(A Treatise of Human
Nature)
David Hume
QUYỂN I - PHẦN III.
Về tri thức và xác suất.
MỤC. VIII.
Về Những Nguyên Nhân
Của Sự Tin Tưởng
T 1.3.8.1, SBN 98
Vậy là chúng ta đã giải
thích bản chất của sự tin tưởng, và đã cho thấy rằng nó gồm một ý niệm sống động
có quan hệ với một ấn tượng hiện diện trước mắt. Bây giờ, chúng ta hãy tiếp tục
xem xét sự tin tưởng ấy phát sinh từ những nguyên lý nào, và điều gì đem lại sức
sống cùng tính sinh động cho ý niệm đó.
T 1.3.8.2, SBN 98–99
Tôi muốn thiết lập điều
sau đây như một châm ngôn tổng quát trong khoa học về bản tính con người: khi
một ấn tượng nào đó hiện diện trước chúng ta, nó không chỉ đưa não thức đến với
những ý niệm có quan hệ với nó, mà còn truyền sang cho những ý niệm ấy một phần
sức mạnh và tính sinh động của chính nó.
Mọi hoạt động của não
thức, ở một mức độ rất lớn, đều phụ thuộc vào trạng thái mà não thức đang có
khi thực hiện những hoạt động ấy. Tùy theo những năng lực tinh thần được kích
thích nhiều hay ít, và sự chú ý được tập trung nhiều hay ít, hoạt động ấy luôn
luôn có nhiều hay ít sức mạnh và tính sinh động.
Vì thế, khi một đối
tượng xuất hiện và làm cho tư tưởng trở nên hứng khởi, sống động hơn, thì bất kỳ
hoạt động nào mà não thức hướng vào trong thời gian đó cũng sẽ mạnh mẽ và sinh
động hơn, miễn là trạng thái ấy còn tiếp tục.
Bây giờ, rõ ràng rằng
việc trạng thái ấy kéo dài bao lâu hoàn toàn phụ thuộc vào những đối tượng mà
não thức đang hướng đến. Bất kỳ đối tượng mới nào cũng tự nhiên tạo cho những
năng lực tinh thần một hướng đi mới và làm thay đổi trạng thái ấy. Ngược lại,
khi não thức liên tục tập trung vào cùng một đối tượng, hoặc chuyển đi một cách
dễ dàng và hầu như không nhận thấy giữa những đối tượng có quan hệ với nhau,
thì trạng thái ấy sẽ kéo dài lâu hơn nhiều.
Từ đó xảy ra điều sau
đây: một khi não thức đã được làm cho sống động bởi một ấn tượng hiện diện trước
mắt, nó sẽ tiếp tục hình thành một ý niệm sinh động hơn về những đối tượng có
quan hệ với ấn tượng ấy, nhờ một sự chuyển dịch tự nhiên của chính trạng thái
đó từ đối tượng này sang đối tượng kia.
Sự thay đổi giữa những
đối tượng diễn ra dễ dàng đến mức não thức hầu như không nhận ra có sự thay đổi
nào cả. Vì vậy, não thức hướng chính mình đến việc hình thành ý niệm có quan hệ
ấy bằng toàn bộ sức mạnh và tính sinh động mà nó đã tiếp nhận từ ấn tượng hiện
diện trước mắt. [1]
T 1.3.8.3, SBN 99
Nếu khi xem xét bản
chất của quan hệ, và sự chuyển dịch dễ dàng vốn là điều cốt yếu của mọi quan hệ,
chúng ta có thể tự thấy thỏa đáng về tính xác thực của hiện tượng này, thì điều
đó quả là tốt. Tuy nhiên, tôi phải thừa nhận rằng tôi đặt niềm tin tưởng chủ yếu
vào kinh nghiệm để chứng minh một nguyên lý quan trọng như thế.
Vì vậy, như thí nghiệm
đầu tiên phục vụ cho mục đích hiện tại, chúng ta có thể nhận thấy rằng: khi bức
chân dung của một người bạn đang vắng mặt hiện ra trước mắt, ý niệm của chúng
ta về người ấy rõ ràng trở nên sống động hơn nhờ sự tương tự; đồng thời,
bất kỳ đam mê nào mà ý niệm ấy khơi dậy, dù là niềm vui hay nỗi buồn, đều có
thêm sức mạnh và sinh khí.
Để tạo ra hiệu quả
này, cần có sự kết hợp của cả một quan hệ và một ấn tượng đang hiện diện. Nếu bức
chân dung không giống người ấy, hoặc ít nhất ngay từ đầu không được tạo ra để
khắc họa người ấy, thì nó sẽ không hề đưa tư tưởng của chúng ta đến với người ấy.
Còn nếu cả bức chân dung lẫn chính người ấy đều vắng mặt, thì mặc dù não thức vẫn
có thể chuyển dịch từ ý nghĩ về cái này sang ý nghĩ về cái kia, nó lại cảm thấy
rằng ý niệm ấy trở nên yếu đi chứ không phải sống động hơn nhờ sự chuyển dịch
đó.
Khi bức chân dung của
một người bạn được đặt trước mắt, chúng ta cảm thấy thích thú khi ngắm nhìn nó.
Nhưng khi bức chân dung ấy đã được cất đi, chúng ta thường chọn nghĩ trực tiếp
đến người bạn ấy hơn là sự tự suy ngẫm thông qua một hình ảnh vốn cũng xa vắng
và mờ nhạt như chính người ấy.
T 1.3.8.4, SBN 99–100
Những nghi lễ của Hội
nhà thờ Catô Rôma cũng có thể được xem như những thí nghiệm cùng một loại. [2]
Những tín đồ của hình
thức tín ngưỡng mà nhiều người cho là kỳ lạ ấy thường biện hộ cho những nghi thức
mang tính trình diễn mà họ bị chỉ trích. Họ nói rằng họ thực sự cảm nhận được
tác dụng tích cực của những cử động, tư thế và hành vi bên ngoài ấy trong việc
làm cho lòng sùng kính của họ trở nên sống động hơn, đồng thời làm cho sự nhiệt
thành của họ mạnh mẽ hơn; bởi nếu lòng sùng kính ấy chỉ hoàn toàn hướng đến những
đối tượng xa vời và không thể cảm nhận trực tiếp [3],
thì nó sẽ dần dần suy yếu.
Họ nói: chúng tôi biểu
hiện những đối tượng của sự tin tưởng của mình bằng những biểu tượng và hình ảnh
mà giác quan có thể cảm nhận được; nhờ sự hiện diện trực tiếp của những biểu tượng
ấy, chúng tôi làm cho những đối tượng ấy hiện diện trước chúng tôi rõ ràng hơn
nhiều so với điều mà chúng tôi có thể đạt được chỉ bằng sự quan sát và chiêm
nghiệm thuần túy của khả năng nhận thức.
Những đối tượng mà
giác quan cảm nhận được luôn luôn có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn lên trí tưởng tượng
so với bất kỳ loại đối tượng nào khác; và chúng cũng dễ dàng truyền ảnh hưởng ấy
sang những ý niệm có quan hệ với chúng và có sự tương tự với chúng.
Từ những thực hành ấy
và từ lối lập luận ấy, tôi chỉ rút ra một kết luận: sự tương tự tạo ra hiệu quả
làm cho ý niệm trở nên sống động hơn là một hiện tượng rất phổ biến. Và bởi vì
trong mọi trường hợp, sự tương tự luôn phải kết hợp với một ấn tượng đang hiện
diện, nên chúng ta có rất nhiều kinh nghiệm để chứng minh tính xác thực của
nguyên lý đã được trình bày ở trên.
T 1.3.8.5, SBN 100
Chúng ta có thể củng
cố thêm sức thuyết phục của những thí nghiệm này bằng những thí nghiệm thuộc một
loại khác, khi xem xét tác dụng của sự kề cận, cũng như của sự tương
tự.
Điều chắc chắn là khoảng
cách luôn làm suy giảm sức mạnh của mọi ý niệm; và khi chúng ta tiến lại gần một
đối tượng, dù đối tượng ấy vẫn chưa hiện ra trước giác quan của chúng ta, nó vẫn
tác động lên não thức bằng một ảnh hưởng tương tự như một ấn tượng trực tiếp.[21]
Việc suy nghĩ về một
đối tượng dễ dàng đưa não thức sang những gì kề cận với nó; nhưng chỉ có sự hiện
diện thực sự của một đối tượng mới đưa não thức đến đó với một mức độ sống động
vượt trội.
Khi tôi chỉ còn cách
nhà vài dặm, bất cứ một gì liên quan đến ngôi nhà ấy đều tác động đến tôi gần
gũi hơn nhiều so với khi tôi ở cách đó hai trăm league; mặc dù ngay cả ở khoảng
cách rất xa ấy, việc sự tự suy ngẫm về bất cứ một gì ở gần bạn bè và gia đình
tôi vẫn tự nhiên khơi dậy trong tôi ý niệm về họ.
Nhưng trong trường hợp
sau này, bởi vì cả hai đối tượng mà não thức hướng đến đều chỉ là những ý niệm,
nên mặc dù giữa chúng có sự chuyển dịch rất dễ dàng, bản thân sự chuyển dịch ấy
vẫn không thể làm cho bất kỳ ý niệm nào trở nên sống động hơn, vì thiếu một ấn
tượng đang hiện diện.
T 1.3.8.6, SBN
100–101
Không ai có thể nghi
ngờ rằng quan hệ nhân quả cũng có ảnh hưởng giống như hai quan hệ còn lại là sự
tương tự và sự kề cận.
Những người có lòng
mê tín thường rất quý trọng những thánh tích của những vị thánh và những bậc
thánh nhân. Họ làm như vậy cũng vì cùng một lý do khiến họ tìm đến những biểu
tượng và hình ảnh: để làm cho lòng sùng kính của mình trở nên sống động hơn, đồng
thời tạo cho mình một hình dung gần gũi và mạnh mẽ hơn về những cuộc đời mẫu mực
mà họ mong muốn noi theo.
Bây giờ, rõ ràng là một
trong những thánh tích quý giá nhất mà một tín đồ có thể có được chính là những
vật do một vị thánh trực tiếp làm ra. Nếu quần áo hay đồ dùng của vị thánh ấy
cũng được xem là thánh tích, thì đó là vì trước đây chúng từng thuộc quyền sử dụng
của vị ấy, từng được vị ấy cầm nắm, di chuyển và tác động đến. Xét theo phương
diện đó, chúng có thể được xem là những kết quả chưa hoàn chỉnh của vị ấy, và
được liên kết với vị ấy bằng một chuỗi nhân quả ngắn hơn nhiều so với chuỗi
nhân quả mà nhờ đó chúng ta suy luận để đi đến tin tưởng rằng vị ấy đã từng hiện
hữu.
Hiện tượng này chứng
minh rất rõ rằng một ấn tượng đang hiện diện, kết hợp với quan hệ nhân quả, có
thể làm cho bất kỳ ý niệm nào trở nên sống động hơn; và do đó tạo ra sự tin tưởng
hay sự tán thành, đúng theo định nghĩa mà chúng ta đã đưa ra trước đó.
T 1.3.8.7, SBN 101
Nhưng tại sao chúng
ta còn phải tìm kiếm những lập luận khác để chứng minh rằng một ấn tượng đang
hiện diện, kết hợp với một quan hệ hay sự chuyển dịch của trí tưởng tượng, có
thể làm cho bất kỳ ý niệm nào trở nên sống động hơn, trong khi chính trường hợp
suy luận từ nhân quả của chúng ta đã đủ để chứng minh điều đó?
Điều chắc chắn là
chúng ta phải có một ý niệm về mọi vấn đề thuộc sự kiện mà chúng ta tin tưởng.
Điều cũng chắc chắn
là ý niệm ấy chỉ nảy sinh từ một quan hệ với một ấn tượng đang hiện diện.
Điều cũng chắc chắn nữa
là sự tin tưởng không thêm bất cứ một gì vào chính ý niệm; nó chỉ thay đổi cách
não thức hình thành ý niệm ấy, khiến ý niệm trở nên mạnh mẽ và sống động hơn.
Kết luận hiện nay của
chúng ta về ảnh hưởng của quan hệ là hệ quả trực tiếp của toàn bộ những bước lập
luận ấy; và đối với tôi, mỗi bước đều có vẻ chắc chắn và không thể sai lầm.
Trong hoạt động này của
não thức, không có yếu tố nào khác ngoài một ấn tượng đang hiện diện, một ý niệm
sống động, và một quan hệ, hay sự liên kết trong trí tưởng tượng, giữa ấn tượng
và ý niệm. Vì vậy, không có lý do gì để nghi ngờ rằng ở đây đã xảy ra một sự nhầm
lẫn.
T 1.3.8.8, SBN
101–102
Để làm sáng tỏ toàn bộ
vấn đề này đầy đủ hơn, chúng ta hãy xem nó như một vấn đề của triết học tự
nhiên, một vấn đề mà chúng ta phải quyết định bằng kinh nghiệm và quan sát.
Giả sử có một đối tượng
hiện ra trước tôi; từ đối tượng ấy, tôi rút ra một kết luận nhất định và hình
thành cho mình những ý niệm mà người ta nói rằng tôi tin tưởng hoặc tán thành.
Ở đây, rõ ràng là mặc
dù đối tượng đang hiện diện trước giác quan của tôi và đối tượng kia, mà tôi
suy luận sự hiện hữu của nó, có thể được cho là tác động lẫn nhau nhờ những
năng lực hoặc thuộc tính riêng của chúng; nhưng vì hiện tượng sự tin tưởng mà
hiện nay chúng ta đang khảo sát hoàn toàn là một hiện tượng bên trong não thức,
nên những năng lực và thuộc tính ấy, do hoàn toàn không được chúng ta biết đến,
không thể góp phần tạo ra hiện tượng đó.
Chính ấn tượng đang
hiện diện mới phải được xem là nguyên nhân chân thực và thực sự của ý niệm,
cũng như của sự tin tưởng đi kèm với ý niệm ấy.
Vì vậy, chúng ta phải
cố gắng khám phá, thông qua những thí nghiệm, những thuộc tính riêng nào của ấn
tượng đang hiện diện đã làm cho nó có khả năng tạo ra một hiệu quả đặc biệt đến
như vậy.
T 1.3.8.9, SBN 102
Trước hết, tôi nhận
thấy rằng ấn tượng đang hiện diện không tạo ra hiệu quả này chỉ bằng chính năng
lực và hiệu lực vốn có của nó, nếu chỉ xét riêng nó như một tri giác đơn lẻ, giới
hạn trong khoảnh khắc hiện tại.
Tôi nhận thấy rằng một
ấn tượng, mà khi mới xuất hiện lần đầu tôi chưa thể rút ra bất kỳ kết luận nào
từ nó, về sau lại có thể trở thành nền tảng của sự tin tưởng, khi tôi đã có
kinh nghiệm về những kết quả thường xuyên đi theo nó.
Trong mọi trường hợp,
trước đó chúng ta đều phải đã quan sát chính ấn tượng ấy trong những lần trước,
và đã nhận thấy rằng nó luôn luôn kết hợp với một ấn tượng khác.
Có vô số kinh nghiệm
xác nhận điều này, đến mức không còn chỗ cho một nghi ngờ nhỏ nào nữa.
T 1.3.8.10, SBN
102–103
Từ một quan sát thứ
hai, tôi kết luận rằng sự tin tưởng, vốn đi kèm với ấn tượng đang hiện diện và
được tạo ra bởi vô số ấn tượng cùng những sự kết hợp trong quá khứ, — tôi nói rằng
chính sự tin tưởng ấy — xuất hiện ngay lập tức, không cần bất kỳ hoạt động mới
nào của khả năng nhận thức hay trí tưởng tượng.
Tôi có thể chắc chắn
về điều này, vì tôi chưa bao giờ ý thức được rằng có bất kỳ hoạt động nào như
thế diễn ra, và cũng không tìm thấy trong chính hiện tượng ấy bất cứ một gì có
thể làm nền tảng cho một hoạt động như vậy.
Bây giờ, vì chúng ta
gọi là THÓI QUEN mọi điều nảy sinh từ sự lặp đi lặp lại trong quá khứ mà không
cần bất kỳ sự suy luận hay kết luận mới nào, nên chúng ta có thể xác lập như một
chân lý chắc chắn rằng mọi sự tin tưởng phát sinh sau một ấn tượng đang hiện diện
đều chỉ bắt nguồn từ chính nguồn gốc ấy.
Khi chúng ta đã quen
thấy hai ấn tượng luôn luôn kết hợp với nhau, thì sự xuất hiện của một ấn tượng,
hoặc ý niệm về nó, lập tức đưa não thức sang ý niệm của ấn tượng kia.
