36] sẽ thấy họ rất tàn nhẫn và tham lam. Để làm hài lòng binh lính, chúng không nương tay với bất kỳ loại tổn thương nào gây ra cho dân chúng; tất cả trừ Severus đều có kết cục bi thảm. Severus sở hữu bản lĩnh lớn đến nỗi, bằng cách giữ binh lính thân thiện, dù đè nén dân chúng quá mức, ông vẫn có thể cại trị hạnh phúc vì bản lĩnh khiến ông trở nên đáng ngưỡng mộ trong mắt binh lính và dân chúng đến mức phe sau thì kinh ngạc và sững sờ, còn phe trước thì tôn kính và thỏa mãn.

 

Và vì những hành động của người này rất lớn lao và đáng chú ý đối với một người cầm quyền đứng đầu mới, tôi muốn chỉ ra ngắn gọn vị này đã biết cách sử dụng vai diễn con cáo và con sư tử tốt thế nào, những bản tính mà tôi nói ở trên là cần thiết để một người cầm quyền đứng đầu bắt chước. Vì Severus biết sự bạc nhược của Hoàng đế Julianus, ông đã thuyết phục đội quân của mình, vốn ông đang là đội trưởng ở Slavonia, rằng sẽ thật tốt nếu đi đến Rome và trả thù cho cái chết của Pertinax, người đã bị những binh lính cận vệ giết chết. Dưới cái cớ này, mà không để lộ rằng mình khao khát nắm quyền đế quốc, ông đã điều động quân đội chống lại Rome; và vị này đã ở Ý trước khi việc khởi hành bị phát hiện. Khi vị này đến Rome, Thượng viện vì sợ hãi đã bầu ông làm hoàng đế và giết chết Julianus.

 

Sau đó, Severus còn hai khó khăn nếu muốn trở thành lãnh chúa của toàn bộ quốc gia: một ở châu Á, nơi Pescennius Niger tự xưng hoàng đế; và một ở phía Tây, nơi Albinus cũng khao khát quyền cai trị. Vì phán xét rằng việc công khai là kẻ thù của cả hai bên là nguy hiểm, ông quyết định tấn công Niger và lừa dối Albinus. Ông viết thư cho Albinus rằng vì mình đã được Thượng viện bầu nên muốn chia sẻ vinh quang; ông phong cho Albinus tước hiệu Caesar và chấp nhận làm làm người cùng trị . Albinus đã tin điều đó là đúng. Nhưng sau khi Severus đánh bại Niger và ổn định phương Đông, ông trở về Rome phàn nàn trước Thượng viện rằng Albinus đã bội bạc tìm cách giết mình, vì vậy ông buộc phải đi trừng phạt sự vô ơn của người này. Sau đó, ông đến gặp người này ở Pháp, lấy đi lãnh thổ và mạng sống của người này.

 

Bất cứ ai xem xét kỹ lưỡng hành động của người này sẽ thấy một con sư tử hung dữ và một con cáo tinh ranh; vị này được mọi người kính sợ, tôn sùng và không bị quân đội oán hận. Sẽ không ngạc nhiên khi một con người mới như vị này lại có thể giữ vững nhiều quyền lực đến thế, [37] vì danh tiếng lớn lao luôn bảo vệ vị này khỏi lòng oán hận của dân chúng do những vụ cướp bóc gây ra. Nhưng con trai vị này, Antoninus Caracalla, là người sở hữu phẩm tính xuất sắc khiến ông trở nên kỳ diệu trong mắt dân chúng và làm hài lòng binh lính. Vì là một quân nhân có khả năng chịu đựng mọi gian khổ, khinh rẻ mọi thứ cao lương mỹ vị cùng lối sống ủy mị, vị này đã thu phục được lòng tin và sự yêu mến của binh lính. Tuy nhiên, sự hung bạo và tàn ác của vị này thật kinh khiếp – bởi sau vô số vụ sát hại cá nhân, vị này còn tàn sát phần lớn dân chúng thành Rome và toàn bộ dân chúng thành Alexandria – điều này khiến vị này chuốc lấy sự oán hận của toàn thế giới. Ngay cả những kẻ thân cận cũng bắt đầu khiếp sợ vị này, đến mức một viên đội trưởng đã ra tay kết liễu vị này ngay giữa quân đội của chính vị này. [38]

