(A Treatise of Human Nature)
David Hume
QUYỂN I - PHẦN III.
Về tri thức và xác suất.
MỤC I.
Về Tri Thức
T 1.3.1.1, SBN 69–70
Có bảy [15] loại
quan hệ triết học khác nhau, đó là: tương tự, đồng nhất, những quan hệ về thời
gian và nơi chốn, tỉ lệ về lượng hay số, những mức độ của bất kỳ phẩm chất nào,
sự đối lập và nhân quả.
Những quan hệ này có
thể được chia thành hai loại: một loại hoàn toàn phụ thuộc vào những ý niệm mà
chúng ta đem ra so sánh với nhau; và một loại có thể thay đổi mà không cần có bất
kỳ sự thay đổi nào trong những ý niệm ấy.
Ngược lại, những quan
hệ về kề cận và khoảng cách giữa hai đối tượng có thể thay đổi chỉ
do sự thay đổi vị trí của chúng, mà không cần có bất kỳ sự thay đổi nào nơi
chính những đối tượng ấy hay nơi những ý niệm về chúng; và vị trí lại phụ thuộc
vào hàng trăm ngẫu nhiên khác nhau mà não thức không thể biết trước.
Đồng nhất và nhân quả cũng vậy. Hai đối tượng, tuy hoàn toàn
tương tự nhau, và thậm chí còn xuất hiện ở cùng một nơi vào những thời điểm
khác nhau, vẫn có thể khác nhau về mặt số lượng. Và vì năng lực mà nhờ đó một đối
tượng tạo ra một đối tượng khác không bao giờ có thể được khám phá chỉ từ ý niệm
về chúng, nên rõ ràng nguyên nhân và kết quả là những quan hệ mà chúng
ta có được nhờ kinh nghiệm, chứ không phải nhờ bất kỳ sự suy luận trừu tượng
hay sự suy ngẫm nào.
Không có một hiện tượng
nào, dù là đơn giản nhất, có thể được giải thích từ những phẩm chất của những đối
tượng như chúng xuất hiện trước chúng ta; cũng không có hiện tượng nào mà chúng
ta có thể biết trước nếu không có sự trợ giúp của ký ức và kinh nghiệm.
T 1.3.1.2, SBN 70
Vì vậy, có thể thấy rằng
trong số bảy quan hệ triết học ấy, chỉ còn lại bốn quan hệ — do chỉ phụ thuộc
vào những ý niệm — mới có thể là đối tượng của tri thức và sự chắc chắn. Bốn
quan hệ ấy là tương tự, sự đối lập, những mức độ của phẩm chất, và những tỉ
lệ về lượng hay số.
Ba trong số những
quan hệ ấy có thể được nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên, và đúng ra thuộc phạm
vi của trực giác hơn là của chứng minh. Khi hai đối tượng tương tự nhau, quan hệ
tương tự ấy lập tức tác động đến mắt, hay đúng hơn là đến não thức; và hiếm khi
cần phải xem xét lần thứ hai. Trường hợp cũng như vậy đối với sự đối lập và những
mức độ của bất kỳ phẩm chất nào.
Không ai có thể nghi
ngờ rằng sự hiện hữu và sự không hiện hữu triệt tiêu lẫn nhau, và hoàn toàn
không thể dung hòa, cũng như đối lập với nhau. Và mặc dù không thể phán đoán
chính xác về những mức độ của bất kỳ phẩm chất nào — chẳng hạn như màu sắc, vị,
nóng hay lạnh — khi sự khác biệt giữa chúng rất nhỏ; nhưng khi sự khác biệt ấy
đủ lớn, thì chúng ta dễ dàng quyết định rằng cái này cao hơn hay thấp hơn cái
kia.
Và sự phán đoán ấy
luôn được chúng ta đưa ra ngay từ cái nhìn đầu tiên, không cần bất kỳ sự khảo
xét hay suy luận nào.
T 1.3.1.3, SBN 70
Chúng ta cũng có thể
tiến hành theo cách như vậy khi xác định những tỉ lệ về lượng hay
số, và chỉ trong một cái nhìn cũng có thể nhận ra sự lớn hơn hay nhỏ hơn
giữa bất kỳ những con số hay hình nào, nhất là khi sự khác biệt của chúng rất lớn
và rõ rệt.
Còn đối với sự bằng
nhau hay bất kỳ tỉ lệ chính xác nào, thì chỉ bằng một lần xem xét, chúng ta chỉ
có thể phỏng đoán mà thôi; ngoại trừ trường hợp những con số rất nhỏ hoặc những
phần rất giới hạn của độ mở rộng, vốn được bao quát trong một khoảnh khắc, và
trong đó chúng ta nhận thấy rằng hầu như không thể mắc phải một sai lầm đáng kể
nào.
Trong mọi trường hợp
khác, chúng ta phải xác định những tỉ lệ ấy với một mức độ linh hoạt nhất định,
hoặc phải tiến hành theo một phương pháp nhân tạo hơn.
T 1.3.1.4, SBN 70–71
Tôi đã nhận xét rằng
hình học, hay nghệ thuật nhờ đó chúng ta xác định những tỉ lệ của những hình,
tuy vượt xa những phán đoán không chính xác của giác quan và trí tưởng tượng, cả
về tính tổng quát lẫn độ chính xác, nhưng vẫn không bao giờ đạt tới sự chính
xác tuyệt đối.
Những nguyên lý đầu
tiên của nó vẫn được rút ra từ hình thức tổng quát của những đối tượng; và hình
thức ấy không bao giờ có thể đem lại cho chúng ta sự bảo đảm khi chúng ta khảo
sát mức độ nhỏ bé đến kinh ngạc mà tự nhiên có thể đạt tới.
Những ý niệm của
chúng ta dường như đem lại một sự bảo đảm hoàn toàn rằng không có hai đường thẳng
nào có thể có chung một đoạn thẳng. Nhưng nếu xem xét những ý niệm ấy, chúng ta
sẽ thấy rằng chúng luôn giả định hai đường thẳng có một độ nghiêng có thể cảm
nhận được; và khi góc mà chúng tạo thành cực kỳ nhỏ, chúng ta không có một tiêu
chuẩn nào về đường thẳng đủ chính xác để bảo đảm cho chúng ta tính đúng đắn của
mệnh đề ấy.
Hầu hết những phán
đoán cơ bản của toán học cũng đều như vậy.
T 1.3.1.5, SBN 71
Vì vậy, chỉ còn lại đại
số và số học là những khoa học mà trong đó chúng ta có thể theo đuổi một chuỗi
suy luận đến bất kỳ mức độ phức tạp nào mà vẫn giữ được sự chính xác và sự chắc
chắn hoàn toàn.
Chúng ta có một tiêu
chuẩn chính xác để phán đoán sự bằng nhau và tỉ lệ của những con số; và tùy
theo chúng có hay không phù hợp với tiêu chuẩn ấy, chúng ta xác định những quan
hệ của chúng mà không hề có khả năng mắc sai lầm.
Khi hai con số được kết
hợp theo cách mà mỗi đơn vị của con số này luôn có một đơn vị tương ứng với mỗi
đơn vị của con số kia, chúng ta khẳng định rằng chúng bằng nhau. Và chính vì
thiếu một tiêu chuẩn như thế về sự bằng nhau trong độ mở rộng, nên hình học khó
có thể được xem là một khoa học hoàn hảo và không thể sai lầm.
T 1.3.1.6, SBN 71–72
Nhưng ở đây sẽ không
thừa nếu tôi giải đáp trước một khó khăn có thể nảy sinh từ việc tôi khẳng định
rằng, dù hình học kém hơn về độ chính xác và chắc chắn tuyệt đối — vốn đặc thù
của số học và đại số — nhưng nó vẫn vượt trội hơn những phán đoán không hoàn hảo
của giác quan và trí tưởng tượng.
Lý do tôi gán cho
hình học một khiếm khuyết nào đó là vì những nguyên lý ban đầu và nền tảng của
nó chỉ được rút ra từ những hình thức hiện ra; và có lẽ người ta sẽ nghĩ rằng
khiếm khuyết này luôn đi kèm với nó, khiến nó không bao giờ đạt được mức độ
chính xác lớn hơn trong việc so sánh những đối tượng hay ý niệm so với mức mà mắt
hay trí tưởng tượng có thể đạt tới.
Tôi thừa nhận rằng
khiếm khuyết này đúng là đi kèm với nó, đến mức khiến nó không bao giờ có thể đạt
tới sự chắc chắn hoàn toàn. Nhưng vì những nguyên lý nền tảng ấy dựa trên những
hình thức hiện ra đơn giản nhất và ít đánh lừa nhất, nên chúng mang lại cho những
hệ quả của mình một mức độ chính xác mà bản thân những hệ quả ấy, xét riêng,
không thể có được.
Mắt không thể xác định
rằng những góc của một hình đa giác một nghìn cạnh [1] bằng
1996 góc vuông, cũng không thể đưa ra bất kỳ phỏng đoán nào gần với tỉ lệ ấy;
nhưng khi nó xác định rằng hai đường thẳng không thể cắt nhau, hay rằng chúng
ta không thể vẽ nhiều hơn một đường thẳng giữa hai điểm cho trước, thì những
sai lầm của nó không bao giờ có hậu quả đáng kể.
Và đó chính là bản chất
và công dụng của hình học: đưa chúng ta trở về những hình thức đơn giản nhất, vốn
vì tính đơn giản của chúng, không thể dẫn chúng ta vào bất kỳ sai lầm đáng kể
nào.
T 1.3.1.7, SBN 72–73
Tôi nhân đây nêu thêm
một nhận xét thứ hai về những suy luận chứng minh của chúng ta, được gợi ra từ
cùng đề tài toán học này.
Các nhà toán học thường
cho rằng những ý niệm mà họ nghiên cứu có bản chất tinh tế và phi vật chất đến
mức chúng không thuộc phạm vi hình dung của óc tưởng tượng, mà phải được nắm bắt
bằng một cái nhìn thuần trí, vốn chỉ thuộc về những năng lực cao hơn của linh hồn.
Cùng quan niệm ấy lan
rộng trong hầu hết những phần của triết học, và chủ yếu được dùng để giải thích
những ý niệm trừu tượng, cũng như để chỉ ra cách chúng ta có thể hình thành một
ý niệm về tam giác, chẳng hạn, không phải tam giác cân cũng không phải tam giác
không đều, và không bị giới hạn bởi bất kỳ độ dài hay tỉ lệ cạnh nào.
Dễ thấy vì sao những
nhà triết học lại rất chuộng quan niệm về những tri giác tinh tế và phi vật chất
như vậy: bởi nhờ đó họ che đậy nhiều điều phi lý trong học thuyết của mình, và
có thể từ chối tuân theo những phán quyết của những ý niệm rõ ràng, bằng cách
viện đến những ý niệm mơ hồ và bất định.
Nhưng để phá bỏ thủ
thuật này, ta chỉ cần suy xét nguyên lý đã nhiều lần được nhấn mạnh: rằng mọi
ý niệm của chúng ta đều được sao lại từ những ấn tượng.
Từ đó, ta có thể kết
luận ngay rằng, vì mọi ấn tượng đều rõ ràng và xác định, nên những ý niệm được
sao lại từ chúng cũng phải cùng bản chất ấy, và không bao giờ — trừ khi do lỗi
của chúng ta — chứa đựng bất cứ điều gì mơ hồ hay rắc rối như vậy.
Một ý niệm, xét theo
bản chất, luôn yếu hơn và mờ nhạt hơn một ấn tượng; nhưng về mọi phương diện
khác, nó vẫn cùng một loại, và do đó không thể hàm chứa một bí ẩn nào quá lớn.
Nếu sự yếu hơn của nó
khiến nó trở nên mơ hồ, thì nhiệm vụ của chúng ta là khắc phục khuyết điểm ấy
nhiều nhất có thể, bằng cách giữ cho ý niệm được ổn định và chính xác; và cho đến
khi làm được điều đó, thì việc tự nhận là đang lý luận và làm triết học là hoàn
toàn vô ích.
T 1.3.1.1n15, SBN 69
[15.] Part I. Sect. 5.
MỤC II.
Về Xác Suất Và Về Ý
Niệm Nguyên Nhân Và Kết Quả
T 1.3.2.1, SBN 73
Đây là tất cả những
gì tôi nghĩ cần quan sát về bốn quan hệ là nền tảng của khoa học; nhưng đối với
ba quan hệ còn lại, vốn không phụ thuộc vào ý niệm, và có thể vắng mặt hay hiện
diện ngay cả khi ý niệm ấy vẫn không thay đổi, sẽ thích hợp để giải thích rõ
hơn.
Ba quan hệ này là: sự
đồng nhất, [2]
những vị trí trong thời gian và nơi chốn, [3] và nhân quả.
T 1.3.2.2, SBN 73–74
Mọi loại lý luận đều
không gì khác hơn là một so sánh, và một nhận ra những quan hệ — hoặc
thường xuyên hoặc không thường xuyên — mà hai hay nhiều đối tượng có với nhau.
Sự so sánh này có thể
được thực hiện: hoặc khi cả hai đối tượng đều hiện diện với giác quan, hoặc khi
không đối tượng nào hiện diện, hoặc khi chỉ có một đối tượng hiện diện.
Khi cả hai đối tượng
cùng hiện diện với giác quan, cùng với quan hệ, thì chúng ta gọi đó là tri giác
hơn là lý luận; và trong trường hợp này không có sự vận dụng tư duy, hay bất kỳ
hành động nào đúng nghĩa, mà chỉ là sự tiếp nhận thụ động những ấn tượng qua những
cơ quan cảm giác.
Theo cách nhìn này,
chúng ta không nên xem là lý luận bất kỳ quan sát nào liên quan đến sự đồng nhất
và những quan hệ về thời gian và nơi chốn; vì trong những trường hợp ấy, não thức
không thể vượt ra ngoài những gì trực tiếp hiện diện với giác quan, để khám phá
sự hiện hữu thực hay những quan hệ của đối tượng.