T 1.3.8.11, SBN 103
Sau khi đã hoàn toàn
thỏa mãn về điểm này, tôi tiến hành một loạt thí nghiệm thứ ba để biết liệu
ngoài sự chuyển dịch theo thói quen còn cần thêm điều gì khác để tạo ra hiện tượng
sự tin tưởng hay không.
Vì vậy, tôi thay ấn
tượng thứ nhất bằng một ý niệm, rồi nhận thấy rằng mặc dù sự chuyển dịch theo
thói quen sang ý niệm tương ứng vẫn còn nguyên, nhưng trên thực tế hoàn toàn
không có sự tin tưởng hay sự xác tín nào xuất hiện.
Do đó, một ấn tượng
đang hiện diện là điều tuyệt đối cần thiết cho toàn bộ hoạt động này.
Sau đó, khi tôi so
sánh một ấn tượng với một ý niệm, và nhận thấy rằng điểm khác biệt duy nhất giữa
chúng chỉ nằm ở mức độ sức mạnh và tính sống động, thì từ toàn bộ những điều ấy
tôi kết luận rằng sự tin tưởng chính là một cách hình thành ý niệm sống động và
mãnh liệt hơn, phát sinh từ quan hệ giữa ý niệm ấy với một ấn tượng đang hiện
diện.
T 1.3.8.12, SBN 103
Như vậy, mọi suy luận
xác suất chẳng qua chỉ là một dạng của cảm xúc.
Không chỉ trong thơ
ca và âm nhạc mà chúng ta phải đi theo thị hiếu và cảm xúc của mình; ngay cả
trong triết học cũng vậy.
Khi tôi bị thuyết phục
bởi một nguyên lý nào đó, thì điều đó chỉ có nghĩa là ý niệm về nguyên lý ấy
tác động lên tôi mạnh mẽ hơn.
Khi tôi ưu tiên một
nhóm lập luận hơn một nhóm lập luận khác, thì tôi không làm gì khác ngoài việc
phán đoán theo cảm xúc của mình về mức độ ảnh hưởng mạnh hơn của chúng.
Giữa những đối tượng
không có sự liên kết nào mà chúng ta có thể nhận ra được; và ngoài thói quen
tác động lên trí tưởng tượng, không có bất kỳ nguyên lý nào khác giúp chúng ta
suy luận từ sự xuất hiện của một đối tượng sang sự hiện hữu của một đối tượng
khác.
T 1.3.8.13, SBN
103–104
Ở đây, có một điều rất
đáng để chúng ta lưu ý: kinh nghiệm trong quá khứ, vốn là nền tảng mà mọi phán
đoán của chúng ta về nhân quả đều dựa vào, có thể tác động lên não thức một
cách âm thầm đến mức chúng ta hoàn toàn không nhận ra sự tác động ấy; thậm chí,
ở một mức độ nào đó, chính chúng ta cũng không biết rằng sự tác động ấy đang diễn
ra.
Một người đang đi đường,
khi gặp một con sông chắn ngang lối đi, sẽ lập tức thấy trước hậu quả nếu mình
cứ tiếp tục bước tới. Hiểu biết của người ấy về những hậu quả đó được kinh nghiệm
trong quá khứ truyền đạt cho; chính kinh nghiệm ấy cho người ấy biết rằng giữa
những nguyên nhân và kết quả như vậy luôn có những sự kết hợp nhất định.
Nhưng liệu chúng ta
có thể nghĩ rằng, trong tình huống ấy, người đó thật sự tự suy ngẫm về bất kỳ
kinh nghiệm nào trong quá khứ, rồi lần lượt nhớ lại những trường hợp mình đã từng
chứng kiến hoặc từng nghe kể, để từ đó nhận ra nước sẽ gây tác động gì lên cơ
thể của động vật hay không?
Chắc chắn là không.
Đó không phải là cách mà người ấy tiến hành suy luận.
Ý niệm về việc chìm
xuống liên kết chặt chẽ với ý niệm về nước; và ý niệm về việc bị ngạt thở lại
liên kết chặt chẽ với ý niệm về việc chìm xuống. Chính vì sự liên kết ấy chặt
chẽ đến như vậy nên não thức tự thực hiện sự chuyển dịch từ ý niệm này sang ý
niệm kia mà không cần đến sự trợ giúp của trí nhớ.
Thói quen hoạt động
trước cả khi chúng ta kịp tự suy ngẫm.
Những đối tượng dường
như gắn bó với nhau đến mức không thể tách rời, khiến chúng ta không hề chần chừ
lấy một khoảnh khắc khi chuyển từ đối tượng này sang đối tượng kia.
Nhưng vì sự chuyển dịch
ấy phát sinh từ kinh nghiệm, chứ không phải từ một sự liên kết nguyên thủy nào
giữa chính những ý niệm, nên chúng ta tất yếu phải thừa nhận rằng kinh nghiệm
có thể, bằng một cơ chế âm thầm kín đáo, tạo ra sự tin tưởng và một phán đoán về
nhân quả, ngay cả khi chúng ta chưa hề một lần nghĩ đến chính kinh nghiệm ấy.
Điều này loại bỏ mọi
cái cớ — nếu vẫn còn ai viện đến — để khẳng định rằng não thức chỉ bị thuyết phục
bằng suy luận đối với nguyên lý cho rằng những trường hợp mà chúng ta chưa
có kinh nghiệm nhất thiết phải giống những trường hợp mà chúng ta đã có kinh
nghiệm. [4]
Bởi vì ở đây chúng ta
thấy rõ rằng khả năng nhận thức, hoặc trí tưởng tượng, có thể suy luận từ kinh
nghiệm trong quá khứ mà không cần tự suy ngẫm về chính kinh nghiệm ấy; và càng
không cần trước hết phải hình thành một nguyên lý tổng quát về kinh nghiệm, rồi
mới suy luận dựa trên nguyên lý đó.
T 1.3.8.14, SBN
104–105
Nói tổng quát, chúng
ta có thể nhận thấy rằng trong tất cả những sự kết hợp giữa nguyên nhân và kết
quả đã được xác lập vững chắc và diễn ra đồng đều nhất — chẳng hạn như trong những
hiện tượng trọng lực, va chạm, tính rắn, v.v. — thì não thức không hề chủ ý
quay trở lại để xem xét bất kỳ kinh nghiệm nào trong quá khứ.
Tuy nhiên, đối với những
sự liên kết giữa những đối tượng hiếm gặp hơn và bất thường hơn, não thức đôi
khi có thể dùng sự tự suy ngẫm ấy để hỗ trợ thói quen và sự chuyển dịch của những
ý niệm.
Hơn nữa, trong một số
trường hợp, chúng ta còn thấy rằng sự tự suy ngẫm tạo ra sự tin tưởng mà không
cần đến thói quen; hay nói chính xác hơn, rằng sự tự suy ngẫm tạo ra thói quen
theo một cách gián tiếp và nhân tạo.
Tôi xin giải thích rõ
hơn.
Điều chắc chắn là,
không chỉ trong triết học mà ngay cả trong đời sống thường ngày, chúng ta vẫn
có thể đạt được hiểu biết về một nguyên nhân cụ thể chỉ từ một thí nghiệm duy
nhất, miễn là thí nghiệm ấy được tiến hành một cách cẩn trọng và sáng suốt, đồng
thời mọi yếu tố ngoại lai và không cần thiết đều đã được loại bỏ kỹ lưỡng.
Bây giờ, sau một thí
nghiệm như vậy, khi nguyên nhân hoặc kết quả xuất hiện, não thức có thể suy luận
đến sự hiện hữu của cái tương ứng với nó. Nhưng vì thói quen không bao giờ có
thể được hình thành chỉ từ một trường hợp duy nhất, nên người ta có thể cho rằng
trong trường hợp này sự tin tưởng không thể được xem là kết quả của thói quen.
Tuy nhiên, khó khăn ấy
sẽ biến mất nếu chúng ta lưu ý rằng, mặc dù ở đây chúng ta giả định chỉ mới có
một thí nghiệm về một kết quả cụ thể, nhưng trước đó chúng ta đã có đến hàng
triệu kinh nghiệm khiến chúng ta tin tưởng vào nguyên lý sau đây: những đối
tượng giống nhau, khi được đặt trong những hoàn cảnh giống nhau, sẽ luôn tạo ra
những kết quả giống nhau.
Và vì nguyên lý ấy đã
được xác lập nhờ một thói quen đủ mạnh, nên mỗi khi chúng ta áp dụng nguyên lý ấy
vào một ý kiến cụ thể, nó đều truyền cho ý kiến ấy tính xác thực và sự vững chắc.
Sau một thí nghiệm
duy nhất, sự liên kết của những ý niệm chưa phải là một sự liên kết do thói
quen tạo thành; nhưng sự liên kết ấy lại nằm trong phạm vi của một nguyên lý
khác, mà nguyên lý ấy thì quả thật đã được hình thành bởi thói quen. Chính điều
này đưa chúng ta trở lại giả thuyết ban đầu của mình.
Trong mọi trường hợp,
chúng ta đều chuyển kinh nghiệm của mình sang những trường hợp mà chúng ta chưa
có kinh nghiệm, dù là một cách rõ ràng hay ngầm ẩn, dù là trực tiếp hay gián
tiếp.[5]
T 1.3.8.15, SBN
105–106
Tôi không nên kết
thúc đề tài này mà không lưu ý rằng thật rất khó để nói về những hoạt động của
não thức một cách hoàn toàn chính xác và thích đáng. Bởi vì ngôn ngữ thông thường
hiếm khi tạo ra những sự phân biệt thật tinh tế giữa những hoạt động ấy; trái lại,
nó thường dùng cùng một từ để chỉ tất cả những hoạt động gần giống nhau.
Điều này gần như tất
yếu trở thành một nguồn gốc của sự mơ hồ và nhầm lẫn đối với tác giả; đồng thời,
nó cũng thường làm nảy sinh trong người đọc những nghi ngờ và những phản đối mà
nếu không có sự mơ hồ ấy, có lẽ họ sẽ không bao giờ nghĩ đến.
Vì vậy, luận điểm tổng
quát của tôi, rằng một ý kiến hay một sự tin tưởng chẳng qua chỉ là một ý niệm
mạnh mẽ và sống động, phát sinh từ một ấn tượng đang hiện diện có quan hệ với
nó, có thể gặp phải phản đối sau đây do một chút mơ hồ trong hai từ mạnh
mẽ (strong) và sống động (lively).
Người ta có thể nói rằng
không chỉ một ấn tượng mới có thể làm phát sinh suy luận, mà một ý niệm cũng có
thể có ảnh hưởng tương tự; đặc biệt là theo chính nguyên lý của tôi, rằng mọi
ý niệm của chúng ta đều phát sinh từ những ấn tượng tương ứng.
Giả sử hiện nay tôi
hình thành một ý niệm, nhưng tôi đã quên mất ấn tượng tương ứng với nó. Từ ý niệm
ấy, tôi vẫn có thể suy luận rằng trước đây hẳn đã từng có một ấn tượng như vậy
hiện hữu. Và vì kết luận ấy luôn đi kèm với sự tin tưởng, người ta có thể hỏi:
sức mạnh và tính sống động, là những phẩm chất cấu thành sự tin tưởng này, phát
sinh từ đâu?
Tôi trả lời ngay rằng:
chúng phát sinh từ chính ý niệm đang hiện diện.
Bởi vì trong trường hợp
này, ý niệm ấy không được xem như hình ảnh đại diện cho một đối tượng đang vắng
mặt, mà được xem như một tri giác thực sự đang hiện hữu trong não thức, một tri
giác mà chúng ta trực tiếp ý thức được. Vì thế, ý niệm ấy có thể truyền cho bất
cứ một gì có quan hệ với nó chính phẩm chất mà não thức cảm nhận nơi nó, dù
chúng ta gọi phẩm chất ấy là sự vững chắc, sự xác thực, sức mạnh hay tính sống
động; bởi vì não thức đang tự suy ngẫm về ý niệm ấy và xác tín rằng nó đang
hiện hữu.
Trong trường hợp này,
ý niệm giữ đúng vai trò của một ấn tượng; và xét theo mục đích hiện nay của
chúng ta, hai cái hoàn toàn giống nhau.
T 1.3.8.16, SBN 106
Dựa trên chính những
nguyên lý ấy, chúng ta cũng không nên ngạc nhiên khi nói đến trí nhớ về một ý
niệm; nghĩa là ý niệm về một ý niệm, cùng với sức mạnh và tính sống động của nó
vượt xa những hình dung lỏng lẻo của trí tưởng tượng.
Khi nghĩ lại những tư
tưởng trong quá khứ của mình, chúng ta không chỉ phác họa lại những đối tượng
mà khi ấy mình đang suy nghĩ đến; chúng ta còn hình dung cả hoạt động của não
thức trong chính quá trình suy ngẫm ấy, cái je-ne-sçai-quoi (một “điều gì đó
không thể gọi tên”), mà không một định nghĩa hay mô tả nào có thể diễn đạt được,
nhưng ai cũng tự mình hiểu rõ.
Khi trí nhớ đem lại
cho chúng ta ý niệm về hoạt động ấy và trình bày nó như một điều đã thuộc về
quá khứ, thì thật dễ hiểu vì sao ý niệm ấy lại có sức mạnh và sự vững chắc lớn
hơn nhiều so với khi chúng ta chỉ nghĩ về một tư tưởng trong quá khứ mà hoàn
toàn không còn trí nhớ về nó.
T 1.3.8.17, SBN 106
Sau tất cả những điều
đã trình bày, bất kỳ ai cũng sẽ hiểu được bằng cách nào chúng ta có thể hình
thành ý niệm về một ấn tượng và ý niệm về một ý niệm; đồng thời cũng hiểu được
bằng cách nào chúng ta có thể tin tưởng vào sự hiện hữu của một ấn tượng và một
ý niệm.[6]
-------------------------------
T 1.3.8.5n21, SBN 630
[21]. Tôi không biết
nên nói rằng đó là do bản tính tự nhiên của chúng ta hay chỉ là một sự ngộ nhận
nào đó; nhưng mỗi khi nhìn thấy những nơi mà chúng ta biết rằng những bậc vĩ
nhân đáng ghi nhớ đã từng lui tới và sinh hoạt lâu dài, chúng ta thường xúc động
hơn nhiều so với khi chỉ nghe kể về những việc họ đã làm hoặc đọc những tác phẩm
của họ.
Chính lúc này đây,
tôi cũng đang có cảm giác ấy. Hình ảnh Plato hiện lên trong tâm trí tôi; người
mà chúng ta biết là đã từng mở đầu những cuộc đàm luận triết học ngay tại nơi
này. Những khu vườn ở gần đây không chỉ gợi lại ký ức về ông, mà gần như còn
khiến chính ông hiện diện trước mắt tôi. Đây là Speusippus; đây là Xenocrates;
đây là Polemo, môn đệ của họ; dường như ngay cả chỗ ngồi của ông ấy mà chúng ta
đang nhìn thấy vẫn còn đó.
Về phần mình, mỗi khi
ngắm tòa nghị viện cũ của chúng ta — tôi muốn nói Curia Hostilia chứ không phải
tòa nhà mới, vốn đối với tôi dường như nhỏ bé hơn dù thực ra lớn hơn — tôi thường
nghĩ đến Scipio, Cato, Laelius, và trên hết là người ông của chính tôi.[7]
Sức mạnh gợi nhớ của
địa điểm quả thật lớn lao đến mức không phải ngẫu nhiên mà nghệ thuật ghi nhớ [8] đã
được xây dựng dựa trên nguyên lý ấy.”
— Cicero, De
Finibus Bonorum et Malorum, quyển V. [9]
— Cicero, De
Finibus, quyển V.
MỤC IX
Về Những Tác Động Của
Những Quan Hệ Khác Và Những Thói Quen Khác
T 1.3.9.1, SBN 106–7
Dù những lập luận
trên có vẻ thuyết phục đến đâu, chúng ta cũng không nên chỉ dừng lại ở đó.
Chúng ta cần xem xét vấn đề này từ mọi phía, để tìm ra những góc nhìn mới có thể
làm sáng tỏ và củng cố những nguyên lý vừa hết sức đặc biệt vừa có ý nghĩa nền
tảng ấy.
Sự thận trọng trước
khi chấp nhận bất kỳ một giả thuyết mới nào là một phẩm chất rất đáng quý ở các
triết gia, đồng thời cũng hết sức cần thiết trong việc tìm kiếm chân lý. Vì vậy,
chúng ta cần tôn trọng sự thận trọng ấy bằng cách đưa ra mọi lập luận có thể
giúp họ được thỏa đáng, đồng thời giải đáp mọi phản đối có thể cản trở sự chấp
nhận những lập luận đó.