 

Ở đây cần lưu ý rằng những cái chết như thế này, vốn nảy sinh từ quyết định của một tinh thần ngoan cố, không thể bị tránh né bởi những người cầm quyền đứng đầu bởi vì bất kỳ ai không màng cái chết đều có thể làm hại vị này; nhưng người cầm quyền đứng đầu có thể ít sợ chúng hơn vì chúng rất hiếm. Vị này chỉ nên canh chừng việc không gây ra tổn thương nghiêm trọng cho bất kỳ ai trong số những kẻ mà vị này sử dụng và vây quanh mình để phục vụ quyền cai trị, như Antoninus đã làm. Ông đã giết chết một cách nhục nhã một người anh em của viên đội trưởng đó, và đe dọa hắn mỗi ngày; vậy mà ông vẫn giữ hắn trong đội cận vệ của mình, đó là một chính sách liều lĩnh có khả năng mang lại sự diệt vong, như đã xảy ra với ông.

Nhưng hãy nói về Commodus, người nắm giữ đế quốc một cách rất dễ dàng vì ông có nó theo quyền thừa kế, là con trai của Marcus. Chỉ cần ông đi theo bước chân của cha mình thì đã làm thỏa mãn cả binh lính lẫn dân chúng. Nhưng vì ông có một tinh thần tàn nhẫn và thú tính, để thực thi sự tham tàn lên dân chúng, ông quay sang nuông chiều những đạo quân và khiến chúng trở nên phóng túng. Mặt khác, bằng việc không giữ gìn phẩm giá của mình, bằng việc thường xuyên xuống những nhà hát để chiến đấu với những võ sĩ giác đấu, và bằng việc làm những thứ rất hèn hạ khác khó lòng xứng đáng với sự uy nghiêm hoàng đế, ông trở nên bị khinh miệt trong mắt binh lính. Và vì ông bị oán hận một bên và bị coi thường một bên, ông bị âm mưu chống lại và bị giết chết.

 

Bây giờ còn lại việc kể về những phẩm chất của Maximinus. Ông là một người rất hiếu chiến; và vì quân đội đã chán ghét sự ủy mị của Alexander, người mà tôi đã thảo luận ở trên, nên khi ông bị giết, họ đã bầu Maximinus lên ngôi đế quốc. Ông không nắm giữ nó được lâu vì hai điều đã khiến ông bị oán hận và bị khinh miệt: một là việc ông có nguồn gốc rất hèn mọn [39] vì trước đây ông từng chăn cừu ở Thrace (điều này vốn rất nổi tiếng ở khắp mọi nơi và mang lại sự coi thường lớn lao cho ông trong mắt mọi người); điều kia là vì ngay khi bắt đầu quyền cai trị của mình, ông đã trì hoãn việc đến Rome để tiếp quản ngai vàng đế quốc, ông đã thiết lập một dư luận về bản thân là kẻ rất tàn nhẫn, vì ông đã thực hiện nhiều hành vi tàn bạo qua những tổng trấn của mình ở Rome và ở mọi nơi trong đế quốc. Vì vậy, khi cả thế giới sục sôi phẫn nộ trước dòng máu hèn mọn của ông và bởi sự oán hận nảy sinh từ nỗi sợ hãi sự hung bạo của ông, Châu Phi đã nổi loạn trước tiên, sau đó là Thượng viện cùng toàn thể nhân dân Rome; và toàn bộ nước Ý đã âm mưu chống lại ông. Những lực lượng này có thêm sự tham gia của chính quân đội của ông, những kẻ trong khi bao vây Aquileia và gặp khó khăn trong việc đánh chiếm nó, đã trở nên chán ghét sự tàn nhẫn này, và vì ít sợ hãi ông hơn khi thấy ông có quá nhiều kẻ thù, họ đã giết chết ông.