Chỉ có nhân quả mới tạo
ra một liên kết như vậy, khiến chúng ta từ sự hiện hữu hay hành động của một đối
tượng suy ra rằng nó đã được theo sau hoặc đi trước bởi một sự hiện hữu hay
hành động khác; và hai quan hệ kia không thể được dùng trong lý luận, trừ khi
chúng hoặc tác động đến, hoặc bị tác động bởi nhân quả.
Không có gì trong bất
kỳ đối tượng nào tự nó thuyết phục chúng ta rằng chúng luôn xa cách hoặc luôn kề
cận; và khi từ kinh nghiệm và quan sát chúng ta nhận ra rằng quan hệ của chúng
trong điểm này là bất biến, chúng ta luôn kết luận rằng có một nguyên nhân ẩn
nào đó tách rời hoặc kết nối chúng.
Lý luận tương tự cũng
áp dụng cho sự đồng nhất. Chúng ta dễ dàng giả định rằng một đối tượng có thể vẫn
là cùng một cá thể, dù nhiều lần vắng mặt và hiện diện với giác quan; và chúng
ta gán cho nó sự đồng nhất, bất chấp sự gián đoạn của tri giác, bất cứ khi nào
chúng ta kết luận rằng nếu mắt hay tay ta giữ liên tục trên nó, nó sẽ truyền đến
chúng ta một tri giác không đổi và liên tục.
Nhưng kết luận vượt
ra ngoài những ấn tượng của giác quan này chỉ có thể dựa trên liên hệ của nhân
quả; và không có cách nào khác để chúng ta có được sự chắc chắn rằng đối tượng
không bị thay đổi trước ta, dù đối tượng mới có thể giống đối tượng trước đó đến
mức nào.
Bất cứ khi nào chúng
ta nhận ra sự tương tự hoàn hảo như vậy, chúng ta sẽ xem xét liệu nó có phổ biến
trong loại đối tượng ấy hay không; liệu có thể hoặc có xác suất rằng một nguyên
nhân nào đó đã tác động để tạo ra sự thay đổi và sự tương tự ấy hay không; và
tùy theo cách chúng ta xác định những nguyên nhân và kết quả này, chúng ta hình
thành phán đoán về sự đồng nhất của đối tượng.
T 1.3.2.3, SBN 74
Vậy thì ở đây có vẻ
rõ rằng, trong ba quan hệ ấy — vốn không phụ thuộc vào những ý niệm thuần túy —
thì quan hệ duy nhất có thể truy theo vượt ra ngoài những giác quan của chúng
ta, và thông báo cho chúng ta về những hiện hữu và đối tượng mà chúng ta không
nhìn thấy hay cảm nhận được, chính là nhân quả.
Do đó, chúng ta sẽ cố
gắng giải thích đầy đủ quan hệ này trước khi rời khỏi đề tài về hiểu biết.
T 1.3.2.4, SBN 74–75
Để bắt đầu một cách
có thứ tự, chúng ta phải xem xét ý niệm về nhân quả, và tìm xem nó bắt nguồn từ
đâu.
Không thể lý luận
đúng đắn mà không hiểu đầy đủ ý niệm mà chúng ta đang lý luận về; và cũng không
thể hiểu đầy đủ bất kỳ ý niệm nào mà không truy về nguồn gốc của nó, và khảo
sát ấn tượng nguyên sơ từ đó nó phát sinh.
Việc khảo sát ấn tượng
làm sáng tỏ ý niệm; và việc khảo sát ý niệm cũng làm sáng tỏ tương tự toàn bộ
lý luận của chúng ta.
T 1.3.2.5, SBN 75
Vậy hãy hướng nhìn
vào bất kỳ hai đối tượng nào mà chúng ta gọi là nguyên nhân và kết quả, và xem
xét chúng theo mọi phía, để tìm ra ấn tượng nào sinh ra một ý niệm có tầm quan
trọng lớn như vậy.
Thoạt nhìn, tôi nhận
thấy rằng tôi không nên tìm nó trong bất kỳ phẩm chất riêng biệt nào của những
đối tượng; vì dù tôi chọn phẩm chất nào, tôi cũng đều thấy có những đối tượng
không có phẩm chất ấy, nhưng vẫn được gọi là nguyên nhân hay kết quả.
Và thực vậy, không có
gì hiện hữu, dù bên ngoài hay bên trong, mà không thể được xem là nguyên nhân
hoặc kết quả; tuy nhiên rõ ràng là không có một phẩm chất nào thuộc về mọi hữu
thể, để trao cho chúng danh hiệu ấy.
T 1.3.2.6, SBN 75
Vậy thì ý niệm về
nhân quả phải bắt nguồn từ một quan hệ nào đó giữa những đối tượng; và chúng ta
phải cố gắng khám phá quan hệ đó ngay bây giờ.
Trước hết, tôi thấy rằng
bất kỳ đối tượng nào được xem là nguyên nhân hay kết quả đều kề cận nhau; và
không có gì có thể tác động trong một thời gian hay nơi chốn hoàn toàn tách biệt
khỏi thời gian và nơi chốn hiện hữu của nó.
Dù đôi khi những đối
tượng ở xa có vẻ như tác động lẫn nhau, nhưng khi khảo sát kỹ, người ta luôn thấy
chúng được liên kết bởi một chuỗi nguyên nhân kề cận nhau, và kề cận với cả những
đối tượng ở xa; và khi trong bất kỳ trường hợp đặc thù nào chúng ta không thể
nhận ra được sự liên kết ấy, chúng ta vẫn giả định rằng nó hiện hữu.
Do đó, chúng ta có thể
coi kề cận là một điều kiện cần của quan hệ nhân quả; hoặc ít nhất là giả định
như vậy theo quan điểm chung, cho đến khi chúng ta có dịp thích hợp hơn để làm
rõ vấn đề này bằng cách khảo sát những đối tượng nào có thể hoặc không thể kề cận
và kết hợp với nhau.
T 1.3.2.7, SBN 75–76
Quan hệ thứ hai mà
tôi nhận thấy là cần thiết đối với nguyên nhân và kết quả không được thừa nhận
một cách phổ quát như vậy, mà còn có thể là đối tượng của một số tranh luận. Đó
là quan hệ nguyên nhân có trước kết quả về mặt thời gian. Một số người cho rằng
nguyên nhân không nhất thiết phải đi trước kết quả của nó; mà bất kỳ đối tượng
hay hành động nào, ngay trong khoảnh khắc đầu tiên của sự hiện hữu, đều có thể
phát huy năng lực sản sinh của mình và làm nảy sinh một đối tượng hay hành động
khác hoàn toàn đồng thời với chính nó.
Nhưng ngoài việc kinh
nghiệm trong phần lớn những trường hợp dường như mâu thuẫn với quan điểm này,
chúng ta còn có thể xác lập quan hệ có trước ấy bằng một dạng suy luận hay lý
luận. Đây là một châm ngôn đã được xác lập trong cả triết học tự nhiên lẫn triết
học đạo đức, rằng một đối tượng, nếu hiện hữu trong một khoảng thời gian với
toàn bộ sự hoàn thiện của nó mà không sản sinh ra một đối tượng khác, thì không
phải là nguyên nhân duy nhất của đối tượng ấy; mà còn được hỗ trợ bởi một
nguyên lý nào khác, nguyên lý này đẩy nó ra khỏi trạng thái không hoạt động và
khiến nó phát huy năng lực mà trước đó nó vẫn ngầm sở hữu.
Bây giờ, nếu bất kỳ
nguyên nhân nào cũng có thể hoàn toàn đồng thời với kết quả của nó, thì theo
châm ngôn này, chắc chắn tất cả những nguyên nhân đều phải như vậy; vì bất kỳ
nguyên nhân nào trì hoãn tác động của mình dù chỉ một khoảnh khắc, thì cũng
không phát huy chính mình vào đúng khoảnh khắc mà nó có thể đã phát huy; và do
đó không phải là một nguyên nhân đúng nghĩa.
Hệ quả của điều này sẽ
không gì khác hơn là sự phá hủy chuỗi kế tiếp của những nguyên nhân mà chúng ta
quan sát thấy trong thế giới; và thực ra là sự tiêu hủy hoàn toàn của thời
gian. Vì nếu một nguyên nhân đồng thời với kết quả của nó, rồi kết quả ấy lại đồng
thời với kết quả của chính nó, và cứ tiếp tục như vậy, thì rõ ràng sẽ không còn
cái gọi là sự kế tiếp, và mọi đối tượng đều phải cùng hiện hữu.
T 1.3.2.8, SBN 76
Nếu lập luận này có vẻ
thỏa đáng thì rất tốt. Nếu không, tôi xin độc giả cho phép tôi được sử dụng
cùng một sự tự do như tôi đã dùng trong trường hợp trước, tức là giả định rằng
nó là thỏa đáng. Vì rồi độc giả sẽ thấy rằng vấn đề này không có tầm quan trọng
lớn.
T 1.3.2.9, SBN 76–77
Sau khi tìm ra, hoặc
giả định, rằng hai quan hệ kề cận và kế tiếp là cần thiết đối với nguyên nhân
và kết quả, tôi thấy mình dừng lại ở đó, và không thể tiến xa hơn trong việc
xem xét bất kỳ một trường hợp riêng lẻ nào của nguyên nhân và kết quả. Chuyển động
của một vật thể, khi va chạm, được coi là nguyên nhân của chuyển động của một vật
thể khác. Khi xem xét những đối tượng này với sự chú ý cao nhất, chúng ta chỉ
thấy rằng vật thể này tiến đến gần vật thể kia; và chuyển động của nó đi trước
chuyển động của vật thể kia, nhưng không có một khoảng cách thời gian nào có thể
cảm nhận được. Thật vô ích khi tự làm khổ mình bằng những suy nghĩ và sự tự suy
ngẫm thêm nữa về đề tài này. Chúng ta không thể đi xa hơn khi xem xét trường hợp
riêng lẻ này.
T 1.3.2.10, SBN 77
Nếu có ai bỏ qua trường
hợp này, rồi định nghĩa nguyên nhân bằng cách nói rằng nó là một gì đó sản sinh
ra một cái khác, thì rõ ràng người ấy chẳng nói lên được điều gì cả. Vì người ấy
muốn nói gì bởi sự sản sinh? Liệu người ấy có thể đưa ra một định nghĩa nào về
nó mà không lại chính là định nghĩa của quan hệ nhân quả hay không? Nếu có, tôi
mong người ấy hãy đưa nó ra. Nếu không, thì người ấy chỉ đang lập luận vòng
quanh, và dùng một từ đồng nghĩa thay cho một định nghĩa.
T 1.3.2.11, SBN 77
Vậy thì chúng ta có
nên bằng lòng với hai quan hệ kề cận và kế tiếp này, như thể chúng đã cung cấp
một ý niệm đầy đủ về quan hệ nhân quả hay không? Hoàn toàn không. Một đối tượng
có thể kề cận và có trước một đối tượng khác, mà không được coi là nguyên nhân
của nó. Còn có một sự kết nối tất yếu cần phải được xem xét; và quan hệ này
quan trọng hơn nhiều so với hai quan hệ vừa được nói đến.
T 1.3.2.12, SBN 77
Một lần nữa, tôi xoay
đối tượng về mọi phía, để tìm ra bản chất của sự kết nối tất yếu này, và tìm ấn
tượng, hay những ấn tượng, mà từ đó ý niệm về nó có thể bắt nguồn. Khi tôi nhìn
vào những phẩm chất đã biết của những đối tượng, tôi lập tức tìm ra rằng quan hệ
nguyên nhân và kết quả hoàn toàn không phụ thuộc vào chúng. Khi xem xét những
quan hệ của chúng, tôi không tìm thấy quan hệ nào ngoài kề cận và kế tiếp; mà
tôi đã xem là không hoàn hảo và không thỏa đáng. Vậy chẳng lẽ vì tuyệt vọng
không thành công mà tôi lại khẳng định rằng ở đây mình có một ý niệm không hề
được đi trước bởi bất kỳ ấn tượng tương tự nào? Điều đó sẽ là một bằng chứng
quá rõ về sự hấp tấp và thiếu nhất quán; vì nguyên tắc ngược lại đã được xác lập
quá vững chắc đến mức không còn chỗ cho bất kỳ sự nghi ngờ nào nữa, ít nhất là
cho đến khi chúng ta khảo sát đầy đủ hơn khó khăn hiện tại.
T 1.3.2.13, SBN 77–78
Do đó, chúng ta phải
tiến hành như những người đang tìm kiếm một điều gì đó bị che giấu khỏi họ, và
khi không tìm thấy nó ở nơi họ đã mong đợi, thì dò dẫm khắp những vùng lân cận,
không theo bất kỳ cái nhìn hay dự định xác định nào, với hy vọng rằng vận may của
họ cuối cùng sẽ dẫn họ đến điều họ đang tìm kiếm.
Vì vậy, cần thiết đối
với chúng ta là phải rời bỏ việc khảo sát trực tiếp câu hỏi về bản chất của sự
kết nối tất yếu vốn đi vào ý niệm của chúng ta về nguyên nhân và kết quả,
và cố gắng tìm đến một số câu hỏi khác, mà việc khảo sát chúng có lẽ sẽ đem lại
một gợi ý, có thể dùng để làm sáng tỏ khó khăn hiện tại.
Trong số những câu hỏi
ấy, có hai câu xuất hiện, mà tôi sẽ lần lượt khảo sát, cụ thể là:
T 1.3.2.14, SBN 78
Thứ nhất, vì lý do gì
chúng ta tuyên bố rằng mọi sự vật có sự hiện hữu bắt đầu đều tất yếu phải
có một nguyên nhân?
T 1.3.2.15, SBN 78
Thứ hai, tại sao
chúng ta kết luận rằng những nguyên nhân đặc thù như vậy tất yếu phải có
những kết quả đặc thù như vậy; và bản chất của suy luận mà chúng ta rút
ra từ cái này sang cái kia, cũng như của tin tưởng mà chúng ta đặt vào
suy luận ấy, là gì?