T 1.3.9.2, SBN 107
Tôi đã nhiều lần nhận
xét rằng, ngoài quan hệ nhân quả, thì hai quan hệ là sự tương tự và sự kề cận
cũng cần được xem là những nguyên lý liên kết của tư tưởng, và có khả năng dẫn
trí tưởng tượng chuyển từ ý niệm này sang ý niệm khác.
Tôi cũng đã nhận xét
rằng, khi trong hai đối tượng được nối kết với nhau bằng một trong những quan hệ
ấy, có một đối tượng hiện diện trực tiếp trước trí nhớ hoặc những giác quan,
thì nguyên lý liên kết không chỉ đưa não thức chuyển sang đối tượng tương ứng của
nó, mà còn làm cho não thức hình dung đối tượng ấy với sức mạnh và tính sống động
lớn hơn, nhờ tác động kết hợp của nguyên lý liên kết và ấn tượng đang hiện diện.
Tôi đã nêu tất cả những
nhận xét ấy để dùng phép loại suy xác nhận cách giải thích của mình về những
phán đoán của chúng ta đối với quan hệ nhân quả.
Nhưng chính lập luận
này, có lẽ, cũng có thể bị quay ngược lại để chống lại tôi; và thay vì xác nhận
giả thuyết của tôi, nó có thể trở thành một phản đối đối với giả thuyết ấy.
Vì người ta có thể
nói rằng: nếu mọi phần trong giả thuyết ấy đều đúng — nghĩa là, ba loại quan hệ
này đều phát sinh từ cùng một nguyên lý; tác động của chúng trong việc làm cho
những ý niệm mạnh mẽ và sống động hơn đều như nhau; và sự tin tưởng không là gì
khác ngoài một cách hình dung một ý niệm với sức mạnh và tính sống động lớn hơn
— thì dường như phải suy ra rằng hoạt động này của não thức không chỉ có thể
phát sinh từ quan hệ nhân quả, mà còn có thể phát sinh từ quan hệ kề cận và
quan hệ tương tự.
Thế nhưng, vì kinh
nghiệm cho chúng ta thấy rằng sự tin tưởng chỉ phát sinh từ quan hệ nhân quả,
và rằng chúng ta không thể suy luận từ đối tượng này sang đối tượng khác, trừ
khi chúng được nối kết với nhau bằng chính quan hệ ấy, nên chúng ta có thể kết
luận rằng hẳn phải có một sai lầm nào đó trong chuỗi lập luận đã dẫn chúng ta đến
những khó khăn này.
T 1.3.9.3, SBN 107–8
Đó là lời phản đối;
bây giờ chúng ta hãy xem cách giải quyết nó.
Rõ ràng, bất cứ điều
gì hiện diện trong trí nhớ, vì tác động lên não thức với một sức mạnh và tính sống
động gần giống như một ấn tượng trực tiếp, nên đều giữ một vai trò quan trọng
trong mọi hoạt động của não thức và dễ dàng tự phân biệt với những hư cấu thuần
túy của trí tưởng tượng.
Từ những ấn tượng và
những ý niệm của trí nhớ ấy, chúng ta hình thành một loại hệ thống, bao gồm tất
cả những gì chúng ta nhớ đã từng hiện diện trước tri giác nội tại hoặc trước những
giác quan của mình; và mỗi thành phần trong hệ thống ấy, khi được kết hợp với
những ấn tượng đang hiện diện, chúng ta đều sẵn lòng gọi là thực tại.
Nhưng não thức không
dừng lại ở đó. Khi nhận thấy rằng còn có một hệ thống khác được nối kết với hệ
thống những tri giác này bằng thói quen, hay nếu muốn nói cách khác, bằng quan
hệ nhân quả, nó tiếp tục chuyển sang xem xét những ý niệm của hệ thống ấy. Và
vì não thức cảm thấy mình, theo một nghĩa nào đó, bị quy định một cách tất yếu
phải hình dung những ý niệm đặc thù ấy, đồng thời thói quen hay quan hệ quy định
nó lại không cho phép một sự thay đổi nhỏ nhất nào, nên nó kết hợp những ý niệm
ấy thành một hệ thống mới, rồi cũng ban cho hệ thống ấy danh hiệu "thực tại".
Hệ thống thứ nhất là
đối tượng của trí nhớ và những giác quan; hệ thống thứ hai là đối tượng của
phán đoán.[10]
T 1.3.9.4, SBN 108
Chính nguyên lý thứ
hai này đã làm cho thế giới đầy những sự vật hiện hữu, và giúp chúng ta biết đến
những sự hiện hữu mà vì quá xa về thời gian hoặc không gian nên vượt ra ngoài tầm
với của những giác quan và trí nhớ.
Nhờ nguyên lý ấy, tôi
vẽ nên cả vũ trụ trong trí tưởng tượng của mình và hướng sự chú ý đến bất kỳ phần
nào của nó theo ý muốn.
Tôi hình thành ý niệm
về thành Rome, mặc dù tôi không nhìn thấy và cũng không nhớ về nó; nhưng ý niệm
ấy được nối kết với những ấn tượng mà tôi còn nhớ đã nhận được từ những cuộc
trò chuyện và những cuốn sách của các nhà du hành và các sử gia.
Tôi đặt ý niệm về
thành Rome vào một vị trí nhất định trên ý niệm về một đối tượng mà tôi gọi là
quả địa cầu. Tôi gắn với nó ý niệm về một hình thức chính quyền, một tôn giáo
và những phong tục. Tôi nhìn ngược về quá khứ và hình dung sự hình thành ban đầu
của nó, những bước thăng trầm, những thành công và những bất hạnh của nó.
Tất cả những điều ấy,
cũng như mọi điều khác mà tôi tin tưởng, đều không là gì khác ngoài những ý niệm.
Thế nhưng, nhờ sức mạnh và trật tự ổn định có được từ thói quen và từ quan hệ
nhân quả, chúng tự phân biệt với những ý niệm khác, vốn chỉ đơn thuần là những
đứa con của trí tưởng tượng.
T 1.3.9.5, SBN 109
Đối với ảnh hưởng của
sự kề cận và sự tương tự, chúng ta có thể nhận thấy rằng, nếu đối tượng có quan
hệ kề cận hoặc tương tự đã thuộc về hệ thống những thực tại ấy, thì không còn
nghi ngờ gì nữa, hai quan hệ này sẽ hỗ trợ cho quan hệ nhân quả và làm cho ý niệm
có liên hệ với đối tượng ấy bám chặt vào trí tưởng tượng bằng một sức mạnh lớn
hơn. Tôi sẽ trình bày chi tiết hơn về điểm này ngay sau đây.
Trong lúc này, tôi muốn
đẩy sự quan sát của mình thêm một bước nữa và khẳng định rằng, ngay cả khi đối
tượng có liên hệ ấy chỉ là một điều được tự tưởng tượng ra, thì chính quan hệ ấy
vẫn có tác dụng làm cho ý niệm trở nên sống động hơn và tăng thêm ảnh hưởng của
nó.
Chắc chắn một nhà thơ
sẽ có thể miêu tả cánh đồng Elysium một cách sinh động hơn nếu ông thúc đẩy trí
tưởng tượng của mình bằng việc ngắm nhìn một đồng cỏ hay một khu vườn tươi đẹp.
Cũng vậy, vào một lúc khác, ông có thể bằng trí tưởng tượng tự đặt mình vào giữa
những miền đất huyền thoại ấy, để nhờ sự kề cận được tự tưởng tượng ra, làm cho
trí tưởng tượng của mình trở nên sống động hơn.[11]
T 1.3.9.6, SBN 109–10
Tuy nhiên, mặc dù tôi
không thể hoàn toàn gạt bỏ việc quan hệ tương tự và quan hệ kề cận cũng tác động
lên trí tưởng tượng theo cách này, nhưng cần lưu ý rằng khi chỉ hoạt động riêng
rẽ, ảnh hưởng của chúng rất yếu và rất thiếu ổn định.
Cũng như quan hệ nhân
quả là điều cần có để làm cho chúng ta tin vào sự hiện hữu thực sự của một đối
tượng, thì chính sự tin tưởng ấy cũng là điều cần có để làm cho hai quan hệ kia
có thêm sức mạnh.
Bởi vì, khi một ấn tượng
đang hiện diện xuất hiện, nếu chúng ta không chỉ tự tưởng tượng ra một đối tượng
khác, mà còn hoàn toàn theo ý thích và sự tùy ý của mình gắn cho đối tượng ấy một
quan hệ đặc thù với ấn tượng đó, thì điều ấy chỉ có thể tạo ra một ảnh hưởng rất
nhỏ đối với não thức. Cũng chẳng có lý do gì khiến, khi ấn tượng ấy xuất hiện
trở lại, não thức lại phải đặt chính đối tượng ấy vào đúng quan hệ như trước.
Không có bất kỳ sự tất
yếu nào buộc não thức phải tự tưởng tượng ra những đối tượng tương tự hay kề cận.
Mà ngay cả khi nó tự tưởng tượng ra những đối tượng ấy, cũng không có gì buộc
nó phải luôn chỉ gắn với chính những đối tượng đó mà không có bất kỳ sự khác biệt
hay thay đổi nào.
Thật vậy, một sự tưởng
tượng như thế có quá ít cơ sở đến mức chỉ có sự tùy hứng thuần túy mới khiến
não thức hình thành nó. Mà nguyên tắc ấy vốn luôn dao động và không ổn định,
nên không thể nào tác động với một mức độ đủ mạnh và đủ bền.
Não thức thấy trước
và đón trước sự thay đổi ấy. Ngay từ giây phút đầu tiên, nó đã cảm nhận được sự
lỏng lẻo trong chính hoạt động của mình và sự mong manh trong mối liên hệ mà nó
có với những đối tượng ấy. Vì khuyết điểm này bộc lộ rất rõ trong từng trường hợp
riêng lẻ, nên nó lại càng tăng thêm nhờ kinh nghiệm và quan sát, khi chúng ta
so sánh nhiều trường hợp còn nhớ được và hình thành một quy tắc tổng quát rằng
không nên đặt lòng tin vào những tia sáng chợt lóe lên rồi vụt tắt [12] trong
trí tưởng tượng, vốn chỉ phát sinh từ một sự tương tự hay sự kề cận được tự tưởng
tượng ra.
T 1.3.9.7, SBN 110
Quan hệ nhân quả có tất
cả những ưu thế đối lập ấy. Những đối tượng mà nó đem đến cho chúng ta đều được
cố định và không thay đổi. Những ấn tượng của trí nhớ không bao giờ biến đổi
theo bất kỳ mức độ đáng kể nào; và mỗi ấn tượng đều kéo theo một ý niệm xác định,
chiếm lấy vị trí của nó trong trí tưởng tượng như một điều gì đó vững chắc và
có thực, chắc chắn và không đổi.
Suy nghĩ luôn được
khiến phải chuyển từ ấn tượng sang ý niệm, và từ ấn tượng đặc thù ấy sang đúng
ý niệm đặc thù ấy, mà không có bất kỳ sự lựa chọn hay do dự nào.
T 1.3.9.8, SBN 110
Nhưng không chỉ muốn
loại bỏ lời phản đối này, tôi còn muốn rút ra từ chính nó một bằng chứng cho học
thuyết hiện tại.
Sự kề cận và sự tương
tự có tác động kém xa so với quan hệ nhân quả; nhưng chúng vẫn có một tác động
nào đó: chúng làm tăng mức độ tin tưởng đối với một ý kiến, đồng thời làm tăng
tính sống động của một ý niệm.
Nếu điều này có thể
được chứng minh thêm qua một số trường hợp mới, bên cạnh những trường hợp chúng
ta đã quan sát, thì đó sẽ là một lập luận không thể xem là nhỏ bé, nhằm chứng
minh rằng sự tin tưởng không là gì khác ngoài một ý niệm sống động có quan hệ với
một ấn tượng đang hiện diện. [13]
T 1.3.9.9, SBN 110–1
Bắt đầu với sự kề cận:
người Islam cũng như những người đạo Kitô đã nhận xét rằng những người hành
hương từng nhìn thấy Mecca hoặc Thánh Địa thì về sau luôn là những tín đồ trung
thành và nhiệt thành hơn so với những người không có được lợi thế ấy.
Một người mà trí nhớ
đem đến cho họ một hình ảnh sống động về Biển Đỏ, sa mạc, Jerusalem và Galilee
thì không bao giờ có thể nghi ngờ về những sự kiện kỳ diệu được kể lại bởi
Moses hoặc những người viết Phúc Âm.
Ý niệm sống động về
những địa điểm ấy chuyển một cách dễ dàng sang những sự kiện được cho là đã gắn
liền với chúng qua sự kề cận, và làm tăng sự tin tưởng bằng cách làm tăng tính
sống động của sự hình dung.
Sự hồi tưởng về những
cánh đồng và dòng sông ấy có cùng ảnh hưởng đối với những người bình thường như
một lập luận mới; và điều đó xuất phát từ cùng những nguyên nhân.
T 1.3.9.10, SBN 111–2
Chúng ta cũng có thể
đưa ra một nhận xét tương tự về sự tương tự.
Chúng ta đã nhận thấy
rằng kết luận mà chúng ta rút ra từ một đối tượng đang hiện diện đến nguyên
nhân hoặc kết quả không hiện diện của nó, không bao giờ được đặt nền tảng trên
bất kỳ phẩm chất nào mà chúng ta quan sát thấy trong chính đối tượng ấy, khi
xét tự thân nó; hay nói cách khác, chúng ta không thể xác định điều gì sẽ phát
sinh từ bất kỳ hiện tượng nào, hoặc điều gì đã xảy ra trước nó, nếu không dựa
vào kinh nghiệm.
Nhưng mặc dù điều này
tự nó rõ ràng đến mức dường như không cần bất kỳ sự chứng minh nào, một số triết
gia vẫn tưởng tượng rằng có một nguyên nhân hiển nhiên giải thích cho sự truyền
chuyển động, và rằng một người có lý trí có thể ngay lập tức suy ra chuyển động
của một vật thể này từ sự va chạm của một vật thể khác, mà không cần viện đến bất
kỳ quan sát nào trong quá khứ.
Rằng quan điểm này là
sai, chúng ta có thể dễ dàng chứng minh.
Bởi vì, nếu một suy
luận như thế có thể được rút ra chỉ từ những ý niệm về vật thể, chuyển động và
sự va chạm, thì nó phải đạt đến mức của một sự chứng minh, và phải bao hàm tính
không thể tuyệt đối của bất kỳ giả định đối lập nào.
Khi đó, mọi kết quả
khác ngoài sự truyền chuyển động đều phải hàm chứa một mâu thuẫn hình thức; và
không những nó không thể hiện hữu, mà ngay cả việc hình dung nó cũng là điều
không thể.
Tuy nhiên, chúng ta
có thể nhanh chóng nhận thấy điều ngược lại bằng cách hình thành một ý niệm rõ
ràng và nhất quán về việc một vật thể chuyển động khi tác động lên một vật thể
khác, rồi đứng yên ngay sau khi tiếp xúc; hoặc quay trở lại theo chính đường thẳng
mà nó đã đi tới; hoặc bị tiêu diệt; hoặc chuyển động theo đường tròn hay đường
elip; và nói chung, vô số những biến đổi khác mà chúng ta có thể giả định nó trải
qua.
Tất cả những giả định
ấy đều nhất quán và tự nhiên. Lý do khiến chúng ta tưởng tượng rằng sự truyền
chuyển động nhất quán và tự nhiên hơn không chỉ so với những giả định ấy, mà
còn hơn bất kỳ kết quả tự nhiên nào khác, nằm ở quan hệ tương tự giữa nguyên
nhân và kết quả, vốn ở đây kết hợp với kinh nghiệm, và gắn kết những đối tượng
với nhau theo cách gần gũi và mật thiết nhất, đến mức khiến chúng ta tưởng tượng
rằng chúng hoàn toàn không thể tách rời.
Vì vậy, sự tương tự
có cùng một ảnh hưởng hoặc một ảnh hưởng song song với kinh nghiệm; và vì tác động
trực tiếp duy nhất của kinh nghiệm là liên kết những ý niệm của chúng ta với
nhau, nên theo giả thuyết của tôi, tất cả sự tin tưởng đều phát sinh từ sự liên
kết của những ý niệm.[14]
T 1.3.9.11, SBN 112
Những người viết về
quang học đều thừa nhận một cách phổ biến rằng con mắt vào mọi thời điểm đều
nhìn thấy một số lượng điểm vật lý như nhau; và một người đứng trên đỉnh núi
không nhận được trước giác quan của mình một hình ảnh lớn hơn so với khi người ấy
bị giam trong một sân nhỏ hẹp nhất hay trong một căn phòng chật chội.