 

Tôi không muốn bàn luận về Heliogabalus, Macrinus hay Julianus, những kẻ vì hoàn toàn khinh miệt bỉ nên đã bị loại bỏ ngay lập tức. Kết luận lại: những người cầm quyền đứng đầu thời nay ít gặp khó khăn hơn trong việc làm hài lòng binh lính bằng những biện pháp đặc biệt trong chính phủ của họ. Dù phải thể hiện sự quan tâm đến họ, nhưng vấn đề này nhanh chóng được giải quyết vì không vị nào có quân đội hợp nhất và ăn sâu vào bộ máy những tỉnh như của Đế quốc La Mã. Nếu vào thời đó cần làm hài lòng binh lính hơn dân chúng vì binh lính có thể làm được nhiều việc hơn, thì ngày nay, tất cả (ngoại trừ người Thổ Nhĩ Kỳ và Sultan) [40] cần làm hài lòng dân chúng hơn vì dân chúng có quyền lực lớn hơn.

 

Tôi loại trừ người Thổ ra khỏi đây, vì vị này luôn giữ mười hai nghìn bộ binh và mười lăm nghìn kỵ binh mà an ninh và sức mạnh của lãnh địa phụ thuộc vào đó; vị lãnh chúa đó cần phải gạt bỏ mọi sự quan tâm khác để giữ họ làm thân hữu. Tương tự, vì lãnh địa của Sultan nằm trong tay binh lính, ông cũng có nghĩa vụ phải giữ họ làm thân hữu mà không cần tôn trọng dân chúng. Và ngài [41] cần lưu ý rằng nhà nước của Sultan được hình thành khác biệt so với tất cả những quốc gia khác, vì nó tương tự như chức vụ Vua chiên của Kitô giáo: không thể gọi là lãnh địa thừa kế hay lãnh địa mới. Bởi không phải con trai của người cầm quyền đứng đầu cũ thừa kế, mà là người được bầu vào chức vụ đó bởi những kẻ có thẩm quyền. Vì đây là một mệnh lệnh cổ xưa, người ta không thể gọi đó là một lãnh địa mới; những khó khăn của lãnh địa mới không tồn tại ở đó, vì những mệnh lệnh đã có từ lâu và chuẩn bị sẵn để tiếp nhận vị này như thể là lãnh chúa thừa kế.

 

Nhưng hãy quay lại vấn đề của chúng ta. Tôi nói rằng bất kỳ ai xem xét bài nghị luận đã viết ở trên sẽ thấy rằng hoặc sự oán hận hoặc sự coi thường đã là nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong của những hoàng đế đã nêu tên trước đó, và cũng sẽ biết nó nảy sinh từ đâu mà ra, rằng mặc dù một số người trong họ tiến hành theo một phương thức và một số theo phương thức ngược lại, thì dù ở phương thức nào, một người trong số họ đã đi đến kết cục hạnh phúc và những người khác đến kết cục bất hạnh. Bởi vì đối với Pertinax và Alexander, vì họ là những người cầm quyền đứng đầu mới, việc muốn bắt chước Marcus (người nắm giữ quyền lãnh đạo theo quyền thừa kế) là vô ích và gây hại; và tương tự, đối với Caracalla, Commodus và Maximinus, việc bắt chước Severus là một điều tai hại, bởi vì họ không có đủ bản lĩnh để cho phép họ bước theo dấu chân của vị này.

 

Do đó, một người cầm quyền đứng đầu mới trong một lãnh địa mới không thể bắt chước những hành động của Marcus, và lại càng không cấp thiết phải làm theo những hành động của Severus; nhưng vị này nên lấy từ Severus những phần cần thiết để thiết lập nhà nước của mình và từ Marcus những phần phù hợp và vẻ vang để bảo tồn một nhà nước vốn đã được thiết lập và vững chắc.

 

Chương XX

Việc Xây Pháo Đài Và Nhiều Sự Việc Khác Mà Người Cầm Quyền Đứng Đầu Làm Thường Ngày Là Có Ích Hay Vô Ích

 

Một số người cầm quyền đứng đầu tước vũ khí thần dân của mình để giữ vững nhà nước; số khác chia rẽ những thị trấn thuộc quyền; số khác nuôi dưỡng sự thù nghịch chống lại chính mình; số khác lại tìm cách thu phục những kẻ mà vị này từng nghi kỵ lúc mới lên nắm quyền; số khác xây pháo đài; và số khác lại phá hủy chúng. Dù tôi không thể đưa ra một phán xét dứt khoát về tất cả những sự việc này trừ khi đi sâu vào chi tiết của từng nhà nước cụ thể, nhưng tôi sẽ trình bày theo cách khái quát nhất mà vấn đề cho phép.