T 1.3.2.16, SBN 78
Trước khi tiến xa
hơn, tôi chỉ xin lưu ý rằng mặc dù những ý niệm về nguyên nhân và kết quả bắt
nguồn từ những ấn tượng của sự tự suy ngẫm cũng như từ những ấn tượng của cảm
giác, nhưng để ngắn gọn, tôi thường chỉ nhắc đến loại sau như nguồn gốc của những
ý niệm ấy; mặc dù tôi mong rằng bất cứ điều gì tôi nói về chúng cũng sẽ được hiểu
là áp dụng cho cả loại trước.
Những đam mê liên kết
với những đối tượng của chúng và với nhau, cũng không kém gì những vật thể bên
ngoài liên kết với nhau. Vì vậy, cùng một quan hệ nguyên nhân và kết quả thuộc
về cái này cũng phải là quan hệ chung của tất cả chúng.
T 1.3.2.6n16, SBN 75
[16.] Part IV. Sect. 5.
MỤC III.
Tại sao nguyên nhân
luôn luôn là tất yếu
T 1.3.3.1, SBN 78–9
Để bắt đầu với câu hỏi
thứ nhất về tính tất yếu của nguyên nhân: Trong triết học có một châm ngôn tổng
quát rằng bất cứ điều gì bắt đầu hiện hữu đều phải có một nguyên nhân của sự hiện
hữu. Châm ngôn này thường được mặc nhiên thừa nhận trong mọi lý luận, mà không
cần đưa ra hay đòi hỏi bất kỳ bằng chứng nào. Người ta cho rằng nó được đặt nền
tảng trên trực giác, và là một trong những châm ngôn mà tuy có thể bị phủ nhận
bằng lời nói, nhưng con người không thể thực sự nghi ngờ trong lòng. Nhưng nếu
chúng ta khảo sát châm ngôn này bằng ý niệm về tri thức đã được giải thích ở
trên, chúng ta sẽ không tìm thấy trong đó bất kỳ dấu hiệu nào của sự chắc chắn
trực giác như vậy; trái lại, sẽ thấy rằng nó có một bản chất hoàn toàn xa lạ với
loại xác tín ấy. [4]
T 1.3.3.2, SBN 79
Mọi sự chắc chắn đều
nảy sinh từ sự so sánh những ý niệm, và từ việc tìm ra những quan hệ bất biến,
miễn là những ý niệm vẫn giữ nguyên như cũ. Những quan hệ ấy là sự tương tự, những
tỉ lệ về lượng hay con số, những mức độ của bất kỳ phẩm chất nào, và sự đối lập;
không một quan hệ nào trong số đó được hàm chứa trong mệnh đề: Bất cứ điều gì bắt
đầu hiện hữu đều cũng có một nguyên nhân của sự hiện hữu. Do đó, mệnh đề ấy
không có sự chắc chắn của trực giác. Ít nhất, bất kỳ ai muốn khẳng định rằng mệnh
đề ấy có sự chắc chắn của trực giác thì phải phủ nhận rằng đây là những quan hệ
duy nhất không thể sai lầm, đồng thời phải tìm ra một quan hệ khác cùng loại được
hàm chứa trong mệnh đề ấy; khi đó sẽ là lúc thích hợp để khảo sát quan hệ đó.
T 1.3.3.3, SBN 79–80
Nhưng ở đây có một lập
luận chứng minh ngay rằng mệnh đề trên không phải là chắc chắn trực giác cũng
không phải chắc chắn chứng minh. Chúng ta không thể chứng minh tính tất yếu của
một nguyên nhân đối với mọi sự hiện hữu mới, hay mọi biến đổi mới của sự hiện hữu,
mà không đồng thời chỉ ra tính không thể rằng bất cứ điều gì có thể bắt đầu hiện
hữu mà không có một nguyên tắc sản xuất nào; và khi mệnh đề sau không thể được
chứng minh, thì chúng ta phải tuyệt vọng về khả năng chứng minh mệnh đề trước.
Bây giờ, rằng mệnh đề
sau hoàn toàn không thể có một chứng minh diễn dịch, chúng ta có thể tự thuyết
phục bằng cách xem xét rằng, vì tất cả những ý niệm phân biệt đều có thể tách rời
khỏi nhau, và vì những ý niệm về nguyên nhân và kết quả rõ ràng là phân biệt,
thì chúng ta có thể dễ dàng hình dung một đối tượng không hiện hữu ở khoảnh khắc
này và hiện hữu ở khoảnh khắc tiếp theo, mà không kết hợp với nó ý niệm phân biệt
về một nguyên nhân hay nguyên tắc sản xuất.
Sự tách rời, do đó, của
ý niệm về một nguyên nhân khỏi ý niệm về một sự bắt đầu hiện hữu là hoàn toàn
khả hữu đối với trí tưởng tượng; và do đó, sự tách rời thực sự của những đối tượng
này cũng khả hữu đến mức không hàm chứa mâu thuẫn hay vô lý nào; và vì thế
không thể bị bác bỏ bằng bất kỳ lý luận nào từ những ý niệm đơn thuần; mà nếu
không có điều đó thì không thể chứng minh tính tất yếu của một nguyên nhân.
T 1.3.3.4, SBN 80
Theo đó, chúng ta sẽ
thấy rằng mọi chứng minh từng được đưa ra cho tính tất yếu của một nguyên nhân
đều là sai lầm và ngụy biện.
Tất cả những thời điểm
và nơi chốn, một số nhà triết học nói, mà trong đó chúng ta có thể giả định bất
kỳ đối tượng nào bắt đầu hiện hữu, đều bằng nhau xét tự thân; và trừ khi có một
nguyên nhân nào đó đặc thù với một thời điểm và một nơi chốn, và bằng cách đó
xác định và cố định sự hiện hữu, thì nó phải rơi vào tình trạng lơ lửng vĩnh viễn;
và đối tượng không thể bắt đầu hiện hữu, vì thiếu một một gì đó để cố định sự bắt
đầu của nó.
Nhưng tôi hỏi: có khó
khăn gì hơn khi giả định rằng thời gian và nơi chốn được cố định mà không có
nguyên nhân, so với việc giả định rằng sự hiện hữu được xác định theo cách đó
không?
Câu hỏi đầu tiên nảy
sinh về đề tài này luôn là: liệu đối tượng có hiện hữu hay không. Câu tiếp theo
là: khi nào và ở đâu nó bắt đầu hiện hữu.
Nếu việc loại bỏ một
nguyên nhân là vô lý về mặt trực giác trong trường hợp này, thì nó cũng phải
như vậy trong trường hợp kia; và nếu sự vô lý ấy không hiển nhiên nếu không có
chứng minh trong trường hợp này, thì nó cũng sẽ đòi hỏi chứng minh trong trường
hợp kia.
Do đó, sự vô lý của
giả định này không bao giờ có thể là một chứng minh cho sự vô lý của giả định
kia; vì cả hai đều ở trên cùng một nền tảng, và phải cùng đứng hoặc cùng sụp đổ
theo một lý luận như nhau.
T 1.3.3.5, SBN 80–81
Lập luận thứ hai [18]
mà tôi thấy được sử dụng về vấn đề này cũng gặp phải khó khăn tương đương. Mọi
thứ, người ta nói, phải có một nguyên nhân; vì nếu bất cứ thứ gì thiếu một
nguyên nhân, nó sẽ tự sản xuất ra chính mình; tức là, hiện hữu trước khi nó hiện
hữu; điều đó là không thể.
Nhưng lý luận này rõ
ràng là không có kết luận; bởi vì nó giả định rằng trong việc phủ nhận một
nguyên nhân, chúng ta vẫn thừa nhận điều mà chúng ta tường minh phủ nhận, cụ thể
là phải có một nguyên nhân; nguyên nhân đó vì vậy được lấy làm chính đối tượng ấy;
và điều đó, không còn nghi ngờ gì, là một mâu thuẫn hiển nhiên.
Nhưng nói rằng bất cứ
thứ gì được sản xuất ra, hay để diễn đạt chính xác hơn, đi vào hiện hữu mà
không có nguyên nhân, không phải là khẳng định rằng nó là nguyên nhân của chính
nó; mà ngược lại, khi loại trừ tất cả những nguyên nhân bên ngoài, nó loại trừ a
fortiori chính sự vật được tạo ra.
Một đối tượng hiện hữu
tuyệt đối không có bất kỳ nguyên nhân nào, chắc chắn không phải là nguyên nhân
của chính nó; và khi bạn khẳng định rằng cái này suy ra từ cái kia, bạn đang giả
định chính điều đang được đặt vấn đề, và coi là hiển nhiên rằng hoàn toàn không
thể có bất cứ thứ gì bắt đầu hiện hữu mà không có nguyên nhân; nhưng rằng khi
loại bỏ một nguyên tắc sản xuất, chúng ta vẫn phải quay về một nguyên tắc khác.
T 1.3.3.6, SBN 81
Chính xác cũng là trường
hợp tương tự với lập luận thứ ba [19] đã được sử dụng để chứng minh tính tất yếu
của một nguyên nhân.
Bất cứ thứ gì được sản
xuất ra mà không có bất kỳ nguyên nhân nào, thì được sản xuất bởi không gì
cả; hay nói cách khác, có không gì là nguyên nhân của nó.
Nhưng không gì không
bao giờ có thể là một nguyên nhân, cũng giống như nó không thể là một gì đó,
hay bằng hai góc vuông.
Bằng cùng trực giác
mà chúng ta nhận thấy rằng không gì không bằng hai góc vuông, hay không phải là
một gì đó, chúng ta nhận thấy rằng nó không thể bao giờ là một nguyên nhân; và
do đó phải nhận thấy rằng mọi đối tượng đều có một nguyên nhân thực của sự hiện
hữu của nó.
T 1.3.3.7, SBN 81–2
Tôi nghĩ sẽ không cần
dùng nhiều lời để chỉ ra sự yếu kém của lập luận này, sau những gì tôi đã nói về
những lập luận trước đó. Tất cả chúng đều dựa trên cùng một ngụy biện, và xuất
phát từ cùng một cách chuyển ý. Chỉ cần nhận xét rằng, khi chúng ta loại bỏ mọi
nguyên nhân, thì chúng ta thực sự loại bỏ chúng, và không hề giả định “không có
gì” hay chính đối tượng là nguyên nhân của sự hiện hữu; và do đó không thể rút
ra bất kỳ lập luận nào từ sự vô lý của những giả định ấy để chứng minh sự vô lý
của việc loại bỏ nguyên nhân. Nếu mọi thứ phải có nguyên nhân, thì từ việc loại
bỏ những nguyên nhân khác sẽ suy ra rằng chúng ta phải chấp nhận hoặc chính đối
tượng, hoặc “không có gì”, như là nguyên nhân. Nhưng chính điều đang được đặt vấn
đề là liệu mọi thứ có phải có nguyên nhân hay không; và do đó, theo mọi lối lý
luận đúng đắn, điều đó không bao giờ được phép giả định sẵn.
T 1.3.3.8, SBN 82
Những người còn tầm
thường hơn nữa là những người nói rằng mọi kết quả phải có nguyên nhân, bởi vì
điều đó đã được hàm chứa ngay trong ý niệm về “kết quả”. Mọi kết quả tất yếu giả
định một nguyên nhân; vì “kết quả” là một thuật ngữ tương quan, trong đó
“nguyên nhân” là cái tương ứng. Nhưng điều này không chứng minh rằng mọi hiện hữu
đều phải được đi trước bởi một nguyên nhân; cũng như từ việc mọi người chồng đều
phải có vợ, không suy ra rằng mọi người đàn ông đều phải kết hôn. Vấn đề thực sự
là liệu mọi đối tượng bắt đầu hiện hữu có phải vay mượn sự hiện hữu của nó từ một
nguyên nhân hay không; và điều này, tôi khẳng định, không phải là chân lý trực
giác hay chứng minh, và tôi hy vọng đã chứng minh đủ bằng những lập luận trên.
T 1.3.3.9, SBN 82
Vì không phải từ tri
thức hay bất kỳ suy luận khoa học nào mà chúng ta rút ra ý kiến về tính tất yếu
của một nguyên nhân cho mọi sự sản sinh mới, nên ý kiến đó tất yếu phải xuất
phát từ quan sát và kinh nghiệm. Câu hỏi tiếp theo một cách tự nhiên sẽ là: kinh
nghiệm làm nảy sinh nguyên lý này như thế nào? Nhưng vì tôi thấy sẽ thuận
tiện hơn nếu gộp câu hỏi này vào câu hỏi sau: tại sao chúng ta kết luận rằng
những nguyên nhân đặc thù phải có những kết quả đặc thù, và tại sao chúng ta
hình thành suy luận từ cái này sang cái kia? nên chúng ta sẽ lấy đó làm đề
tài của khảo sát tiếp theo. Có lẽ cuối cùng sẽ thấy rằng cùng một câu trả lời
có thể dùng cho cả hai câu hỏi.
T 1.3.3.4n17, SBN 80
[17.] Mr. Hobbes.
T 1.3.3.5n18, SBN 80
[18.]Dr. Clarke and others.
MỤC IV.
Về những Phần Cấu
Thành Của Những Suy Luận Của Chúng Ta Về Nguyên Nhân Và Kết Quả
T 1.3.4.1, SBN 82–3
Dù não thức trong những
suy luận từ nguyên nhân hay kết quả có đưa tầm nhìn của nó vượt ra ngoài những
đối tượng mà nó thấy hay nhớ, nó vẫn không bao giờ được đánh mất hoàn toàn những
đối tượng ấy khỏi tầm nhìn, cũng không được lý luận chỉ trên những ý niệm của
chính nó mà không có sự pha trộn nào của những ấn tượng, hoặc ít nhất là những
ý niệm của trí nhớ — những cái tương đương với những ấn tượng. Khi chúng ta suy
ra những kết quả từ những nguyên nhân, chúng ta phải xác lập sự hiện hữu của những
nguyên nhân này; điều mà chúng ta chỉ có hai cách để làm: hoặc bằng một tri
giác trực tiếp của trí nhớ hay những giác quan, hoặc bằng một suy luận từ những
nguyên nhân khác; và những nguyên nhân này lại phải được xác định theo cùng
cách, hoặc bằng một ấn tượng hiện tại, hoặc bằng một suy luận từ những nguyên
nhân của chúng, và cứ như vậy, cho đến khi chúng ta đạt đến một đối tượng mà
chúng ta thấy hay nhớ. Không thể nào chúng ta kéo dài những suy luận của mình đến
vô hạn; và điều duy nhất có thể chặn chúng lại là một ấn tượng của trí nhớ hay
những giác quan, vượt ra ngoài đó không còn chỗ cho nghi ngờ hay khảo sát.