Chỉ nhờ kinh nghiệm
mà người ấy suy ra kích thước lớn lao của đối tượng từ một số phẩm chất đặc biệt
của hình ảnh; và sự suy luận này của phán đoán, như thường xảy ra trong những
trường hợp khác, bị người ấy lẫn lộn với cảm giác.
Rõ ràng rằng trong
trường hợp này, sự suy luận của phán đoán sống động hơn nhiều so với những gì
thường có trong những suy luận thông thường của chúng ta. Một người có một hình
dung sống động hơn về sự rộng lớn bao la của đại dương từ hình ảnh mà mắt tiếp
nhận khi đứng trên đỉnh một mũi đất cao, so với chỉ khi nghe tiếng gầm vang của
những con sóng.
Người ấy cảm nhận một
khoái cảm rõ rệt hơn trước sự hùng vĩ của nó; và đó là một bằng chứng cho thấy
ý niệm trở nên sống động hơn. Người ấy lẫn lộn phán đoán của mình với cảm giác;
và đó cũng là một bằng chứng khác cho điều ấy.
Nhưng vì sự suy luận
này trong cả hai trường hợp đều chắc chắn và trực tiếp như nhau, nên tính sống
động vượt trội của sự hình dung trong một trường hợp chỉ có thể phát sinh từ điều
sau đây: khi rút ra suy luận từ thị giác, ngoài sự kết hợp quen thuộc giữa những
sự kiện, còn có thêm sự tương tự giữa hình ảnh và đối tượng mà chúng ta suy ra
từ đó. Chính sự tương tự này làm mạnh thêm quan hệ, và truyền tính sống động của
ấn tượng sang ý niệm có liên hệ với nó bằng một sự chuyển dịch dễ dàng và tự
nhiên hơn.
T 1.3.9.12, SBN 112–3
Không có sự yếu đuối
nào của bản tính con người phổ biến và rõ ràng hơn điều mà chúng ta thường gọi
là sự cả tin (credulity), tức khuynh hướng quá dễ dàng tin vào lời
chứng của những người khác. Và sự yếu đuối này cũng có thể được giải thích một
cách rất tự nhiên từ ảnh hưởng của sự tương tự.[15]
Khi chúng ta tiếp nhận
một sự kiện như một sự thật dựa trên lời chứng của con người, sự tin tưởng của
chúng ta phát sinh từ chính nguồn gốc giống như những suy luận của chúng ta từ
nguyên nhân đến kết quả, và từ kết quả đến nguyên nhân. Không có gì khác ngoài
kinh nghiệm của chúng ta về những nguyên tắc chi phối bản tính con người có thể
đem lại cho chúng ta bất kỳ sự bảo đảm nào về tính trung thực của con người.
Nhưng mặc dù kinh
nghiệm là tiêu chuẩn đích thực cho vấn đề này, cũng như cho tất cả những phán
đoán khác, chúng ta hiếm khi hoàn toàn điều chỉnh bản thân theo kinh nghiệm.
Trái lại, chúng ta có một khuynh hướng rất mạnh là tin vào bất cứ điều gì được
thuật lại, ngay cả những điều liên quan đến những bóng ma, phép thuật và những
hiện tượng kỳ lạ, dù chúng trái ngược với kinh nghiệm và quan sát hằng ngày đến
mức nào.
Lời nói hoặc những
bài diễn thuyết của người khác có một mối liên hệ mật thiết với những ý niệm
trong não thức của họ; và những ý niệm ấy cũng có một mối liên hệ với những sự
kiện hoặc những đối tượng mà chúng biểu thị.
Mối liên hệ sau này
thường bị chúng ta đánh giá quá cao, và khiến chúng ta chấp nhận vượt quá mức
mà kinh nghiệm cho phép. Điều này không thể xuất phát từ điều gì khác ngoài sự
tương tự giữa những ý niệm và những sự kiện.
Những kết quả khác chỉ
chỉ ra nguyên nhân của chúng theo một cách gián tiếp; nhưng lời chứng của con
người lại chỉ ra điều ấy một cách trực tiếp, đồng thời cần được xem xét vừa như
một hình ảnh vừa như một kết quả.
Vì vậy, không có gì
đáng ngạc nhiên khi chúng ta quá vội vàng rút ra những suy luận từ lời chứng ấy,
và trong những phán đoán liên quan đến nó, chúng ta ít bị kinh nghiệm hướng dẫn
hơn so với bất kỳ đối tượng nào khác.[16]
T 1.3.9.13, SBN
113–114
Cũng như sự tương tự,
khi kết hợp với quan hệ nhân quả, củng cố những suy luận của chúng ta, thì sự
thiếu vắng sự tương tự ở một mức độ rất lớn cũng có khả năng gần như phá hủy
hoàn toàn những suy luận ấy.
Một ví dụ đáng chú ý
về điều này là sự thờ ơ và ngu muội phổ biến của con người đối với một trạng
thái tồn tại tương lai, nơi họ thể hiện một sự không tin ngoan cố cũng mạnh mẽ
chẳng kém sự cả tin mù quáng mà họ thường biểu lộ trong những trường hợp khác.
Thật vậy, đối với người
nghiên cứu, khó có điều gì đáng kinh ngạc hơn; còn đối với người mộ đạo, khó có
điều gì đáng tiếc hơn việc quan sát thấy sự thờ ơ của phần lớn nhân loại đối với
tình trạng đang chờ đợi họ trong tương lai. Và có lý do để nhiều nhà gót học lỗi
lạc không ngần ngại khẳng định rằng, mặc dù người bình dân không có những
nguyên tắc phủ nhận đức tin một cách rõ ràng, nhưng trong lòng họ thực sự là những
người không tin, và họ không có bất cứ điều gì giống với thứ mà chúng ta có thể
gọi là sự tin tưởng vào sự tồn tại vĩnh viễn của hồn người.[17]
Bởi hãy xem xét một mặt
những điều mà các nhà gót học đã trình bày với tài hùng biện lớn lao về tầm
quan trọng của cõi vĩnh hằng; đồng thời hãy nhớ rằng, mặc dù trong những vấn đề
thuộc nghệ thuật hùng biện, chúng ta phải tính đến một mức độ cường điệu nào
đó, nhưng trong trường hợp này, chúng ta phải thừa nhận rằng ngay cả những hình
ảnh mạnh mẽ nhất cũng vẫn kém xa vô cùng so với chính đối tượng mà chúng muốn
diễn tả.
Sau đó, hãy nhìn sang
mặt khác là sự an tâm đáng kinh ngạc của con người trước vấn đề này. Tôi hỏi:
liệu những người ấy có thực sự tin điều mà họ được dạy dỗ và điều mà chính họ
tuyên bố là mình khẳng định hay không? Câu trả lời rõ ràng là không.[18]
Vì sự tin tưởng là một
hoạt động của não thức phát sinh từ thói quen, nên cũng không có gì lạ khi việc
thiếu sự tương tự lại có thể phá bỏ điều mà thói quen đã tạo nên, và làm giảm sức
mạnh của ý niệm, cũng giống như chính thói quen đã từng làm tăng sức mạnh ấy.
Đời sống sau khi chết
quá xa khỏi khả năng hình dung của chúng ta. Chúng ta cũng chỉ có một ý niệm rất
mờ nhạt về cách mình sẽ hiện hữu sau khi thân xác tan rã. Vì thế, mọi lý lẽ mà
chúng ta có thể nghĩ ra, dù tự chúng có mạnh đến đâu, và dù được giáo dục hỗ trợ
nhiều đến đâu, cũng không bao giờ đủ sức giúp một trí tưởng tượng chậm chạp vượt
qua khó khăn ấy hoặc đem lại cho ý niệm ấy đủ sức mạnh và đủ uy lực.
Về phần mình, tôi muốn
quy sự không tin này trước hết cho việc chúng ta chỉ hình thành được một ý niệm
rất mờ nhạt về tình trạng tương lai của mình, bởi vì nó quá ít tương tự với đời
sống hiện tại, hơn là quy nó cho sự xa xôi của tình trạng ấy.
Bởi tôi nhận thấy rằng
ở khắp mọi nơi, con người đều quan tâm đến những gì sẽ xảy ra sau khi mình chết,
miễn là những điều ấy vẫn còn liên quan đến thế giới này; và rất hiếm có người
hoàn toàn dửng dưng, dù ở bất kỳ thời điểm nào, đối với danh tiếng của mình,
gia đình mình, bạn bè mình hay đất nước mình.[19]
T 1.3.9.14, SBN
114–115
Quả thật, trong trường
hợp này, sự thiếu vắng tính tương tự đã phá hủy sự tin tưởng một cách hoàn toàn
đến mức, ngoại trừ một số ít người — những người, sau khi bình tĩnh suy ngẫm về
tầm quan trọng của vấn đề, đã cẩn thận dùng sự suy ngẫm lặp đi lặp lại để ghi
sâu vào não thức của mình những lập luận về một đời sống tương lai — thì hầu
như không có ai tin vào sự bất tử của hồn người bằng một phán đoán thật sự vững
chắc và được củng cố, tức là một kiểu phán đoán giống như kiểu phán đoán được
hình thành từ lời chứng của những người du hành và những nhà sử học.
Điều này biểu hiện hết
sức rõ ràng ở bất cứ nơi nào con người có dịp so sánh những khoái cảm và đau đớn,
những phần thưởng và hình phạt của đời sống này với những điều tương ứng trong
một đời sống tương lai; ngay cả khi vấn đề ấy không liên quan đến chính bản
thân họ, và cũng không có một đam mê mãnh liệt nào làm rối loạn phán đoán của họ.
Những người Công giáo
La Mã chắc chắn là một trong những giáo phái nhiệt thành nhất trong toàn thể thế
giới đạo Kitô; tuy nhiên, người ta sẽ thấy rằng rất ít người trong số những người
sáng suốt hơn thuộc cộng đồng ấy lại không lên án Âm mưu Thuốc súng và vụ thảm
sát Ngày lễ Thánh Bartholomew là những hành động tàn bạo và man rợ, mặc dù những
hành động ấy được dự tính hoặc thực hiện nhằm chống lại chính những người mà họ,
không chút do dự, lại kết án phải chịu những hình phạt vĩnh viễn và vô hạn. [20]
Điều duy nhất chúng
ta có thể nói để giải thích sự mâu thuẫn này là: thực sự họ không tin điều mà họ
khẳng định về một đời sống tương lai; và không có bằng chứng nào tốt hơn cho điều
đó ngoài chính sự mâu thuẫn ấy.
T 1.3.9.15, SBN 115
Chúng ta có thể thêm
vào đây một nhận xét: trong những vấn đề tôn giáo, con người lại thích được
gieo nỗi kinh hãi; và không có nhà giảng đạo nào được yêu thích hơn những người
khơi dậy những cảm xúc u ám và kinh hoàng nhất. [21]
Trong những công việc
thông thường của đời sống, khi chúng ta cảm nhận rõ thực tại và thực sự bị tác
động bởi tầm quan trọng của sự việc, thì không có gì đáng ghét hơn nỗi sợ hãi
và sự kinh hoàng. Chỉ trong những vở kịch và những bài giảng tôn giáo, những cảm
xúc ấy mới có thể đem lại khoái cảm.[22]
Trong những trường hợp
này, trí tưởng tượng an nhiên lưu lại trên ý niệm ấy; còn cảm xúc, do được làm
dịu bởi sự thiếu vắng niềm tin vào đối tượng của nó, nên không tạo ra hiệu quả
nào khác ngoài việc làm cho não thức thêm sinh động và cố định sự chú ý.
T 1.3.9.16, SBN
115–116
Giả thuyết hiện tại của
tôi sẽ nhận được thêm sự xác nhận nếu chúng ta khảo sát tác động của những loại
thói quen khác, cũng như của những quan hệ khác.
Để hiểu điều này,
chúng ta cần lưu ý rằng thói quen — thứ mà tôi quy cho nguồn gốc của mọi sự tin
tưởng và mọi suy luận — có thể tác động lên não thức bằng hai cách khác nhau,
khiến một ý niệm trở nên mạnh mẽ hơn.
Trước hết, hãy giả sử
rằng trong toàn bộ kinh nghiệm quá khứ, chúng ta nhận thấy hai đối tượng luôn
luôn được kết hợp với nhau. Khi đó, rõ ràng là, ngay khi một trong hai đối tượng
ấy xuất hiện dưới dạng một ấn tượng, chúng ta sẽ nhờ thói quen mà dễ dàng chuyển
sang ý niệm về đối tượng kia — đối tượng thường đi kèm với nó.
Nhờ sự kết hợp giữa ấn
tượng đang hiện diện và sự chuyển dịch dễ dàng ấy, chúng ta hình dung ý niệm
kia theo một cách mạnh mẽ và sống động hơn nhiều so với bất kỳ hình ảnh riêng lẻ
nào đang trôi nổi trong trí tưởng tượng.
Nhưng hãy giả sử tiếp
rằng chỉ riêng một ý niệm, không cần bất kỳ sự chuẩn bị tinh tế và gần như nhân
tạo nào như vậy, vẫn thường xuyên xuất hiện trong não thức. Khi đó, dần dần,
chính ý niệm ấy cũng sẽ đạt được một mức độ dễ dàng và sức mạnh nhất định; và
nhờ sự bám rễ vững chắc cùng khả năng xuất hiện dễ dàng, nó sẽ tự phân biệt
mình với bất kỳ ý niệm mới mẻ và bất thường nào.
Đây là điểm duy nhất
mà hai loại thói quen này giống nhau. Và nếu chúng ta thấy rằng ảnh hưởng của
chúng đối với phán đoán là giống nhau và tương xứng với nhau, thì chúng ta hoàn
toàn có thể kết luận rằng cách giải thích trước đây của tôi về năng lực ấy là
đúng đắn.
Nhưng liệu chúng ta
có thể nghi ngờ sự tương đồng này trong ảnh hưởng của chúng đối với phán đoán
hay không, khi chúng ta xem xét bản chất và tác động của sự giáo dục? [23]
T 1.3.9.17, SBN 116
Tất cả những quan điểm
và ý niệm về sự vật mà chúng ta đã quen thuộc từ thời thơ ấu đều bén rễ sâu đến
mức, dù vận dụng toàn bộ sức mạnh của lý trí và kinh nghiệm, chúng ta cũng
không thể hoàn toàn loại bỏ chúng khỏi não thức.
Và thói quen này
không chỉ có một ảnh hưởng gần như ngang bằng với thói quen phát sinh từ sự kết
hợp thường xuyên và không thể tách rời giữa nguyên nhân và kết quả; mà trong
nhiều trường hợp, nó thậm chí còn vượt xa ảnh hưởng ấy.
Trong trường hợp này,
chúng ta không nên chỉ dừng lại ở việc nói rằng tính sống động của ý niệm tạo
ra sự tin tưởng. Đúng hơn, chúng ta phải khẳng định rằng trong trường hợp này,
hai điều ấy thực chất là cùng một trạng thái của não thức. [24]
Sự lặp lại thường
xuyên của bất kỳ một ý niệm nào cũng khiến ý niệm ấy trở nên quen thuộc hơn và
bám rễ sâu hơn trong trí tưởng tượng. Tuy nhiên, bản thân sự lặp lại ấy tự nó
không bao giờ có thể tạo ra sự tin tưởng, nếu như — theo cấu tạo nguyên thủy của
bản tính con người — hoạt động của não thức mà chúng ta gọi là sự tin tưởng
chỉ được gắn với việc suy luận và so sánh những ý niệm.
Thói quen có thể khiến
chúng ta tiến hành những sự so sánh giữa các ý niệm theo một cách nào đó; và đó
là ảnh hưởng lớn nhất mà chúng ta có thể quy cho nó. Nhưng chắc chắn rằng thói
quen không bao giờ có thể thay thế chính hoạt động so sánh ấy, cũng không thể tạo
ra một hoạt động nào của não thức mà về bản chất vốn thuộc về nguyên tắc đó.[25]
T 1.3.9.18, SBN 117
Một người đã bị cắt bỏ
một chân hoặc một cánh tay sẽ trong một thời gian dài sau đó vẫn cố gắng sử dụng
chúng để hỗ trợ mình trong những hoạt động thường ngày.
Sau khi một người qua
đời, một nhận xét phổ biến trong cả gia đình, đặc biệt là từ những người hầu,
là họ hầu như không thể tin rằng người ấy đã chết; họ vẫn tưởng tượng rằng người
ấy đang ở trong phòng riêng hoặc ở một nơi nào khác, nơi họ vốn quen gặp người ấy.
Tôi cũng thường nghe
trong những cuộc trò chuyện rằng, sau khi nhắc đến một người nào đó nổi tiếng,
một người chưa từng quen biết người ấy sẽ nói: “Tôi chưa bao giờ gặp người này,
nhưng tôi gần như tưởng rằng mình đã từng gặp rồi”, bởi vì tôi đã nghe nói về
người ấy quá nhiều lần.
