Friday, March 6, 2026

Machiavelli — IL PRINCIPE (03)

Người Cầm Quyền Đứng Đầu

(Il Principe)

Niccolò Machiavelli

 

( ← .. tiếp theo )











Chương VI

Về những Lãnh Địa Mới Được Chiếm Hữu Bằng Quân Lực Và Bản Lĩnh Chính Trị Riêng

 

Không ai nên ngạc nhiên nếu, khi bàn về những chế độ cầm quyền hoàn toàn mới cả về người cầm quyền đứng đầu lẫn về nhà nước, tôi đưa ra những tấm gương vĩ đại nhất. Bởi vì con người hầu như luôn đi trên những con đường đã được người khác mở ra và trong hành động của mình thường tiến hành bằng cách noi theo; nhưng họ không thể hoàn toàn giữ đúng con đường của người khác, cũng không thể đạt tới bản lĩnh chính trị của những người mà họ noi theo. Vì thế một người khôn ngoan phải luôn bước vào những con đường mà những vĩ nhân đã đi qua và noi theo những người xuất sắc nhất; để nếu bản lĩnh chính trị của mình không đạt tới tầm cao ấy, thì ít ra cũng còn phảng phất dư hương của nó. [1] Người ấy nên làm như những cung thủ khôn ngoan: khi vị trí họ định bắn có vẻ quá xa và họ biết sức mạnh của cung mình tới đâu, họ sẽ nhắm cao hơn vị trí dự định, không phải để mũi tên bay tới độ cao ấy, mà nhờ việc nhắm cao như vậy mà thực hiện được kế hoạch của mình.

 

Tôi nói rằng, trong những lãnh địa hoàn toàn mới, nơi có một người cầm quyền đứng đầu mới, người ta gặp nhiều hay ít khó khăn trong việc duy trì chúng tùy thuộc vào việc người chiếm hữu đó có nhiều hay ít bản lĩnh chính trị. Và vì việc từ địa vị cá nhân bình thường trở thành người cầm quyền đứng đầu giả định hoặc bản lĩnh chính trị hoặc thời vận may rủi, nên dường như một trong hai điều này phần nào làm giảm bớt nhiều khó khăn; tuy vậy, người dựa ít hơn vào thời vận may rủi thường duy trì được quyền lực của mình vững chắc hơn. Nếu người cầm quyền đứng đầu buộc phải đến cư trú tại đó, vì người này không có những nhà nước khác, thì điều ấy lại càng làm cho việc duy trì quyền lực trở nên dễ dàng hơn.

 

Nhưng, để bàn về những người trở thành người cầm quyền đứng đầu bằng bản lĩnh chính trị riêng chứ không phải bằng thời vận may rủi, tôi cho rằng những người kiệt xuất nhất là Moses, Cyrus, Romulus, Theseus và những người tương tự. Dẫu cho chúng ta không nên luận bàn về Moses, vì ông chỉ là người tuân theo những gì Gót truyền dạy, nhưng lại được coi là đáng ngưỡng mộ – nếu chỉ nhờ ân điển đã khiến ông xứng đáng được trò chuyện với Gót. Nhưng hãy xem xét Cyrus và những người đã chiếm hữu hoặc sáng lập những vương quốc: Ngài [2] sẽ thấy tất cả đều đáng khâm phục; và nếu xem xét kỹ từng hành động và trật tự riêng của họ, chúng sẽ không có vẻ khác gì so với những gì Moses đã làm — người vốn có một bậc thầy vĩ đại như Gót. Khi xem xét những hành động và cuộc đời của họ, ta thấy họ chẳng nhận được gì từ thời vận may rủi ngoại trừ cơ hội — thứ đã cung cấp cho họ “nguyên liệu” để họ nhào nặn thành bất kỳ hình thái nào họ muốn. Nếu thiếu cơ hội đó, bản lĩnh chính trị của tinh thần họ sẽ lụi tàn, và nếu thiếu bản lĩnh chính trị đó, cơ hội cũng sẽ đến một cách vô ích.

 

Do đó, Moses cần phải tập hợp dân Israel ở Ai Cập, những người Ai Cập đã nô dịch và áp bức họ, để họ sẵn sàng đi theo ông nhằm thoát khỏi cảnh nô lệ. Romulus phải tự đối mặt với việc không được chấp nhận ở Alba và bị bỏ rơi ngay từ khi mới lọt lòng, nếu ông muốn trở thành vua Rome và là người sáng lập đất nước ấy. Cyrus cần thu hút người Ba Tư đang bất mãn với đế quốc của người Medes, trong khi người Medes đã trở nên mềm yếu và nhu nhược vì một nền hòa bình kéo dài. Theseus sẽ không thể thể hiện tài năng và bản lĩnh của mình nếu ông không thấy người dân Athens sống tản mác. Chính những cơ hội đó đã mang lại thời vận may rủi cho những con người vĩ đại ấy, và nhờ bản lĩnh chính trị xuất chúng, họ nhận ra được những cơ hội đó; nhờ vậy, tổ quốc của họ được tôn vinh và trở nên vô cùng thịnh vượng.

 

Những người giống như những vĩ nhân này, những người trở thành người cầm quyền đứng đầu bằng con đường của bản lĩnh chính trị, s chiếm hữu lãnh địa của mình một cách khó khăn nhưng giữ nó tương đối dễ dàng; và những khó khăn trong việc chiếm hữu lãnh địa một phần phát sinh từ những trật tự và phương thức mới mà họ buộc phải thiết lập để xây dựng nhà nước và bảo đảm an nguy cho mình. Cần lưu ý rằng không có gì khó thực hiện hơn, không có gì mơ hồ về khả năng thành công hơn, cũng như không có gì nguy hiểm hơn khi đứng ra dẫn dắt việc thiết lập những trật tự mới. Bởi người thiết lập sẽ có tất cả những người hưởng lợi từ trật tự cũ làm kẻ thù, trong khi chỉ nhận được sự ủng hộ hờ hững từ những người có thể hưởng lợi từ trật tự mới. Sự hờ hững này nảy sinh một phần từ nỗi sợ những đối thủ có luật pháp đứng về phía họ, và một phần từ sự hoài nghi của con người — những người không thực sự tin vào những gì mới mẻ trừ khi họ đã có kinh nghiệm vững chắc về chúng. Hệ quả là, bất cứ khi nào kẻ thù có cơ hội tấn công, họ sẽ hành động với nhiệt huyết phe phái, trong khi những người khác chỉ bảo vệ hờ hững, khiến người lãnh đạo cùng họ cùng nguy khốn.

 

Tuy nhiên, nếu muốn thảo luận thấu đáo khía cạnh này, cần phải xem xét liệu những người đổi mới này đứng trên chính chân mình hay phụ thuộc vào người khác; nghĩa là, để thực hiện công cuộc của mình, họ phải cầu xin [3] hay có thể dùng vũ lực. Trong trường hợp đầu tiên, họ luôn gặp kết cục xấu và chẳng bao giờ hoàn thành được việc gì; nhưng khi họ dựa vào chính mình và có thể dùng vũ lực, thì hiếm khi họ gặp nguy hiểm. Từ đó nảy sinh thực tế rằng tất cả những tiên tri có vũ trang đều chiến thắng, còn những người không vũ trang đều bị hủy diệt. Ngoài những sự việc đã nói, bản chất của dân chúng thay đổi theo thời gian; thuyết phục họ tin vào một điều gì đó thì dễ, nhưng giữ cho họ tiếp tục tin vào điều đó thì khó. Vì vậy, sự việc phải được sắp xếp sao cho khi họ không còn tin nữa, người lãnh đạo vẫn có thể buộc họ tin bằng vũ lực.

 

Moses, Cyrus, Theseus và Romulus đã không thể khiến dân chúng của mình tuân theo những thể chế mà họ thiết lập lâu dài nếu họ không có vũ lực; điều này cũng giống như trường hợp của Girolamo Savonarola trong thời đại chúng ta. Vị tu sĩ này đã bị tiêu diệt cùng với những trật tự mới mà ông thiết lập ngay khi đám đông bắt đầu không còn tin vào chúng; và ông không có cách nào để giữ vững những người đã tin, cũng như không có phương thế nào để buộc những kẻ không tin phải tin. [4] Vì thế, những người như vậy gặp rất nhiều khó khăn trong việc điều hành công cuộc của mình; mọi hiểm nguy đều nằm ngay trên con đường họ đi, và họ phải vượt qua chúng bằng bản lĩnh của mình. Nhưng một khi đã vượt qua được những hiểm nguy ấy và bắt đầu được người đời tôn kính, đồng thời loại bỏ được những kẻ từng ghen ghét họ vì phẩm tính của họ, thì họ sẽ tiếp tục nắm giữ quyền lực một cách vững vàng, an toàn, được kính trọng và hạnh phúc.