T 1.3.4.2, SBN 83
Để đưa ra một ví dụ về
điều này, chúng ta có thể chọn bất kỳ điểm nào của lịch sử, và xem xét vì lý do
gì chúng ta hoặc tin hoặc bác bỏ nó. Chẳng hạn, chúng ta tin rằng Caesar đã bị
giết trong viện nguyên lão vào ngày Ides tháng Ba; [5] và
điều đó là vì sự kiện này được xác lập trên lời chứng nhất trí của những sử
gia, những người đều đồng ý quy định chính xác thời gian và nơi chốn ấy cho biến
cố đó. Ở đây có những ký tự và chữ viết nhất định hiện diện hoặc với trí nhớ hoặc
với những giác quan của chúng ta; những ký tự này chúng ta cũng nhớ đã được
dùng làm những dấu hiệu của những ý niệm nhất định; và những ý niệm ấy hoặc đã ở
trong não thức của những người trực tiếp có mặt tại hành động đó, và đã tiếp nhận
chúng trực tiếp từ sự hiện hữu của biến cố; hoặc chúng được bắt nguồn từ lời chứng
của những người khác, rồi lời chứng ấy lại bắt nguồn từ một lời chứng khác nữa,
qua một chuỗi chuyển tiếp có thể nhận thấy được, cho đến khi chúng ta đạt đến
những người đã tận mắt chứng kiến và trực tiếp quan sát biến cố ấy.
Rõ ràng toàn bộ chuỗi
lập luận, hay sự kết nối giữa nguyên nhân và kết quả này, lúc đầu đều được đặt
nền tảng trên những ký tự hay chữ viết được nhìn thấy hoặc được nhớ lại; và nếu
không có thẩm quyền của trí nhớ hay những giác quan thì toàn bộ lý luận của
chúng ta sẽ chỉ là hư cấu và không có nền tảng. Trong trường hợp đó, mọi mắt
xích của chuỗi sẽ chỉ treo vào một mắt xích khác; nhưng sẽ không có gì được cố
định ở một đầu của chuỗi để nâng đỡ toàn bộ; và do đó sẽ không có tin tưởng
cũng như không có bằng chứng. Và đây thực sự là trường hợp của mọi lập luận giả
định, hay những lý luận dựa trên một giả định; vì trong chúng không có ấn tượng
hiện tại nào, cũng không có tin tưởng vào một sự hiện hữu thực.
T 1.3.4.3, SBN 84
Tôi không cần phải
lưu ý rằng sẽ không phải là một phản đối chính đáng đối với học thuyết hiện tại
nếu nói rằng chúng ta có thể lý luận dựa trên những kết luận hay nguyên lý trước
đây của mình mà không cần quay lại những ấn tượng từ đó chúng ban đầu nảy sinh.
Vì ngay cả khi giả sử những ấn tượng ấy đã hoàn toàn bị xóa khỏi trí nhớ, thì sự
xác tín mà chúng tạo ra vẫn có thể còn lại; và cũng đúng như vậy rằng mọi lý luận
về nguyên nhân và kết quả ban đầu đều bắt nguồn từ một ấn tượng nào đó; cũng
như sự xác chắc của một chứng minh luôn luôn xuất phát từ sự so sánh những ý niệm,
mặc dù nó vẫn có thể tiếp tục hiện hữu sau khi sự so sánh ấy đã bị quên đi.
T 1.3.5.1, SBN 84
MỤC V.
Về Những Ấn Tượng Của
những Giác Quan Và Trí Nhớ
T 1.3.5.1, SBN 84
Vậy thì trong loại lý
luận từ quan hệ nhân quả này, chúng ta sử dụng những chất liệu có bản chất pha
trộn và không đồng nhất; và tuy được kết nối với nhau, chúng vẫn về bản chất
khác biệt với nhau. Tất cả những lập luận của chúng ta về nguyên nhân và kết quả
đều bao gồm một ấn tượng của trí nhớ hay những giác quan, và ý niệm về sự hiện
hữu tạo ra đối tượng của ấn tượng ấy, hoặc được chính đối tượng ấy tạo ra. Do
đó, ở đây có ba điều chúng ta cần giải thích, đó là: thứ nhất, ấn tượng ban đầu;
thứ hai, sự chuyển tiếp sang ý niệm về nguyên nhân hay kết quả có sự kết nối;
và thứ ba, bản chất và những phẩm chất của ý niệm ấy.
T 1.3.5.2, SBN 84
Đối với những ấn tượng
nảy sinh từ những giác quan, nguyên nhân tối hậu của chúng, theo ý kiến của
tôi, hoàn toàn không thể được giải thích bằng lý trí con người; và sẽ luôn
không thể quyết định một cách chắc chắn liệu chúng nảy sinh trực tiếp từ đối tượng,
hay được tạo ra bởi năng lực sáng tạo của não thức, hay được bắt nguồn từ Đấng
sáng tạo nên sự hiện hữu của chúng ta [6] .
Một câu hỏi như vậy cũng hoàn toàn không có ý nghĩa gì đối với mục đích hiện tại
của chúng ta. Chúng ta có thể rút ra những suy luận từ sự mạch lạc của những
tri giác của mình, dù chúng đúng hay sai; dù chúng phản ánh tự nhiên một cách
trung thực, hay chỉ là những ảo giác của những giác quan.
T 1.3.5.3, SBN 85
Khi chúng ta tìm kiếm
đặc điểm phân biệt trí nhớ với trí tưởng tượng, chúng ta phải ngay lập tức nhận
thấy rằng nó không thể nằm ở những ý niệm đơn giản mà chúng trình bày với chúng
ta; vì cả hai năng lực này đều mượn những ý niệm đơn giản của mình từ những ấn
tượng, và không bao giờ có thể vượt ra ngoài những tri giác nguyên thủy ấy. Hai
năng lực này cũng ít được phân biệt với nhau bởi sự sắp xếp những ý niệm phức hợp
của chúng. Vì mặc dù việc gìn giữ thứ tự và vị trí ban đầu của những ý niệm là
một tính chất đặc thù của trí nhớ, trong khi trí tưởng tượng thì hoán đổi và
thay đổi chúng theo ý mình; nhưng sự khác biệt này không đủ để phân biệt chúng
trong hoạt động của chúng, hay giúp chúng ta nhận biết cái này với cái kia; bởi
lẽ không thể gợi lại những ấn tượng trong quá khứ để so sánh chúng với những ý
niệm hiện tại của chúng ta, và xem liệu sự sắp xếp của chúng có hoàn toàn giống
nhau hay không. Vì vậy, nếu trí nhớ không được nhận biết nhờ thứ tự của những ý
niệm phức hợp của nó, cũng không nhờ bản chất của những ý niệm đơn giản của nó,
thì hệ quả là sự khác biệt giữa nó và trí tưởng tượng nằm ở sức mạnh và sự sống
động vượt trội của nó. Một người có thể mặc sức tưởng tượng để hư cấu nên bất kỳ
cảnh phiêu lưu nào trong quá khứ; và sẽ không có cách nào phân biệt điều đó với
một ký ức cùng loại, nếu những ý niệm của trí tưởng tượng không mờ nhạt và lu mờ
hơn.
T 1.3.5.4, SBN 627–8
Thường xảy ra rằng
khi hai người cùng tham dự vào một sự việc nào đó, thì người này nhớ nó rõ hơn
người kia rất nhiều, và gặp đủ mọi khó khăn để làm cho bạn mình nhớ lại. Người ấy
lần lượt nhắc đến nhiều tình tiết nhưng đều vô ích; nhắc đến thời gian, nơi chốn,
những người có mặt, những gì đã được nói, những gì đã được làm ở mỗi phía; cho
đến cuối cùng tình cờ nhắc đúng một tình tiết nào đó, khiến toàn bộ sự việc sống
dậy, và đem lại cho người bạn của mình một ký ức trọn vẹn về mọi chuyện. Ở đây,
lúc đầu người đã quên tiếp nhận tất cả những ý niệm từ lời thuật lại của người
kia, cùng với những hoàn cảnh về thời gian và nơi chốn; nhưng vẫn xem chúng chỉ
là những hư cấu của trí tưởng tượng. Thế nhưng, ngay khi tình tiết chạm đúng
vào trí nhớ được nhắc đến, thì chính những ý niệm ấy giờ đây xuất hiện dưới một
ánh sáng mới, và theo một nghĩa nào đó mang một cảm nhận khác hẳn trước đó.
Không có bất kỳ sự thay đổi nào khác ngoài sự thay đổi của cảm nhận ấy, chúng lập
tức trở thành những ý niệm của trí nhớ, và được não thức chấp nhận.
T 1.3.5.5, SBN 628,
85–6
Vì vậy, do trí tưởng
tượng có thể trình bày tất cả những đối tượng mà trí nhớ có thể đem đến cho
chúng ta, và vì hai năng lực này chỉ được phân biệt bởi cảm nhận khác nhau của
những ý niệm mà chúng trình bày, nên sẽ thích hợp nếu chúng ta xem xét bản chất
của cảm nhận ấy là gì. Và ở đây tôi tin rằng mọi người sẽ dễ dàng đồng ý với
tôi rằng những ý niệm của trí nhớ thì mạnh mẽ và sống động hơn những ý niệm của
trí tưởng tượng. Một họa sĩ, khi muốn khắc họa một đam mê hay một cảm xúc nào
đó, sẽ cố gắng quan sát một người đang thực sự bị chi phối bởi một cảm xúc
tương tự, để làm cho những ý niệm của mình trở nên sinh động hơn, và đem lại
cho chúng một sức mạnh và sự sống động vượt trội so với những ý niệm chỉ là những
hư cấu của trí tưởng tượng. Ký ức ấy càng mới thì ý niệm càng rõ ràng; và khi
sau một khoảng thời gian dài ông quay trở lại ngắm nhìn đối tượng của mình, ông
luôn thấy ý niệm về nó đã phai nhạt đi rất nhiều, nếu chưa hoàn toàn bị xóa mờ.
Chúng ta thường phân vân về những ý niệm của trí nhớ khi chúng trở nên quá yếu ớt
và mờ nhạt; và không biết xác định liệu một hình ảnh nào đó bắt nguồn từ trí tưởng
tượng hay từ trí nhớ, khi nó không được tô bằng những màu sắc sinh động vốn là
đặc điểm phân biệt của năng lực sau. Tôi nghĩ mình nhớ một sự việc như thế, có
người nói, nhưng không chắc. Một quãng thời gian dài gần như đã xóa nó khỏi trí
nhớ của tôi, và khiến tôi không biết chắc liệu nó có phải chỉ là sản phẩm thuần
túy của trí tưởng tượng của mình hay không.
T 1.3.5.6, SBN 86
Và cũng như một ý niệm
của trí nhớ, do mất đi sức mạnh và sự sống động của mình, có thể suy giảm đến mức
bị coi là một ý niệm của trí tưởng tượng; thì ngược lại, một ý niệm của trí tưởng
tượng cũng có thể đạt được một sức mạnh và sự sống động đến mức được xem như một
ý niệm của trí nhớ, và mô phỏng những tác động của nó đối với tin tưởng và sự
phán đoán. Điều này có thể thấy ở những kẻ nói dối; những người, do thường
xuyên lặp đi lặp lại những lời nói dối của mình, cuối cùng tin và nhớ chúng như
những sự việc có thật; bởi trong trường hợp này, cũng như trong nhiều trường hợp
khác, tập quán và thói quen có cùng một ảnh hưởng đối với não thức như tự
nhiên, và khắc sâu ý niệm với một sức mạnh và sinh lực ngang nhau.
T 1.3.5.7, SBN 86
Như vậy, có thể thấy
rằng tin tưởng, hay sự chấp nhận, vốn luôn đi kèm với trí nhớ và những giác
quan, không gì khác hơn là sự sống động của những tri giác mà chúng trình bày;
và chính điều đó là cái duy nhất phân biệt chúng với trí tưởng tượng. Tin,
trong trường hợp này, là cảm nhận một ấn tượng trực tiếp của những giác quan,
hoặc sự lặp lại của ấn tượng ấy trong trí nhớ.[7]
Chính sức mạnh và sự sống động của tri giác tạo thành hành động đầu tiên của sự
phán đoán, và đặt nền tảng cho toàn bộ lý luận mà chúng ta xây dựng trên đó khi
truy theo quan hệ nguyên nhân và kết quả.
MỤC VI.
Về Sự Suy Luận Từ Ấn
Tượng Đến Ý Niệm
T 1.3.6.1, SBN 86–7
Dễ dàng nhận thấy rằng
khi truy theo quan hệ này, suy luận mà chúng ta rút ra từ nguyên nhân đến kết
quả không bắt nguồn chỉ từ việc khảo sát những đối tượng đặc thù này, cũng
không từ một sự thấu suốt vào bản chất của chúng đủ để khám phá ra sự phụ thuộc
của cái này vào cái kia. Không có đối tượng nào, nếu chúng ta chỉ xem xét bản
thân nó và không bao giờ nhìn vượt ra ngoài những ý niệm mà chúng ta hình thành
về nó, lại hàm chứa sự hiện hữu của bất kỳ đối tượng nào khác. Một suy luận như
vậy sẽ tương đương với tri thức, và sẽ hàm ý rằng việc hình dung bất cứ điều gì
khác đều tuyệt đối mâu thuẫn và không thể xảy ra. Nhưng vì mọi ý niệm khác biệt
đều có thể tách rời khỏi nhau, nên rõ ràng không thể có sự không thể nào thuộc
loại ấy. Khi chuyển từ một ấn tượng hiện tại sang ý niệm về một đối tượng nào
đó, chúng ta hoàn toàn có thể tách ý niệm ấy khỏi ấn tượng, rồi thay vào chỗ của
nó bất kỳ ý niệm nào khác.
