(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT VII.
Về Ý Niệm Về Sự Liên Kết Tất Yếu.
PHẦN II.
E 7.26, SBN 73-4
Nhưng để nhanh chóng đi đến một kết luận cho lập luận
này, vốn đã kéo quá dài: Chúng ta đã tìm kiếm vô vọng một ý niệm về quyền năng hay sự liên kết tất yếu,
trong tất cả những nguồn gốc
vốn chúng ta có thể giả định rằng nó được suy ra từ đó. Có vẻ như, trong những
trường hợp riêng lẻ của những hoạt động của những vật thể, dù có kỹ lưỡng đến
cùng cực, chúng ta không bao giờ có thể tìm ra được bất cứ
gì khác ngoài việc sự kiện
này nối tiếp sự kiện kia; chứ không thể thấu hiểu được bất kỳ lực hay quyền
năng nào qua đó nguyên nhân hoạt động cũng như bất kỳ sự liên kết nào giữa
nguyên nhân và hậu quả giả định của nó.
Khó khăn tương tự
cũng xảy ra khi chúng ta suy ngẫm về tác động của não thức lên cơ thể: chúng ta
quan sát thấy chuyển động của cơ thể xảy ra theo sau ý muốn của não thức nhưng không
thể quan sát hay hình dung được sự ràng buộc nào liên kết chuyển động và ý
muốn, hoặc năng lực nào mà nhờ đó não thức tạo ra hiệu quả này.Thẩm quyền của ý chí
với những năng và những ý niệm của chính nó cũng không dễ hiểu
rõ thêm được một chút nào: Như
vậy, xét trên toàn bộ, dường như không có bất kỳ trường hợp nào trong tự nhiên
thể hiện một sự liên kết mà chúng ta có thể thấu hiểu được. Tất cả những sự
kiện dường như hoàn toàn rời rạc và tách biệt. Một sự kiện này xảy ra sau một sự
kiện khác, nhưng chúng ta không bao giờ có thể quan sát được bất kỳ mối dây
ràng buộc nào giữa chúng. Chúng dường như chỉ được kết hợp với nhau, chứ
không hề có sự liên kết tất yếu. Và vì chúng ta không thể có bất kỳ ý
niệm nào về một gì đó chưa từng xuất hiện trước giác quan bên ngoài hoặc cảm
giác bên trong của chúng ta, kết luận tất yếu phải là: chúng ta không có bất kỳ
ý niệm nào về sự liên kết hoặc quyền năng, và những từ ngữ này hoàn toàn
không có ý nghĩa gì khi được đem dùng trong lý luận triết học hay đời sống
thường ngày.
E 7.27, SBN 74-5
Nhưng vẫn còn một phương pháp để tránh kết luận
này, và một nguồn gốc vốn chúng ta vẫn chưa xem xét. Khi bất kỳ đối tượng hay sự kiện tự nhiên
nào có mặt, chúng ta không thể, bằng bất kỳ sự minh mẫn hay thâm thúy nào, tìm
ra, hay ngay cả phỏng đoán, nếu không kinh nghiệm, rằng sự kiện nào sẽ nảy sinh
từ nó, hay đem cái nhìn xa
thấy trước của chúng ta vượt quá đối tượng đó, vốn hiện diện trực tiếp với trí nhớ và những giác
quan. Ngay cả sau một trường hợp hay thí nghiệm, nơi chúng ta quan sát thấy một sự kiện cụ thể nối
tiếp theo sau một sự kiện khác, chúng ta cũng không có quyền thiết lập một quy
luật tổng quát, hay tiên đoán những gì sẽ xảy ra trong những trường hợp tương
tự; bởi việc phán xét toàn bộ tiến trình của tự nhiên chỉ từ một thí nghiệm đơn
lẻ, dù chính xác hay chắc chắn đến đâu, vốn luôn bị coi là một sự liều lĩnh không thể dung thứ.