 

Chưa từng có một người cầm quyền đứng đầu mới nào tước vũ khí của thần dân; trái lại, bất khi nào thấy họ không có vũ khí, vị này luôn trang bị cho họ. Bởi khi ngài trang bị vũ khí cho họ, những vũ khí đó sẽ thuộc về ngài; những kẻ ngài nghi ngờ sẽ trở nên trung thành, những kẻ vốn trung thành sẽ giữ vững lòng tin, và từ thân phận thần dân, họ trở thành những người ủng hộ ngài. Vì không thể trang bị vũ khí cho tất cả mọi người, nên nếu ngài ưu đãi những kẻ được ngài vũ trang, ngài có thể đối phó an toàn hơn với những người còn lại. Sự khác biệt trong cách đối đãi khiến những người kia mang ơn ông; còn những người khác thì tự biện minh cho ông, cho rằng những ai gánh vác nhiều nguy hiểm và nghĩa vụ hơn thì xứng đáng được ưu đãi hơn.

 

Nhưng khi ngài tước vũ khí của họ, ngài bắt đầu xúc phạm họ; ngài cho thấy rằng ngài không tin tưởng họ, hoặc vì họ hèn nhát hoặc thiếu trung thành, và cả hai quan điểm này đều tạo ra lòng oán hận chống lại ngài. Vì không thể duy trì tình trạng không vũ trang, ngài buộc phải tìm đến quân lính đánh thuê, vốn là loại quân mà tôi đã mô tả phẩm chất ở phần trước; [42] và ngay cả khi chúng tốt, chúng cũng không đủ tốt để bảo vệ ngài trước những kẻ thù hùng mạnh và những thần dân đầy nghi kỵ. Vì thế, như tôi đã nói, một người cầm quyền đứng đầu mới trong một nhà nước mới luôn tổ chức lực lượng vũ trang ở đó. Lịch sử đầy rẫy những ví dụ về điều này.

 

Tuy nhiên, khi một người cầm quyền đứng đầu chiếm được một nhà nước mới và sáp nhập nó vào nhà nước cũ, thì cần phải tước binh lực của nhà nước đó, ngoại trừ những kẻ đã ủng hộ ngài trong việc đánh chiếm. Ngay cả với những kẻ này, theo thời gian và khi có cơ hội, ngài cũng cần phải làm cho họ trở nên bạc nhược và mềm yếu, đồng thời sắp xếp sao cho binh lực của toàn bộ nhà nước chỉ nằm trong tay những binh lính của riêng ngài, những kẻ sống cạnh ngài trong nhà nước cũ.

 

Tổ tiên chúng ta, và những người được cho là khôn ngoan, thường nói rằng cần phải giữ Pistoia bằng những phe phái và giữ Pisa bằng pháo đài; vì lý do này, họ nuôi dưỡng sự chia rẽ trong một số thành phố thuộc quyền để cai trị dễ dàng hơn. Vào thời kỳ nước Ý ở trạng thái cân bằng theo một cách thức nhất định, điều này có thể là tốt, nhưng tôi không tin rằng ngày nay người ta có thể coi đó là một lời dạy. Bởi tôi không tin rằng sự chia rẽ bao giờ cũng mang lại lợi ích; trái lại, khi kẻ thù đến gần, những thành phố bị chia rẽ tất yếu sẽ mất ngay, vì phe yếu sẽ liên kết với ngoại bang, còn phe kia thì không thể tự giữ. [43]

 