T 1.3.6.2, SBN 87
Vì vậy, chỉ nhờ KINH
NGHIỆM mà chúng ta mới có thể suy ra sự hiện hữu của một đối tượng từ sự hiện hữu
của một đối tượng khác. Bản chất của kinh nghiệm là như sau. Chúng ta nhớ rằng
mình đã nhiều lần gặp sự hiện hữu của một loại đối tượng; đồng thời cũng nhớ rằng
những cá thể của một loại đối tượng khác luôn đi kèm với chúng, và luôn hiện hữu
theo một thứ tự đều đặn của sự kề cận và sự kế tiếp đối với chúng. Chẳng hạn,
chúng ta nhớ mình đã nhìn thấy loại đối tượng mà chúng ta gọi là ngọn lửa,
và đã cảm nhận loại cảm giác mà chúng ta gọi là nhiệt. Chúng ta cũng nhớ
lại sự kết hợp thường hằng của chúng trong mọi trường hợp trước đây. Không cần
thêm bất kỳ bước trung gian nào, chúng ta gọi cái này là nguyên nhân,
cái kia là kết quả, rồi suy ra sự hiện hữu của cái này từ sự hiện hữu của
cái kia.
Trong tất cả những
trường hợp mà từ đó chúng ta học được sự kết hợp giữa những nguyên nhân và kết
quả đặc thù, cả nguyên nhân lẫn kết quả đều đã được những giác quan tri giác và
được trí nhớ ghi giữ. Nhưng trong mọi trường hợp mà chúng ta lý luận về chúng,
chỉ có một trong hai được tri giác hoặc được nhớ, còn cái kia được bổ sung (is
supply'd) cho phù hợp với kinh nghiệm quá khứ của chúng ta.[8]
T 1.3.6.3, SBN 87–8
Vậy, trong khi tiếp tục
lập luận, chúng ta đã không ngờ tìm ra một quan hệ mới giữa nguyên nhân và kết
quả, đúng vào lúc chúng ta ít mong đợi nhất, và khi đang hoàn toàn bận tâm đến
một đề tài khác. Quan hệ ấy là sự kết hợp thường hằng của chúng. Sự kề cận và kế
tiếp không đủ để khiến chúng ta khẳng định hai đối tượng là nguyên nhân và kết
quả, trừ khi chúng ta nhận thấy rằng hai quan hệ ấy được duy trì qua nhiều trường
hợp.
Giờ đây chúng ta có
thể thấy lợi ích của việc từ bỏ cách khảo sát trực tiếp quan hệ này để tìm ra bản
chất của sự kết nối tất yếu, vốn tạo thành một phần thiết yếu trong ý niệm
về quan hệ nhân quả. Có cơ sở để hy vọng rằng bằng con đường ấy cuối cùng chúng
ta sẽ đạt được mục đích đã đặt ra; mặc dù, nói thật, quan hệ mới được nhận ra
này — sự kết hợp thường hằng — dường như cũng không giúp chúng ta tiến được bao
xa.
Vì nó chẳng hàm ý gì
hơn ngoài điều này: những đối tượng giống nhau luôn được đặt trong những quan hệ
giống nhau về sự kề cận và sự kế tiếp. Và thoạt nhìn, dường như rõ ràng rằng bằng
cách ấy chúng ta sẽ không bao giờ khám phá được một ý niệm mới nào; chúng ta chỉ
có thể làm tăng số lượng, chứ không thể mở rộng phạm vi, của những đối tượng
trong não thức.
Người ta có thể nghĩ
rằng điều chúng ta không học được từ một đối tượng thì cũng sẽ không bao giờ học
được từ một trăm đối tượng, nếu tất cả chúng đều thuộc cùng một loại và hoàn
toàn giống nhau về mọi phương diện. Cũng như trong một trường hợp, những giác
quan chỉ cho chúng ta thấy hai vật thể, hai chuyển động, hay hai phẩm chất
trong một quan hệ nhất định về sự kế tiếp và sự kề cận; thì trí nhớ cũng chỉ
trình bày cho chúng ta một số lượng lớn những trường hợp mà trong đó chúng ta
luôn gặp những vật thể, chuyển động hay phẩm chất giống nhau trong những quan hệ
giống nhau.
Từ sự lặp lại đơn thuần
của bất kỳ ấn tượng quá khứ nào, dù lặp lại đến vô số lần, cũng sẽ không bao giờ
nảy sinh một ý niệm nguyên thủy mới, chẳng hạn như ý niệm về sự kết nối tất yếu;
và trong trường hợp này, số lượng ấn tượng cũng không tạo ra hiệu quả nào lớn
hơn so với khi chúng ta chỉ xét một trường hợp duy nhất.
Nhưng mặc dù lập luận
này có vẻ đúng đắn và hiển nhiên, sẽ là quá vội vàng nếu vì thế mà từ bỏ hy vọng.
Vì vậy, chúng ta sẽ tiếp tục mạch khảo sát của mình; và sau khi nhận thấy rằng,
một khi đã nhận ra sự kết hợp thường hằng giữa những đối tượng, chúng ta luôn
rút ra một suy luận từ đối tượng này sang đối tượng kia, giờ đây chúng ta sẽ khảo
sát bản chất của chính sự suy luận ấy, cũng như sự chuyển tiếp từ ấn tượng sang
ý niệm. Có lẽ cuối cùng sẽ thấy rằng chính sự kết nối tất yếu phụ thuộc vào sự
suy luận, chứ không phải sự suy luận phụ thuộc vào sự kết nối tất yếu.
T 1.3.6.4, SBN 88–9
Vì có vẻ rằng sự chuyển
tiếp từ một ấn tượng đang hiện diện với trí nhớ hay những giác quan sang ý niệm
về một đối tượng mà chúng ta gọi là nguyên nhân hay kết quả được đặt nền tảng
trên kinh nghiệm quá khứ và trên ký ức của chúng ta về sự kết hợp thường
hằng của chúng, nên câu hỏi tiếp theo là: kinh nghiệm tạo ra ý niệm ấy bằng
trí tuệ hay bằng trí tưởng tượng? Nói cách khác, phải chăng chính lý trí khiến
chúng ta thực hiện sự chuyển tiếp ấy, hay đó là kết quả của một sự liên kết và
kết hợp nhất định giữa những tri giác?
Nếu lý trí quyết định
chúng ta, thì nó hẳn phải dựa trên nguyên tắc rằng những trường hợp chúng ta
chưa từng kinh nghiệm phải giống với những trường hợp chúng ta đã từng kinh
nghiệm, và rằng tiến trình của tự nhiên luôn tiếp diễn một cách đồng đều.
Vì vậy, để làm sáng tỏ
vấn đề này, chúng ta hãy xem xét tất cả những lập luận mà người ta có thể cho
là làm nền tảng cho nguyên tắc ấy. Và vì những lập luận đó tất phải thuộc hoặc tri
thức, hoặc xác suất, nên chúng ta hãy lần lượt khảo sát từng loại bằng
chứng ấy để xem liệu chúng có thực sự dẫn đến một kết luận như vậy hay không.
T 1.3.6.5, SBN 89
Phương pháp lập luận
trước đây của chúng ta sẽ dễ dàng thuyết phục chúng ta rằng không thể có một lập
luận chứng minh nào chứng minh được rằng những trường hợp chúng ta chưa
từng kinh nghiệm sẽ giống với những trường hợp chúng ta đã từng kinh nghiệm.
Ít nhất, chúng ta
hoàn toàn có thể hình dung tiến trình của tự nhiên thay đổi; và chỉ riêng điều
đó cũng đủ chứng tỏ rằng một sự thay đổi như vậy không phải là điều tuyệt đối
không thể xảy ra.
Có thể hình thành một
ý niệm rõ ràng về bất kỳ điều gì là một bằng chứng không thể bác bỏ cho thấy điều
ấy là khả hữu; và chỉ riêng điều đó cũng đủ bác bỏ bất kỳ sự chứng minh nào muốn
khẳng định điều ngược lại.
T 1.3.6.6, SBN 89
XÁC SUẤT, vì không
khám phá những quan hệ của ý niệm xét như ý niệm, mà chỉ là những quan hệ giữa
những đối tượng, tất yếu phải được đặt nền tảng, ở một mặt, trên những ấn tượng
của trí nhớ và những giác quan, và ở mặt khác, trên những ý niệm của chúng ta.
Nếu không có sự pha trộn của bất kỳ ấn tượng nào trong những suy luận xác suất,
kết luận sẽ hoàn toàn mang tính hư cấu. Và nếu không có sự pha trộn của ý niệm,
hoạt động của não thức trong việc quan sát quan hệ, nói đúng hơn, sẽ là cảm
giác chứ không phải suy luận. Do đó, trong mọi suy luận xác suất, cần phải có một
một gì đó hiện diện với não thức, hoặc được nhìn thấy hoặc được nhớ; và từ đó
chúng ta suy ra một một gì đó liên kết với nó, nhưng không được nhìn thấy hay
nhớ.
T 1.3.6.7, SBN 89-90
Quan hệ hay liên kết
duy nhất của những đối tượng có thể dẫn chúng ta vượt ra ngoài những ấn tượng tức
thời của trí nhớ và những giác quan là quan hệ nhân quả; và điều đó là vì đây
là quan hệ duy nhất mà chúng ta có thể đặt nền tảng cho một suy luận đúng đắn từ
một đối tượng sang một đối tượng khác. Ý niệm về nguyên nhân và kết quả được
rút ra từ kinh nghiệm, vốn cho chúng ta biết rằng những đối tượng nhất định
trong tất cả những trường hợp quá khứ luôn luôn kết hợp với nhau. Và vì một đối
tượng giống với một trong số chúng được giả định là hiện diện trực tiếp trong ấn
tượng, chúng ta từ đó suy ra sự hiện hữu của một đối tượng giống với cái thường
đi kèm với nó. Theo cách trình bày này — mà, theo tôi, không có điểm nào có thể
nghi ngờ — xác suất được đặt nền tảng trên sự giả định về tính tương tự giữa những
đối tượng mà chúng ta đã có kinh nghiệm và những đối tượng mà chúng ta chưa có
kinh nghiệm; và do đó, chính sự giả định này không thể bắt nguồn từ xác suất.
Cùng một nguyên lý không thể vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của một nguyên
lý khác; và đây có lẽ là mệnh đề duy nhất về quan hệ này là tự hiển nhiên hoặc
có thể chứng minh.
T 1.3.6.8, SBN 90
Nếu có ai muốn tránh
lập luận này, và không xác định liệu suy luận của chúng ta về vấn đề này là từ
chứng minh hay xác suất, mà cho rằng mọi kết luận từ nguyên nhân và kết quả đều
được xây dựng trên cơ sở vững chắc, thì tôi chỉ yêu cầu người đó trình bày lập
luận ấy để chúng ta khảo sát. Có thể sẽ được nói rằng sau kinh nghiệm về sự kết
hợp thường xuyên của một số đối tượng, chúng ta lý luận như sau: một đối tượng
như vậy luôn luôn được thấy là sinh ra một đối tượng khác; nó không thể có hiệu
quả này nếu không được trang bị một năng lực sinh sản; năng lực đó tất yếu hàm
chứa kết quả; và do đó có cơ sở hợp lý để suy ra từ sự hiện hữu của một đối tượng
đến sự hiện hữu của đối tượng thường đi kèm với nó. Sự sinh sản trong quá khứ
hàm chứa một năng lực; năng lực hàm chứa một sự sinh sản mới; và sự sinh sản mới
là cái chúng ta suy ra từ năng lực và sự sinh sản trong quá khứ.
T 1.3.6.9, SBN 90–1
Thật dễ dàng để tôi
chỉ ra sự yếu của lý luận này, nếu tôi muốn dùng những quan sát mà tôi đã trình
bày trước đó — rằng ý niệm về sản sinh là đồng nhất với ý niệm về quan hệ nhân
quả, và rằng không có sự hiện hữu nào một cách chắc chắn và chứng minh hàm chứa
một năng lực trong bất kỳ đối tượng nào khác; hoặc nếu thích hợp, tôi cũng có
thể dự báo những điều tôi sẽ có dịp nhận xét về sau liên quan đến ý niệm về
năng lực và hiệu lực. Nhưng vì một phương pháp như vậy có thể làm suy yếu hệ thống
của tôi, khi đặt một phần của nó dựa trên một phần khác, hoặc gây rối trong
trình tự lập luận, tôi sẽ cố gắng duy trì khẳng định hiện tại mà không cần sự
trợ giúp đó.
T 1.3.6.10, SBN 91
Vậy tạm thời hãy giả
định rằng sự sản sinh của một đối tượng bởi một đối tượng khác trong một trường
hợp nào đó hàm chứa một năng lực; và rằng năng lực đó gắn liền với hiệu quả của
nó. Nhưng vì đã chứng minh rằng năng lực không nằm trong những phẩm chất có thể
cảm nhận của nguyên nhân; và vì ngoài những phẩm chất có thể cảm nhận ra không
có gì hiện diện với chúng ta; tôi hỏi: tại sao trong những trường hợp khác
chúng ta lại giả định rằng cùng năng lực đó vẫn hiện hữu, chỉ dựa trên sự xuất
hiện của những phẩm chất này?
Lời viện dẫn đến kinh
nghiệm trong quá khứ không quyết định gì trong trường hợp hiện tại; và tối đa
chỉ có thể chứng minh rằng chính đối tượng đó, vốn đã sản sinh ra một đối tượng
khác, tại thời điểm đó đã được trang bị một năng lực như vậy. Nhưng nó không thể
chứng minh rằng cùng năng lực đó phải tiếp tục hiện hữu trong cùng đối tượng
hay tập hợp những phẩm chất có thể cảm nhận; càng không thể chứng minh rằng một
năng lực tương tự luôn gắn với những phẩm chất tương tự.