Nhưng khi một loại sự kiện cụ thể nào đó luôn
luôn, trong mọi trường hợp, đi đôi với một loại khác, chúng ta không còn ngần
ngại trong việc tiên đoán sự xuất hiện của sự kiện này dựa trên sự hiện diện
của sự kiện kia, và trong việc vận dụng lối lập luận vốn là thứ duy nhất có thể
bảo đảm cho chúng ta về bất kỳ dữ kiện thực tế hay sự hiện hữu nào. Khi đó, chúng ta gọi
một đối tượng là Nguyên nhân; đối tượng kia là Hậu quả. Chúng ta giả
định rằng giữa chúng có một sự liên kết nào đó, có một quyền năng nào đó trong đối tượng này, nhờ đó nó không thể sai lầm tạo ra đối
tượng kia, và hoạt động với mức độ chắc chắn cao nhất cùng tính tất yếu mạnh
nhất.
E 7.28, SBN 75-6
Như vậy, xem dường như ý niệm về một sự
liên kết
tất yếu giữa những sự kiện nảy sinh từ một chuỗi những trường hợp tương tự xảy ra, về sự đi đôi
thường xuyên của những sự kiện này; và ý niệm đó không bao giờ có thể được gợi
lên từ
bất kỳ một trường hợp nào trong số những trường hợp này, dù được xem xét dưới tất cả những góc độ và vị thế có thể có. Thế
nhưng, trong một chuỗi của nhiều trường hợp, không có gì khác biệt so với từng trường hợp riêng lẻ vốn được giả định là hoàn
toàn tương tự; ngoại trừ rằng sau sự lập đi lập lại nhiều lần của những trường hợp
tương tự, não thức được thói quen dẫn dắt, khi một sự kiện xuất hiện, mong đợi kẻ đồng hành thông
thường của sự kiện đó, và tin rằng sự kiện đó sẽ xảy ra.
Do đó, sự liên kết này—những gì chúng ta cảm
nhận trong não thức, sự liên tưởng theo thói quen này của trí tưởng tượng
từ một đối tượng sang kẻ đồng hành thông thường của nó—chính là cảm xúc hay ấn tượng, từ đó chúng ta hình
thành ý niệm về quyền năng hay sự liên kết tất yếu. Không có gì khác ngoài thế nữa, trong trường hợp này cả. Hãy suy ngẫm về vấn đề này từ tất cả mọi phía; chúng ta sẽ
không bao giờ tìm thấy bất kỳ nguồn gốc nào khác của ý niệm đó.
Đây chính là sự khác biệt duy nhất giữa một
trường hợp đơn lẻ, trường hợp
không bao giờ có thể cung cấp cho chúng ta ý niệm về sự liên kết, và một số những trường hợp tương tự, qua đó ý niệm đó được khơi lên. Lần đầu tiên một người
thấy sự truyền chuyển động qua sự va chạm, như khi hai quả bi-a va chạm nhau, người này không thể tuyên bố rằng sự kiện
này đã liên kết với sự kiện kia; mà chỉ có thể nói rằng chúng đi đôi
với nhau.[1]
Sau khi quan sát nhiều trường hợp có tính chất như vậy, người này mới tuyên bố
rằng chúng có liên kết với nhau.
Sự thay đổi nào
đã xảy ra để làm nảy sinh ý niệm mới về sự liên kết này? Không có gì
khác ngoài việc giờ đây người này cảm thấy những sự kiện này được liên
kết với nhau trong trí tưởng tượng của người này, và có thể sẵn sàng tiên
đoán về sự hiện hữu của một này từ sự xuất hiện của một kia.
Vì vậy, khi chúng ta nói một đối tượng liên
kết với một đối tượng khác, chúng ta chỉ có ý muốn nói là chúng đã có được một sự liên kết
trong tư tưởng của chúng ta, và làm nảy sinh sự suy diễn này, qua đó chúng
trở thành những bằng chứng cho sự hiện
hữu của nhau: Một kết luận có phần nào khác thường; nhưng xem dường như được xây dựng
trên đầy đủ bằng chứng.Và bằng chứng của nó sẽ không bị
suy yếu bởi bất kỳ sự thiếu tự tin tổng quát nào của khả năng nhận thức, hay sự ngờ vực hoài
nghi với mọi kết luận vốn dĩ mới mẻ và khác thường. Không có kết luận nào có
thể phù hợp với quan điểm hoài nghi hơn là những kết luận đưa ra khám
phá về sự yếu ớt và những giới hạn chật hẹp của lý trí và năng lực của con người.