 

Để làm rõ hơn những tấm gương vĩ đại ấy, tôi muốn thêm vào một ví dụ nhỏ hơn; tuy vậy nó vẫn có sự tương xứng nhất định với những người kia, và tôi muốn nó đại diện cho mọi trường hợp tương tự khác: đó là Hiero of Syracuse của Syracuse. Từ một cá nhân bình thường, ông đã trở thành người cầm quyền đứng đầu của Syracuse, và ông cũng chẳng nhận được gì từ thời vận may rủi ngoài cơ hội. Bởi khi người dân Syracuse bị áp bức, họ đã chọn ông làm thống lĩnh; và từ vị trí ấy ông đã chứng tỏ mình xứng đáng được làm người cầm quyền đứng đầu của họ. Ông có bản lĩnh chính trị lớn đến mức, ngay cả khi còn là dân thường, người viết về ông đã nói rằng: “ông chẳng thiếu phẩm tính nào của một vị vua, ngoại trừ một vương quốc.” [5] Hiero đã giải tán quân đội cũ và tổ chức một quân đội mới; ông từ bỏ những quan hệ cũ và thiết lập những quan hệ mới. Khi đã có những bằng hữu và binh sĩ thuộc về mình, ông có thể xây dựng bất cứ công trình nào trên nền tảng ấy; vì thế ông đã phải chịu nhiều gian lao để giành được quyền lực, nhưng chỉ gặp rất ít khó khăn để giữ gìn nó.

 

Chương VII

Về những Lãnh Địa Mới Được Chiếm Hữu Bằng Quân Lực Của người Khác Và Bằng Thời vận may rủi

 

Những người từ vị thế cá nhân bình thường trở thành người cầm quyền đứng đầu chỉ nhờ thời vận may rủi thì đạt được vị thế đó với rất ít khó khăn, nhưng lại phải chịu nhiều gian nan để duy trì nó. Họ không gặp trở ngại nào trên con đường đạt được quyền lực, vì dường như thời vận may rủi đưa họ bay thẳng đến đó, nhưng mọi khó khăn chỉ nảy sinh khi họ đã yên vị. Những người cầm quyền đứng đầu như vậy xuất hiện khi một nhà nước được giao cho ai đó bằng tiền bạc hoặc bằng ân huệ của người ban phát; như đã xảy ra với nhiều người ở Hy Lạp, tại những thành thị vùng Ionia và Hellespont, nơi họ được Darius lập làm người cầm quyền đứng đầu để nắm giữ những thành thị đó nhằm bảo vệ sự an nguy và vinh quang của ông; [6] hoặc như những hoàng đế từ thường dân đạt được đế quốc qua việc mua chuộc binh lính.[7]

 

Những cá nhân này hoàn toàn dựa trên ý chí và thời vận may rủi của người đã ban phát một nhà nước cho họ, vốn là hai thứ vô cùng bất định và phù du. Họ không biết cách và cũng không thể giữ vững vị thế đó: họ không biết cách là vì nếu không phải một người có trí tuệ và bản lĩnh chính trị lớn, thì không lẽ nào một người luôn sống kiếp thường dân lại biết cách điều binh khiển tướng; họ không thể giữ vững là vì họ không có những lực lượng thân cận và trung thành với mình. Hơn nữa, những nhà nước ra đời chớp nhoáng, cũng giống như mọi thứ khác trong tự nhiên sinh trưởng quá nhanh, không thể có rễ và cành lá vững chắc, khiến cho cơn bão đầu tiên [8] của nghịch cảnh sẽ xóa sổ chúng — trừ khi, như đã nói, những người bỗng chốc thành người cầm quyền đứng đầu ấy có bản lĩnh chính trị lớn đến mức họ biết cách chuẩn bị ngay lập tức để giữ lấy những gì thời vận may rủi đã đặt sẵn trong tay họ; và họ phải tự mình xây dựng những nền móng mà người khác đã đặt trước khi trở thành người cầm quyền đứng đầu.

 

Về cả hai phương thức trở thành người cầm quyền đứng đầu đã nêu — bằng bản lĩnh chính trị hoặc thời vận may rủi — tôi muốn dẫn ra hai ví dụ xảy ra trong thời đại chúng ta vẫn còn nhớ rõ: đó là Francesco Sforza và Cesare Borgia. Francesco bằng những phương cách đúng đắn [9] và bằng chính bản lĩnh chính trị xuất chúng của họ, từ một cá nhân bình thường đã trở thành công tước xứ Milan; và những gì ông đã chiếm hữu bằng ngàn nỗi gian truân, ông đã duy trì được với rất ít khó khăn. Ngược lại, Cesare Borgia, thường được dân chúng gọi là công tước Valentino, đã có được nhà nước của mình nhờ thời vận may rủi của người cha và cũng để mất nó vì chính điều đó; mặc cho thực tế rằng ông đã tận dụng mọi hành động và làm tất cả những gì một người khôn ngoan và bản lĩnh nên làm để bám rễ vào những nhà nước mà quân lực và thời vận may rủi của người khác đã ban cho ông. Bởi vì, như đã nói ở trên, người nào không đặt nền móng ngay từ đầu thì với bản lĩnh chính trị lớn lao, có thể đặt chúng sau đó, dẫu rằng điều này sẽ gây khó nhọc cho người kiến trúc và gây nguy hiểm cho công trình.

 

Vậy nên, nếu xem xét mọi bước đi của công tước này, người ta sẽ thấy ông đã đặt cho mình những nền móng vững chắc cho quyền lực tương lai, điều mà tôi cho rằng không hề thừa thãi khi thảo luận; vì tôi không biết có lời dạy nào tốt hơn cho một người cầm quyền đứng đầu mới hơn là ví dụ từ những hành động của ông. Và nếu những biện pháp và mệnh lệnh của ông không đem lại lợi ích cho ông, thì đó không phải lỗi của ông, mà từ một sự ác nghiệt tột cùng và khác thường của thời vận may rủi.

 

Alexander VI gặp rất nhiều khó khăn, cả hiện tại lẫn tương lai, khi quyết định đưa con trai mình trở thành một vị công tước vĩ đại. Thứ nhất, ông không thấy con đường nào để biến con mình thành chủ nhân của bất kỳ nhà nước nào nhưng không thuộc về Hội nhà thờ Catô; và khi ông định lấy đất của Hội nhà thờ Catô, ông biết rằng Công tước xứ Milan và người Venice sẽ không đồng ý vì Faenza và Rimini từ lâu đã nằm dưới sự bảo trợ của người Venice. Bên cạnh đó, ông thấy rằng quân lực của Ý, đặc biệt là những lực lượng mà ông có thể tận dụng, đều nằm trong tay những người sợ hãi sự bành trướng của vị Vua chiên; vì thế ông không thể tin cậy chúng, vì tất cả đều thuộc về phe Orsini và Colonna cùng những tòng phạm của họ.[10]

 

Do đó, ông buộc phải đảo lộn những trật tự đó và gây ra sự hỗn loạn cho những nhà nước của chúng để có thể chiếm hữu một phần trong số đó một cách an toàn. Điều này thật dễ dàng với ông, vì ông nhận thấy người Venice, vì những lý do khác, đang tìm cách đưa người Pháp trở lại Ý, điều mà ông không những không phản đối mà còn làm cho dễ dàng hơn bằng việc hủy bỏ cuộc hôn nhân cũ của Vua Louis. Vậy là nhà vua tiến vào Ý với sự hỗ trợ của người Venice và sự đồng thuận của Alexander; và ngay khi nhà vua đến Milan, đã mượn quân từ ông cho chiến dịch ở Romagna, một chiến dịch thành công nhờ vào uy danh của nhà vua.

 

Sau khi công tước chiếm được Romagna và đánh bại phe Colonna, có hai điều ngăn cản ông duy trì thành quả ấy và tiến xa hơn: một là quân lực của ông dường như không đáng tin; hai là ý chí của nhà vua nước Pháp. Nghĩa là, quân lực Orsini mà ông đang dùng có thể làm ông thất vọng, không những ngăn cản ông chiếm hữu thêm mà còn tước đoạt những gì ông đã chiếm được; và chính nhà vua cũng có thể làm điều tương tự đối với ông. Ông đã có dịp kiểm chứng phe Orsini khi, sau khi chiếm được Faenza, ông tấn công Bologna và thấy họ tham gia cuộc tấn công ấy một cách lạnh nhạt. Còn về phía nhà vua, công tước hiểu rõ ý định của ông khi, sau khi chiếm được công quốc Urbino, ông tấn công Toscana nhưng nhà vua đã buộc ông phải từ bỏ chiến dịch ấy.

