Saturday, April 11, 2026

Hume – Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (09)

 Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người

(An Enquiry concerning Human Understanding)

David Hume

 

( ← ... tiếp theo )

 

 

 

 


TIẾT VII.

Về Ý Niệm Về Sự Liên Kết Tất Yếu.


PHẦN II.

E 7.26, SBN 73-4

Nhưng để nhanh chóng đi đến một kết luận cho lập luận này, vốn đã kéo quá dài: Chúng ta đã tìm kiếm vô vọng một ý niệm về quyền năng hay sự liên kết tất yếu, trong tất cả những nguồn gốc vốn chúng ta có thể giả định rằng nó được suy ra từ đó. Có vẻ như, trong những trường hợp riêng lẻ của những hoạt động của những vật thể, dù có kỹ lưỡng đến cùng cực, chúng ta không bao giờ có thể tìm ra được bất cứ gì khác ngoài việc sự kiện này nối tiếp sự kiện kia; chứ không thể thấu hiểu được bất kỳ lực hay quyền năng nào qua đó nguyên nhân hoạt động cũng như bất kỳ sự liên kết nào giữa nguyên nhân và hậu quả giả định của nó.

Khó khăn tương tự cũng xảy ra khi chúng ta suy ngẫm về tác động của não thức lên cơ thể: chúng ta quan sát thấy chuyển động của cơ thể xảy ra theo sau ý muốn của não thức nhưng không thể quan sát hay hình dung được sự ràng buộc nào liên kết chuyển động và ý muốn, hoặc năng lực nào mà nhờ đó não thức tạo ra hiệu quả này.Thẩm quyền của ý chí với những năng và những ý niệm của chính nó cũng không dễ hiểu rõ thêm được một chút nào: Như vậy, xét trên toàn bộ, dường như không có bất kỳ trường hợp nào trong tự nhiên thể hiện một sự liên kết mà chúng ta có thể thấu hiểu được. Tất cả những sự kiện dường như hoàn toàn rời rạc và tách biệt. Một sự kiện này xảy ra sau một sự kiện khác, nhưng chúng ta không bao giờ có thể quan sát được bất kỳ mối dây ràng buộc nào giữa chúng. Chúng dường như chỉ được kết hợp với nhau, chứ không hề có sự liên kết tất yếu. Và vì chúng ta không thể có bất kỳ ý niệm nào về một gì đó chưa từng xuất hiện trước giác quan bên ngoài hoặc cảm giác bên trong của chúng ta, kết luận tất yếu phải là: chúng ta không có bất kỳ ý niệm nào về sự liên kết hoặc quyền năng, và những từ ngữ này hoàn toàn không có ý nghĩa gì khi được đem dùng trong lý luận triết học hay đời sống thường ngày.

 

E 7.27, SBN 74-5

Nhưng vẫn còn một phương pháp để tránh kết luận này, và một nguồn gốc vốn chúng ta vẫn chưa xem xét. Khi bất kỳ đối tượng hay sự kiện tự nhiên nào có mặt, chúng ta không thể, bằng bất kỳ sự minh mẫn hay thâm thúy nào, tìm ra, hay ngay cả phỏng đoán, nếu không kinh nghiệm, rằng sự kiện nào sẽ nảy sinh từ nó, hay đem cái nhìn xa thấy trước của chúng ta vượt quá đối tượng đó, vốn hiện diện trực tiếp với trí nhớ và những giác quan. Ngay cả sau một trường hợp hay thí nghiệm, nơi chúng ta quan sát thấy một sự kiện cụ thể nối tiếp theo sau một sự kiện khác, chúng ta cũng không có quyền thiết lập một quy luật tổng quát, hay tiên đoán những gì sẽ xảy ra trong những trường hợp tương tự; bởi việc phán xét toàn bộ tiến trình của tự nhiên chỉ từ một thí nghiệm đơn lẻ, dù chính xác hay chắc chắn đến đâu, vốn luôn bị coi là một sự liều lĩnh không thể dung thứ.

Nhưng khi một loại sự kiện cụ thể nào đó luôn luôn, trong mọi trường hợp, đi đôi với một loại khác, chúng ta không còn ngần ngại trong việc tiên đoán sự xuất hiện của sự kiện này dựa trên sự hiện diện của sự kiện kia, và trong việc vận dụng lối lập luận vốn là thứ duy nhất có thể bảo đảm cho chúng ta về bất kỳ dữ kiện thực tế hay sự hiện hữu nào. Khi đó, chúng ta gọi một đối tượng là Nguyên nhân; đối tượng kia là Hậu quả. Chúng ta giả định rằng giữa chúng có một sự liên kết nào đó, có một quyền năng nào đó trong đối tượng này, nhờ đó nó không thể sai lầm tạo ra đối tượng kia, và hoạt động với mức độ chắc chắn cao nhất cùng tính tất yếu mạnh nhất.