Người Venice, mà tôi tin là bị thúc đẩy bởi những lý do nêu trên, đã nuôi dưỡng những phe Guelf và Ghibelline trong những thành phố dưới quyền. Dù người Venice không bao giờ để nững phe này đi đến đổ máu, nhưng vẫn duy trì sự tranh chấp giữa họ, để dân chúng bận rộn với bất hòa mà không đoàn kết chống lại mình.họ. Như chúng ta thấy, kế hoạch này sau đó đã thất bại, vì khi họ bị thua Vailà, một phe lập tức trở nên liều lĩnh và chiếm toàn bộ nhà nước. Phương thức này cho thấy sự yếu đuối của người cầm quyền đứng đầu. Trong một lãnh địa mạnh, chia rẽ như vậy không được phép, vì chỉ lợi trong thời bình, khi dân chúng dễ cai trị hơn; nhưng khi chiến tranh xảy ra, một trật tự như thế sẽ phơi bày sự sai lầm của chính nó.

 

Không nghi ngờ gì, những người cầm quyền đứng đầu trở nên vĩ đại khi họ vượt qua những khó khăn được tạo ra cho họ và những đối lập chống lại họ. Vì vậy, thời vận may rủi / thời thế, đặc biệt khi muốn nâng một người cầm quyền đứng đầu mới — vì họ cần danh tiếng nhiều hơn người cầm quyền đứng đầu kế thừa — sẽ khiến kẻ thù xuất hiện và gây khó khăn, để người cầm quyền đứng đầu có lý do vượt qua và leo cao trên bậc thang mà chính kẻ thù tạo ra. Do đó, nhiều người cho rằng người cầm quyền đứng đầu khôn ngoan nên khéo léo nuôi dưỡng một số kẻ thù, để khi nghiền nát họ, năng lực chính trị / bản lĩnh cầm quyền của người cầm quyền đứng đầu càng nổi bật.

 

Người cầm quyền đứng đầu, nhất là người cầm quyền đứng đầu mới, thường tìm thấy trung thành và lợi ích nhiều hơn nơi những người lúc đầu nghi ngờ họ hơn là những người họ tin tưởng từ đầu. Pandolfo Petrucci, người cầm quyền đứng đầu Siena, cai trị nhà nước bằng những người nghi ngờ ông hơn là những người khác. Nhưng điều này tùy thuộc dân chúng. Tôi chỉ nói rằng người cầm quyền đứng đầu luôn dễ thu phục những người lúc đầu là kẻ thù; họ cần có điểm tựa để tồn tại. Họ buộc phải phục vụ trung thành, vì biết rằng họ cần xóa đi đánh giá xấu bằng hành động. Vì thế, người cầm quyền đứng đầu luôn thu lợi nhiều hơn từ họ so với những người phục vụ trong an toàn mà lơ là việc công.

 

Và vì vấn đề đòi hỏi, tôi không muốn bỏ qua một lời nhắc nhở đối với những người cầm quyền đứng đầu vừa mới chiếm được một nhà nước nhờ sự ủng hộ từ bên trong, rằng vị này hãy cân nhắc kỹ động cơ nào đã thúc đẩy những người đó ủng hộ mình. Nếu đó không phải là tình cảm tự nhiên mà chỉ vì họ không hài lòng với nhà nước cũ, thì vị này sẽ chỉ giữ chân được họ làm bạn một cách khó khăn và vất vả, vì vị này không thể làm họ thỏa mãn. Khi xem xét [44] kỹ nguyên nhân của điều này qua những ví dụ thời cổ và hiện đại, chúng ta sẽ thấy rằng việc thu phục làm bạn những người vốn hài lòng với nhà nước cũ (và do đó từng là kẻ thù của ngài) dễ dàng hơn nhiều so với những kẻ vì không hài lòng mà trở thành bạn và giúp vị này chiếm đoạt nó.

 

Những người cầm quyền đứng đầu, để giữ vững nhà nước, thường có thói quen xây dựng những pháo đài làm biện pháp kìm hãm những kẻ có ý chống đối và làm nơi trú ẩn an toàn khi bị tấn công bất ngờ.[45] Tôi ca ngợi phương cách này vì nó đã được dùng từ thời thời cổ. Tuy nhiên, trong thời đại chúng ta, Messer Niccolò Vitelli đã phá hủy hai pháo đài ở Città di Castello để giữ nhà nước đó. Khi Guidobaldo, Công tước xứ Urbino, trở lại lãnh địa mà Cesare Borgia đã trục xuất ông, ông đã san bằng tất cả những pháo đài trong tỉnh đó đến tận móng; và ông nhận thấy rằng không có pháo đài, ông khó bị mất nhà nước lần nữa. Khi nhà Bentivogli trở về Bologna, họ làm điều tương tự.