E 7.29, SBN 76-7
Và còn thí dụ nào
mạnh mẽ hơn trường hợp hiện tại có thể được đưa ra để minh chứng cho sự thiếu
hiểu biết và yếu kém đến kinh ngạc của khả năng nhận thức? Bởi lẽ chắc chắn
rằng, nếu có bất kỳ quan hệ nào giữa những đối tượng vốn chúng
ta cần phải thấu hiểu một
cách toàn hảo, thì đó chính là tương quan giữa nguyên nhân và hậu quả. Trên nền tảng này, chúng ta xây dựng tất cả những phép suy diễn của chúng ta về sự kiện thực tế hay sự hiện hữu đều được
thiết lập. Chỉ bằng phương tiện duy nhất này, chúng ta mới có được sự chắc chắn
về những đối tượng, những đối tượng đã nằm ngoài sự chứng
thực hiện thời của ký ức và giác quan của chúng ta.
Ích lợi trực tiếp duy nhất của tất cả những
khoa học là dạy chúng ta cách kiểm soát và điều chỉnh những sự kiện tương lai qua nguyên nhân của
chúng. Do đó, tư tưởng và sự
tìm tòi của chúng ta luôn xoay quanh quan hệ này trong từng khoảnh khắc: Thế
nhưng, những ý niệm vốn chúng ta hình thành về nó lại khiếm khuyết đến mức
không thể đưa ra bất kỳ định nghĩa xác đáng nào về nguyên nhân, ngoại trừ định
nghĩa được rút ra từ những gì ngoại lai và xa lạ với chính nó. [2]
Những đối tượng
tương tự luôn luôn đi đôi với những đối tượng tương tự. Về điều
này, chúng ta có kinh nghiệm. Do đó, phù hợp với kinh nghiệm này, chúng ta có
thể định nghĩa một nguyên nhân là một đối tượng, theo sau là một đối tượng
khác, và trong đó tất cả những đối tượng, tương tự với đối tượng đầu tiên, đều
được theo sau bởi những đối tượng tương tự với đối tượng thứ hai. Hay nói
cách khác, nơi nào nếu đối tượng đầu
tiên không hiện hữu, thì đối tượng thứ hai sẽ không bao giờ hiện hữu.
Sự xuất hiện của
một nguyên nhân luôn dẫn dắt não thức, bằng một sự chuyển dịch theo thói quen,
đến ý niệm về hậu quả. Về điều này, chúng ta cũng
có kinh nghiệm. Do đó, phù hợp với kinh nghiệm này, chúng ta có thể hình thành
một định nghĩa khác về nguyên nhân; và gọi nó là: Một đối tượng được theo sau bởi một đối tượng
khác, mà sự xuất hiện của nó luôn dẫn dắt tư tưởng hướng tới đối tượng kia. Nhưng dù cả hai định nghĩa này đều được rút ra từ những hoàn cảnh xa lạ
với nguyên nhân, chúng ta không thể khắc phục sự bất tiện này, hay đạt được bất
kỳ định nghĩa nào toàn hảo hơn, có thể chỉ ra hoàn cảnh trong nguyên nhân, những gì tạo nên sự liên
kết với hậu quả của nó. [3]
Chúng ta không có
ý niệm nào về sự liên kết này; ngay cả chẳng có lấy một khái niệm rõ ràng nào
về việc chúng ta thực sự khao khát muốn biết điều gì khi gắng sức hình dung về
nó. Chẳng hạn, chúng ta nói rằng sự rung động của sợi dây
này là nguyên nhân của âm thanh cụ thể kia. Thế nhưng, chúng ta ngầm hiểu gì
qua khẳng định đó? Hoặc chúng ta muốn nói rằng rung động này được theo sau bởi âm thanh này,
và tất cả những rung động tương tự đều được theo sau bởi những âm thanh
tương tự; hoặc, rung động này được theo sau bởi âm thanh này, và khi âm
thanh này xuất hiện, não thức báo trước những giác quan và ngay lập tức hình
thành ý niệm về âm thanh kia. Chúng ta có thể xem xét mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả dưới bất
kỳ phương diện nào trong hai lăng kính soi chiếu này; nhưng vượt ngoài chúng, chúng
ta không có ý niệm nào về nó. [17].