Tất cả những trường hợp
này đều là những ví dụ tương đồng.
T 1.3.9.19, SBN 117
Nếu chúng ta xem xét
lập luận về sự giáo dục dưới ánh sáng thích hợp, nó sẽ cho thấy một sức thuyết
phục rất lớn; và điều này càng đúng hơn vì nó dựa trên một trong những hiện tượng
phổ biến nhất mà chúng ta có thể bắt gặp ở bất cứ nơi đâu.
Tôi tin rằng, nếu khảo
sát kỹ lưỡng, chúng ta sẽ thấy rằng hơn một nửa số quan điểm đang chi phối con
người đều bắt nguồn từ sự giáo dục; và những nguyên tắc được tiếp nhận theo
cách ngầm ẩn như thế thường có sức mạnh vượt qua những nguyên tắc xuất phát từ
suy luận trừu tượng hoặc từ kinh nghiệm.
Cũng giống như những
kẻ nói dối, do thường xuyên lặp lại những lời nói dối của mình, cuối cùng đi đến
chỗ ghi nhớ chúng như thể đó là những sự thật; tương tự như vậy, phán đoán —
hay nói đúng hơn là trí tưởng tượng — nhờ cùng một cơ chế lặp lại, có thể khiến
những ý niệm được in dấu sâu sắc trong não thức và được hình dung với một mức độ
sáng rõ đến nỗi chúng tác động lên não thức theo cùng cách như những gì được
đem lại bởi giác quan, trí nhớ hoặc lý trí.
Tuy nhiên, bởi vì
giáo dục là một nguyên nhân nhân tạo chứ không phải một nguyên nhân tự nhiên;
và bởi vì những nguyên tắc mà nó truyền đạt thường trái với lý trí, thậm chí
còn mâu thuẫn với chính chúng khi xét ở những thời đại và nơi chốn khác nhau,
nên các nhà triết học thường không thừa nhận nó như một nền tảng của sự tin tưởng.
Mặc dù vậy, trên thực
tế, giáo dục gần như được xây dựng trên cùng một nền tảng với những suy luận của
chúng ta từ nguyên nhân và kết quả: đó là thói quen và sự lặp lại. [26]
T 1.3.9.19n22, SBN
117–8
[22] Nói chung, chúng
ta có thể nhận thấy rằng, vì sự chấp thuận của chúng ta đối với mọi suy luận có
tính xác suất đều dựa trên tính sống động của những ý niệm, nên nó có điểm
tương đồng với nhiều sự tưởng tượng kỳ quặc và những định kiến mà người ta thường
bác bỏ dưới cái tên miệt thị là những sản phẩm của trí tưởng tượng.
Qua cách diễn đạt
này, có thể thấy rằng từ “trí tưởng tượng” (imagination) thường được sử dụng
theo hai nghĩa khác nhau. Mặc dù trong triết học chân chính không có gì trái
ngược hơn sự thiếu chính xác như vậy trong việc sử dụng thuật ngữ, nhưng trong
những lập luận sau đây, tôi nhiều lần buộc phải sử dụng từ này theo cả hai
nghĩa đó.
Khi tôi đặt trí tưởng
tượng đối lập với trí nhớ, tôi muốn nói đến năng lực nhờ đó chúng ta hình thành
những ý niệm yếu hơn, ít sống động hơn.
Khi tôi đặt trí tưởng
tượng đối lập với lý trí, tôi muốn nói đến chính năng lực ấy, nhưng loại trừ những
suy luận có tính chứng minh và những suy luận có tính xác suất của chúng ta.
Khi tôi không đặt trí
tưởng tượng đối lập với cả hai năng lực trên, thì không quan trọng lắm việc hiểu
thuật ngữ này theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp; ít nhất, chính ngữ cảnh sẽ đủ để
làm rõ ý nghĩa mà tôi muốn truyền đạt.[27]
Lê Dọn Bàn tạm dịch
– bản nháp thứ hai
(Jun/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Đoạn này là bước nối rất quan trọng trong lập luận của
Hume. Sau khi xác định rằng sự tin tưởng không thêm nội dung mới vào ý niệm, mà
chỉ làm tăng mức độ sống động của ý niệm, Hume bắt đầu giải thích nguồn gốc của
chính “độ sống động” đó. Ông đưa ra nguyên tắc: khi một ấn tượng hiện diện, nó
không chỉ làm cho não thức nghĩ đến những ý niệm có liên hệ, mà còn truyền sang
cho những ý niệm ấy một phần sức mạnh và độ sống động của nó. Điều này không phải
là một bước suy luận có ý thức, mà là một quá trình diễn ra trong vận hành tự
nhiên của não thức.Điểm then chốt nằm ở chỗ: sự chuyển từ ấn tượng sang ý niệm
liên hệ không diễn ra bằng lý trí hay chứng minh. Nó diễn ra do trạng thái quen
thuộc của não thức, tức là khi não thức đã nhiều lần đi theo cùng một hướng, nó
hình thành một “đường đi quen” trong cách vận hành của mình. Chính vì vậy, mỗi
khi một ấn tượng xuất hiện, não thức không đứng yên để phân tích, mà tự động
chuyển sang những ý niệm thường đi kèm với nó. Sự chuyển dịch này mang tính gần
như tự nhiên và không được nhận ra rõ ràng, nhưng nó có tác dụng quan trọng: nó
giữ lại và truyền tiếp “độ sống động” ban đầu sang ý niệm mới.
Đây chính là bước chuẩn
bị trực tiếp cho học thuyết tiếp theo của Hume về thói quen (custom or habit):
cái làm nền cho nhân quả không phải là một quan hệ tất yếu được lý trí chứng
minh, mà là sự lặp lại kinh nghiệm khiến não thức hình thành những đường chuyển
dịch ổn định giữa những ý niệm.
[2] Khi
Hume nói đến "những nghi lễ của Hội nhà thờ Catô Rôma", ông muốn nói
đến những thực hành phụng vụ và lòng sùng kính trong truyền thống Công giáo thời
ông, đặc biệt là những nghi thức sử dụng những yếu tố có thể cảm nhận bằng giác
quan để làm cho những đối tượng của đức tin trở nên gần gũi và sống động hơn đối
với người tín đồ.
Trong bối cảnh
đoạn văn này, Hume đặc biệt nghĩ đến những thực hành như việc tôn kính hình ảnh
tôn giáo, tượng những vị thánh, thánh tích, cũng như những nghi thức phụng vụ
có sự tham dự của thân thể và giác quan như ánh sáng, hương khói, âm nhạc, lời
cầu nguyện, cử chỉ cúi lạy, quỳ gối và những nghi thức trong nhà thờ. Những yếu
tố này không chỉ tác động đến người tín đồ qua suy nghĩ trừu tượng, mà còn tạo
ra những kinh nghiệm trực tiếp qua mắt nhìn, tai nghe và những hành động thân
thể.
Đối với Hume,
đây là một ví dụ cho cách não thức con người vận hành. Những đối tượng có thể cảm
nhận bằng giác quan tạo ra những ấn tượng đang hiện diện. Khi những ấn tượng ấy
có quan hệ với những đối tượng mà con người tin tưởng — thông qua sự tương tự,
sự kề cận hoặc những sự liên kết khác — chúng có thể truyền sức mạnh và tính sống
động sang những ý niệm tương ứng. Nhờ vậy, những đối tượng vốn xa vời, không thể
trực tiếp quan sát bằng giác quan, trở nên gần gũi và có sức tác động mạnh hơn
đối với trí tưởng tượng và sự tin tưởng.
Cần hiểu đúng
mục đích của Hume trong ví dụ này. Ông không đưa ra một phán xét đơn giản rằng
những nghi lễ Công giáo là đúng hay sai về mặt tôn giáo. Điều ông quan tâm là một
hiện tượng chung của bản tính con người: những gì hiện diện trước giác quan thường
có ảnh hưởng mạnh hơn lên não thức so với những ý niệm thuần túy trừu tượng. Vì
vậy, con người thường sử dụng những hình ảnh, biểu tượng và hành động cụ thể để
củng cố, duy trì và làm sống động những niềm tin hướng đến những đối tượng
không hiện diện trực tiếp.
Theo cách nhìn
của Hume, những nghi lễ tôn giáo này chỉ là một trường hợp đặc biệt của một
nguyên lý rộng hơn: một ấn tượng đang hiện diện có thể làm cho những ý niệm có
quan hệ với nó trở nên mạnh mẽ và sống động hơn.
[3]
immaterial = không thuộc kinh nghiệm cảm giác trực tiếp.
[4] Hai đoạn này - ở trên - đánh dấu một bước rất quan trọng
trong lập luận của Hume về nguyên nhân, sự tin tưởng và kinh nghiệm.
Thứ nhất, Hume cho rằng
kinh nghiệm không phải lúc nào cũng hoạt động một cách có ý thức. Khi gặp một
tình huống quen thuộc, chúng ta thường phản ứng gần như ngay lập tức. Chẳng hạn,
khi nhìn thấy một dòng sông chắn trước mặt, chúng ta biết rằng nếu cứ bước tiếp
thì có thể bị chìm. Nhưng trong khoảnh khắc ấy, chúng ta không hề dừng lại để tự
suy ngẫm, cũng không lần lượt nhớ lại từng lần mình đã thấy người rơi xuống nước
hay từng câu chuyện mình đã nghe. Não thức chuyển ngay từ ý niệm về nước sang ý
niệm về chìm, rồi sang ý niệm về ngạt thở. Chính thói quen do kinh nghiệm tích
lũy đã thực hiện sự chuyển dịch ấy trước cả khi chúng ta kịp ý thức về nó.
Thứ hai, từ đó Hume
bác bỏ quan điểm cho rằng mọi suy luận nhân quả đều phải dựa trên một nguyên lý
tổng quát mà khả năng nhận thức ý thức rõ ràng, chẳng hạn nguyên lý: “những
trường hợp mà chúng ta chưa có kinh nghiệm sẽ giống những trường hợp mà chúng
ta đã có kinh nghiệm.” Theo Hume, trong đời sống hằng ngày, não thức không
cần trước hết phát biểu hay viện dẫn nguyên lý ấy rồi mới suy luận. Trái lại,
kinh nghiệm đã âm thầm tạo nên những sự liên kết giữa những ý niệm, và chính những
sự liên kết đó khiến não thức tự nhiên chuyển từ nguyên nhân sang kết quả. Nói
cách khác, sự tin tưởng xuất hiện trước, còn việc diễn đạt thành một nguyên lý
triết học chỉ là bước đến sau.
Thứ ba, Hume giải
thích vì sao chỉ một thí nghiệm duy nhất đôi khi cũng đủ để tạo ra sự tin tưởng.
Điều này thoạt nhìn dường như mâu thuẫn với chính học thuyết của ông, vì thói
quen vốn phải được hình thành từ nhiều lần lặp lại. Câu trả lời của Hume rất tế
nhị. Một thí nghiệm riêng lẻ tự nó chưa thể tạo ra thói quen mới. Tuy nhiên,
chúng ta không bao giờ tiếp cận thí nghiệm ấy bằng một não thức hoàn toàn trống
rỗng. Trước đó, chúng ta đã tích lũy vô số kinh nghiệm về việc những đối tượng
giống nhau, trong những hoàn cảnh giống nhau, thường tạo ra những kết quả giống
nhau. Chính thói quen tổng quát đã được hình thành từ vô số kinh nghiệm ấy nâng
đỡ và làm cho sự tin tưởng nảy sinh ngay cả khi chúng ta chỉ mới quan sát một
trường hợp cụ thể. Vì vậy, ngay cả trong trường hợp tưởng như ngoại lệ, nền tảng
cuối cùng của sự tin tưởng vẫn không phải là suy luận thuần túy, mà là kinh
nghiệm đã trở thành thói quen hoạt động trong não thức.
[5] Câu kết luận của Hume: "Trong mọi trường hợp, chúng
ta đều chuyển kinh nghiệm của mình sang những trường hợp mà chúng ta chưa có
kinh nghiệm, dù là một cách rõ ràng hay ngầm ẩn, dù là trực tiếp hay gián tiếp"
là một trong những câu cô đọng nhất trong lập luận của ông về quy nạp và sự
hình thành sự tin tưởng nhân quả.
Điểm Hume muốn nhấn mạnh
là: mọi suy luận nhân quả của chúng ta đều vượt ra ngoài những gì mà kinh nghiệm
thực sự đã cung cấp. Kinh nghiệm chỉ cho chúng ta biết những gì đã xảy ra trong
những trường hợp cụ thể mà chúng ta từng quan sát. Chẳng hạn, chúng ta đã nhiều
lần thấy mặt trời mọc vào buổi sáng, thấy lửa tạo ra nhiệt, thấy những vật nặng
rơi xuống đất. Nhưng khi chúng ta tin rằng ngày mai mặt trời sẽ tiếp tục mọc,
ngọn lửa này sẽ tiếp tục làm nóng những vật khác, hay vật đang được thả ra sẽ
rơi xuống, chúng ta đã đi xa hơn những gì mình từng trực tiếp trải nghiệm.
Nói cách khác, chúng
ta đã đem những gì biết từ những trường hợp đã được kinh nghiệm áp dụng vào những
trường hợp chưa được kinh nghiệm. Chính sự chuyển dịch này là nền tảng của mọi
dự đoán về tương lai và mọi suy luận nhân quả.
Tuy nhiên, Hume lưu ý
rằng sự chuyển dịch ấy không phải lúc nào cũng diễn ra dưới hình thức một suy
luận có ý thức. Đôi khi chúng ta thực hiện nó một cách rõ ràng (expressly),
nghĩa là chúng ta chủ ý suy nghĩ và phát biểu thành nguyên tắc:
"Những trường hợp
trước đây đều xảy ra như vậy, vì thế trường hợp này có lẽ cũng sẽ xảy ra như vậy."
Đây là cách suy nghĩ
thường thấy trong những nghiên cứu có tính phương pháp, khi con người cố gắng
rút ra kết luận từ những kinh nghiệm đã có.
Nhưng trong phần lớn
đời sống hằng ngày, sự chuyển dịch này diễn ra một cách ngầm ẩn (tacitly).
Chúng ta không cần tự nói với mình rằng "những trường hợp tương tự trong
quá khứ sẽ có cùng kết quả trong tương lai"; não thức tự nhiên vận hành
theo thói quen đã được hình thành từ kinh nghiệm. Khi thấy mây đen, chúng ta chờ
đợi trời mưa; khi thấy lửa, chúng ta tránh chạm vào vì đã từng biết lửa gây bỏng.
Không cần một lập luận thành lời, kinh nghiệm quá khứ đã dẫn dắt sự tin tưởng
hiện tại.
Tương tự, sự chuyển dịch
từ kinh nghiệm sang kết luận mới có thể xảy ra theo những mức độ khác nhau. Có
khi nó diễn ra trực tiếp (directly): một kinh nghiệm cụ thể dẫn đến một
dự đoán cụ thể. Ví dụ, sau nhiều lần bị bỏng khi chạm vào lửa, chúng ta tin rằng
ngọn lửa trước mặt cũng sẽ gây đau đớn. Có khi nó diễn ra gián tiếp (indirectly):
một trường hợp mới được hiểu thông qua một quy tắc tổng quát đã được hình thành
từ vô số kinh nghiệm trước đó, chẳng hạn nguyên tắc rằng những đối tượng giống
nhau, trong những hoàn cảnh giống nhau, sẽ tạo ra những kết quả giống nhau.
Vì vậy, câu này của
Hume có thể được xem là sự tóm tắt toàn bộ phân tích của ông: mọi suy luận vượt
quá kinh nghiệm hiện tại đều là một sự chuyển giao từ cái đã được kinh nghiệm
sang cái chưa được kinh nghiệm. Sự chuyển giao ấy không bắt nguồn từ một nguyên
lý logic tất yếu của lý trí, mà từ thói quen mà kinh nghiệm tạo ra trong não thức.
Đây cũng là nền tảng
cho phê phán nổi tiếng của Hume đối với quy nạp (induction). Con người
luôn dự đoán tương lai dựa trên quá khứ, nhưng việc chuyển từ mệnh đề "điều
này đã thường xuyên xảy ra" sang mệnh đề "điều này sẽ tiếp tục xảy
ra" không thể được chứng minh bằng một suy luận logic thuần túy. Nó dựa
trên cách mà kinh nghiệm đã định hình trí tưởng tượng, sự liên kết của những ý
niệm và sự tin tưởng của chúng ta.
[6] Trong những đoạn 15–17 ở trên, Hume chủ động xem xét một
phản đối có thể được nêu ra đối với chính định nghĩa của ông về sự tin tưởng.