 

Vì vậy, pháo đài là hữu dụng hay không tùy thuộc vào thời thế, và nếu chúng mang lại điều tốt cho ngài ở phương diện này, chúng lại làm hại ngài ở phương diện khác. [46] Và người ta có thể thảo luận vấn đề này như sau: Người cầm quyền đứng đầu nào sợ hãi dân chúng hơn sợ người nước ngoài thì nên xây pháo đài, nhưng người nào sợ người nước ngoài hơn sợ dân chúng thì nên bỏ qua chúng.

 

Lâu đài ở Milan do Francesco Sforza xây dựng đã mang lại và sẽ còn mang lại nhiều cuộc chiến cho dòng họ Sforza hơn bất kỳ sự hỗn loạn nào khác của nhà nước đó. Do đó, pháo đài tốt nhất hiện hữu chính là không bị dân chúng oán hận, bởi vì dù ngài có thể sở hữu pháo đài, nhưng nếu dân chúng oán hận ngài, pháo đài cũng chẳng cứu được ngài; vì một khi dân chúng đã cầm vũ khí, người nước ngoài sẽ không bao giờ thiếu cơ hội để đến hỗ trợ họ.

 

Trong thời đại của chúng ta, người ta chưa thấy pháo đài mang lại lợi ích cho bất kỳ người cầm quyền đứng đầu nào, ngoại trừ Nữ bá tước xứ Forlì khi Bá tước Girolamo, phu quân của bà, qua đời; vì nhờ phương tiện pháo đài mà bà có thể thoát khỏi một cuộc nổi dậy của dân chúng, [47] chờ viện trợ từ Milan và khôi phục lại nhà nước của bà. [48] Và thời thế lúc đó là như vậy nên người nước ngoài đã không thể giúp dân chúng. Nhưng về sau, pháo đài chẳng còn mấy giá trị đối với bà khi Cesare Borgia tấn công bà, và dân chúng thù nghịch với bà đã liên kết với người nước ngoài.

 

Do đó, khi đó và cả trước đó, việc không bị dân chúng oán hận sẽ an toàn hơn cho bà so với việc có pháo đài. Vì vậy, sau khi đã cân nhắc tất cả những sự việc này, tôi sẽ ca ngợi bất kỳ ai xây pháo đài và cả kẻ không xây, và tôi sẽ khiển trách bất kỳ ai, vì quá tin vào pháo đài mà coi nhẹ việc bị dân chúng oán hận.

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Feb/2026)

(Còntiếp. →)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

https://chuyenxgan.blogspot.com/

 



[1] [Nghĩa đen: gây hại/xúc phạm (offends).

Machiavelli lập luận rằng sự hào phóng quá mức sẽ buộc người cầm quyền đứng đầu phải đánh thuế nặng thần dân, điều này “gây hại” cho số đông để làm hài lòng số ít.

[2] [Louis XII.

[3] [Ferdinand the Catholic

Về Louis XII và Ferdinand: Đây là hai ví dụ điển hình. Louis XII của Pháp nổi tiếng vì sự tiết kiệm, nhờ đó ông có thể tiến hành những cuộc chiến tranh mà không cần áp thuế đặc biệt lên dân chúng. Ferdinand của Tây Ban Nha cũng tương tự, nếu ông quá “hào phóng” theo nghĩa thông thường, ông đã không thể thực hiện được nhiều cuộc chinh phạt lẫy lừng đến thế.

[4] [Hoặc lòng sùng đạo (piety), xuyên suốt tác phẩm Người Cầm Quyền Đứng Đầu.

[5] [Từ năm 1500 đến 1502, Pistoia, một thành phố lệ thuộc vào Florence, đã bị xâu xé bởi những cuộc tranh chấp phe phái và bạo loạn. NM đã có mặt ở đó với tư cách là đại diện của người Florence trong nhiều dịp vào năm 1501.