E 7.30, SBN 78-9
Tóm lại, những luận điểm trong Tiết này như sau: tất cả
những ý niệm đều được sao chép từ một ấn tượng hay cảm nhận nào đó có trước; và
khi chúng ta không tìm thấy bất kỳ ấn tượng nào tương ứng, chúng ta có thể chắc
chắn rằng không hề có ý niệm nào car. Trong từng trường hợp riêng lẻ của hoạt động nơi
những vật thể hay trong não thức, không có gì tạo ra một ấn tượng—và vì thế
cũng không thể gợi lên ý niệm nào về quyền năng hay sự liên kết tất yếu. Nhưng
khi nhiều trường hợp giống nhau xuất hiện, và cùng một đối tượng luôn được tiếp
theo bởi cùng một sự kiện, thì khi đó chúng ta bắt đầu hình thành khái niệm về nguyên
nhân và quan hệ. Khi đó, chúng ta cảm nhận được một
cảm xúc hay ấn tượng mới, cụ thể là một sự liên kết theo thói quen trong suy
nghĩ hoặc trí tưởng tượng giữa một đối tượng và những gì, thường đi kèm với nó;
và cảm nhận này chính là nguồn gốc của ý niệm mà chúng ta đang tìm kiếm.
Vì ý niệm này
phát sinh từ nhiều trường hợp tương tự, chứ không phải từ một trường hợp đơn
lẻ; nên nó phải phát sinh từ yếu tố mà trong đó nhiều trường hợp khác biệt với
từng trường hợp riêng lẻ. Nhưng sự liên kết theo thói quen hay sự liên tưởng
của trí tưởng tượng chính là điểm khác biệt duy nhất giữa chúng. Dưới mọi khía
cạnh khác, chúng đều giống nhau.
Trường hợp đầu tiên vốn chúng ta nhìn thấy về chuyển
động truyền đi bởi sự va chạm của hai quả bi-a (để quay trở lại với ví dụ minh
họa hiển nhiên này) hoàn toàn tương tự với bất kỳ trường hợp nào có thể xảy ra
với chúng ta ở hiện tại; ngoại trừ duy nhất một điều, đó là ban đầu chúng ta
không thể suy luận sự kiện này từ sự kiện kia; điều mà hiện nay chúng ta có khả
năng thực hiện được, sau một dài những kinh nghiệm giống nhau không đổi. Tôi không biết liệu
người đọc có sẵn lòng để nắm bắt lấy lập luận này không.
Tôi e rằng, nếu
nói thêm nhiều lời hoặc trình bày nó dưới quá nhiều góc nhìn khác nhau, thì nó
sẽ chỉ trở nên mơ hồ và phức tạp hơn. Trong tất cả những lập luận trừu tượng,
luôn có một điểm nhìn, nếu chúng ta may mắn nắm bắt được, sẽ giúp làm sáng tỏ
vấn đề hơn bất kỳ sự hùng biện hay diễn đạt phong phú nào. chúng ta nên cố gắng
đạt tới điểm nhìn ấy, và dành những hoa mỹ của tu từ học cho những đề tài thích
hợp hơn với chúng.
-----------------------------------------------
E 7.4n11, SBN 62
11. Mục II.
E 7.8n12, SBN 64
12. Ông Locke,
trong chương bàn về quyền năng, nói rằng, từ kinh nghiệm, chúng ta thấy có
nhiều sự hinh thành mới trong vật chất, và kết luận rằng phải có đâu đó một
quyền năng có khả năng để tạo ra chúng, cuối cùng chúng ta đi đến ý niệm về
quyền năng qua suy luận này. Nhưng không một suy luận nào có thể đem cho cho chúng
ta một ý niệm mới, nguyên thủy, đơn giản; như chính triết gia này cũng nhìn
nhận. Do đó, điều này không thể là nguồn gốc của ý niệm ấy.
E 7.15n13, SBN 67
13. Xem CHÚ THÍCH [C].
E 7.15n13. 1, SBN 67
Người ta có thể giả định rằng, sức đề kháng vốn
chúng ta gặp phải trong những cơ thể, buộc chúng ta thường xuyên phải dùng lực của mình và huy động
tất cả sức mạnh của mình, điều này cho chúng ta ý niệm về sức mạnh và quyền
năng. Chính nisus hay gắng sức mạnh mẽ này, vốn chúng ta ý thức được, là
ấn tượng ban đầu vốn ý niệm này được sao chép.