Trước đó, ông đã định nghĩa sự tin tưởng là một ý niệm mạnh mẽ và sống động,
phát sinh từ một ấn tượng đang hiện diện có quan hệ với nó. Nhưng nếu điều đó
đúng, thì dường như chỉ có ấn tượng mới có thể làm phát sinh sự tin tưởng.
Trong khi trên thực tế, có những trường hợp chúng ta chỉ có một ý niệm mà vẫn
suy luận và vẫn tin tưởng. Chẳng hạn, chúng ta nhớ đến một điều gì đó nhưng đã
quên mất ấn tượng ban đầu; từ ý niệm đang có trong não thức, chúng ta vẫn kết
luận rằng trước đây hẳn đã từng có một ấn tượng tương ứng. Vậy sự tin tưởng
trong trường hợp này lấy sức mạnh và tính sống động từ đâu?
Câu trả lời của Hume
rất tế nhị. Ông không phủ nhận định nghĩa trước đó, cũng không nói rằng ý niệm
và ấn tượng là một. Điều ông muốn nói là: trong trường hợp đặc biệt này, ý niệm
không còn được xem như hình ảnh của một đối tượng đang vắng mặt, mà chính nó là
một tri giác đang hiện diện trong não thức. Chúng ta đang trực tiếp ý thức về ý
niệm ấy ngay trong hiện tại. Vì thế, đối với mục đích của lập luận này, ý niệm
có thể đảm nhiệm đúng chức năng mà bình thường ấn tượng đang hiện diện đảm nhiệm:
nó truyền sức mạnh và tính sống động sang những ý niệm có quan hệ với nó, từ đó
làm phát sinh sự tin tưởng.
Điều cần lưu ý là
Hume không hề khẳng định rằng ý niệm đã biến thành ấn tượng, hay hai loại tri
giác này không còn khác nhau. Sự phân biệt cơ bản giữa ấn tượng và ý niệm vẫn
được giữ nguyên. Điều ông khẳng định chỉ là: khi một ý niệm đang hiện diện
trong não thức với tư cách là một tri giác hiện tại, thì xét về vai trò trong
quá trình hình thành sự tin tưởng, nó có thể thay thế vị trí mà ấn tượng đang
hiện diện thường giữ. Nói cách khác, ở đây Hume nói đến sự tương đương về chức
năng, chứ không phải sự đồng nhất về bản chất.
Đoạn tiếp theo về “ý
niệm của một ý niệm” (the idea of an idea) tiếp tục mở rộng lập luận ấy.
Khi nhớ lại một tư tưởng trong quá khứ, chúng ta không chỉ nhớ đối tượng mà
mình từng nghĩ đến, mà còn nhớ cả trạng thái hoạt động của não thức khi đang
suy nghĩ về đối tượng ấy. Vì vậy, ý niệm do trí nhớ đem lại có sức mạnh và tính
sống động lớn hơn nhiều so với một ý niệm do trí tưởng tượng tự tạo ra. Chính sự
khác biệt về mức độ sức mạnh và tính sống động ấy giải thích vì sao chúng ta
phân biệt được giữa nhớ lại và chỉ tưởng tượng, giữa tin rằng một điều đã thật
sự xảy ra và chỉ hình dung rằng nó có thể xảy ra.
Toàn bộ lập luận này cho thấy Hume đang bảo vệ một nguyên tắc xuyên suốt của mình: sự tin tưởng không phải là một ý niệm mới được thêm vào nội dung của tư tưởng, mà chỉ là một cách đặc biệt để não thức hình thành cùng một ý niệm ấy. Khi ý niệm được nâng cao về sức mạnh và tính sống động nhờ một tri giác đang hiện diện — dù tri giác đó là một ấn tượng hay, trong trường hợp đặc biệt, một ý niệm đang hiện diện trong não thức — thì não thức không còn chỉ đơn thuần tưởng tượng nữa, mà chuyển sang tin tưởng.
[7] Đoạn văn này không phải là lời tự thuật của Cicero mà là lời của Marcus
Piso, một nhân vật trong cuộc đối thoại triết học De Finibus Bonorum et
Malorum. Vì vậy, cụm "ông tôi" (nostrum… avum) chỉ người
ông của Piso, chứ không phải của Cicero. Hume trích dẫn đoạn này không nhằm nhấn
mạnh chi tiết nhân vật hay lịch sử, mà để minh họa luận điểm rằng địa điểm có
khả năng làm cho ký ức và những ý niệm liên quan trở nên sống động hơn, qua đó
tăng cường sức mạnh của sự tin tưởng.
[8] disciplina memoriae là nghệ thuật ghi nhớ (art
of memory), tức phương pháp ghi nhớ bằng cách gắn ý niệm với những địa điểm
(method of loci),
[9] Hume
đưa đoạn văn của Cicero vào đây không phải chỉ để kể lại một kinh nghiệm tâm lý
thú vị, mà để minh họa cho một nguyên lý quan trọng trong cách não thức vận
hành: những gì đang hiện diện trước chúng ta có khả năng làm cho những ý niệm
liên quan đến chúng trở nên mạnh mẽ và sống động hơn.
Cicero nhận thấy
rằng khi đứng tại một nơi từng gắn bó với một nhân vật lớn trong quá khứ, chúng
ta thường có một cảm xúc mạnh hơn nhiều so với khi chỉ nghe kể về nhân vật ấy
hoặc đọc những điều họ đã làm. Chẳng hạn, đứng trong khu vườn nơi Plato từng giảng
dạy không chỉ khiến chúng ta nhớ đến Plato như một nhân vật lịch sử; nơi chốn ấy
dường như làm cho Plato trở nên gần gũi hơn, như thể ông đang hiện diện trước mắt
chúng ta. Một địa điểm cụ thể, một căn phòng, một chiếc ghế, một vật dụng từng
thuộc về một con người có thể đánh thức ký ức và làm sống lại hình ảnh của người
ấy trong não thức.
Theo Hume, điều
này xảy ra vì giữa địa điểm hiện tại và con người trong quá khứ có một quan hệ
kề cận (contiguity). Nơi chốn ấy từng ở gần nhân vật kia trong không
gian và thời gian; nó đã từng là một phần của hoàn cảnh mà nhân vật ấy hiện diện
và hành động. Khi chúng ta nhìn thấy nơi chốn đó, chúng ta có một ấn tượng đang
hiện diện. Ấn tượng này không trực tiếp là hình ảnh của con người đã mất, nhưng
nhờ quan hệ kề cận, nó dễ dàng đưa não thức chuyển sang ý niệm về con người ấy.
Điểm quan trọng
trong lập luận của Hume là: bản thân ý niệm về một nhân vật trong quá khứ có thể
rất mờ nhạt khi chỉ được hình thành bằng lời kể hoặc trí tưởng tượng. Nhưng khi
một ấn tượng đang hiện diện liên kết với ý niệm ấy xuất hiện, ý niệm sẽ nhận được
thêm sức mạnh và tính sống động từ ấn tượng. Vì vậy, chúng ta không chỉ “biết”
về nhân vật ấy bằng suy nghĩ trừu tượng, mà còn có cảm giác như đang tiếp xúc gần
hơn với họ.
Ví dụ của
Cicero cũng giúp làm rõ sự khác biệt giữa việc nghĩ về một điều gì đó và việc cảm
nhận sự hiện diện gần gũi của điều ấy trong não thức. Một người chỉ đọc về
Plato có thể có một ý niệm về Plato; nhưng người đứng tại nơi Plato từng sống
và giảng dạy có thêm một ấn tượng hiện tại làm điểm tựa cho ý niệm ấy. Chính sự
kết hợp giữa ấn tượng đang hiện diện, quan hệ kề cận và sự chuyển dịch tự nhiên
của trí tưởng tượng khiến ký ức trở nên mạnh mẽ hơn.
Vì vậy, đoạn Cicero này trở thành một minh họa sinh động cho lý thuyết của Hume về sự liên kết của những ý niệm: não thức không vận hành bằng những ý niệm tách rời, mà luôn chuyển từ ý niệm này sang ý niệm khác theo những mối quan hệ tự nhiên như sự tương tự, sự kề cận và quan hệ nhân quả. Khi một đối tượng hiện diện trước chúng ta, nó có thể truyền sức mạnh của sự hiện diện ấy sang những ý niệm có quan hệ với nó.
[10] Đoạn cuối đánh dấu một bước phát triển
quan trọng trong nhận thức luận của Hume. Lần đầu tiên, ông phân biệt hai hệ thống
thực tại mà não thức hình thành. Hệ thống thứ nhất là hệ thống của trí nhớ và
những giác quan, bao gồm những gì chúng ta trực tiếp tri giác hoặc còn nhớ đã từng
tri giác. Hệ thống thứ hai là hệ thống của phán đoán, bao gồm những sự vật
không hiện diện trực tiếp trước giác quan hay trí nhớ, nhưng được não thức xem
là có thực vì chúng được nối kết với hệ thống thứ nhất bằng quan hệ nhân quả và
thói quen. Theo Hume, phần lớn những gì chúng ta tin là đang hiện hữu – như những
sự vật ở ngoài tầm nhìn, những sự kiện trong quá khứ, hay những kết quả sẽ xảy
ra trong tương lai – đều thuộc hệ thống thứ hai này. Chúng không trở thành
"thực tại" vì được trực tiếp tri giác, mà vì não thức, dưới tác động
của kinh nghiệm lặp lại và thói quen, gần như tất yếu mở rộng hệ thống của những
tri giác trực tiếp sang những đối tượng có liên hệ với chúng. Vì vậy, đối với
Hume, sự tin tưởng không tạo ra một loại tri thức mới, mà là cơ chế giúp não thức
nối kết những gì trực tiếp được kinh nghiệm với toàn bộ thế giới mà chúng ta vẫn
gọi là thực tại. Đây là một trong những luận điểm nền tảng của toàn bộ học thuyết
Hume về sự tin tưởng, suy luận nhân quả và cấu trúc của nhận thức con người.
[11] Elysium (Cánh đồng Elysium) là cõi hạnh phúc trong thần
thoại Hy Lạp, nơi những anh hùng và những người được những vị thần ưu ái sẽ đến
sau khi chết. Đối với người Hy Lạp cổ đại, đây là một thế giới lý tưởng, thanh
bình và tốt đẹp, gần với hình ảnh "thiên đường" trong một số truyền
thống tôn giáo. Hume chọn Elysium không phải để bàn về thần thoại, mà vì đây là
một ví dụ quen thuộc về một đối tượng không hiện diện trước giác quan hay trí
nhớ, mà chỉ được biết đến qua những ý niệm.
Ví dụ này giúp Hume
làm rõ một điểm rất tế nhị trong học thuyết của mình. Một nhà thơ sẽ miêu tả
Elysium sinh động hơn nếu trước mắt ông đang có một đồng cỏ hoặc một khu vườn đẹp.
Ấn tượng trực tiếp từ cảnh vật thật làm cho trí tưởng tượng dễ chuyển sang ý niệm
về Elysium, khiến ý niệm ấy trở nên mạnh mẽ và sống động hơn. Ngược lại, nhà
thơ cũng có thể tự tưởng tượng mình đang đứng giữa cánh đồng Elysium; dù sự gần
gũi ấy hoàn toàn do trí tưởng tượng tạo ra, Hume vẫn gọi đó là "sự kề cận
được tự tưởng tượng ra" (feign'd contiguity), và cho rằng nó cũng
có thể làm tăng sức sống của ý niệm.
Điều Hume muốn nhấn mạnh
không phải là những mối liên hệ ấy tạo ra sự tin tưởng. Chúng chỉ làm cho một ý
niệm trở nên mạnh mẽ, rõ nét và dễ hiện diện hơn trong não thức. Chính ở đây,
Hume bắt đầu phân biệt hai điều thường bị đồng nhất: một ý niệm được hình dung
rất sinh động và một ý niệm được tin là có thật. Sự tương tự và sự kề cận có thể
làm tăng sức sống của ý niệm, nhưng chỉ quan hệ nhân quả, khi được củng cố bởi
kinh nghiệm và thói quen, mới làm cho não thức chuyển từ một ý niệm sinh động
sang sự tin tưởng vào sự hiện hữu của đối tượng. Đây chính là điểm mấu chốt
trong lời giải của Hume đối với phản đối mà ông đã nêu ở đầu Mục 1.3.9.
[12] Hình ảnh "những tia sáng chợt lóe lên rồi vụt tắt"
(those momentary glimpses of light) là một trong những ẩn dụ giàu sức gợi
của Hume. Ông ví những liên tưởng do sự tương tự hoặc sự kề cận được tự tưởng
tượng ra như những tia sáng chỉ lóe lên trong khoảnh khắc: chúng có thể làm cho
một ý niệm trở nên sinh động và thu hút sự chú ý của não thức, nhưng nhanh
chóng mất đi vì không có một cơ sở ổn định để duy trì. Trái lại, sự tin tưởng
không phải là một ánh chớp nhất thời của trí tưởng tượng, mà là một trạng thái
bền vững của não thức, được hình thành qua kinh nghiệm lặp lại, thói quen và
quan hệ nhân quả. Chính sự đối lập giữa một "tia sáng" thoáng qua và
một niềm tin ổn định đã diễn tả cô đọng luận điểm cốt lõi của Hume: không phải
mọi ý niệm sống động đều là sự tin tưởng; chỉ những ý niệm được kinh nghiệm và
thói quen nâng đỡ mới có được sức mạnh đủ để trở thành sự tin tưởng.
[13] Câu cuối của T 1.3.9.8 đánh dấu một bước
chuyển quan trọng trong lập luận của Hume. Ông không chỉ bác bỏ lời phản đối rằng
sự tương tự và sự kề cận cũng có thể tạo ra sự tin tưởng, mà còn sử dụng chính
phản đối ấy để củng cố học thuyết của mình. Hume thừa nhận rằng hai quan hệ này
có thể làm cho ý niệm trở nên mạnh mẽ và sống động hơn, nhưng ông chỉ ra rằng sức
mạnh ấy vẫn thiếu sự ổn định cần thiết để trở thành sự tin tưởng. Qua đó, Hume
làm rõ điểm khác biệt cốt lõi giữa một ý niệm sống động và một sự tin tưởng:
không phải mọi ý niệm có sức mạnh đều là tin tưởng; tin tưởng là một dạng ý niệm
sống động đặc biệt, được gắn với một ấn tượng đang hiện diện thông qua những mối
liên hệ ổn định của kinh nghiệm.
[14] Holy Land →
Thánh Địa: ở đây Hume nói đến vùng đất Palestine/Israel gắn với những sự kiện
trong Kinh Thánh, không phải khái niệm "đất thánh" theo nghĩa
chung. Evangelists → những người
viết Phúc Âm: chỉ bốn tác giả truyền thống của những sách Phúc Âm trong đạo
Kitô (Matthew, Mark, Luke, John). communication
of motion → sự truyền chuyển động: thuật ngữ cơ học thế kỷ XVII–XVIII, chỉ
việc một vật làm cho vật khác chuyển động qua va chạm. impulse → sự va chạm / lực tác động:
trong ngữ cảnh này không phải "xung động" tâm lý. resemblance trong đoạn này rất quan trọng:
Hume không nói sự tương tự tự nó tạo ra nhân quả, mà nói rằng sự giống nhau giữa
nguyên nhân và kết quả (như trong truyền chuyển động) khiến chúng ta cảm thấy mối
liên hệ ấy gần gũi hơn, khi nó đã được kinh nghiệm củng cố. Đoạn T 1.3.9.10 là một bước quan trọng vì
Hume dùng chính ví dụ vật lý về truyền chuyển động để bác bỏ ý tưởng cho rằng
lý trí có thể nhìn thấy quan hệ nhân quả chỉ từ bản thân những ý niệm. Điều này
tiếp tục củng cố luận điểm trung tâm của T 1.3.9: kinh nghiệm và sự liên kết của
những ý niệm, chứ không phải lý trí thuần túy, là nguồn gốc của sự tin tưởng.
[15] Credulity (sự
cả tin) là thuật ngữ Hume dùng để chỉ khuynh hướng của con người dễ dàng chấp
nhận những điều được người khác kể lại, ngay cả khi bản thân chưa có kinh nghiệm
trực tiếp về những điều ấy. Tuy nhiên, Hume không xem đây đơn giản là một khuyết
điểm cá nhân hay một sự thiếu suy xét; ông xem nó như một hiện tượng tự nhiên của
hoạt động nhận thức.
Trong đời sống hằng
ngày, phần lớn những điều chúng ta tin tưởng đều không đến từ kinh nghiệm trực
tiếp của chính mình. Chúng ta tin về những quốc gia chưa từng đặt chân đến, những
sự kiện lịch sử chưa từng chứng kiến, hay những sự việc xảy ra ngoài phạm vi
quan sát của bản thân, chủ yếu thông qua lời nói, sách vở và lời chứng của người
khác. Vì vậy, nếu hoàn toàn không có khả năng tiếp nhận lời chứng, con người sẽ
không thể mở rộng tri thức vượt ra ngoài giới hạn của kinh nghiệm cá nhân.