 

Từ đó, công tước quyết định không phụ thuộc vào quân lực và thời vận may rủi của người khác nữa. Hành động đầu tiên của ông là làm suy yếu phe cánh Orsini và Colonna tại Rome. Ông đã thu phục tất cả những người theo phe họ vốn là những quý tộc, biến họ thành quý tộc của chính mình bằng cách ban cho họ bổng lộc lớn; ông tôn vinh họ bằng những chức vụ chỉ huy và chính quyền tùy theo năng lực, đến nỗi chỉ trong vài tháng, lòng trung thành phe phái trong tâm trí họ bị xóa sạch và tất cả đều hướng về phía vị Công tước. Sau đó, ông chờ đợi cơ hội để tiêu diệt những thủ lĩnh nhà Orsini, sau khi đã làm tan rã nhà Colonna. Một cơ hội tốt đã đến, và ông đã tận dụng nó còn tốt hơn; vì khi phe Orsini nhận ra, dù đã muộn, rằng sự vĩ đại của công tước và Hội nhà thờ Catô chính là sự diệt vong của họ, họ đã tổ chức một cuộc họp tại Magione, gần Perugia.[11] Từ đó nảy sinh cuộc nổi loạn ở Urbino, những cuộc bạo loạn ở Romagna, và vô vàn hiểm nguy cho công tước, người đã vượt qua tất cả với sự hỗ trợ của người Pháp.

 

Khi uy danh đã được khôi phục, ông không còn tin cậy người Pháp hay bất kỳ lực lượng ngoại bang nào khác; và để không phải đặt mình vào sự thử thách của họ, ông đã dùng đến mưu kế. Ông biết che giấu ý định của mình khéo léo đến mức chính phe Orsini, thông qua Paolo Orsini, đã hòa giải với ông. Vị Công tước không thiếu bất kỳ cử chỉ nào để trấn an Paolo: ban cho ông tiền bạc, phục sức và ngựa chiến, cho đến khi sự cả tin đã đưa họ vào tay ông tại Sinigaglia. [12] Khi những thủ lĩnh này đã bị tiêu diệt và phe cánh của họ trở thành thân hữu của ông, vị Công tước đã đặt được những nền móng vững chắc cho quyền lực của mình; bởi vì ông đã nắm giữ toàn bộ Romagna cùng công quốc Urbino. Đặc biệt, ông tin rằng mình đã chiếm được lòng tin của vùng Romagna và thu phục được dân chúng ở đó, khi họ bắt đầu được nếm trải một trật tự và sự thịnh trị.

 

Vì điểm này rất đáng chú ý và đáng để người khác noi theo, tôi không muốn bỏ qua nó. Khi vị công tước tiếp quản Romagna, ông thấy vùng này trước đó được cai quản bởi những lãnh chúa bất lực, những kẻ chỉ biết bóc lột thần dân hơn là cai trị họ; vì thế họ gây ra sự chia rẽ thay vì tạo dựng sự thống nhất. Do đó vùng đất này đầy rẫy trộm cướp, tranh chấp và đủ mọi thói ngang ngược. Vì vậy ông phán đoán rằng, nếu muốn lập lại hòa bình và đưa dân chúng trở lại sự phục tùng đối với quyền lực của nhà nước, thì cần phải thiết lập một chính quyền mạnh mẽ. [13] Bởi vậy ông đã đặt Messer Remirro de Orco, một người tàn nhẫn nhưng quyết đoán, cai quản nơi này với quyền lực gần như tuyệt đối.

 

Trong một thời gian ngắn, Remirro đã lập lại trật tự và thống nhất vùng đất, nhờ đó tạo dựng uy danh lớn lao. Sau đó, vị công tước nhận thấy rằng một quyền lực quá lớn như vậy không còn cần thiết nữa, và ông lo rằng nó có thể trở thành nguyên nhân gây ra sự oán hận. Vì thế ông thiết lập một tòa án dân sự ở trung tâm vùng đất, với một vị chủ tọa xuất sắc, nơi mỗi thành thị đều có đại diện riêng. Và bởi ông biết rằng sự nghiêm khắc trước kia đã gây ra nhiều oán hận đối với Remirro, nên để xoa dịu dân chúng và thu phục họ hoàn toàn về phía mình, ông muốn chứng tỏ rằng nếu có bất kỳ sự tàn nhẫn nào đã xảy ra, thì điều đó không bắt nguồn từ ông mà từ bản tính khắc nghiệt của thuộc hạ. Vì vậy, nhân một dịp thích hợp, một buổi sáng nọ ông cho đặt xác Remirro tại quảng trường Cesena, thân thể bị chặt làm đôi, bên cạnh là một khúc gỗ và một con dao vấy máu. Cảnh tượng tàn khốc ấy khiến dân chúng vừa thỏa mãn vừa kinh hoàng.

 

Nhưng hãy quay lại điểm chúng ta đã dừng lại. Tôi khẳng định rằng khi công tước thấy mình đã trở nên rất quyền lực và an toàn trước những hiểm nguy hiện tại — vì ông đã tổ chức lực lượng quân sự theo ý mình và đã tiêu diệt phần lớn những thế lực lân cận có thể đe dọa ông [14]— thì điều còn lại, nếu muốn tiếp tục mở rộng lãnh địa, là phải dè chừng vua Pháp. Ông biết rằng nhà vua sẽ không dung thứ cho điều đó, vì người Pháp đã nhận ra sai lầm của mình, tuy là quá muộn. Vì vậy ông bắt đầu tìm kiếm những liên minh mới và tránh phụ thuộc vào Pháp trong chiến dịch mà người Pháp đang tiến hành hướng về vương quốc Naples chống lại quân Tây Ban Nha đang bao vây Gaeta. Mục đích của ông là tự bảo vệ mình trước họ; và ông hẳn đã sớm đạt được điều này nếu Alexander còn sống.

 

Đó là những tính toán của ông đối với tình thế trước mắt. Nhưng đối với tương lai, ông phải lo sợ trước hết rằng người kế vị mới của hội nhà thờ Catô có thể không thân thiện với mình và sẽ tìm cách tước đoạt những gì Alexander đã ban cho ông. Vì vậy ông dự định bảo vệ mình bằng bốn biện pháp: thứ nhất, tiêu diệt dòng dõi của tất cả những lãnh chúa mà ông đã tước đoạt đất đai, để loại bỏ khả năng họ được vua chiên mới phục hồi; thứ hai, thu phục toàn bộ giới quý tộc ở Rome, như đã nói, để có thể kiềm chế vua chiên thông qua họ; thứ ba, tạo cho mình một phe cánh mạnh trong Hồng y đoàn; thứ tư, trước khi vua chiên qua đời phải chiếm hữu một lãnh thổ đủ lớn để có thể tự mình chống lại đòn tấn công đầu tiên..[15]

 

Trong bốn điều này, khi Alexander qua đời ông đã hoàn thành được ba điều; điều thứ tư cũng gần như hoàn tất. Trong số những lãnh chúa bị tước đoạt, ông đã giết hầu hết những người rơi vào tay mình, và chỉ rất ít người thoát được; giới quý tộc La Mã đã bị ông thu phục; trong Hồng y đoàn ông có một phe cánh rất lớn. Về việc mở rộng lãnh thổ, ông đã dự định trở thành chủ nhân của Tuscany; ông đã chiếm giữ Perugia và Piombino, và đặt Pisa dưới sự bảo hộ của mình. Khi không còn phải kiêng dè nước Pháp nữa — điều sắp xảy ra, vì người Pháp đã bị người Tây Ban Nha tước mất vương quốc Naples, khiến cả hai bên đều cần đến tình hữu nghị của ông — thì ông sẽ lập tức chiếm Pisa. Sau đó Lucca và Siena sẽ nhanh chóng khuất phục, một phần vì ganh ghét Florence, một phần vì sợ hãi; còn Florence thì không có cách nào tự bảo vệ. Nếu ông thành công trong việc này — điều mà ông đã tiến rất gần vào chính năm Alexander qua đời — thì ông sẽ đạt được sức mạnh và uy thế lớn đến mức có thể tự đứng vững bằng lực lượng của mình, [16] không còn phụ thuộc vào thời vận may rủi và sức mạnh của người khác, mà dựa vào chính quyền lực và bản lĩnh chính trị của chính mình.

 

Nhưng Alexander qua đời chỉ năm năm sau [17] khi công tước bắt đầu hành động. Ông để lại công tước với duy nhất vùng Romagna được củng cố vững chắc, còn tất cả những dự định khác vẫn dang dở; công tước lại bị kẹp giữa hai đội quân thù địch hùng mạnh, và bản thân thì mắc bệnh nặng đến mức gần chết. Tuy nhiên, công tước có ý chí kiên quyết và bản lĩnh chính trị lớn; ông hiểu rất rõ rằng con người phải được hoặc thu phục, hoặc tiêu diệt; và những nền móng mà ông đã đặt ra trong thời gian ngắn ấy vững chắc đến mức nếu không bị hai đội quân kia uy hiếp, hoặc nếu bản thân khỏe mạnh, ông đã có thể vượt qua mọi khó khăn.