Nhưng trước hết, chúng ta gán sức mạnh cho một
số lượng lớn những đối tượng, nơi chúng ta không bao giờ có thể giả định rằng sự
kháng cự hay dùng sức mạnh này diễn ra; cho Đấng tối cao, đấng không bao giờ gặp bất
kỳ sự kháng cự nào; cho não thức trong việc điều khiển những ý niệm và chân tau của nó, trong suy
nghĩ và vận động thông thường, nơi hậu quả theo sau ý chí ngay tức khắc
không cần bất kỳ sự vận dụng hay huy động lực nào; và cho vật chất vô tri, vốn
không có khả năng có được cảm xúc này. Thứ hai, cảm xúc về một gắng sức nhằm vượt qua sự kháng cự
này không có sự liên kết nào được biết đến với bất kỳ biến cố nào: những gì
theo sau nó, chúng ta chỉ biết được qua kinh nghiệm, chứ không thể biết trước (a
priori). Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng cái nisus động vật mà chúng
ta kinh nghiệm, dù không thể cung cấp một ý niệm chính xác và xác đáng về quyền
năng, lại đóng góp rất nhiều vào cái ý niệm tầm thường, thiếu chính xác vốn
được hình thành về quyền năng đó
E 7.21n14, SBN 69
14. Θεος απο μηχανης. = Deus ex machina (Vị thần từ cỗ máy) [4]
E 7.24n15, SBN 72
15. Mục XII.
E 7.25n16, SBN 73
16. Xem GHI CHÚ [D].
E 7.25n16. 1, SBN 73
Tôi không cần
phải xem xét kỹ lưỡng về vis inertiæ (lực quán tính) vốn được nhắc đến
rất nhiều trong nền triết học mới và được gán cho vật chất. Qua kinh nghiệm, chúng
ta nhận thấy rằng một vật thể đứng yên hay chuyển động sẽ duy trì mãi mãi trạng
thái hiện thời của nó, cho đến khi bị thay đổi bởi một nguyên nhân mới; và một
vật thể bị tác động sẽ tiếp nhận từ vật thể đẩy một lượng chuyển động đúng bằng
lượng mà chính nó có được. Đây là những dữ kiện thực tế.
Khi chúng ta gọi
đây là vis inertiæ, chúng ta chỉ đang đánh dấu những dữ kiện này nhưng
không hề tự phụ rằng mình có bất kỳ ý niệm nào về quyền năng thụ động đó; tương
tự như khi chúng ta nói về lực hấp dẫn, chúng ta ngụ ý về những hậu quả nhất
định nhưng không hề thấu hiểu quyền năng chủ động kia. Ngài Isaac Newton chưa
bao giờ có ý định tước bỏ mọi lực hay năng lực khỏi những nguyên nhân thứ cấp; dù một số môn đồ của
ông đã gắng sức thiết lập lý thuyết đó dựa trên thẩm quyền của ông. Ngược lại,
triết gia vĩ đại đó đã viện dẫn đến một chất lưu hoạt động mang tính ête để
giải thích lực hấp dẫn phổ quát của mình; dù ông đã đủ thận trọng và khiêm tốn
để nhìn nhận rằng đó chỉ là một giả thuyết thuần túy, không được khăng khăng
duy trì nếu thiếu thêm những thí nghiệm.
Tôi phải thú nhận
rằng, có điều gì đó hơi khác thường trong số phận của những quan điểm.
Descartes đã ám chỉ học thuyết về hiệu lực phổ quát và duy nhất của Đấng Tối
Cao nhưng không hề nhấn mạnh vào nó. Malebranche và những người theo phái
Descartes khác đã biến nó thành nền tảng cho toàn bộ triết học của họ. Tuy
nhiên, nó không hề có uy tín tại Anh. Locke, Clarke và Cudworth thậm chí chưa
bao giờ mảy may để ý đến nó, mà luôn giả định rằng vật chất sở hữu một quyền
năng thực sự, dù là quyền năng lệ thuộc và có nguồn gốc. Bằng cách nào mà nó
lại trở nên phổ biến đến thế trong giới siêu hình học hiện đại của chúng ta?