Điều Hume phê phán
không phải là bản thân việc dựa vào lời chứng, mà là khuynh hướng trao cho lời
chứng một mức độ tin tưởng vượt quá sự bảo đảm mà kinh nghiệm cho phép. Do sự
tương tự giữa lời nói của người kể, ý niệm trong não thức của họ và sự kiện được
thuật lại, chúng ta dễ dàng xem lời chứng như một sự phản chiếu gần như trực tiếp
của thực tại. Chính sự chuyển dịch quá dễ dàng này khiến con người đôi khi tin
vào những câu chuyện về phép lạ, hiện tượng kỳ lạ hay những điều trái với kinh
nghiệm thông thường.
Vì vậy, credulity
trong phân tích của Hume không chỉ là "sự cả tin" theo nghĩa đạo đức,
mà là một biểu hiện của cùng một cơ chế tâm lý tạo nên sự tin tưởng nói chung:
não thức chuyển từ một dấu hiệu hiện diện sang một đối tượng không hiện diện
thông qua sự liên kết của những ý niệm. Vấn đề không nằm ở bản thân cơ chế ấy,
mà ở việc cơ chế ấy có được kinh nghiệm kiểm soát và điều chỉnh hay không.
[16] Trong T 1.3.9.11–12, Hume tiếp tục mở rộng
và làm rõ một điểm quan trọng trong phân tích của ông về sự tin tưởng: sự tương
tự không tự nó tạo ra quan hệ nhân quả, nhưng nó có thể làm cho một ý niệm trở
nên mạnh mẽ và sống động hơn khi nó được gắn với một ấn tượng đang hiện diện.
Trong ví dụ về người
đứng trên một mũi đất cao nhìn ra đại dương, Hume chỉ ra rằng hình ảnh mà con mắt
tiếp nhận thực ra không lớn hơn về mặt vật lý so với khi người ấy ở một nơi chật
hẹp. Cái làm cho chúng ta nhận ra sự rộng lớn của đại dương không phải chỉ là cảm
giác trực tiếp, mà là một sự suy luận của phán đoán dựa trên kinh nghiệm. Tuy
nhiên, trong trường hợp thị giác, sự suy luận ấy trở nên đặc biệt sống động bởi
vì hình ảnh nhìn thấy có một sự tương tự trực tiếp với đối tượng mà chúng ta
suy ra. Chính sự tương tự này củng cố mối liên hệ giữa ấn tượng và ý niệm, khiến
ý niệm về sự bao la của đại dương có sức mạnh lớn hơn.
Trong ví dụ về lời chứng
của con người, Hume phân tích một cơ chế tế nhị hơn. Khi nghe một người kể lại
một sự kiện, chúng ta không trực tiếp tiếp xúc với sự kiện ấy; chúng ta chỉ tiếp
nhận những lời nói hoặc dấu hiệu bên ngoài. Nhưng những lời nói ấy có một mối
liên hệ chặt chẽ với những ý niệm trong não thức của người nói, và những ý niệm
ấy lại hướng đến những sự kiện hoặc đối tượng mà họ muốn biểu thị. Vì có sự
tương tự giữa dấu hiệu, ý niệm và sự kiện, chúng ta thường trao cho lời chứng một
sức mạnh thuyết phục lớn hơn mức mà kinh nghiệm thực tế cho phép.
Qua hai ví dụ này,
Hume cho thấy rằng nhiều yếu tố khác nhau có thể làm tăng tính sống động của một
ý niệm: sự tương tự, sự kề cận, ký ức và những liên kết quen thuộc. Tuy nhiên,
không phải bất kỳ sự sống động nào cũng trở thành sự tin tưởng. Chỉ khi sự liên
kết ấy được kinh nghiệm lặp lại và được thói quen củng cố, nó mới có được tính ổn
định cần thiết để não thức tiếp nhận một ý niệm như một điều thuộc về thực tại.
Đây là bước quan trọng trong lập luận của Hume nhằm chứng minh rằng sự tin tưởng
không phải là một ý niệm mới được tạo ra trong não thức, mà là một cách thức đặc
biệt trong đó một ý niệm vốn có được tiếp nhận với sức mạnh và tính sống động lớn
hơn.
[17] Hume không dùng ví dụ này để tranh luận về sự tồn tại
hay không tồn tại của đời sau, mà để minh họa một nguyên lý về bản chất của sự
tin tưởng. Theo ông, tin tưởng không đơn thuần là kết quả của việc có những lý
do mạnh mẽ hay những lập luận thuyết phục. Một ý niệm chỉ trở thành tin tưởng
khi nó có đủ sức sống trong não thức, và sức sống ấy thường đến từ sự lặp lại của
kinh nghiệm cùng những mối liên hệ quen thuộc.
Con người có thể nghe
những lập luận rất mạnh về cõi tương lai, nhưng vì trạng thái ấy quá xa lạ với
kinh nghiệm hiện tại, thiếu sự tương tự với đời sống mà họ đang biết, nên ý niệm
ấy không có đủ sức mạnh để chi phối não thức như những điều thuộc về kinh nghiệm
thường ngày. Vì vậy, Hume giải thích sự thiếu tin tưởng không phải chủ yếu bằng
khoảng cách thời gian của cái chết, mà bằng sự thiếu tương tự giữa đời sống hiện
tại và trạng thái tồn tại được hình dung sau đó.
Đây là một điểm rất tế
nhị: chính cùng một cơ chế liên kết ý niệm làm cho con người có thể tin vào những
điều vượt khỏi kinh nghiệm trực tiếp, cũng có thể khiến họ khó tin vào những điều
quá khác biệt với mọi kinh nghiệm đã có.
[18] Ở đây Hume đưa ra một phân tích tâm lý rất
tế nhị về sự khác biệt giữa việc chấp nhận một mệnh đề bằng lời nói và thực sự
có sự tin tưởng sống động trong não thức. Ông không đơn giản cho rằng những người
bình dân là những người vô thần hay cố ý phủ nhận giáo lý tôn giáo. Điều ông muốn
nói là: một người có thể lặp lại một niềm tin, đồng ý với một giáo lý, hoặc chấp
nhận nó trên phương diện lý thuyết, nhưng điều đó chưa chắc đã có nghĩa rằng ý
niệm ấy thực sự có sức mạnh và ảnh hưởng đến cách họ cảm nhận, suy nghĩ và hành
động.
Trong bối cảnh Kitô
thế kỷ XVII–XVIII mà Hume đang đề cập, nhiều nhà gót học thường nhấn mạnh rằng
con người phải thật sự tin vào đời sống vĩnh hằng của hồn người, vào sự phán
xét sau khi chết, và vào tầm quan trọng vô hạn của cõi đời sau. Tuy nhiên, Hume
quan sát rằng trong đời sống thực tế, phần lớn con người vẫn sống như thể những
điều ấy không thật sự hiện diện trước mắt họ. Họ vẫn lo lắng, hy vọng, sợ hãi
và lập kế hoạch chủ yếu cho những điều thuộc về đời sống hiện tại: danh tiếng,
gia đình, tài sản, địa vị, những niềm vui và đau khổ trước mắt.
Điểm Hume muốn nhấn mạnh
không phải là sự thiếu thành thật về mặt đạo đức, mà là một cơ chế của não thức
con người. Theo ông, một ý niệm chỉ trở thành một tin tưởng mạnh mẽ khi nó có
được một mức độ sức mạnh và tính sống động tương tự như những gì chúng ta trực
tiếp kinh nghiệm. Những điều gắn bó với đời sống hiện tại có vô số liên hệ với ấn
tượng, ký ức và kinh nghiệm hằng ngày; vì vậy chúng dễ dàng tác động mạnh đến
não thức. Ngược lại, một trạng thái tồn tại hoàn toàn khác với kinh nghiệm hiện
tại — chẳng hạn đời sống sau khi chết — thiếu đi những điểm tựa quen thuộc của
sự tương tự. Vì vậy, dù con người có thể hiểu mệnh đề ấy bằng lý trí, ý niệm ấy
vẫn khó đạt được cùng mức độ sống động như những điều họ trực tiếp trải nghiệm.
Nói cách khác, Hume
phân biệt giữa: (a) tin rằng một điều gì đó là đúng về mặt lý thuyết: chẳng hạn
chấp nhận giáo lý rằng hồn người tồn tại sau cái chết; và (b) có một sự tin tưởng sống động trong
não thức: tức là ý niệm ấy thực sự có sức mạnh tương đương với những kinh nghiệm
đang hiện diện và chi phối cảm xúc, hành động của con người.
Đây là một điểm rất
quan trọng trong triết học Hume. Ông không chỉ hỏi: "Con người có tuyên
bố rằng họ tin điều gì không?" mà hỏi sâu hơn: "Niềm tin ấy thực
sự vận hành trong não thức của họ như thế nào?"
Vì vậy, khi Hume nói
rằng nhiều người "không thật sự có điều gì giống với sự tin tưởng vào sự tồn
tại vĩnh viễn của hồn người", ông không nhất thiết đang phán xét giá trị của
giáo lý tôn giáo. Ông đang phân tích một nghịch lý tâm lý: một niềm tin càng xa
rời kinh nghiệm trực tiếp của con người thì càng khó có được sức mạnh cảm xúc
tương xứng, dù người ta vẫn có thể chấp nhận nó bằng lời nói hoặc bằng lý luận.
Đây chính là sự vận dụng
nguyên lý tổng quát mà Hume đang bảo vệ trong toàn bộ phần này: sức mạnh của một
niềm tin không chỉ đến từ nội dung của ý niệm, mà còn đến từ cách ý niệm ấy được
nối kết với những kinh nghiệm, ký ức và ấn tượng đang có mặt trong não thức.
[19] Đáng chú ý, ở đoạn này Hume không bàn về
tính đúng hay sai của tín ngưỡng về đời sau. Ông đang dùng một ví dụ để bảo vệ
luận điểm tâm lý học của mình: một ý niệm càng thiếu sự tương tự với kinh nghiệm
hiện tại thì càng khó trở nên sống động, và vì thế càng khó tạo ra sự tin tưởng
mạnh mẽ, ngay cả khi người ta cho rằng mình đã chấp nhận nó về mặt lý thuyết.
Đây là một bước rất quan trọng trong lập luận của Hume về bản chất của sự tin
tưởng.
[20] Âm mưu Thuốc súng (Gunpowder Plot, 1605)
là kế hoạch của một nhóm người Công giáo Anh, trong đó có Guy Fawkes, nhằm cho
nổ tung Nghị viện Anh để ám sát vua James I of England cùng giới lãnh đạo Tin
Lành. Âm mưu bị phát hiện trước khi thực hiện và trở thành một biểu tượng của
những xung đột tôn giáo tại Anh sau Cải cách Tin Lành.
Vụ thảm sát Ngày lễ
Thánh Bartholomew (St. Bartholomew's Day Massacre, 1572) xảy ra tại Pháp trong
thời kỳ chiến tranh tôn giáo giữa Công giáo và Tin Lành Huguenot. Cuộc bạo lực
bắt đầu tại Paris rồi lan rộng ra nhiều vùng khác, khiến hàng nghìn người
Huguenot bị giết và trở thành một trong những sự kiện tiêu biểu cho bạo lực tôn
giáo ở châu Âu thời cận đại.
Hume không đưa hai sự
kiện này vào để phán xét lịch sử, chính trị hay thần học của những cuộc xung đột
ấy. Ông sử dụng chúng như những ví dụ để minh họa một vấn đề về bản chất của sự
tin tưởng.
Điểm Hume muốn làm rõ
là sự khác biệt giữa điều con người tuyên bố là mình tin và một ý niệm thực sự
có đủ sức mạnh trong não thức để chi phối phán đoán và hành động. Nếu con người
thật sự có một sự tin tưởng sống động vào những phần thưởng và hình phạt vô hạn
của đời sau, thì niềm tin ấy theo lẽ phải sẽ phải có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách
họ đánh giá những hành động trong đời sống hiện tại.
Tuy nhiên, Hume nhận
thấy một sự không nhất quán: những người tin vào hình phạt đời đời vẫn có thể
lên án những hành động bạo lực trong lịch sử là tàn bạo, nhưng đồng thời lại chấp
nhận rằng những người khác có thể đáng chịu những hình phạt vô hạn trong đời
sau. Đối với Hume, sự mâu thuẫn này cho thấy rằng ý niệm về đời sống tương lai,
dù được thừa nhận trên phương diện giáo lý, thường không có cùng mức độ sống động
như những niềm tin được củng cố bởi kinh nghiệm trực tiếp.
Vì vậy, hai ví dụ lịch
sử này phục vụ cho luận điểm trung tâm của Hume: sức mạnh của sự tin tưởng
không chỉ phụ thuộc vào việc một ý niệm có được chấp nhận bằng lý luận hay truyền
thống hay không, mà còn phụ thuộc vào mức độ nó được nối kết với kinh nghiệm,
ký ức và những ấn tượng đang hiện diện trong não thức. Một ý niệm càng xa rời
kinh nghiệm quen thuộc thì càng khó đạt được sức mạnh tâm lý đủ lớn để điều khiển
phán đoán và hành động của con người.
[21] Religious discourses ở đây chủ yếu chỉ những bài thuyết giáo Kitô trong truyền thống châu
Âu thế kỷ XVII–XVIII, vốn thường nhấn mạnh đến tội lỗi, sự phán xét, hỏa ngục,
hình phạt đời đời và sự cứu rỗi. Hume viện dẫn chúng như một ví dụ về việc con
người có thể tìm thấy khoái cảm trong những cảm xúc u ám và kinh hãi khi chúng
chỉ được trải nghiệm trong phạm vi của trí tưởng tượng.
[22] Hume nêu ở đây một hiện tượng tâm lý quen
thuộc: những cảm xúc vốn gây đau khổ trong đời sống thực, như sợ hãi, kinh
hoàng hay bi thương, lại có thể đem đến khoái cảm khi được trải nghiệm qua sân
khấu, văn chương hoặc những bài giảng tôn giáo. Theo ông, điều này xảy ra vì
người nghe hoặc người xem không thực sự tin rằng đối tượng đáng sợ đang hiện diện
trước mình. Do thiếu sự tin tưởng (belief), cảm xúc ấy được làm dịu đi, chỉ còn
giữ lại tác dụng kích thích trí tưởng tượng và tập trung sự chú ý. Đoạn văn này
báo trước một luận điểm quan trọng trong mỹ học của Hume, được ông phát triển đầy
đủ hơn trong tiểu luận Of Tragedy: con người có thể tìm thấy khoái cảm
ngay cả trong những cảm xúc tiêu cực, miễn là chúng chỉ được trải nghiệm trong
phạm vi của trí tưởng tượng chứ không phải như một thực tại đang diễn ra.
[23] Hume ở đây mở rộng khái niệm thói quen.
Trước đó ông đã nói đến loại thói quen hình thành từ sự lặp lại của kinh nghiệm,
trong đó một ấn tượng hiện tại tự động dẫn não thức đến một ý niệm liên kết với
nó (ví dụ: thấy lửa → nghĩ đến nhiệt). Nhưng bây giờ ông chỉ ra một dạng khác:
một ý niệm tự nó cũng có thể trở nên mạnh mẽ chỉ vì nó thường xuyên xuất hiện
trong não thức.
Đây là bước chuẩn bị
để Hume giải thích vai trò của giáo dục, truyền thống và sự lặp lại xã hội. Một
ý niệm có thể không có nền tảng trực tiếp trong kinh nghiệm cá nhân, nhưng nếu
được gieo vào não thức từ nhỏ, được lặp lại liên tục và được củng cố bởi môi
trường xã hội, nó có thể đạt được một mức độ sống động và ổn định gần giống với
những niềm tin hình thành từ kinh nghiệm.
Vì vậy, Hume không chỉ
giải thích niềm tin khoa học hay đời thường; ông còn mở rộng phân tích sang những
niềm tin tôn giáo, đạo đức và xã hội — tức những niềm tin mà sức mạnh của chúng
nhiều khi đến từ thói quen tâm lý, chứ không trực tiếp từ bằng chứng của kinh
nghiệm.
[24] Khi Hume nói: “Chúng ta phải khẳng định rằng, trong trường
hợp này, hai điều ấy thực chất là cùng một trạng thái của não thức” (We must
maintain that they are individually the same), ông không muốn nói rằng mọi
ý niệm sống động đều tự động trở thành tin tưởng. Ý của ông hẹp hơn và chính
xác hơn: trong phân tích về bản chất của sự tin tưởng, tin tưởng không phải là
một yếu tố mới được thêm vào một ý niệm đã có sẵn; nó chính là một ý niệm được
não thức nắm giữ với một mức độ mạnh mẽ và sống động đặc biệt.