Nếu người ta nói rằng
chúng ta có kinh nghiệm rằng cùng một năng lực tiếp tục gắn với cùng một đối tượng,
và rằng những đối tượng tương tự được trang bị những năng lực tương tự, tôi sẽ
đặt lại câu hỏi: tại sao từ kinh nghiệm đó chúng ta lại rút ra bất kỳ kết luận
nào vượt ra ngoài những trường hợp trong quá khứ mà chúng ta đã quan sát? Nếu
câu trả lời vẫn theo cùng kiểu như trước, nó sẽ dẫn đến cùng một câu hỏi, và cứ
thế vô tận; điều này cho thấy rõ rằng lập luận trước đó không có nền tảng
đúng đắn.
T 1.3.6.11, SBN 91–2
Như vậy, không chỉ lý
trí của chúng ta thất bại trong việc khám phá mối liên kết tối hậu của
nguyên nhân và kết quả, mà ngay cả sau khi kinh nghiệm đã cho chúng ta biết về
sự kết hợp thường xuyên của chúng, chúng ta vẫn không thể bằng lý trí giải
thích vì sao phải mở rộng kinh nghiệm đó vượt ra ngoài những trường hợp đặc thù
đã quan sát. Chúng ta giả định, nhưng không thể chứng minh, rằng phải có sự
tương tự giữa những đối tượng đã trải nghiệm và những đối tượng nằm ngoài phạm
vi trải nghiệm.
T 1.3.6.12, SBN 92
Chúng ta đã ghi nhận
một số quan hệ khiến não thức chuyển từ một đối tượng sang một đối tượng khác,
dù không có lý do xác định nào buộc nó thực hiện sự chuyển tiếp đó; và điều này
có thể được thiết lập như một quy tắc chung: rằng bất cứ khi nào não thức một
cách thường xuyên và đều đặn thực hiện một sự chuyển tiếp mà không có lý do xác
định, nó bị tác động bởi những quan hệ ấy.
Đây chính là trường hợp
hiện tại. Lý trí không bao giờ có thể chỉ ra mối liên kết giữa một đối tượng với
một đối tượng khác, dù có kinh nghiệm hỗ trợ và sự quan sát về sự kết hợp thường
xuyên của chúng trong tất cả những trường hợp quá khứ. Khi đó, khi não thức
chuyển từ ý niệm hay ấn tượng về một đối tượng sang ý niệm hay tin tưởng về một
đối tượng khác, nó không được xác định bởi lý trí, mà bởi những nguyên tắc nhất
định liên kết những ý niệm của những đối tượng đó và hợp nhất chúng trong trí
tưởng tượng.
Nếu những ý niệm
không có sự hợp nhất hơn trong trí tưởng tượng so với mức độ mà những đối tượng
dường như có trong trí tuệ, chúng ta sẽ không bao giờ có thể suy luận từ nguyên
nhân đến kết quả, cũng không thể đặt tin tưởng vào bất kỳ vấn đề thực tế nào.
Do đó, suy luận phụ thuộc hoàn toàn vào sự hợp nhất của những ý niệm.
T 1.3.6.12, SBN 92
Chúng ta đã ghi nhận
một số quan hệ khiến não thức chuyển từ một đối tượng sang một đối tượng khác,
ngay cả khi không có lý do nào xác định sự chuyển tiếp đó; và điều này có thể
được thiết lập như một quy tắc tổng quát: bất cứ khi nào não thức một cách thường
xuyên và đồng đều thực hiện một sự chuyển tiếp mà không có lý do xác định, nó
chịu ảnh hưởng bởi những quan hệ ấy.
Đây chính xác là trường
hợp hiện tại. Lý trí không bao giờ có thể chỉ ra mối liên kết của một đối tượng
với một đối tượng khác, dù có kinh nghiệm hỗ trợ và sự quan sát về sự kết hợp
thường xuyên của chúng trong mọi trường hợp quá khứ. Vì vậy, khi não thức chuyển
từ ý niệm hay ấn tượng về một đối tượng sang ý niệm hay tin tưởng về một đối tượng
khác, nó không được xác định bởi lý trí, mà bởi những nguyên tắc liên kết những
ý niệm của những đối tượng đó và hợp nhất chúng trong trí tưởng tượng.
Nếu những ý niệm
không có sự hợp nhất trong trí tưởng tượng nhiều hơn mức mà những đối tượng dường
như có đối với trí tuệ, chúng ta sẽ không bao giờ có thể suy luận từ nguyên
nhân đến kết quả, cũng không thể đặt tin tưởng vào bất kỳ vấn đề thực tại nào.
Do đó, suy luận phụ thuộc hoàn toàn vào sự hợp nhất của những ý niệm.
T 1.3.6.13, SBN 92–3
Những nguyên tắc hợp
nhất giữa những ý niệm, tôi đã rút gọn thành ba nguyên tắc tổng quát, và đã khẳng
định rằng ý niệm hay ấn tượng của bất kỳ đối tượng nào tự nhiên đưa dẫn ý niệm
về một đối tượng khác, nếu nó giống với nó, kề cận với nó, hoặc được kết nối với
nó. Những nguyên tắc này tôi thừa nhận không phải là những nguyên nhân tất yếu
và không sai, cũng không phải là những nguyên nhân duy nhất của sự hợp nhất giữa
những ý niệm.
Chúng không phải là tất
yếu: vì ta có thể giữ chú ý vào một đối tượng trong một thời gian mà không chuyển
sang đối tượng khác.
Chúng cũng không phải
là duy nhất: vì tư tưởng có một chuyển động rất bất định, có thể nhảy từ trời
xuống đất, từ một đầu của vũ trụ đến đầu kia, không theo bất kỳ trật tự cố định
nào.
Tuy vậy, dù thừa nhận
sự yếu và tính bất định ấy, tôi vẫn khẳng định rằng những nguyên tắc tổng quát
duy nhất liên kết những ý niệm là: tương tự, kề cận, và quan hệ nhân quả.
T 1.3.6.14, SBN 93
Thực ra có một nguyên
tắc hợp nhất giữa những ý niệm thoạt nhìn có vẻ khác với những nguyên tắc trên,
nhưng rốt cuộc sẽ thấy phụ thuộc vào cùng một nguồn gốc. Khi mọi cá thể của một
loài đối tượng được kinh nghiệm thấy luôn kết hợp với một cá thể của một loài
khác, sự xuất hiện của một cá thể mới của một trong hai loài tự nhiên dẫn dắt
tư tưởng đến đối tượng thường đi kèm với nó.
Vì một ý niệm nào đó
thường gắn với một từ nào đó, chỉ cần nghe từ ấy là ý niệm tương ứng được gợi
ra; và não thức gần như không thể, dù cố gắng, ngăn chặn sự chuyển tiếp đó.
Trong trường hợp này không cần thiết phải hồi tưởng kinh nghiệm quá khứ hay xem
xét ý niệm nào thường gắn với âm thanh; chính trí tưởng tượng tự động thực hiện
sự chuyển tiếp, và đã quen đến mức không có độ trễ giữa việc nghe từ và hình
thành ý niệm.
T 1.3.6.15, SBN 93
Tuy nhiên, dù thừa nhận
đây là một nguyên tắc hợp nhất thực sự giữa những ý niệm, tôi vẫn khẳng định rằng
nó chính là cùng nguyên tắc với quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, và là một
phần thiết yếu trong mọi suy luận dựa trên quan hệ đó.
Chúng ta không có
khái niệm nào về nguyên nhân và kết quả ngoài việc chúng là những đối tượng
luôn kết hợp với nhau và trong mọi trường hợp quá khứ được thấy là không thể
tách rời. Chúng ta không thể đi vào lý do của sự kết hợp này; chúng ta chỉ quan
sát hiện tượng, và thấy rằng từ sự kết hợp thường xuyên, những đối tượng đạt được
một sự hợp nhất trong trí tưởng tượng.
Khi một ấn tượng trở
nên hiện diện, chúng ta lập tức hình thành ý niệm về đối tượng thường đi kèm với
nó; và vì vậy có thể xem đây như một phần của định nghĩa về tin tưởng: một ý niệm
được liên kết với hoặc đi theo một ấn tượng hiện tại.
T 1.3.6.16, SBN 94
Do đó, dù quan hệ
nhân quả là một quan hệ triết học — vì bao hàm kề cận, kế tiếp và kết hợp thường
xuyên [9] —
nó chỉ trở thành cơ sở của suy luận khi nó là một quan hệ tự nhiên, tức khi nó
tạo ra sự hợp nhất giữa những ý niệm của chúng ta. Chỉ trong chừng mực đó chúng
ta mới có thể lý luận dựa trên nó, hoặc rút ra bất kỳ suy luận nào từ nó.[10]
MỤC VII.
Về Bản Chất Của Ý Niệm
Hay Sự Tin Tưởng
T 1.3.7.1, SBN 94
Ý niệm về một đối tượng
là một phần thiết yếu của sự tin tưởng vào đối tượng ấy, nhưng không phải là
toàn bộ. Chúng ta có thể hình dung rất nhiều điều mà không hề tin chúng. Vì vậy,
để hiểu đầy đủ hơn bản chất của sự tin tưởng, hay bản chất của những ý niệm mà
chúng ta chấp nhận là có thật, hãy cùng xem xét những điều sau đây.
T 1.3.7.2, SBN 94–5
Rõ ràng rằng mọi lý
luận từ nguyên nhân đến kết quả, hay từ kết quả đến nguyên nhân, cuối cùng đều
dẫn đến những kết luận về những vấn đề thực tế; nghĩa là về sự hiện hữu của những
đối tượng hoặc của những phẩm chất thuộc về chúng. Cũng rõ ràng rằng ý niệm về
sự hiện hữu không khác gì ý niệm về chính đối tượng ấy; và khi sau khi chỉ đơn
thuần hình dung một sự vật, chúng ta lại hình dung nó như đang hiện hữu, thì thực
ra chúng ta không thêm vào cũng không thay đổi bất cứ điều gì trong ý niệm ban
đầu.
Chẳng hạn, khi chúng
ta khẳng định rằng Gót hiện hữu, chúng ta chỉ đơn giản hình thành ý niệm về một
hữu thể đúng như cách Ngài được trình bày với chúng ta. Sự hiện hữu mà chúng ta
quy cho Ngài không được hình dung bằng một ý niệm riêng biệt, rồi mới ghép thêm
vào ý niệm về những phẩm chất khác của Ngài, để sau đó lại có thể tách nó ra khỏi
những phẩm chất ấy.
Nhưng tôi còn đi xa
hơn thế. Tôi không chỉ khẳng định rằng việc hình dung một đối tượng như đang hiện
hữu không thêm gì vào ý niệm đơn thuần về đối tượng ấy; tôi còn cho rằng việc
tin tưởng vào sự hiện hữu của đối tượng cũng không thêm bất kỳ ý niệm mới nào
vào những ý niệm vốn đã tạo nên ý niệm về đối tượng đó.
Khi tôi nghĩ về Gót;
khi tôi nghĩ về Ngài như đang hiện hữu; và khi tôi tin rằng Ngài hiện hữu, thì
ý niệm của tôi về Ngài không nhiều hơn cũng không ít hơn. Thế nhưng, chắc chắn
vẫn có một khác biệt rất lớn giữa việc chỉ hình dung rằng một đối tượng hiện hữu
và việc thực sự tin rằng nó hiện hữu. Mà vì sự khác biệt ấy không nằm trong những
phần cấu thành của ý niệm, nên nó chỉ có thể nằm ở cách mà não thức hình dung ý
niệm ấy.[11]
T 1.3.7.3, SBN 95
Giả sử có một người
đang ở cùng tôi và đưa ra những mệnh đề mà tôi không chấp nhận: rằng Caesar chết
trên giường; rằng bạc dễ nóng chảy hơn chì; hay rằng thủy ngân nặng hơn vàng.
Rõ ràng là, mặc dù tôi không tin những điều ấy, tôi vẫn hiểu rõ điều người đó
muốn nói và hình thành đúng những ý niệm như người đó hình thành.
Trí tưởng tượng của
tôi có cùng những năng lực như trí tưởng tượng của người đó. Người đó không thể
hình dung bất kỳ ý niệm nào mà tôi không thể hình dung, cũng không thể kết hợp
những ý niệm nào mà tôi không thể kết hợp. Vì vậy, tôi hỏi: sự khác biệt giữa
tin tưởng và không tin tưởng một mệnh đề nằm ở đâu?
Đối với những mệnh đề
được xác lập bằng trực giác hay chứng minh, câu trả lời khá dễ. Trong trường hợp
ấy, người chấp nhận mệnh đề không chỉ hình dung những ý niệm theo đúng nội dung
của mệnh đề, mà còn bị buộc phải hình dung chúng theo đúng cách ấy, hoặc trực
tiếp, hoặc thông qua những ý niệm trung gian khác. Điều gì phi lý thì không thể
hình dung được; và trí tưởng tượng cũng không thể hình dung điều gì trái với một
chứng minh.
Nhưng trong những lý
luận về nhân quả và về những vấn đề thực tế thì không có sự tất yếu tuyệt đối ấy.
Ở đây, trí tưởng tượng vẫn có thể hình dung cả hai khả năng. Vì vậy, tôi lại hỏi:
sự khác biệt giữa không tin tưởng và tin tưởng nằm ở đâu, khi trong cả hai trường
hợp, việc hình dung ý niệm đều vừa có thể thực hiện được, vừa là điều cần thiết
như nhau?
T 1.3.7.4, SBN 95–6
Sẽ không phải là một
câu trả lời thỏa đáng nếu nói rằng người không chấp nhận mệnh đề bạn đưa ra,
sau khi đã hình dung đối tượng theo đúng cách như bạn, thì ngay sau đó lại hình
dung nó theo một cách khác và vì thế có những ý niệm khác về nó.