Đây là ví dụ then chốt để Machiavelli lập luận rằng sự “tàn nhẫn” của Cesare Borgia thực chất là nhân từ, vì nó mang lại trật tự; trong khi sự “nhân từ” của người Florence (không muốn mang tiếng tàn nhẫn nên không can thiệp mạnh) lại dẫn đến sự hủy diệt cho cả một thành phố.

[6] [Nghĩa đen: gây hại/xúc phạm (offend).

[7] [Nghĩa đen: một sự phổ quát toàn vẹn (a whole universality).

Về “Sự phổ quát toàn vẹn” (4): Cách dùng từ này cho thấy sự quan tâm của Machiavelli đến sự ổn định của toàn thể cộng đồng thay vì lợi ích của một vài cá nhân.

[8] [Nghĩa đen: gây hại/xúc phạm (offend).

[9] [Virgil, Aeneid I 563–64.

[10] [Xem Chương 9.

[11] [Nghĩa đen: máu (blood).

[12] [Nghĩa đen: máu (blood).

[13] [Về việc so sánh giữa Hannibal và Scipio, xem thêm Luận bàn về Livy III 19–21. Nguồn của NM nằm trong Livy, XXIX 19, 21.

Một so sánh kinh điển để thảo luận liệu việc được yêu thương (Scipio) hay bị sợ hãi (Hannibal) mang lại hiệu quả quân sự và chính trị tốt hơn.

[14] [Từ “Ngài” (you) ở dạng trang trọng hoặc số nhiều

[15] [Một nguồn khả dĩ cho điều này: Cicero, De Officiis I. 11.34; 13.41.

Việc viện dẫn Cicero cho thấy Machiavelli đang đối thoại trực tiếp (và lật ngược) những giá trị kinh điển. Cicero cho rằng việc hành xử như thú vật (cáo hay sư tử) là phi nhân tính, nhưng Machiavelli lại coi đó là một kỹ năng bắt buộc để sinh tồn.

[16] [Nghĩa đen: một cách phổ quát (universally).

[17] [Nghĩa đen: chạm tới (touches).

Chú thích về từ “chạm tới” (touches) làm rõ lập luận: dân chúng chỉ thấy vẻ bề ngoài (nhìn), chỉ những người thân cận mới “chạm” được bản chất thực của người cầm quyền đứng đầu.

[18] [Một bản thảo chép rằng “số ít không có chỗ đứng ở đó...”; và những học giả đã chia rẽ ý kiến, Casella, Russo và Sasso chấp nhận cách hiểu “không có chỗ đứng”, trong khi Chabod và Bertelli chọn “có chỗ đứng”.]

[19] [Rõ ràng là Ferdinand the Catholic, người mà NM đã không ngần ngại nêu đích danh trong Chương 21.]

Ferdinand của Tây Ban Nha chính là hình mẫu thực tế cho việc rao giảng tôn giáo và hòa bình trong khi liên tục dùng mưu kế và vũ lực để mở rộng bờ cõi.

[20] [Xem Chương 17 ở trên.

[21] [Nghĩa đen: tính phổ quát (universality).

[22] [Xem Chương 9 ở trên, nơi Nabis được khắc họa như một người cầm quyền của một chính thể dân sự. Tại đây, Machiavelli không tiết lộ rằng Nabis thực tế đã bị giết bởi một âm mưu, điều mà ông đã viết trong cuốn Luận thuyết về Livy (III, 6).

[23] [Các Chương 16, 17.

[24] [Nghĩa đen: bởi cái phổ quát (by the universal)

[25] [Xem Machiavelli, Lịch sử Florence VI, 9–10.

[26] [Về vương quốc Pháp, xem thêm Luận thuyết về Livy I, 16, 17, 55; và tác phẩm Ritratto di cose di Francia của Machiavelli.

[27] [Có lẽ ám chỉ Louis IX, người đã tổ chức Nghị viện Paris từ triều đình của vị vua tiền nhiệm. những Nghị viện trong chế độ quân chủ Pháp là những cơ quan tư pháp (tòa án), không phải cơ quan lập pháp.