 

Sự vững chắc của những nền móng đó có thể thấy rõ: Romagna vẫn chờ đợi ông hơn một tháng; tại Rome, dù chỉ còn thoi thóp, ông vẫn được an toàn; và mặc dù nhà Baglioni, Vitelli và Orsini kéo quân đến Rome, không ai đứng về phía họ chống lại ông. Nếu ông không thể lập vua chiên theo ý mình, ít nhất ông cũng có thể ngăn cản người mà ông không muốn lên ngôi. Nếu khi Alexander chết mà công tước còn khỏe mạnh, mọi việc hẳn đã dễ dàng cho ông. Vào ngày vua chiên Julius II được bầu, [18] công tước nói với tôi rằng ông đã dự liệu mọi tình huống có thể xảy ra khi cha mình qua đời và đã chuẩn bị phương án cho tất cả, ngoại trừ một điều: ông không bao giờ nghĩ rằng vào chính lúc cha mình chết thì bản thân ông cũng đang cận kề cái chết.

 

Tóm lại, nếu xem xét toàn bộ hành động của công tước, tôi không thấy có điều gì đáng trách; trái lại, tôi cho rằng ông xứng đáng được nêu ra làm tấm gương cho tất cả những ai đạt được quyền lực nhờ thời vận may rủi và nhờ lực lượng của người khác. Với tham vọng lớn và bản lĩnh chính trị mạnh mẽ, ông không thể hành động khác hơn; điều duy nhất phá hỏng kế hoạch của ông là cái chết sớm của Alexander và bệnh tật của chính ông.

 

Vì vậy, bất kỳ ai xét rằng trong một lãnh địa mới cần phải tự bảo vệ trước kẻ thù, thu phục bạn bè, chiến thắng bằng vũ lực hoặc bằng mưu lược, khiến dân chúng vừa yêu vừa sợ, khiến binh lính phục tùng và kính trọng, tiêu diệt những người có thể hoặc có khả năng gây hại, [19], thay đổi những trật tự cũ bằng những thiết chế mới, vừa nghiêm khắc vừa khoan dung, vừa rộng rãi vừa quyết đoán, giải tán một quân đội không trung thành để xây dựng một quân đội mới, duy trì quan hệ với những quân vương sao cho họ phải ban ơn hoặc phải dè chừng khi gây hại — thì sẽ không tìm thấy một tấm gương mới mẻ và rõ ràng hơn những hành động của con người này.

 

Chỉ có thể trách ông ở một điểm: ông đã để cho Julius trở thành vua chiên, và đó là một lựa chọn sai lầm. Bởi như đã nói, nếu ông không thể lập người mình muốn lên ngôi, thì ít nhất ông cũng có thể ngăn cản những người khác. Ông không bao giờ nên đồng ý để những hồng y mà ông đã từng làm hại, hoặc những người khi trở thành vua chiên sẽ phải sợ ông, được lên ngôi. Bởi con người gây hại cho người khác hoặc vì sợ hãi, hoặc vì oán hận. Những người ông từng làm hại gồm San Piero ad Vincula, Colonna, San Giorgio và Ascanio; [20] còn những người khác nếu lên ngôi đều sẽ sợ ông, ngoại trừ Hồng y Rouen và người Tây Ban Nha: người Tây Ban Nha vì quan hệ huyết thống và nghĩa vụ, còn Hồng y Rouen vì quyền lực của ông gắn liền với vương quốc Pháp.[21]

 

Vì vậy, trước hết công tước nên ủng hộ một người Tây Ban Nha trở thành vua chiên; nếu điều đó không thể, thì nên chấp nhận Hồng y Rouen chứ không phải San Piero ad Vincula. Bất cứ ai tin rằng những ân huệ mới có thể khiến những vĩ nhân quên đi những tổn thương cũ thì người đó đang tự lừa dối mình. [22] Vì Công tước đã sai lầm trong lựa chọn này, và chính sai lầm đó đã dẫn đến sự sụp đổ cuối cùng của ông.

 

VIII.

Về Những Người Đoạt Được Quyền Nắm Giữ Lãnh Địa Bằng Tội Ác

 

Tuy nhiên, vì một cá nhân riêng lẻ cũng có thể trở thành người cầm quyền đứng đầu bằng hai cách thức vốn không hoàn toàn gán cho thời vận may rủi hay bản lĩnh chính trị, tôi nghĩ không nên bỏ qua chúng, mặc dù một trong hai cách đó có thể được luận bàn kỹ hơn ở phần bàn về những nhà nước cộng hòa. [23] Hai cách này là: khi một người bước lên nắm giữ lãnh địa bằng con đường tội lỗi và tàn ác, hoặc khi một công dân bình thường trở thành người cầm quyền đứng đầu của đất nước mình nhờ sự ủng hộ của dân chúng của người này. Và để nói về cách thứ nhất, tôi sẽ dẫn ra hai ví dụ, một xưa và một nay, nhưng không đi sâu phân tích thêm về khía cạnh đạo đức của vấn đề này; bởi lẽ tôi cho rằng bấy nhiêu là đủ cho bất kỳ ai thấy cần thiết phải mô phỏng theo chúng.

 

Agathocles người xứ Sicily [24] đã trở thành vua của Syracuse không chỉ từ địa vị thường dân mà còn từ một tầng lớp thấp kém và hèn mọn. Là con của một người thợ gốm, ông luôn sống một đời đầy tội ác ở mọi cấp bậc trong sự nghiệp của ông; tuy nhiên, những tội ác của ông luôn đi kèm với một bản lĩnh chính trị của tinh thần và thể xác lớn đến mức khi gia nhập quân đội, ông đã thăng tiến qua những cấp bậc để trở thành quan chấp chính của Syracuse. Sau khi đã yên vị ở chức vụ đó, ông quyết định trở thành người cầm quyền đứng đầu và nắm giữ bằng bạo lực, và không phải mang ơn bất kỳ ai — từ những gì vốn những thỏa thuận trước đó đã nhượng bộ cho ông.

 

Sau khi mật báo kế hoạch của mình cho Hamilcar người Carthage, người đang cùng quân đội chinh chiến tại Sicily, vào một buổi sáng nọ, ông triệu tập dân chúng và Viện Nguyên lão Syracuse như thể để quyết định những vấn đề hệ trọng của nhà nước. Theo một ám hiệu đã định sẵn, ông cho binh lính giết sạch những nghị sĩ và những người giàu có nhất trong dân chúng. Khi họ đã chết, ông chiếm giữ và nắm giữ quyền cai trị lãnh địa [25] nhưng không gặp phải bất kỳ tranh chấp dân sự nào. Dẫu cho ông bị người Carthage đánh bại hai lần và cuối cùng bị bao vây, ông không chỉ bảo vệ được thành phố của ông nhưng còn để lại một phần quân chống lại vây hãm, trong khi đích thân dẫn số quân còn lại tấn công thẳng vào lãnh thổ Carthage ở Bắc Phi. Trong thời gian ngắn, ông giải vây cho Syracuse và đặt người Carthage vào tình thế nguy khốn; họ bị bắt buộc phải thương lượng với ông, nhận việc chỉ giữ lại lãnh thổ của họ ở Bắc Phi, và nhường Sicily lại cho Agathocles.

 

Vì vậy, bất kỳ ai xem xét hành động và bản lĩnh chính trị của con người này sẽ thấy rất ít hoặc chẳng có gì có thể coi là nhờ thời vận may rủi. Bởi như đã nói ở trên, không phải nhờ sự ủng hộ của bất kỳ ai mà nhờ thăng tiến qua những cấp bậc quân đội, điều mà ông tự giành được bằng ngàn nỗi gian truân và hiểm nguy, ông đã đạt tới quyền cai trị và sau đó duy trì nó bằng nhiều chính sách táo bạo và nguy hiểm. Tuy nhiên, không thể gọi là bản lĩnh chính trị khi đi tàn sát đồng bào, phản bội thân hữu, sống thiếu tín nghĩa, thiếu lòng nhân từ, và vô tín ngưỡng; những thủ đoạn này có thể giúp đạt được đế quốc, nhưng không mang lại vinh quang.

 

Bởi nếu người ta xem xét bản lĩnh chính trị của Agathocles trong việc dấn thân và thoát khỏi hiểm nguy, cùng sự vĩ đại của tinh thần ông trong việc chịu đựng và vượt qua nghịch cảnh, người ta không thấy lý do gì để phán xét ông kém cạnh bất kỳ vị thống lĩnh xuất chúng nào. Tuy nhiên, sự tàn nhẫn dã man và tính vô nhân đạo, cùng với vô số tội ác của ông, không cho phép ông được vinh danh trong số những vĩ nhân xuất chúng nhất. Vì thế, người ta không thể quy kết cho thời vận may rủi hay bản lĩnh chính trị những gì ông đạt được nhưng không cần đến cả hai thứ đó.