Câu trả lời ấy không
phải sai, nhưng cũng chưa nói hết sự thật.
Quả thật, mỗi khi
chúng ta bất đồng với người khác, chúng ta đều có thể hình dung cả hai phía của
vấn đề. Nhưng vì chúng ta chỉ có thể tin tưởng một phía, nên rõ ràng phải có một
điểm khác biệt giữa cách chúng ta hình dung điều mình chấp nhận và cách chúng
ta hình dung điều mình bác bỏ.
Chúng ta có thể pha
trộn, kết hợp, tách rời, lẫn lộn hay biến đổi những ý niệm của mình theo vô số
cách khác nhau. Nhưng chừng nào còn chưa có một nguyên tắc làm cho một trong những
cách kết hợp ấy được cố định hơn những cách còn lại, thì thực ra chúng ta vẫn
chưa có một ý kiến nào cả.
Mà nguyên tắc ấy, vì
rõ ràng không bổ sung bất kỳ ý niệm mới nào vào những ý niệm vốn có, nên chỉ có
thể thay đổi cách mà não thức hình dung những ý niệm ấy.[12]
T 1.3.7.5, SBN 96
Tất cả những tri giác
của não thức thuộc hai loại, đó là những ấn tượng và những ý niệm; chúng chỉ
khác nhau ở mức độ sức mạnh và sự sống động. Những ý niệm của chúng ta được sao
lại từ những ấn tượng, và tái hiện chúng trong mọi phương diện của chúng. Khi bạn
muốn thay đổi ý niệm về một đối tượng đặc thù theo bất kỳ cách nào, bạn chỉ có
thể tăng hoặc giảm sức mạnh và sự sống động của nó. Nếu bạn tạo ra bất kỳ thay
đổi nào khác, thì nó không còn biểu trưng cho cùng một đối tượng hay cùng một ấn
tượng nữa.
Trường hợp này cũng
giống như màu sắc. Một sắc độ nhất định của một màu có thể trở nên sống động hoặc
rực sáng hơn mà không thay đổi ở phương diện nào khác. Nhưng nếu bạn tạo ra bất
kỳ thay đổi nào khác, thì đó không còn là cùng một sắc độ hay cùng một màu nữa.
Vì vậy, nếu sự tin tưởng
không làm gì khác ngoài việc thay đổi cách thức chúng ta hình dung một đối tượng,
thì nó chỉ có thể trao cho những ý niệm của chúng ta thêm sức mạnh và sự sống động.
Do đó, một ý kiến, hay sự tin tưởng, có thể được định nghĩa một cách chính xác
nhất là: một ý niệm sống động, được kết nối hoặc liên kết với một ấn tượng hiện
tại.[20]
T 1.3.7.6, SBN 97
Sau đây là những luận
điểm chính của lập luận đưa chúng ta đến kết luận ấy.
Khi chúng ta suy ra sự
hiện hữu của một đối tượng từ sự hiện hữu của những đối tượng khác, thì luôn phải
có một đối tượng hiện diện với trí nhớ hoặc những giác quan để làm nền tảng cho
suy luận của chúng ta; vì não thức không thể kéo dài chuỗi suy luận của mình đến
vô tận.
Lý trí không bao giờ
có thể thuyết phục chúng ta rằng sự hiện hữu của một đối tượng tự nó hàm chứa sự
hiện hữu của một đối tượng khác. Vì vậy, khi chúng ta chuyển dịch từ ấn tượng về
một đối tượng sang ý niệm hay sự tin tưởng về một đối tượng khác, thì sự chuyển
dịch ấy không do lý trí quyết định, mà do thói quen hoặc một nguyên tắc liên kết.
Nhưng sự tin tưởng
còn hơn cả một ý niệm đơn thuần. Nó là một cách thức đặc thù mà não thức hình
thành một ý niệm. Và vì cùng một ý niệm chỉ có thể thay đổi ở mức độ sức mạnh
và sự sống động của nó, nên từ toàn bộ lập luận trên có thể kết luận rằng sự
tin tưởng là một ý niệm sống động, được tạo ra nhờ mối quan hệ với một ấn tượng
hiện tại, đúng như định nghĩa vừa nêu.[13]
T 1.3.7.7, SBN 628–9
Hoạt động của não thức
hình thành sự tin tưởng đối với bất kỳ vấn đề thực tế nào dường như từ trước đến
nay vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất của triết học; mặc dù hầu như chưa ai
từng nghi ngờ rằng việc giải thích nó lại có khó khăn.
Về phần mình, tôi phải
thú nhận rằng tôi thấy ở đây có một khó khăn đáng kể; và ngay cả khi nghĩ rằng
mình đã hiểu hoàn toàn vấn đề, tôi vẫn lúng túng khi tìm những từ ngữ thích hợp
để diễn đạt điều mình muốn nói.
Tôi đi đến kết luận ấy
bằng một phép quy nạp mà theo tôi là hết sức hiển nhiên: một ý kiến, hay sự tin
tưởng, không khác với một hư cấu ở bản chất hay ở trật tự của những thành phần
cấu thành nó, mà chỉ khác ở cách thức não thức hình dung nó.
Nhưng khi muốn giải
thích cách thức ấy, tôi hầu như không tìm được từ nào diễn đạt đầy đủ, nên buộc
phải viện đến chính cảm giác của mỗi người để giúp họ nắm được hoạt động này của
não thức.
Một ý niệm mà chúng
ta tin tưởng đem lại một cảm giác khác với một ý niệm hư cấu chỉ do trí tưởng
tượng trình bày. Tôi cố gắng diễn tả cảm giác khác biệt ấy bằng những từ như sức
mạnh, sự sống động, sự vững chắc, sự bền vững hay sự ổn định.
Việc tôi dùng nhiều từ
như vậy, tuy có vẻ không thật triết học, chỉ nhằm diễn đạt hoạt động của não thức
khiến những sự vật có thực hiện diện với chúng ta rõ ràng hơn những hư cấu, khiến
chúng có sức nặng hơn trong suy nghĩ, và trao cho chúng ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đối
với những đam mê và trí tưởng tượng.
Miễn là chúng ta thống
nhất về chính hiện tượng ấy, thì không cần tranh luận về từ ngữ.
Trí tưởng tượng có
quyền chi phối tất cả những ý niệm của mình; nó có thể liên kết, pha trộn và biến
đổi chúng theo mọi cách có thể. Nó có thể hình dung những đối tượng cùng với mọi
hoàn cảnh về không gian và thời gian. Nó có thể, theo một nghĩa nào đó, đặt
chúng trước mắt chúng ta với đúng màu sắc của chúng, như thể chúng đã thật sự
hiện hữu.
Nhưng vì năng lực ấy
tự nó không bao giờ có thể tạo ra sự tin tưởng, nên rõ ràng sự tin tưởng không
nằm ở bản chất hay trật tự của những ý niệm, mà nằm ở cách thức não thức hình
dung chúng, và ở cảm giác mà chúng đem lại cho não thức.
Tôi thừa nhận rằng
không thể giải thích một cách hoàn toàn đầy đủ cảm giác hay cách thức hình dung
này. Chúng ta chỉ có thể dùng những từ ngữ diễn đạt điều gì đó gần với nó.
Nhưng tên gọi đúng và thích hợp nhất của nó chính là sự tin tưởng — một thuật
ngữ mà ai cũng hiểu trong đời sống thường ngày.
Và trong triết học,
chúng ta cũng không thể đi xa hơn việc khẳng định rằng đó là một điều gì đó được
não thức cảm nhận, nhờ đó những ý niệm của phán đoán được phân biệt với những
hư cấu của trí tưởng tượng. Nó trao cho những ý niệm ấy nhiều sức mạnh và ảnh
hưởng hơn; khiến chúng có vẻ quan trọng hơn; ghi chặt chúng vào não thức; và
khiến chúng trở thành những nguyên tắc chi phối mọi hành động của chúng ta.
T 1.3.7.8, SBN 97–8
Định nghĩa này cũng
hoàn toàn phù hợp với cảm nhận và kinh nghiệm của mọi người. Không có gì rõ
ràng hơn việc những ý niệm mà chúng ta tin tưởng luôn mạnh mẽ, vững chắc và sống
động hơn những mộng tưởng rời rạc của một người xây lâu đài trên mây.
Nếu một người ngồi đọc
một cuốn sách như một tiểu thuyết hư cấu, còn một người khác đọc chính cuốn
sách ấy như một câu chuyện lịch sử có thật, thì rõ ràng cả hai đều tiếp nhận
cùng những ý niệm, theo cùng một trình tự; sự không tin của người này và sự tin
tưởng của người kia không khiến họ hiểu tác giả theo hai nghĩa khác nhau. Lời
văn của tác giả gợi lên cùng những ý niệm nơi cả hai; nhưng lời chứng của tác
giả không tạo nên cùng một ảnh hưởng đối với họ.
Người tin tưởng hình
dung mọi sự kiện một cách sống động hơn. Người ấy nhập cuộc sâu hơn vào những mối
bận tâm của những nhân vật; tự hình dung những hành động, tính cách, tình bạn
và thù hận của họ; thậm chí còn hình thành trong não thức hình ảnh về diện mạo,
phong thái và dáng vẻ của từng người.
Ngược lại, người
không tin lời chứng của tác giả chỉ hình dung tất cả những chi tiết ấy một cách
mờ nhạt và thiếu sinh khí. Ngoại trừ việc thưởng thức văn phong và sự khéo léo
trong nghệ thuật viết, người ấy hầu như không tìm được bao nhiêu hứng thú từ
tác phẩm.
T 1.3.7.5n20, SBN
96–7
[20] Ở đây chúng ta
có dịp chỉ ra một sai lầm rất đáng chú ý. Vì được lặp đi lặp lại trong những
trường phái kinh viện, sai lầm này dần trở thành một thứ châm ngôn được thiết lập
và hầu như mọi nhà logic học đều chấp nhận.
Sai lầm ấy nằm ở cách
người ta thông thường phân chia những hoạt động của trí tuệ thành hình dung
(conception), phán đoán (judgment) và lý luận (reasoning), cũng như ở những
định nghĩa mà người ta đưa ra cho chúng.
Theo cách phân chia ấy,
hình dung được định nghĩa là việc đơn thuần xem xét một hay nhiều ý niệm. Phán
đoán là việc tách rời hoặc kết hợp những ý niệm khác nhau. Còn lý luận là việc
tách rời hoặc kết hợp những ý niệm khác nhau thông qua một hay nhiều ý niệm
trung gian, nhằm chỉ ra quan hệ giữa chúng.
Nhưng cả những phân
biệt lẫn những định nghĩa này đều sai ở nhiều điểm rất quan trọng.
Trước hết, không đúng khi nói rằng trong mọi phán đoán chúng ta đều
kết hợp hai ý niệm khác nhau. Chẳng hạn, trong mệnh đề "Gót hiện hữu",
hay bất kỳ mệnh đề nào khẳng định sự hiện hữu, sự hiện hữu không phải là một ý
niệm riêng biệt được ghép thêm vào ý niệm về đối tượng để tạo thành một ý niệm
phức hợp.
Thứ hai, nếu chúng ta có thể lập nên một mệnh đề chỉ chứa một ý
niệm, thì chúng ta cũng có thể thực hiện một suy luận mà không cần nhiều hơn
hai ý niệm, cũng không cần viện đến một ý niệm thứ ba làm trung gian giữa
chúng. Chúng ta suy ra nguyên nhân trực tiếp từ kết quả của nó; và kiểu suy luận
này không những là một hình thức suy luận chân chính, mà còn là hình thức mạnh
nhất, thuyết phục hơn cả những trường hợp chúng ta phải dùng thêm một ý niệm
trung gian để nối hai đầu của lập luận.
Nói một cách tổng
quát về ba hoạt động của trí tuệ này, nếu xem xét chúng đúng bản chất, thì tất
cả đều quy về hoạt động đầu tiên và chỉ là những cách khác nhau để não thức
hình dung đối tượng.
Dù chúng ta xem xét một
đối tượng hay nhiều đối tượng; dù chúng ta dừng lại ở chúng hay chuyển sang những
đối tượng khác; dù chúng ta khảo sát chúng theo hình thức hay trật tự nào, thì
hoạt động của não thức vẫn không vượt quá một sự hình dung đơn thuần.
Điểm khác biệt thật sự
đáng chú ý chỉ xuất hiện khi chúng ta gắn sự tin tưởng vào sự hình dung ấy và bị
thuyết phục rằng điều mình hình dung là đúng.
Cho đến nay, chưa có
nhà triết học nào giải thích được hoạt động này của não thức. Vì vậy, tôi có
quyền đưa ra giả thuyết của mình: sự tin tưởng chỉ là một sự hình dung mạnh mẽ
và bền vững về một ý niệm, một sự hình dung gần với một ấn tượng trực tiếp hơn
bất kỳ sự hư cấu nào của trí tưởng tượng.[14]
Lê Dọn Bàn tạm dịch
– bản nháp thứ hai
(Jun/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] chiliagon
[2] Sự đồng
nhất (identity) là cách chúng ta nói rằng một đối tượng vẫn là “cùng một
sự vật”, dù nó có lúc xuất hiện, có lúc không còn hiện diện với giác quan; và ý
nghĩ này chỉ được giữ vững khi chúng ta dựa vào quan hệ nhân quả để tin rằng nó
không thực sự bị thay đổi.
[3] Hume
dùng từ place (nơi chốn) thay vì space (không gian) để chỉ vị trí
của đối tượng trong kinh nghiệm trực tiếp của giác quan, chứ không phải một
khái niệm hình học trừu tượng về không gian. Vì vậy, “place” ở đây mang nghĩa
kinh nghiệm, gắn với quan hệ “ở đây / ở đó” giữa những đối tượng như chúng được
tri giác, và không nên đồng nhất với “không gian” theo nghĩa trừu tượng trong
triết học hình học hay sau này của Kant.