[28] [Nghĩa đen: của cái phổ quát.

[29] [Nghĩa đen: những việc thuộc về ân huệ (things of grace).

[30] [Alexander Severus.

[31] [Università ở đây là số ít theo một số bản chép tay mà Chabod chấp nhận; nó là số nhiều và được dịch là “các cộng đồng” trong mệnh đề tiếp theo; università bắt nguồn từ thuật ngữ Latinh trung cổ universitas, có nghĩa là một pháp nhân hoặc tập đoàn, và (đôi khi) là cộng đồng mà những thực thể đó phụ thuộc vào. Cách dùng của Machiavelli thiếu tính pháp lý so với cách dùng thời trung cổ.

Việc lặp lại thuật ngữ “cái phổ quát” cho thấy Machiavelli coi “dân chúng” là một khối chung đồng nhất mà người cầm quyền đứng đầu phải xoa dịu bằng mọi giá để tránh sự thù ghét.

[32] [Chương 15.

[33] [Xem chú thích 12 ở trên.

[34] [Nghĩa đen: bàn luận về (discoursing on).

[35] [Septimius Severus, người mà trong cuốn Luận thuyết về Livy (I, 10) bị Machiavelli gọi là một kẻ tội đồ

Chú thích 3 và 16 cho thấy Machiavelli rất “khéo léo “ trong việc trình bày sự kiện . Trong tác phẩm này, ông ca ngợi Severus và Nabis như những hình mẫu của bản lãnh chính trị (virtù), nhưng trong những tác phẩm khác, ông lại gọi họ là tội đồ hoặc thừa nhận họ thất bại trước âm mưu. Điều này chứng tỏ trong tập sách này, ông ưu tiên tính hiệu quả thực dụng hơn là sự toàn diện về sự kiện lịch sử.

[36] [Từ “Ngài” (you) ở dạng trang trọng hoặc số nhiều.

[37] [Nghĩa đen: đế quốc (empire).

[38] [Xem thêm Luận thuyết về Livy III, 6, nơi Machiavelli nói rằng viên đội trưởng chỉ là công cụ hoặc kẻ thực thi của một kẻ âm mưu khác là Macrinus (tổng đốc của Caracalla); Macrinus không hề phải chịu “tổn thương nghiêm trọng” nào từ Caracalla. Macrinus tự xưng đế vào năm 217 và bị lật đổ năm 218.

[39] [Nghĩa đen: cực kỳ thấp kém (being very base).

[40] [Rõ ràng “người Thổ” là Selim I, sultan của Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman từ 1512 đến 1520, và “Sultan” là vị sultan cuối cùng của vương triều Mamelukes ở Ai Cập, Tuman Bey, người bị Selim I lật đổ năm 1517. Selim I được Machiavelli gọi là “Đại Thổ” trong cuốn Luận thuyết về Livy: xem I, 1, 19, 30; II, 17; III, 6, 35.

[41] [Từ “Ngài” (you) ở dạng trang trọng hoặc số nhiều.

[42] [Xem Chương 12.

[43] Vào thời kỳ Ý trung cổ và Phục hưng, Machiavelli nhắc đến chiến lược kiểm soát các thành phố: Pistoia được duy trì bằng việc duy trì các phe phái đối lập trong thành phố để dễ thao túng và ngăn dân chúng nổi dậy; trong khi Pisa được giữ bằng các pháo đài, tức công trình quân sự, nhằm phòng thủ trực tiếp chống lại các mối đe dọa từ bên ngoài. Đây là minh họa cho cách khác nhau để giữ vững nhà nước / duy trì quyền lực của vị cầm quyền đứng đầu, tùy theo đặc điểm và nguy cơ của từng thành phố.

[44] [nghĩa đen: bàn luận về

[45] [Về những Pháo đài – xem Discourses on Livy II 21, 24, 25; III 27, 37.

[46] [nghĩa đen: xúc phạm.

[47] [nghĩa đen: động lực.

[48] [Câu chuyện này được kể lại một cách sống động trong Luận về Livy III 6 và Lịch sử Florence.