 

Trong thời đại của chúng ta, dưới thời vị Vua chiên Alexander VI, [26] Oliverotto da Fermo, [27] người đã mồ côi cha từ nhiều năm trước, được người cậu là Giovanni Fogliani nuôi dưỡng, và trong những năm đầu tuổi trẻ, ông được gửi đi tòng quân dưới trướng Paolo Vitelli [28] để khi đã tinh thông kỷ luật đó, ông sẽ đạt được cấp bậc xuất sắc trong quân đội. Sau khi Paolo chết, ông phục vụ dưới quyền em trai ông là Vitellozzo; và trong một thời gian rất ngắn, nhờ trí tuệ và sự dẻo dai của thể xác lẫn tinh thần, ông trở thành người đứng đầu trong quân đội của mình. Nhưng vì cảm thấy việc ở cùng cấp bậc với người khác là thấp kém, ông nghĩ rằng với sự giúp đỡ của một số công dân Fermo (những người coi trọng sự nô dịch hơn là tự do của tổ quốc mình) và với sự ủng hộ của nhà Vitelli, ông sẽ chiếm lấy Fermo.

 

Ông viết thư cho Giovanni Fogliani, nói rằng vì đã xa nhà vài năm, ông muốn về thăm cậu và thành phố, cũng như để xác nhận phần gia sản mà ông được hưởng; và vì ông không nhọc công cho điều gì khác ngoài việc giành lấy danh dự, ông muốn trở về theo cách trang trọng cùng một trăm kỵ binh là thân hữu và thuộc hạ, để đồng bào thấy rằng những năm xa quê của ông đã được dùng một cách xứng đáng và mang lại danh vọng. Ông khẩn cầu Giovanni vui lòng sắp xếp để cư dân Fermo đón tiếp ông trang trọng, điều đó không chỉ mang lại danh dự cho ông mà còn cho chính Giovanni, vì Oliverotto là người được ông bảo hộ. Giovanni đã không thiếu sót bất kỳ bổn phận nào với cháu mình; và khi cư dân Fermo đã đón tiếp Liverotto một cách vinh dự, ông được sắp xếp ở trong nhà Giovanni. Tại đó, sau vài ngày, khi đã chờ để bí mật sắp đặt những gì cần thiết cho tội ác tương lai, ông tổ chức một bữa tiệc linh đình và mời Giovanni Fogliani cùng tất cả những người đứng đầu của Fermo. Khi thức ăn và mọi cuộc vui thường thấy đã kết thúc, Oliverotto dùng thủ đoạn khéo léo [29] mở ra một số thảo luận nghiêm trọng,[30] bàn về sự vĩ đại của vị Vua chiên Alexander và Cesare Borgia, con trai ông, cùng những chiến tích của họ. Trong khi Giovanni và những người khác đang đáp lời, Oliverotto bỗng đứng dậy và bảo rằng những việc này nên được bàn ở nơi kín đáo hơn; rồi rút lui vào một căn phòng, nơi Giovanni và tất cả những công dân khác đi theo sau.

 

Ngay khi họ vừa ngồi xuống, binh lính từ những nơi ẩn nấp xông ra giết chết Giovanni và tất cả những người còn lại. Sau vụ thảm sát này, Oliverotto lên ngựa, đi khắp thị trấn và bao vây những quan chức cao cấp nhất trong cung điện, khiến họ vì sợ hãi mà phải phục tùng và thiết lập một chính quyền mà ông được lập làm người cầm quyền đứng đầu. Và vì tất cả những người có thể làm hại ông[31] vì bất mãn đều đã chết, ông củng cố vị thế bằng những trật tự dân sự và quân sự mới, đến nỗi trong vòng một năm nắm giữ quyền cai trị, ông không chỉ an toàn ở Fermo mà còn trở nên đáng sợ đối với tất cả những láng giềng. Và việc lật đổ ông cũng sẽ khó khăn như với Agathocles, nếu ông không để mình bị Cesare Borgia lừa tại Sinigaglia (như đã nói ở trên) khi ông bắt giữ nhà Orsini và Vitelli. Tại đó, một năm sau khi thực hiện tội ác giết người thân, Oliverotto cũng bị bắt và bị siết cổ cùng với Vitellozzo, người thầy về bản lĩnh chính trị và tội ác của ông.

 

Có người sẽ đặt câu hỏi làm thế nào Agathocles và bất kỳ kẻ nào giống như ông, sau vô số lần phản bội và tàn ác, lại có thể sống một thời gian dài an toàn nơi quê hương, tự bảo vệ mình trước kẻ thù bên ngoài, và chưa bao giờ bị chính những công dân của mình âm mưu lật đổ; trong khi nhiều người khác không thể duy trì lãnh địa của họ qua sự tàn nhẫn ngay cả trong thời bình, chứ chưa nói đến thời chiến bất ổn.

 

Tôi tin rằng điều này bắt nguồn từ việc đem dùng sự tàn nhẫn một cách khôn ngoan hay tồi tệ. Người ta có thể gọi là đem dùng khôn ngoan (nếu có thể nói tốt về cái ác) những hành vi tàn nhẫn được thực hiện dứt điểm trong một lần, xuất phát từ nhu cầu tự bảo vệ sự an nguy của người cầm quyền đứng đầu, để rồi sau đó không lún sâu vào chúng nữa vốn chuyển hướng sang phụng sự lợi ích tối đa cho dân chúng. Ngược lại, đem dùng tàn nhẫn tồi tệ là những hành vi vốn ban đầu dù ít, nhưng theo thời gian chúng lại càng tăng lên chứ không hề chấm dứt. Những kẻ tuân theo cách thức thứ nhất có thể tìm thấy cơ hội cứu vãn lãnh địa của mình trước Thiên Chúa và con người, giống như Agathocles đã làm; còn với những kẻ làm theo cách thứ hai, chúng tuyệt đối không thể duy trì được vị thế của bản thân

 

Do đó, cần lưu ý rằng khi chiếm hữu một lãnh địa, người cầm quyền đứng đầu phải rà soát tất cả những tổn thương cần thiết phải thực hiện, và thực hiện chúng tất cả dứt điểm trong một lần duy nhất, để không phải lặp lại mỗi ngày; nhờ không lặp lại, ông có thể trấn an dân chúng và thu phục họ bằng những ân huệ. người nào hành động khác đi, dù vì nhu nhược hay có cố vấn tồi, sẽ luôn buộc phải cầm dao trong tay; và ông không bao giờ có thể dựa vào dân chúng, vì họ không thể cảm thấy an toàn trước vị này bởi những tổn thương mới và liên tục.

 

Những tổn thương phải được thực hiện cùng một lúc để họ ít bị nếm trải hơn, do đó ít gây phẫn nộ hơn; còn những ân huệ thì nên được ban phát từng chút một, để họ được nhấm nháp lâu hơn. [32] Và trên hết, với bản lĩnh chính trị của mình, người cầm quyền đứng đầu nên sống với dân chúng sao cho không một biến cố nào, dù xấu hay tốt, có thể khiến người này phải thay đổi; bởi vì khi nghịch cảnh ập đến, người cầm quyền đứng đầu sẽ không còn kịp để ra tay quyết liệt, còn điều thiện thực hiện lúc đó cũng chẳng ích gì, vì người ta sẽ coi đó là do ép buộc, và sẽ chẳng nhận được chút lòng biết ơn nào

 

Chương IX

Về Lãnh Địa Dân Sự

 

Nhưng, chuyển sang phương sách khác, khi một công dân bình thường trở thành người cầm quyền đứng đầu của quê hương mình, không phải bằng tội ác hay sự tàn nhẫn không thể dung thứ, nhưng với sự ủng hộ của đồng bào (điều có thể gọi là lãnh địa với chính thể dân sự; để đạt được điều này không nhất thiết không nhất thiết phải dựa hoàn toàn vào bản lĩnh hay hoàn toàn vào thời vận may rủi, nhưng đúng hơn là một sự khôn khéo được thời vận may rủi trợ giúp) — tôi cho rằng người ta đạt đến ngôi người cầm quyền đứng đầu này hoặc nhờ sự ủng hộ của dân chúng, hoặc nhờ sự ủng hộ của giới quyền quý. Bởi trong mỗi thành phố luôn tồn tại hai khuynh hướng khác nhau (humors), bắt nguồn từ việc: dân chúng không muốn bị giới quyền quý thống trị và áp bức, trong khi giới quyền quý lại khao khát thống trị và áp bức dân chúng. Từ hai ham muốn đối nghịch này, trong thành phố sẽ nảy sinh một trong ba kết cục: hoặc là một lãnh địa dân sự với người cầm quyền đứng đầu, hoặc là một nhà nước cộng hòa [33], hoặc là sự hỗn loạn.[34]

 

Lãnh địa với người cầm quyền đứng đầu được dân chúng hay giới quyền quý hình thành, tùy theo bên nào có cơ hội thuận lợi hơn. Khi giới quyền quý thấy mình không thể chống lại dân chúng, họ bắt đầu tạo uy tín cho một người trong nhóm mình và tôn người đó làm người cầm quyền đứng đầu để họ có thể thỏa mãn ham muốn của họ dưới bóng của vị này. Tương tự, khi dân chúng thấy mình không thể chống lại giới quyền quý, họ cũng tạo uy tín cho một cá nhân và tôn người đó làm người cầm quyền đứng đầu để được uy quyền của vị này bảo vệ.