E 7.29n17, SBN 77
17. Xem GHI CHÚ [E].
E 7.29n17. 1, SBN 77
THEO những cách
giải thích và định nghĩa này, ý niệm về quyền lực cũng tương đối như ý niệm về
nguyên nhân; và cả hai đều có liên quan đến một hậu quả hoặc một số sự kiện
khác liên tục gắn liền với sự kiện trước đó. Khi chúng ta xem xét hoàn cảnh
chưa biết của một đối tượng, theo đó mức độ hoặc số lượng hậu quả của nó không
đổi và xác định, chúng ta gọi đó là quyền năng của nó: Và theo đó, tất cả những
triết gia đều nhìn nhận rằng hậu quả chính là thước đo của quyền năng. Thế
nhưng, nếu họ thực sự có bất kỳ ý niệm nào về quyền năng như tự thân nó vốn
thế, tại sao họ không thể đo lường nó ngay trong chính nó?
Tranh luận về
việc lực của một vật thể đang chuyển động tỉ lệ với vận tốc hay bình phương vận
tốc của nó; tranh luận này, tôi muốn nói rằng, lẽ ra đã không cần phải định
đoạt bằng cách so sánh những hậu quả của nó trong những khoảng thời gian bằng
nhau hay khác nhau, nhưng đáng lẽ phải bằng một phép đo lường và so sánh trực
tiếp. [5]
E 7.29n17. 2, SBN 77-8
Về việc thường
xuyên dùng những từ ngữ như Lực, Quyền năng, Năng lực, v.v., vốn xuất hiện khắp
nơi trong giao tiếp thông thường cũng như trong triết học; đó không phải là
minh chứng cho thấy chúng ta đã thấu hiểu, trong bất kỳ trường hợp nào, nguyên
lý kết nối giữa nguyên nhân và hậu quả, hay có thể giải thích rốt ráo về việc
vật này sản sinh ra vật kia.
Những từ ngữ này,
theo cách dùng thông thường, có ý nghĩa rất lỏng lẻo đi kèm; và những ý niệm về
chúng thì hết sức bất định và mơ hồ. Không loài động vật nào có thể làm những
vật thể bên ngoài chuyển động mà thiếu đi cảm quan về một nisus hay sự gắng sức;
và mọi động vật đều có một cảm quan hoặc cảm giác từ cú va đập hay đánh vào của
một vật thể bên ngoài đang chuyển động.
Những cảm giác
này—vốn thuần túy mang tính động vật và từ đó chúng ta không thể rút ra bất kỳ
phép suy diễn tiên nghiệm (a priori) nào—lại thường được chúng ta gán
ghép cho những vật thể vô tri, và giả định rằng chúng cũng có những cảm giác
tương tự mỗi khi chúng truyền đi hoặc tiếp nhận chuyển động. Với những năng lực
được vận dụng nhưng không đi kèm với bất kỳ ý niệm nào về sự truyền chuyển
động, chúng ta chỉ xem xét sự đi đôi liên tục của những sự kiện cố theo kinh
nghiệm; và vì chúng ta cảm thấy một sự liên kết theo thói quen giữa những ý
niệm, chúng ta liền gán cảm giác đó cho những đối tượng; bởi không có gì phổ
biến hơn việc áp đặt lên những vật thể bên ngoài mọi cảm giác bên trong vốn chúng
gây ra cho chúng ta.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Hai ý niệm quan
trọng ở đây > sự liên kết (conection connected), tưởng có
giữa thực trong nội dung giữa sự vật việc quan sát được nhiều lần , nhưng thực
chỉ có thể nói là có một sự có thường trực, như không đổi của một sự
kết hợp /đi đôi (conjunction/conjoined) với nhau giữa chúng.