[4] Nguyên lý “bất cứ điều gì bắt đầu hiện hữu đều phải có một
nguyên nhân của sự hiện hữu” không xuất hiện như một mệnh đề nguyên văn trong
Aristotle, nhưng thường được xem như một sự hệ thống hóa hậu kỳ từ lập trường của
ông về nhân quả và sự trở thành, theo đó mọi “sinh thành” (coming-to-be)
đều phải xuất phát “từ một gì đó và bởi một gì đó” (Phys. I.7, 190a).
Trong truyền thống kinh viện, nguyên lý này được phát triển thành một châm ngôn
siêu hình mang tính phổ quát về tính tất yếu của nguyên nhân, đặc biệt trong
Thomas Aquinas, trước khi được Hume đưa vào khảo sát phê phán về tính “tự hiển
nhiên” của nó.
[5] Ides
tháng Ba (Ides of March): Trong lịch La Mã cổ đại, Ides là một mốc ngày cố định
trong tháng; riêng tháng Ba, tháng Năm, tháng Bảy và tháng Mười, Ides rơi vào
ngày 15 (các tháng khác là ngày 13). Ides tháng Ba (15 tháng Ba năm 44 TCN) nổi
tiếng vì là ngày Julius Caesar bị ám sát trong Viện nguyên lão La Mã.
[6] the author of our being.
[7] Ở đây Hume không định nghĩa belief như một trạng thái tâm lý, mà định
nghĩa hành vi to believe ("tin"). Theo ông, "tin" không phải
là sở hữu thêm một ý niệm mới, mà là cảm nhận (to feel) một tri giác với mức độ
sức mạnh và sự sống động cao hơn ý niệm của trí tưởng tượng. Vì vậy, sự khác biệt
giữa tin và tưởng tượng không nằm ở nội dung của ý niệm, mà ở phương thức xuất
hiện của ý niệm trong não thức.
[8] Ở đây Hume mô tả cơ chế căn bản của suy luận nhân quả. Từ nhiều lần một
ấn tượng này luôn đi kèm một ấn tượng khác (constant conjunction), thói quen
(custom hay habit) khiến não thức, khi chỉ gặp lại một trong hai, tự động chuyển
sang ý niệm về cái còn lại. Vì vậy, suy luận nhân quả không phát sinh từ việc
trực tiếp tri giác một "mối kết nối tất yếu", mà từ sự lặp lại của
kinh nghiệm và tác động của thói quen lên não thức. Đây là bước ngoặt trong lập
luận của Hume. Suy luận nhân quả không bắt nguồn từ việc tri giác một mối kết nối
tất yếu giữa những sự vật, mà từ sự lặp lại thường hằng của những ấn tượng
(constant conjunction), khiến thói quen dẫn não thức từ một ấn tượng hiện tại
sang ý niệm về đối tượng thường đi kèm với nó.
[9] Trong Hume, “quan hệ triết học” (philosophical relation)
không phải là quan hệ có tính siêu hình hay tất yếu, mà là cách phân loại những
quan hệ mà não thức có thể nhận ra khi so sánh những đối tượng với nhau. Khi
Hume nói “quan hệ nhân quả là một quan hệ triết học”, ông muốn nói rằng: nếu ta
nhìn từ bên ngoài, bằng quan sát và phân tích, ta có thể mô tả nhân quả như một
tổ hợp của ba quan hệ có thể quan sát được: Kề Cận (contiguity): nguyên
nhân và kết quả thường xuất hiện gần nhau trong không gian hoặc tình huống. Kế
Tiếp (succession): nguyên nhân xảy ra trước, kết quả xảy ra sau. Kết Hợp
Thường Xuyên (constant conjunction): trong kinh nghiệm, chúng luôn đi cùng
nhau một cách lặp lại. Điểm quan trọng là: ba yếu tố này đều là những gì có thể
ghi nhận từ kinh nghiệm, không phải một “lực tất yếu” nào đó nằm ẩn bên trong sự
vật. Vì vậy, gọi nó là “quan hệ triết học” nghĩa là:. đó là một quan hệ được
xác lập bởi sự quan sát và phân tích của trí tuệ. nhưng nó vẫn chỉ dừng ở mức
mô tả bề mặt của kinh nghiệm. nó chưa tạo ra được sự tất yếu nội tại giữa
nguyên nhân và kết quả. Nói ngắn gọn:. “quan hệ triết học” trong Hume = cách ta
nhận diện và mô tả nhân quả từ dữ liệu kinh nghiệm (kề cận + kế tiếp + lặp lại),
chứ không phải một quan hệ tất yếu được lý trí chứng minh hay được tìm thấy như
một “lực” bên trong sự vật. Chính vì vậy Hume mới tiếp tục phân biệt: quan hệ
này chỉ trở thành nền tảng của suy luận khi nó chuyển sang “quan hệ tự nhiên” —
tức khi nó tạo ra sự liên kết tâm lý tự động trong não thức, chứ không còn là
phân tích thuần quan sát nữa. “Quan hệ tự nhiên” (natural relation) trong Hume
là mối liên kết giữa những ý niệm trong não thức khiến ta tự động chuyển từ ý
niệm này sang ý niệm khác mà không cần suy luận lý trí, được hình thành bởi
thói quen từ kinh nghiệm lặp lại (như trong nhân quả, tương tự, kề cận).
[10] Đoạn này là nơi Hume khép lại toàn bộ lý thuyết nhân quả
của ông: chuyển từ câu hỏi “chúng ta biết nhân quả bằng lý trí nào?” sang kết
luận rằng cái gọi là nhân quả không bao giờ được nắm bắt bằng suy luận thuần
lý, mà bằng một cơ chế tâm lý của thói quen và sự liên tưởng tự nhiên giữa những
ý niệm trong não thức.
Trước hết, Hume xác định
rất chặt: chúng ta không có một “ý niệm” độc lập về quan hệ nhân quả ngoài việc
quan sát rằng những đối tượng nhất định luôn xuất hiện cùng nhau trong kinh
nghiệm quá khứ và dường như không bao giờ tách rời trong những trường hợp đã trải
qua. Điều này quan trọng vì nó cắt đứt mọi tham vọng siêu hình: không có “sợi
dây tất yếu” nào được tri giác như một đối tượng riêng biệt nằm giữa nguyên
nhân và kết quả. Tất cả những gì chúng ta thực sự có là chuỗi lặp lại của những
trường hợp kết hợp.
Từ đó, Hume nhấn mạnh
một điểm then chốt: chúng ta không thể “đi vào lý do” của sự kết hợp này. Không
có một suy luận tiên nghiệm nào có thể giải thích tại sao một loại hiện tượng
phải kéo theo một loại hiện tượng khác. Cái gọi là “tính tất yếu” của nhân quả
không được tìm thấy trong bản thân đối tượng, cũng không được suy ra từ khái niệm
của nó. Nó chỉ xuất hiện sau kinh nghiệm.
Nhưng kinh nghiệm ở
đây không vận hành như một chứng minh logic. Điều nó tạo ra là thói quen: khi một
ấn tượng hiện diện trong cảm giác hoặc ký ức, não thức hình thành sự chuyển tiếp
tự nhiên sang ý niệm về đối tượng thường đi kèm với nó. Sự chuyển tiếp này
không cần lập luận trung gian, không cần suy diễn, và không cần ý thức về quy
luật. Nó là một cơ chế tự nhiên của tưởng tượng, được hình thành và cố định bởi
sự lặp lại của những kết hợp thường xuyên trong kinh nghiệm.
Chính tại đây Hume
đưa ra bước định nghĩa mang tính cách mạng về tin tưởng: tin tưởng không phải
là một phán đoán được thêm vào nội dung ý niệm, mà là chính sự gia tăng “sức mạnh”
và “sự sống động” của ý niệm khi nó gắn với một ấn tượng hiện tại. Nói cách
khác, tin rằng A gây B không phải là nắm được một quan hệ tất yếu trong lý trí,
mà là việc ý niệm về B xuất hiện với một mức độ sống động đặc biệt khi A được
tri giác.
Kết luận được Hume
rút ra là dứt khoát: quan hệ nhân quả, xét như quan hệ triết học (tức quan hệ
có thể mô tả bằng kề cận, kế tiếp và kết hợp thường xuyên), không tự nó đủ để tạo
ra suy luận. Nó chỉ trở thành nền tảng của suy luận khi nó vận hành như một
quan hệ tự nhiên — tức khi nó tạo ra sự hợp nhất giữa những ý niệm trong trí tưởng
tượng, khiến não thức chuyển tiếp một cách tự nhiên từ một đối tượng sang đối
tượng khác.
Vì vậy, toàn bộ suy
luận nhân quả không dựa trên lý trí chứng minh, mà dựa trên một cơ chế tâm lý ổn
định được hình thành bởi kinh nghiệm lặp lại. Tính “tất yếu” mà chúng ta cảm thấy
trong nhân quả không phải là tất yếu logic, mà là tính tất yếu của thói quen đã
được củng cố đến mức trở thành một quy luật vận hành tự nhiên của não thức.
[11] Đây là bước chuyển quan trọng trong lập luận của Hume.
Ông cho rằng sự tin tưởng không bổ sung bất kỳ ý niệm mới nào vào nội dung của
đối tượng; điều khác biệt chỉ nằm ở cách não thức hình dung và tiếp nhận cùng một
ý niệm. Những đoạn tiếp theo sẽ giải thích rằng chính sức mạnh và sự sống động
(force and vivacity) của ý niệm, chứ không phải nội dung của nó, là điều tạo
nên sự tin tưởng.
[12] Đoạn này tiếp nối trực tiếp luận điểm ở trên: tin tưởng
không thêm nội dung mới cho ý niệm, mà chỉ thay đổi cách não thức nắm giữ ý niệm
ấy. Ở những đoạn kế tiếp, Hume sẽ đồng nhất sự khác biệt này với mức độ sức mạnh
và sự sống động (force and vivacity) của ý niệm.
[13] Đây là luận đề
trung tâm trong học thuyết của Hume về sự tin tưởng: tin tưởng không phải là có
thêm một ý niệm mới, mà là cùng một ý niệm được não thức nắm giữ với mức độ sức
mạnh và sự sống động cao hơn. Toàn bộ phân tích sau này của Hume về nhân quả,
xác suất và suy luận đều dựa trên định nghĩa này.
[14] Đoạn này đánh dấu một bước chuyển rất quan trọng trong
toàn bộ lý thuyết nhận thức của Hume. Ông không chấp nhận cách chia truyền thống
của logic học kinh viện thành ba hoạt động riêng biệt là hình dung, phán đoán
và lý luận. Thay vào đó, ông rút gọn tất cả về một hoạt động cơ bản duy nhất của
não thức: hình dung ý niệm.
Theo Hume, khi chúng
ta tin một điều gì đó, não thức không thêm vào một ý niệm mới, cũng không thực
hiện thêm một bước suy luận mới. Nội dung ý niệm vẫn giữ nguyên. Điều thay đổi
chỉ là cách não thức giữ lấy ý niệm đó.
Khi một ý niệm trở
nên rõ hơn, mạnh hơn, sống động hơn và gần với một ấn tượng trực tiếp hơn, thì
chúng ta gọi trạng thái đó là sự tin tưởng. Ngược lại, khi cùng ý niệm ấy yếu
hơn và mờ hơn, nó chỉ còn là tưởng tượng hay hư cấu. Điểm quan trọng ở đây là:
sự tin tưởng không nằm trong “cái được nghĩ đến”, mà nằm ở “cách mà não thức
đang nghĩ đến nó”. Chính từ đây, Hume chuẩn bị cho lập luận tiếp theo về sức mạnh
và độ sống động (force and vivacity) của ý niệm, vốn là nền tảng để ông giải
thích toàn bộ cơ chế của niềm tin trong nhận thức con người.
Sau khi đã xác định rằng
sự tin tưởng là một ý niệm sống động gắn với một ấn tượng hiện tại, Hume chuyển
sang câu hỏi tiếp theo: vì sao một ý niệm lại trở nên sống động như vậy? Nó lấy
“sức sống” từ đâu?
Ông đưa ra một nguyên
tắc chung về hoạt động của não thức: khi một ấn tượng xuất hiện trước mặt chúng
ta, nó không chỉ làm cho chúng ta nghĩ đến những ý niệm có liên hệ với nó, mà
còn truyền sang cho những ý niệm đó một phần sức mạnh và độ sống động của chính
nó.
Điều này có thể hiểu
đơn giản như sau: não thức không hoạt động như một hệ thống tách rời từng ý niệm,
mà như một dòng liên tục. Khi một cảm giác hay ấn tượng mạnh xuất hiện, nó “làm
sáng lên” toàn bộ những ý niệm đi kèm theo nó.
Mức độ mạnh hay yếu của
hoạt động tâm trí phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái của não thức lúc đó: nếu
tâm trí đang tập trung và hứng khởi, mọi suy nghĩ sẽ rõ ràng và mạnh hơn; nếu
tâm trí mệt mỏi hay phân tán, mọi ý niệm đều trở nên mờ nhạt.
Khi một đối tượng hiện
diện và làm cho não thức trở nên sống động, trạng thái này không dừng lại ở một
điểm. Nó tự động lan sang những ý niệm có liên hệ với đối tượng đó.
Sự chuyển dịch này diễn
ra rất tự nhiên. Não thức không nhận ra một bước nhảy rõ ràng. Nó giống như trượt
từ ý niệm này sang ý niệm khác mà không cần quyết định hay suy luận. Nhưng
trong quá trình “trượt” đó, nó vẫn giữ lại phần sức mạnh và độ sống động ban đầu
do ấn tượng tạo ra.
Chính vì vậy, khi
chúng ta đi từ một ấn tượng hiện tại sang một ý niệm liên quan, ý niệm đó không
chỉ đơn thuần được “nghĩ đến”, mà còn được làm cho sống động hơn mức bình thường.
Và đó chính là nền tảng để Hume giải thích vì sao chúng ta tin vào những điều
không trực tiếp thấy được: chúng mang theo “sức sống” được truyền từ ấn tượng
ban đầu.