 

Người thăng tiến lên địa vị đứng đầu lãnh địa với sự giúp đỡ của giới quyền quý thì duy trì vị thế khó khăn hơn người trở thành người đứng đầu với sự giúp đỡ của dân chúng; bởi vì trường hợp đầu tiên thấy mình là người cầm quyền đứng đầu với nhiều người xung quanh luôn tỏ ra ngang hàng với mình, và vì lý do này, người ấy không thể chỉ huy hay quản lý họ theo ý mình. Nhưng người đạt được địa vị đứng đầu bằng sự ủng hộ của dân chúng thì thấy gần như đơn độc trong quyền lực, và xung quanh hầu như mọi người đều sẵn lòng phục tùng.

 

Bên cạnh đó, người ta không thể làm thỏa mãn giới quyền quý một cách chính đáng mà không gây tổn hại đến những người khác, nhưng lại có thể làm thỏa mãn dân chúng; bởi mục đích của dân chúng thì chính đáng hơn mục đích của giới quyền quý, vì giới quyền quý muốn áp bức, còn dân chúng chỉ muốn không bị áp bức. Hơn nữa, một người cầm quyền đứng đầu không bao giờ có thể tự bảo vệ mình trước một cộng đồng dân chúng thù nghịch, vì họ quá đông; nhưng trước giới quyền quý, người ấy có thể bảo vệ mình, vì họ ít. Điều tồi tệ nhất mà một người cầm quyền đứng đầu có thể tiên liệu từ dân chúng thù nghịch là bị họ bỏ rơi; nhưng từ giới quyền quý, khi họ thù nghịch, không chỉ phải sợ bị bỏ rơi mà còn phải sợ họ sẽ chống lại mình, vì giới quyền quý có tầm nhìn xa và xảo quyệt hơn, họ luôn hành động kịp thời để tự cứu mình và tìm kiếm vị thế từ kẻ mà họ hy vọng sẽ thắng. Ngoài ra, người cầm quyền đứng đầu buộc phải luôn chung sống với cùng một cộng đồng dân chúng, nhưng người ấy có thể làm tốt nhưng không cần cùng một nhóm quyền thế, vì người ấy có thể lập ra hay phế bỏ họ mỗi ngày, và tước đi hay ban cho họ uy tín tùy theo sự thuận tiện của mình.

 

Hơn nữa, người cầm quyền đứng đầu không bao giờ có thể tự bảo vệ mình trước một cộng đồng nhân dân thù địch, vì họ quá đông; nhưng trước giới quyền quý, người đó có thể tự bảo vệ mình, vì họ ít. Điều tồi tệ nhất mà người cầm quyền đứng đầu có thể tiên liệu từ một cộng đồng nhân dân thù địch là bị họ bỏ rơi; nhưng từ giới quyền quý, khi họ thù địch, người đó không chỉ phải sợ bị bỏ rơi mà còn phải sợ họ sẽ chống lại mình. Vì giới quyền quý có tầm nhìn xa và sự tinh khôn hơn, họ luôn hành động kịp thời để tự cứu mình và tìm kiếm vị thế từ kẻ mà họ hy vọng sẽ thắng.

Ngoài ra, người cầm quyền đứng đầu buộc phải sống trọn đời với cùng một cộng đồng nhân dân; nhưng người đó hoàn toàn có thể sống mà không cần cùng một nhóm quyền quý, vì người cầm quyền đứng đầu có thể tạo ra hoặc phế bỏ họ mỗi ngày, có thể tước đi hay ban phát uy tín cho họ tùy ý mình.

 

Để làm rõ hơn vấn đề này, tôi nói rằng phải xem xét giới quyền quý chủ yếu theo hai cách: hoặc họ hành xử sao cho trong mọi việc họ đều phụ thuộc vào vận mệnh của ngài, hoặc là không. Những người phụ thuộc và không có tính tham lam thì ngài phải trân trọng và yêu mến. Những Người không phụ thuộc thì phải xem xét theo hai cách: hoặc họ làm thế vì sự nhu nhược và thiếu hụt tinh thần tự nhiên; khi đó ngài phải tận dụng họ, đặc biệt là những người có mưu lược tốt, vì lúc hưng thịnh họ mang lại danh dự cho ngài, còn khi nghịch cảnh ngài không phải sợ họ. Nhưng khi họ không phụ thuộc vì mưu tính và tham vọng, đó là dấu hiệu họ đang nghĩ cho họ nhiều hơn cho ngài; người cầm quyền đứng đầu phải canh chừng họ và sợ họ như thể họ là người thù công khai, vì khi nghịch cảnh họ sẽ luôn góp sức hủy hoại ngài. Do đó, người trở thành người cầm quyền đứng đầu nhờ sự ủng hộ của dân chúng nên giữ họ làm bạn; sự việc này rất dễ dàng, vì họ chỉ yêu cầu không bị áp bức. Nhưng người trở thành người cầm quyền đứng đầu chống lại dân chúng bằng sự ủng hộ của giới quyền quý thì trước hết phải tìm cách thu phục dân chúng về phía mình; sự việc này cũng dễ dàng khi người đó đứng ra bảo vệ họ. Và vì con người khi nhận được điều tốt từ người mà họ ngỡ sẽ nhận điều xấu thì sẽ càng mang ơn vị ân nhân của mình hơn, nên dân chúng sẽ lập tức mong cầu điều tốt cho người ấy hơn cả khi người ấy được đưa lên ngôi vị bằng sự ủng hộ của chính họ. Người cầm quyền đứng đầu có thể thu phục dân chúng về phía mình theo nhiều phương thức mà người ta không thể đưa ra những quy tắc chắc chắn vì những phương thức này thay đổi theo hoàn cảnh, [35] và vì thế chúng sẽ bị bỏ qua. Tôi sẽ chỉ kết luận rằng: đối với một người cầm quyền đứng đầu, điều cần thiết là có được sự thân thiện của dân chúng; nếu không, người ấy sẽ không có phương sách nào nào khi nghịch cảnh ập đến.

 

Nabis, người cầm quyền đứng đầu của Sparta,[36] đã chống trả cuộc bao vây của toàn Hy Lạp và một trong những đội quân chiến thắng vẻ vang nhất của Rome, và đã bảo vệ được tổ quốc cũng như nhà nước của mình trước họ: và khi hiểm nguy ập đến, bấy nhiêu là đủ để người ấy chỉ cần bảo vệ mình trước một số ít người, điều vốn đã không đủ nếu người ấy có một cộng đồng dân chúng thù nghịch.

 

Và đừng ai phản đối ý kiến của tôi về điều này bằng câu châm ngôn cũ rích rằng, người nào xây nền móng trên dân chúng là xây nền móng trên bùn. [37] Vì điều đó chỉ đúng khi một công dân bình thường lấy dân chúng làm nền tảng cho quyền lực của mình và tự cho rằng dân chúng sẽ giải cứu mình nếu mình bị kẻ thù hay bởi quyền lực của nhà nước (trong trường hợp này người ta thường có thể bị lừa dối, như anh em nhà Gracchi ở Rome [38] và Ngài Giorgio Scali ở Florence). [39] Nhưng khi một người cầm quyền đứng đầu đặt nền móng trên dân chúng, biết cách chỉ huy và là người đầy quả cảm, không sợ hãi trong nghịch cảnh, chuẩn bị chu đáo mọi bước cần thiết, và bằng tinh thần cùng những mệnh lệnh của mình giữ cho dân chúng luôn hứng khởi, [40] người ấy sẽ không bao giờ bị họ lừa dối và sẽ thấy rằng mình đã xây dựng được những nền móng vững chắc.