Trong hệ thống tư
tưởng của Hume, việc phân biệt giữa "Sự kết hợp" (Conjunction) và
"Sự liên kết" (Connection) đóng vai trò then chốt để giải cấu trúc
bản chất của tương quan nhân quả. Sự kết hợp thường xuyên (Constant
Conjunction) là hiện tượng khách quan mà giác quan có thể nắm bắt: đó đơn thuần
là sự kế tiếp lặp đi lặp lại của hai sự kiện trong kinh nghiệm (A xảy ra rồi
đến B xảy ra). Ngược lại, Sự liên kết tất yếu (Necessary Connection) là ý niệm
về một sức mạnh nội tại hay "sợi dây" vô hình buộc kết quả phải nảy
sinh từ nguyên nhân. Hume lập luận rằng, thực tế chúng ta chưa bao giờ quan sát
được bất kỳ một "sự liên kết" thực thụ nào giữa những vật thể; chúng
ta chỉ thấy chúng luôn "kết hợp" cùng nhau. Do đó, ý niệm về sự liên
kết không nằm ở bản thân đối tượng bên ngoài mà là một cảm giác nảy sinh trong
tâm trí. Sau khi chứng kiến sự kết hợp lặp lại nhiều lần, tâm trí hình thành
một thói quen dẫn đến sự kỳ vọng tự động; chính quá trình liên tưởng tâm lý
association of ideas) này đã tạo ra ảo tưởng rằng giữa những sự vật việc có một
mối liên kết tất yếu và không thể tách rời.
[2] Extraneous and foreign (Ngoại lai và xa lạ): Đây là điểm “cay
đắng”nhất với những triết gia duy lý. Hume nói rằng chúng ta không thể định
nghĩa nguyên nhân bằng chính bản thân nó (vì chúng ta không thấy “quyền năng”bên
trong nó), mà phải định nghĩa dựa trên những thứ “bên ngoài”như: sự lặp lại của
những đối tượng khác, hoặc sự vận hành của não thức ta.
[3] Hume tìm thấy hai định nghĩa về Nguyên nhân: (a) Định nghĩa 1 (Khách
quan/Kinh nghiệm): Dựa trên việc những sự kiện luôn đi đôi với nhau trong thực
tế. (b) Định nghĩa 2 (Chủ
quan/Tâm lý): Dựa trên sự chuyển dịch theo thói quen của tư tưởng. Connexion (Sự liên kết): Câu cuối cùng của
đoạn này là nhìn nhận rằng chúng ta vẫn không bao giờ “chạm”vào được yếu tính/bản chất của sự
liên kết vốn vẫn cho là có. Chúng ta chỉ thấy A và B đi cùng nhau, chứ không thực sự thấy sợi dây “liên
kết”chúng. Thấy trong tưởng tượng,
không ngoài thực tại.
[4] “Vị thần từ cỗ
máy”- Θεός από μηχανής = Θεός (Theós) / Deus:
God + από (apó) / + ex: From + μηχανής (mēkhanḗs) / machina: Machine > Nó đề cập đến
nhà hát Hy Lạp thời cổ, nơi một chiếc cần cẩu (máy) được dùng để hạ một diễn
viên đóng vai một vị thần xuống sân khấu để giải quyết một diễn biến trong vở
kịch tính dường như vô vọng. Trong phê bình văn học, nó chỉ khoảnh khắc mà xung
đột trở nên quá phức tạp đến mức không thể giải quyết bằng logic nội tại—cho
đến khi một “Vị thần từ cỗ máy”đột ngột xuất hiện để dàn xếp mọi chuyện.
Ở đây, chỉ một
giải pháp gán ép, mang tính cứu viện . Một can thiệp từ bên ngoài vấn đề để
giải quyết bế tắc. Hume dùng hình ảnh trong kịch nghệ này như mọt ẩn dụ để chỉ
những triết gia (như Descartes hay phái duy ý) khi không thể giải thích được sự
liên kết tất yếu trong tương quan nhân quả bằng khả năng nhận thức của con
người, họ đã phải
“triệu hồi”Gót
như một lực tác động mang tính áp đặt. Những triết gia siêu hình học này, không
thể giải thích được cơ chế (làm sao A dẫn đến B), nên họ dùng Gót như một “vị
thần từ cỗ máy”từ trời cao hạ xuống sân khấu của những cảnh tượng thế gian.
Thay vì nhìn nhận giới hạn trí tuệ con người, họ giả định rằng Gót trực tiếp
can thiệp vào mọi biến cố. Ví dụ: Gót chính là thực thể đã “đẩy”quả bi-a này
ngay khi nó chạm vào quả bi-a kia. Hume coi đây là một giải pháp khiên cưỡng;
ông nhấn mạnh rằng việc viện dẫn thần linh không giúp chúng ta hiểu thêm chút
nào về khả năng nhận thức, mà chỉ cho thấy chúng ta đang rời xa thế giới của
những ấn tượng thực tại để rơi vào những huyễn tưởng siêu hình.