Nói cách khác, sự
khác biệt giữa một ý niệm bình thường và một tin tưởng không nằm ở nội dung của
ý niệm. Cùng một điều được nghĩ đến có thể xuất hiện dưới dạng một sự tưởng tượng
đơn thuần hoặc dưới dạng một điều mà chúng ta tin là có thật. Sự khác nhau nằm ở
cách não thức cảm nhận và nắm giữ ý niệm ấy: ý niệm trong sự tin tưởng có sức mạnh,
độ vững chắc và tính hiện diện lớn hơn. Vì vậy, Hume bác bỏ cách nói rằng: “một
ý niệm vốn có trước, rồi sau đó một sức mạnh nào đó được thêm vào khiến nó trở
thành một tin tưởng.” Theo ông, trong trường hợp này, chính mức độ sống động của
ý niệm làm nên bản thân hành động tin tưởng. Khi một ý niệm đạt đến mức độ mạnh
mẽ và vững chắc mà những kinh nghiệm trực tiếp thường tạo ra, não thức đối xử với
nó như một điều hiện hữu.
Tuy nhiên, Hume vẫn
giữ một sự phân biệt quan trọng: một ý niệm có thể trở nên sống động do nhiều
nguyên nhân khác nhau — chẳng hạn do trí nhớ, thói quen, giáo dục hoặc sự lặp lại
— nhưng chỉ khi ý niệm ấy có được sức mạnh đặc biệt gắn với một ấn tượng đang
hiện diện hoặc một cơ chế tâm lý tương tự, nó mới có tính chất của một tin tưởng
theo nghĩa ông đang phân tích. Vì thế, câu này có thể hiểu ngắn gọn như sau: Đối
với Hume, tin tưởng không phải là một hành động riêng biệt của não thức đứng
bên ngoài ý niệm; tin tưởng chính là một ý niệm được não thức cảm nhận với một
mức độ sống động, vững chắc và mạnh mẽ đặc biệt.
[25] Đây là một đoạn rất quan trọng vì Hume đang giải quyết một
vấn đề tế nhị: nếu chỉ sự lặp lại có thể làm một ý niệm trở nên mạnh mẽ, vậy tại
sao mọi ý niệm quen thuộc từ nhỏ không phải đều trở thành “niềm tin”? Câu trả lời
của Hume là: sự sống động của ý niệm và sự tin tưởng có quan hệ rất gần nhau,
nhưng không phải mọi sự sống động đều tự động tạo thành tin tưởng. Một ý niệm
có thể trở nên quen thuộc, mạnh mẽ và dễ xuất hiện trong trí tưởng tượng nhờ
giáo dục, truyền thống hoặc thói quen xã hội; nhưng để trở thành một sự tin tưởng
đúng nghĩa, nó phải tham gia vào một hoạt động đặc biệt của não thức — đó là sự
chuyển dịch và phán đoán dựa trên những mối liên hệ mà Hume đang phân tích. Điểm
tế nhị ở đây là Hume không phủ nhận sức mạnh của giáo dục hay truyền thống. Ngược
lại, ông cho thấy chúng có thể tạo ra những trạng thái tâm lý mạnh gần như kinh
nghiệm trực tiếp. Nhưng ông vẫn giữ sự phân biệt giữa: một ý niệm trở nên mạnh
mẽ vì được lặp lại nhiều lần, và một sự
tin tưởng phát sinh từ cơ chế tự nhiên của não thức khi chuyển từ một kinh nghiệm
sang một kết luận. Đây là bước chuẩn bị
cho phần tiếp theo, nơi Hume sẽ dùng giáo dục (education) như một trường hợp đặc
biệt để chứng minh rằng thói quen có thể tạo ra những niềm tin rất mạnh ngay cả
khi chúng không trực tiếp bắt nguồn từ kinh nghiệm cá nhân.
[26] Từ Rome đến Elysium — thói quen, giáo dục và sự hình
thành của niềm tin: những đoạn T 1.3.9.4–19 trình bày một trong những phân tích
quan trọng nhất của Hume về cách não thức vượt ra ngoài những gì đang hiện diện
trước giác quan và hình thành nên thế giới mà con người tin là thực tại.
Hume bắt đầu từ một
thực tế đơn giản: phần lớn những gì chúng ta tin tưởng không phải là những gì
chúng ta đang trực tiếp nhìn thấy hay cảm nhận. Chúng ta tin vào những thành phố
chưa từng đến, những thời đại chưa từng sống, những sự kiện chưa từng chứng kiến
và vô số sự vật nằm ngoài kinh nghiệm trực tiếp của bản thân. Vấn đề mà Hume đặt
ra là: điều gì khiến những ý niệm ấy có một sức mạnh đặc biệt, khác với những sản
phẩm thuần túy của trí tưởng tượng?
Ví dụ về Rome minh họa
trường hợp một ý niệm vượt ra ngoài kinh nghiệm trực tiếp nhưng vẫn trở thành một
đối tượng của sự tin tưởng. Một người chưa từng đặt chân đến Rome vẫn có thể
hình dung vị trí địa lý, lịch sử, chính quyền, tôn giáo, phong tục và những biến
cố của thành phố ấy. Tuy nhiên, ý niệm về Rome không phải là một hình ảnh tùy ý
do trí tưởng tượng tạo ra. Nó thuộc về một hệ thống những liên hệ ổn định được
xây dựng từ ký ức, sách vở, lời chứng của những người khác và những kinh nghiệm
đã được củng cố qua thời gian. Nhờ sự kết hợp của thói quen và quan hệ nhân quả,
não thức chuyển từ những gì đã biết sang những gì không hiện diện, và tiếp nhận
đối tượng ấy như một phần của thực tại.
Ngược lại, ví dụ về
cánh đồng Elysium cho thấy rằng một ý niệm cũng có thể trở nên rất sống động mà
không trở thành một sự tin tưởng về sự hiện hữu của đối tượng. Một nhà thơ có
thể hình dung Elysium mạnh mẽ hơn khi đứng trước một đồng cỏ đẹp hoặc một khu
vườn tươi tốt. Cảnh vật đang hiện diện cung cấp một ấn tượng mạnh, từ đó nhờ sự
tương tự và sự kề cận, ý niệm về vùng đất thần thoại trở nên phong phú và rõ
nét hơn. Nhà thơ thậm chí có thể tự tưởng tượng mình đang đứng giữa Elysium, và
chính sự “kề cận được hư cấu” ấy cũng làm tăng sức sống của hình ảnh.
Nhưng Hume chỉ ra một
giới hạn quan trọng: sự sống động của một ý niệm không đồng nghĩa với sự tin tưởng
vào sự tồn tại của đối tượng. Sự tương tự và sự kề cận có thể làm cho một ý niệm
mạnh mẽ hơn, nhưng tự chúng không tạo ra sự ổn định cần thiết cho belief. Một
hình ảnh trong trí tưởng tượng có thể rất rõ ràng, giàu cảm xúc và có sức tác động,
nhưng nó vẫn khác với một niềm tin về thực tại. Theo Hume, chỉ khi một ý niệm
được đặt trong một mạng lưới kinh nghiệm ổn định, được củng cố bởi thói quen và
quan hệ nhân quả, nó mới đạt đến trạng thái đặc biệt mà ông gọi là belief — một
ý niệm được não thức nắm giữ với mức độ mạnh mẽ và sinh động cao hơn.
Từ đây, Hume mở rộng
phân tích từ kinh nghiệm cá nhân sang giáo dục, phong tục và truyền thống xã hội.
Ông cho thấy rằng không chỉ sự lặp lại của những kinh nghiệm bên ngoài mới tạo
ra sức mạnh cho ý niệm. Những điều được nghe đi nghe lại từ thời thơ ấu, những
quan niệm được gia đình và xã hội truyền đạt, cũng có thể in sâu vào não thức đến
mức chúng vận hành gần giống như những điều xuất phát từ kinh nghiệm trực tiếp.
Đây là điểm đặc biệt
quan trọng trong lập luận của Hume. Ông cho rằng có hai con đường khác nhau khiến
một ý niệm đạt được sức mạnh: Kinh nghiệm và quan hệ nhân quả: Khi hai sự kiện
thường xuyên xuất hiện cùng nhau, não thức hình thành thói quen chuyển từ một sự
kiện sang ý niệm về sự kiện kia. Đây là nền tảng của những suy luận nhân quả và
những niềm tin về thế giới bên ngoài. Sự
lặp lại và giáo dục: Một ý niệm có thể trở nên quen thuộc và bám rễ sâu chỉ vì
nó được lặp lại liên tục trong đời sống xã hội. Giáo dục, phong tục và truyền
thống có thể tạo ra những niềm tin rất mạnh, dù nguồn gốc của chúng không nhất
thiết nằm trong kinh nghiệm hay bằng chứng.
Tuy nhiên, Hume nhấn mạnh rằng sức mạnh tâm lý của một niềm tin không phải
là bằng chứng cho tính đúng đắn của nó. Một quan niệm có thể trở nên cực kỳ vững
chắc trong não thức chỉ vì nó quen thuộc, được truyền lại và chưa từng bị đặt
thành vấn đề. Sự quen thuộc giải thích tại sao con người tin; nó không tự nó chứng
minh rằng điều được tin là đúng.
Chính vì vậy, phân
tích của Hume luôn giữ hai tầng khác nhau: (a) Tầng tâm lý học: Vì sao một ý niệm
trở nên mạnh mẽ, sống động và có sức chi phối đối với não thức? (b) Tầng nhận thức luận: Điều gì bảo đảm rằng
niềm tin ấy có cơ sở hợp lý và phù hợp với thực tại?
Qua toàn bộ mục T
1.3.9, Hume trình bày một bức tranh sâu sắc về đời sống tinh thần của con người.
Con người không chỉ sống trong thế giới của những gì đang hiện diện trước mắt,
mà còn trong một thế giới được xây dựng bởi ký ức, lời chứng, trí tưởng tượng,
giáo dục, phong tục và thói quen. Nhưng chính vì não thức có khả năng mở rộng
thế giới theo những cách ấy, triết học phải làm rõ sự khác biệt giữa một ý niệm
mạnh mẽ trong tâm trí và một niềm tin thực sự có cơ sở.
Đây là điểm cốt lõi
trong phân tích của Hume về belief: tin tưởng không phải là có thêm một ý niệm
mới, mà là một trạng thái đặc biệt trong đó một ý niệm đã có trở nên mạnh mẽ, ổn
định và sinh động hơn nhờ cách não thức liên kết nó với kinh nghiệm.
[27] Chú thích T 1.3.9.19n22 (SBN 117–118) là một chú thích
phương pháp luận rất quan trọng, bởi ở đây Hume giải thích cách ông sử dụng thuật
ngữ imagination (trí tưởng tượng) trong A Treatise of Human Nature. Ông
nhận thấy rằng từ này rất dễ gây hiểu lầm, bởi trong ngôn ngữ thông thường nó
thường mang một nghĩa hẹp và có phần tiêu cực: khả năng bịa đặt những điều
không có thật, tạo ra những hình ảnh hư cấu hoặc những tưởng tượng tùy tiện.
Nhưng trong phân tích của Hume, imagination không chỉ là khả năng sáng tạo ra
điều tưởng tượng, mà là một năng lực rộng lớn hơn của não thức trong việc hình
thành, liên kết, chuyển dịch và tổ chức những ý niệm.
Hume bắt đầu chú
thích bằng một nhận xét có vẻ nghịch lý: sự chấp thuận của chúng ta đối với những
suy luận có tính xác suất cũng dựa trên tính sống động của những ý niệm; vì vậy,
xét về mặt cơ chế tâm lý, nó có một điểm tương đồng với nhiều điều mà con người
thường bác bỏ như mê tín, định kiến hoặc những tưởng tượng kỳ quặc. Tuy nhiên,
Hume không hề cho rằng suy luận hợp lý và mê tín là cùng một thứ. Điều ông muốn
chỉ ra là: cả hai đều liên quan đến cách mà một ý niệm đạt được sức mạnh và mức
độ hiện diện trong não thức. Sự khác biệt giữa chúng không nằm đơn giản ở việc
một bên “sống động” còn bên kia thì không, mà nằm ở nguồn gốc và cơ sở của sự sống
động ấy.
Một niềm tin dựa trên
kinh nghiệm, chẳng hạn niềm tin rằng lửa gây nóng hoặc một vật được thả ra sẽ
rơi xuống, có được sức mạnh nhờ sự lặp lại ổn định của kinh nghiệm và sự hình
thành thói quen trong não thức. Ngược lại, một thành kiến hoặc một niềm tin mê
tín có thể cũng rất mạnh mẽ trong tâm trí, nhưng sức mạnh ấy có thể chỉ đến từ
sự lặp lại, phong tục hoặc những liên tưởng không có nền tảng thích đáng. Vì vậy,
Hume phân biệt rất rõ giữa sức mạnh tâm lý của một ý niệm và giá trị nhận thức
của ý niệm ấy.
Để tránh nhầm lẫn,
Hume chỉ ra ba cách sử dụng khác nhau của thuật ngữ imagination: (1) Thứ nhất,
khi đối lập imagination với memory (trí nhớ): Hume dùng imagination để
chỉ năng lực hình thành những ý niệm yếu hơn, ít sống động hơn (fainter
ideas). Ở đây, trí nhớ và trí tưởng tượng khác nhau ở mức độ sức mạnh của ý
niệm. Những gì thuộc về ký ức có mối liên hệ trực tiếp hơn với những ấn tượng
đã từng xuất hiện, nên có tính ổn định và sức mạnh lớn hơn; trong khi những ý
niệm của trí tưởng tượng có thể được hình thành mà không cần một kinh nghiệm trực
tiếp tương ứng đang hiện diện. (2) Thứ hai, khi đối lập imagination với reason
(lý trí): Hume dùng imagination theo một nghĩa rộng hơn: đó là toàn bộ
năng lực vận hành những ý niệm của não thức, ngoại trừ những suy luận có tính
chứng minh và những suy luận có tính xác suất. Theo nghĩa này, trí tưởng tượng
không phải chỉ là khả năng tạo ra những điều hư cấu, mà bao gồm cả những hoạt động
rất thông thường như liên kết những ý niệm, chuyển từ cái hiện diện sang cái vắng
mặt, suy luận về quá khứ và tương lai, hoặc hình thành những tin tưởng dựa trên
kinh nghiệm. (3) Thứ ba, khi imagination không được đặt đối lập với memory hay
reason: Hume cho rằng ý nghĩa của thuật ngữ này cần được hiểu theo ngữ cảnh.
Trong một số trường hợp, nó có thể được dùng theo nghĩa rộng để chỉ toàn bộ hoạt
động của não thức trong việc giải quyết những ý niệm; trong những trường hợp
khác, nó chỉ một năng lực cụ thể hơn.
Vì vậy, trong hệ thống
của Hume có thể tóm tắt như sau: (a) Memory (trí nhớ): giữ lại những ý niệm có
sức mạnh lớn hơn nhờ sự gắn kết với những ấn tượng đã từng xảy ra. (b) Imagination
(trí tưởng tượng): năng lực vận hành và liên kết những ý niệm, bao gồm cả những
ý niệm không hiện diện trực tiếp trước giác quan. (c) Reason (lý trí): trong ngữ cảnh hẹp của
chú thích này, chỉ những suy luận chứng minh và những suy luận xác suất.
Điểm cốt lõi mà Hume
muốn nhấn mạnh là: khi ông nói rằng sự tin tưởng có nguồn gốc từ trí tưởng tượng,
ông không có ý nói rằng mọi niềm tin đều là ảo tưởng hoặc sản phẩm tùy tiện của
trí óc. Ông chỉ muốn chỉ ra rằng cơ chế tâm lý khiến một ý niệm trở nên có sức
mạnh — trở nên sống động, dễ xuất hiện và có khả năng chi phối phán đoán —
chính là hoạt động của năng lực mà ông gọi là imagination.
Chính vì năng lực này
có vai trò nền tảng trong đời sống tinh thần, nó có thể dẫn đến cả hai khả năng
đối lập: nó có thể giúp con người hình thành những niềm tin hợp lý dựa trên
kinh nghiệm và thói quen; nhưng nó cũng có thể tạo ra định kiến, mê tín và những
tưởng tượng thiếu cơ sở. Nhiệm vụ của triết học Hume vì thế không phải là phủ
nhận trí tưởng tượng, mà là phân biệt những hình thức hoạt động khác nhau của
nó và xác định điều gì khiến một ý niệm trở thành belief (sự tin tưởng) chứ
không chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng.