 

Những lãnh địa này thường gặp nguy hiểm khi chúng chuẩn bị chuyển từ một trật tự dân sự sang một trật tự tuyệt đối. Bởi lẽ, những người cầm quyền đứng đầu này có thể ra lệnh trực tiếp, hoặc thông qua những người thực thi pháp luật và quản lý chính quyền địa phương. Trong trường hợp sau, vị thế của người cầm quyền yếu hơn và nguy hiểm hơn, vì người này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của những công dân đang nắm giữ chức vụ thi hành luật pháp và quản lý những hoạt động hành chính trong lãnh địa; những người này, đặc biệt trong thời kỳ khó khăn, khủng hoảng hoặc nguy cơ đe dọa, có thể tước đoạt lãnh địa của người cầm quyền một cách cực kỳ dễ dàng, bằng cách chống lại hoặc không tuân lệnh.

 

Người cầm quyền đứng đầu không có thời gian trong cơn nguy biến để nắm lấy quyền lực tuyệt đối, vì dân chúng và những thần dân – vốn quen nhận mệnh lệnh từ những quan chức hành pháp – không sẵn lòng phục tùng mệnh lệnh của người cầm quyền trong những trường hợp khẩn cấp; trong những thời điểm bất định, người cầm quyền luôn thiếu những người đáng tin cậy. Một người cầm quyền như vậy không thể đặt nền tảng vào những gì ông thấy trong thời bình, khi dân chúng cần đến nhà nước, bởi lúc đó mọi người đều chạy đến, hứa hẹn và sẵn sàng hy sinh khi nguy cơ còn xa; nhưng trong nghịch cảnh, khi nhà nước cần đến công dân, thì chỉ có rất ít người có mặt. [41]Phép thử này càng nguy hiểm hơn, vì nó chỉ có thể thực hiện một lần duy nhất. Do đó, một người cầm quyền khôn ngoan phải tìm cách khiến công dân, luôn luôn và mọi lúc, đều cần đến nhà nước và đến chính bản thân ông; khi đó, họ sẽ luôn trung thành với người cầm quyền đứng đầu.

 

Chương X

Nên Đánh Giá Sức Mạnh Của Những Lãnh Địa Theo Phương Thức Nào

 

Khi xem xét những đặc tính của những lãnh địa này, người ta phải nhìn nhận một cân nhắc khác; đó là: liệu một người cầm quyền đứng đầu có đủ thực lực để tự mình cai trị khi cần thiết, hay vị này luôn ở trong tình thế tất yếu phải được những người khác bảo vệ.

 

Và để làm rõ hơn vấn đề này, tôi nói rằng tôi phán đoán rằng những người có khả năng tự cai trị là những người nhờ dồi dào quân lực hoặc tiền bạc, có thể tập hợp một đội quân đủ mạnh và tiến hành một trận chiến [42] chống lại bất kỳ ai đến tấn công họ. và tôi cũng phán xét rằng những người luôn có sự tất yếu cần đến người khác là những người không thể xuất hiện trên chiến trường để đối mặt với người thù, mà buộc phải ẩn náu sau những bức tường thành và canh giữ chúng. Trường hợp thứ nhất đã được thảo luận, và trong những phần tới chúng ta sẽ nói thêm về những gì cần thiết cho điều đó. Ở trường hợp thứ hai, người ta chỉ có thể khuyên những người cầm quyền đứng đầu như vậy hãy củng cố và tích trữ lương thảo cho vùng đất của chính mình, [43] và đừng bận tâm đến vùng nông thôn xung quanh.

Và bất cứ ai đã củng cố thành trì của mình vững chắc, đồng thời thực hiện tốt việc trị dân như đã nói ở trên và sẽ được đề cập ở dưới, sẽ luôn khiến kẻ thù phải hết sức do dự khi tấn công; bởi người ta luôn ngần ngại trước những việc làm thấy rõ có đầy rẫy khó khăn, và ai cũng thấy rằng không dễ để tấn công một người có thành lũy kiên cố và không bị dân chúng oán hận.

 

Các thành thị ở Đức [44] rất tự do, [45] có ít vùng nông thôn và chỉ vâng lời hoàng đế khi họ muốn; họ không sợ vị này hay bất kỳ thế lực nào khác xung quanh, bởi vì họ được củng cố tốt đến mức mọi người đều nghĩ rằng việc đánh chiếm họ sẽ rất hao tổn và khó khăn. Tất cả những thành phố đều có hào sâu, tường cao, cùng pháo binh đầy đủ; họ luôn dự trữ trong kho công cộng đủ đồ uống, thực phẩm và chất đốt cho cả một năm. Ngoài ra, để nuôi sống tầng lớp bình dân mà không gây tổn thất cho ngân khố, , họ dự trữ đủ nguyên liệu để cung cấp việc làm cho dân chúng suốt một năm qua những nghề nghiệp tạo huyết mạch và sự sống cho thành phố, cũng như nuôi sống ngành công nghiệp phục vụ dân chúng. Họ vẫn rất coi trọng việc huấn luyện quân sự và có nhiều định chế [46] để duy trì chúng.

 

Vì vậy, một người cầm quyền đứng đầu có một thành phố-nhà nước kiên cố và không làm cho bản thân bị ghét bỏ thì không thể bị tấn công; và nếu quả thực có người nào tấn công vị này, người đó sẽ phải rút lui trong nhục nhã, vì mọi sự vật việc trên thế gian này luôn thay đổi đến mức gần như không ai có thể duy trì với quân đội trong một cuộc vây hãm kéo dài cả năm.

 

Và có kẻ sẽ đáp lại rằng: nếu dân chúng có tài sản ở bên ngoài [thành phố] và nhìn thấy chúng bị đốt phá, họ sẽ không còn kiên nhẫn; và cuộc vây hãm lâu dài cùng với lòng yêu quý [47] tài sản riêng sẽ khiến họ quên đi người cầm quyền đứng đầu. Tôi trả lời rằng một người cầm quyền mạnh mẽ và quả cảm sẽ luôn vượt qua mọi khó khăn đó, lúc thì bằng cách gieo hy vọng cho thần dân rằng tai họa sẽ chóng qua, lúc thì bằng những gieo sợ hãi về sự tàn nhẫn của kẻ thù, và lúc khác bằng cách khéo léo trấn áp những kẻ tỏ ra quá táo bạo.

 

Bên cạnh đó, lẽ thường là kẻ thù sẽ đốt phá và hủy hoại vùng nông thôn ngay khi vừa mới đến, vào thời điểm mà tinh thần của con người vẫn còn đang sục sôi và sẵn sàng phòng thủ; vì vậy, người cầm quyền đứng đầu càng không nên do dự, bởi vì sau vài ngày, khi tinh thần đã nguội lạnh, thiệt hại cũng đã xảy ra, tai họa đã phải nhận lấy, và chẳng còn phương thuốc nào cứu chữa được nữa. Khi đó, dân chúng lại càng đoàn kết với người cầm quyền của mình hơn, vì họ thấy vị này có nghĩa vụ bảo vệ họ—, khi mà nhà cửa của họ đã bị thiêu rụi và tài sản của họ đã bị hủy hoại để bảo vệ vị này. Và bản chất của con người là cảm thấy có nghĩa vụ vì những lợi ích mà họ trao đi cũng như vì những lợi ích mà họ nhận được. Do đó, nếu cân nhắc kỹ tất cả những sự việc này, một người cầm quyền khôn ngoan sẽ không khó để giữ cho tinh thần của những công dân vững trong suốt cuộc vây hãm, từ đầu đến cuối, miễn là vị này không thiếu thốn lương thực và phương tiện phòng thủ.

 

 

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất

(Feb/2026)

(Còntiếp.. →)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

https://chuyenxgan.blogspot.com/

 



[1] [Nghĩa đen: đức hạnh. > bản lãnh chính trị

[2] [Đại từ nhân xưng trang trọng hoặc số nhiều “ngài”.

[3] [Hoặc cầu nguyện

[4] [Savonarola (1452–98) là một tu sĩ dòng Dominican đến Florence để thuyết giảng vào năm 1481, và đã thành công trong việc thuyết phục người dân Florence, những người tự cho mình là “không thô lỗ cũng không ngu dốt”, rằng “ông ấy nói chuyện với Gót”. So sánh với Bài giảng về Livy I 11, nơi NM ca ngợi thành tựu này và không đề cập, như ông ấy đã làm ở đây, đến cái chết khủng khiếp của Savonarola bằng cách bị thiêu sống.

[5] [Các nguồn có thể: Polybius, I 8, 16; VII 8; Livy XXIV 4; Justin, XXIII 4; I Samuel 18: 8. So sánh với Dedicatory Letter to the Discourses on Livy

[6] [Darius I (521–486 TCN), không phải Darius III như ở Chương 4.

[7] [Về việc binh lính bầu chọn những hoàng đế La Mã, xem Chương 19.

[8] [Hoặc thời gian.

[9] [Về cụm từ này, xem NM (Niccolò Machiavelli), Luận bàn về Livy I 41.

[10] [Nhà Orsini và nhà Colonna là hai đại gia tộc quý tộc ở Rome, những kẻ đã chiến đấu lâu dài để kiểm soát Rome và vua chiên.