[5] Tranh Luận Về Vis Viva — thuật ngữ Latin có nghĩa là “Lực sống”— không đơn thuần là một chương cũ
trong lịch sử vật lý học thế kỷ XVII và XVIII, mà còn là hiện thân của một cuộc
đối đầu trí tuệ khốc liệt về bản chất của vũ trụ. Trong tiến trình giải phẫu
Khả năng nhận thức của con người, David Hume đã biến tranh luận này thành một
lập luận phản chứng / lập luận thu về phi lý (reductio ad absurdum) sắc
sảo, nhắm thẳng vào sự tự phụ của giới duy lý và những nhà vật lý đương
thời.Mọi chuyện bắt đầu khi giới trí thức khoa học chia rẽ bởi một câu hỏi
tưởng chừng mang tính kỹ thuật: Làm thế nào để định lượng được “lực”của một vật
thể đang chuyển động? Một bên, dẫn đầu bởi Descartes và sau đó là Newton, khẳng
định rằng lực tỉ lệ thuận với vận tốc; trong khi bên kia, Leibniz cùng những
môn đồ lại khăng khăng rằng lực phải tỉ lệ với bình phương vận tốc. Để phân
định đúng sai, họ đã bị cuốn vào một vòng xoáy của những thực nghiệm gián tiếp
đầy phức tạp, từ việc đo độ lún của những quả cầu khi rơi vào khối đất sét cho đến
việc tính toán quãng đường dịch chuyển sau những cú va chạm cơ học.Tuy nhiên, với
Hume, ông không hề có ý định đóng vai một trọng tài vật lý để phân xử đúng sai.
Với ông, chính việc những triết gia và nhà khoa học lỗi lạc nhất phải tranh
luận suốt hơn nửa thế kỷ đã là một bằng chứng cho sự giới hạn của khả năng nhận
thức con người. Hume lập luận rằng, nếu chúng ta thực sự sở hữu một ý niệm rõ
ràng và trực tiếp về “quyền năng”hay “lực”ẩn chứa bên trong vật thể, thì tại
sao chúng ta lại không thể đo lường quyền năng đó trong chính tự thân nó? Nếu
quyền năng là một thuộc tính mà khả năng nhận thức có thể thấu hiểu, lẽ ra chúng
ta chỉ việc quan sát đối tượng và xác định cường độ của nó một cách tiên thiên
— tự nhiên và hiển nhiên như cách chúng ta đo chiều dài của một đoạn thẳng hay
cân nặng của một hòn đá — nhưng không cần phải kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi
hành động xảy ra.Việc những nhà khoa học buộc phải định đoạt tranh luận dựa
trên việc so sánh những biến cố kết quả, tức là những gì xảy ra sau khi va chạm
kết thúc, đã phơi bày một sự thật trần trụi: Họ hoàn toàn không “thấy”được cái
lực đó khi nó chưa bộc phát. Họ chỉ đang cố gắng suy diễn về một tình tiết ẩn
dấu/không biết được (unknown circumstance) mà họ hoàn toàn không có bất
kỳ ấn tượng trực tiếp nào. Hume đi đến một kết luận mang tính giải ảo rằng
thuật ngữ “quyền năng”thực chất chỉ là một cái tên mang tính tương đối. Nó là
một nhãn dán ngôn ngữ mà chúng ta dùng để gọi tên một điều gì đó chúng ta không
thể biết, nhưng lại giả định rằng nó tồn tại để ấn định cường độ của kết quả mà
chúng ta nhìn thấy trước mắt.Thông điệp cốt lõi mà Hume muốn gửi gắm rất rõ
ràng: Trong thế giới của thực nghiệm, chúng ta không bao giờ chạm tới được bản
thân cái “lực”trong chính tự thân nó. Cái mà chúng ta đang đo đạc, tính toán
thực chất chỉ là cái “bóng”mà quyền năng để lại sau khi những biến cố đã đi
qua. Bản chất của sự liên kết tất yếu giữa nguyên nhân và kết quả vẫn sẽ mãi
mãi là một ẩn số, nằm ngoài tầm với của khả năng nhận thức con người.