[11] [Ngày 9 tháng 10 năm 1502.

[12] [Xem tường thuật của NM về sự kiện này trong bài “Mô tả phương pháp Công tước Valentino đã dùng để giết Vitellozzo Vitelli, Oliverotto da Fermo và những kẻ khác”, trong Allan Gilbert, dịch, Những tác phẩm chính của Machiavelli, 3 tập (Durham, N.C.: Nhà xuất bản Đại học Duke, 1965), 1:163–69.

[13] quyền lực: potestà, không phải potenzia; cụm từ này gợi nhắc đến yêu sách của vua chiên về sự sung mãn của quyền năng (plenitudo potestatis).

[14] [Nghĩa đen: bị xúc phạm/tổn thương.

[15] [Nghĩa đen: sự thúc bách/xung lực (impetus).

[16] [potenzia

[17] [Alexander hay Cesare?

[18] [NM đã ở Rome vào thời điểm diễn ra mật nghị bầu chọn Julius II làm vua chiên vào tháng 10-12 năm 1503.

[19] [offendere (ở đây và dưới đây) không chỉ đơn thuần là sự coi thường, mà là gây hại đến mức dẫn đến sự xúc phạm/hận thù.

[20] [Trong danh sách những hồng y đầy vẻ bất kính này, Giuliano della Rovere (người trở thành vua chiên Julius II) được gọi tên theo nhà thờ của ông tại Rome là San Pietro ở Vincoli; Giovanni Colonna; Raffaelo Riario, được gọi theo tên San Giorgio; Ascanio Sforza

[21] [Hồng y Georges d’Amboise, giám mục vùng Rouen; xem Chương 3.

[22] [Xem NM, Luận bàn về Livy III 4.

[23] [Xem Luận bàn về Livy; lưu ý rằng NM không nói rõ phương thức nào trong hai phương thức này được lập luận đầy đủ hơn “tại nơi những nền cộng hòa được bàn đến”.

[24] [Agathocles sống từ năm 361 đến 289 TCN; thời kỳ bạo chúa của ông bắt đầu từ năm 316.

[25] [Hoặc Lãnh địa; principato có thể chỉ chức vụ cai trị hoặc thống trị cũng như cõi lãnh thổ bị thống trị.

[26] Alexander VI (1431–1503)] Tên thật Rodrigo Borgia, gốc Tây Ban Nha, vua chiên thứ 215 của hội nhà thờ Catô, tại vị từ 1492 đến 1503. Ông được bầu làm vua chiên năm 1492 — trùng hợp đáng chú ý với năm Columbus khám phá châu Mỹ. Là một trong những vua chiên tai tiếng nhất lịch sử, ông bị xem là tham nhũng, thế tục và đầy tham vọng quyền lực. Sự sao nhãng đối với sứ mệnh tinh thần của Giáo hội dưới triều ông đã góp phần gây bất mãn trong giới tín đồ và giáo sĩ, từ đó góp phần dẫn đến phong trào Cải cách Tin Lành do Martin Luther khởi xướng vào đầu thế kỷ XVI. Ông công khai có nhiều người tình và con hoang — điều hoàn toàn trái với luật độc thân của Giáo hội. Bốn người con được ông thừa nhận là Juan, Cesare, Jofré và Lucrezia Borgia — những cái tên gắn liền với quyền lực, mưu mô và tai tiếng của dòng họ Borgia. Đặc biệt, con trai ông là Cesare Borgia — kẻ tàn nhẫn và mưu lược — chính là hình mẫu mà Machiavelli ngầm lấy làm cảm hứng khi viết Người Cầm Quyền Đứng Đầu này .

[27] [Oliverotto Euffreducci da Fermo, kẻ đã nắm quyền tại Fermo vào ngày 26 tháng 12 năm 1501, và một năm sau đó đã bị siết cổ theo lệnh của Cesare Borgia tại Sinigaglia.

[28] [Một condottiere (chỉ huy quân đánh thuê) nổi tiếng, ông được người Florence thuê và sau đó bị chính họ chặt đầu.

[29] [Nghĩa đen: nghệ thuật (art).

[30] [Nghĩa đen: những lý luận (reasonings).

[31] [Nghĩa đen: bị xúc phạm/tổn thương (offended).

[32] [Xem Luận bàn về Livy I 45.

[33] libertà

[34] mọi thành phố đều tồn tại hai khuynh hướng xã hội đối lập: nhân dân muốn không bị áp bức, còn giới quyền quý muốn thống trị. Từ xung đột tự nhiên này có thể phát sinh ba kết cục chính trị: lãnh địa (một người nắm quyền), tự do (trật tự cộng hòa được duy trì bằng luật pháp), hoặc hỗn loạn (tình trạng vô kỷ luật khi không có quyền lực hay thể chế ổn định). Đây là một luận điểm nền tảng trong tư tưởng chính trị của ông, được triển khai thêm trong cả The Prince và Discourses on Livy.

[35] [Nghĩa đen: theo như đề tài.

[36] [NM coi Nabis là một kẻ bạo chúa trong Luận bàn về Livy I 10, 40; và trong phần III 6, ông kể lại việc Nabis bị ám sát bất kể có được sự ủng hộ của dân chúng. Nabis cai trị Sparta từ năm 205 đến 192 TCN.

[37] Chi fonda sul popolo fonda sul fango.”: Kẻ nào xây nền móng trên dân chúng thì xây trên bùn. Câu châm ngôn này phản ánh quan niệm truyền thống rằng dân chúng là lực lượng thất thường và không thể làm nền tảng cho quyền lực. Niccolò Machiavelli cho rằng nhận định này chỉ đúng khi một cá nhân bình thường trông cậy vào dân chúng mà không có quyền lực thực sự; còn đối với một người cầm quyền biết tổ chức và chỉ huy, sự ủng hộ của dân chúng có thể trở thành một nền tảng chính trị vững chắc, như ông lập luận ở trên

[38] [Anh em nhà Gracchi, Tiberius và Gaius Sempronius, là những quan hộ dân của bình dân nhưng đã mất mạng dưới tay kẻ thù trong Thượng viện, Tiberius vào năm 133 TCN và Gaius vào năm 121 TCN; xem Luận bàn về Livy I 37.

[39] [Một thủ lĩnh của cuộc nổi dậy Ciompi tại Florence (1378), người đã cai trị trong ba năm sau đó và rồi bị chặt đầu; xem Lịch sử Florence của NM, III 18, 20.

[40] [Nghĩa đen: cái phổ quát (the universal). NM, theo cách dùng từ thời bấy giờ, nói “phổ quát” trong những trường hợp mà chúng ta mong đợi là “tổng quát”, vì rõ ràng không phải tất cả mọi người (chưa nói đến mọi sự việc) đều được hàm ý

[41] Machiavelli nhấn mạnh rằng mọi xã hội đều tiềm ẩn xung đột giữa hai lực lượng cơ bản: giới quyền quý và nhân dân. Giới quyền quý thường coi mình ngang hàng với người cầm quyền và khao khát quyền lực, do đó khó kiểm soát và có thể lợi dụng uy tín của lãnh đạo cho tham vọng riêng; khi gặp nguy cơ, họ sẵn sàng phản bội để tự cứu. Ngược lại, nhân dân đông đảo nhưng chỉ mong được an toàn; nếu được bảo vệ, họ trung thành bền vững. Vì vậy, một lãnh địa có thể tồn tại mà không cần toàn bộ giới quyền quý, nhưng không thể thiếu nhân dân. Machiavelli kết luận rằng nền tảng quyền lực bền vững nhất là xây dựng trên lòng tin và sự ủng hộ của nhân dân, còn thất bại chỉ xảy ra khi lãnh đạo yếu đuối hoặc không biết cách chỉ huy khiến dân chúng bỏ rơi

[42] [Nghĩa đen: một đạo quân chính nghĩa và tạo ra một ngày [quyết chiến]; xem NM, Luận bàn về Livy II 17.

[43] [Nghĩa đen: vùng đất hoặc mặt đất.

[44] [NM đã thảo luận về những thành phố Đức trong Luận bàn về Livy I 55; II pr., 19; và cũng trong hai tác phẩm nhỏ là Báo cáo về những sự việc tại Đức (Rapporto delle cose della Magna) và Phác họa về những sự việc tại Đức (Ritratto delle cose della Magna).

[45] “tự quản, ít bị kiểm soát” — nghĩa là những thành thị ở Đức có quyền tự trị rộng rãi, không bị hoàng đế hay bất kỳ quyền lực trung ương nào áp đặt nghiêm ngặt, họ có thể hành xử theo ý mình trong nhiều vấn đề nội bộ.

[46] [Nghĩa đen: những định chế/mệnh lệnh (orders).

[47] [Nghĩa đen: lòng bác ái (charity).