 

E 7.28, SBN 75-6

Như vậy, xem dường như ý niệm về một sự liên kết tất yếu giữa những sự kiện nảy sinh từ một chuỗi những trường hợp tương tự xảy ra, về sự đi đôi thường xuyên của những sự kiện này; và ý niệm đó không bao giờ có thể được gợi lên từ bất kỳ một trường hợp nào trong số những trường hợp này, dù được xem xét dưới tất cả những góc độ và vị thế có thể có. Thế nhưng, trong một chuỗi của nhiều trường hợp, không có gì khác biệt so với từng trường hợp riêng lẻ vốn được giả định là hoàn toàn tương tự; ngoại trừ rằng sau sự lập đi lập lại nhiều lần của những trường hợp tương tự, não thức được thói quen dẫn dắt, khi một sự kiện xuất hiện, mong đợi kẻ đồng hành thông thường của sự kiện đó, và tin rằng sự kiện đó sẽ xảy ra.

Do đó, sự liên kết này—những gì chúng ta cảm nhận trong não thức, sự liên tưởng theo thói quen này của trí tưởng tượng từ một đối tượng sang kẻ đồng hành thông thường của nó—chính là cảm xúc hay ấn tượng, từ đó chúng ta hình thành ý niệm về quyền năng hay sự liên kết tất yếu. Không có gì khác ngoài thế nữa, trong trường hợp này cả. Hãy suy ngẫm về vấn đề này từ tất cả mọi phía; chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy bất kỳ nguồn gốc nào khác của ý niệm đó.

Đây chính là sự khác biệt duy nhất giữa một trường hợp đơn lẻ, trường hợp không bao giờ có thể cung cấp cho chúng ta ý niệm về sự liên kết, và một số những trường hợp tương tự, qua đó ý niệm đó được khơi lên. Lần đầu tiên một người thấy sự truyền chuyển động qua sự va chạm, như khi hai quả bi-a va chạm nhau, người này không thể tuyên bố rằng sự kiện này đã liên kết với sự kiện kia; mà chỉ có thể nói rằng chúng đi đôi với nhau.[1] Sau khi quan sát nhiều trường hợp có tính chất như vậy, người này mới tuyên bố rằng chúng có liên kết với nhau.

Sự thay đổi nào đã xảy ra để làm nảy sinh ý niệm mới về sự liên kết này? Không có gì khác ngoài việc giờ đây người này cảm thấy những sự kiện này được liên kết với nhau trong trí tưởng tượng của người này, và có thể sẵn sàng tiên đoán về sự hiện hữu của một này từ sự xuất hiện của một kia.

Vì vậy, khi chúng ta nói một đối tượng liên kết với một đối tượng khác, chúng ta chỉ có ý muốn nói là chúng đã có được một sự liên kết trong tư tưởng của chúng ta, và làm nảy sinh sự suy diễn này, qua đó chúng trở thành những bằng chứng cho sự hiện hữu của nhau: Một kết luận có phần nào khác thường; nhưng xem dường như được xây dựng trên đầy đủ bằng chứng.Và bằng chứng của nó sẽ không bị suy yếu bởi bất kỳ sự thiếu tự tin tổng quát nào của khả năng nhận thức, hay sự ngờ vực hoài nghi với mọi kết luận vốn dĩ mới mẻ và khác thường. Không có kết luận nào có thể phù hợp với quan điểm hoài nghi hơn là những kết luận đưa ra khám phá về sự yếu ớt và những giới hạn chật hẹp của lý trí và năng lực của con người.

 

E 7.29, SBN 76-7

Và còn thí dụ nào mạnh mẽ hơn trường hợp hiện tại có thể được đưa ra để minh chứng cho sự thiếu hiểu biết và yếu kém đến kinh ngạc của khả năng nhận thức? Bởi lẽ chắc chắn rằng, nếu có bất kỳ quan hệ nào giữa những đối tượng vốn chúng ta cần phải thấu hiểu một cách toàn hảo, thì đó chính là tương quan giữa nguyên nhân và hậu quả. Trên nền tảng này, chúng ta xây dựng tất cả những phép suy diễn của chúng ta về sự kiện thực tế hay sự hiện hữu đều được thiết lập. Chỉ bằng phương tiện duy nhất này, chúng ta mới có được sự chắc chắn về những đối tượng, những đối tượng đã nằm ngoài sự chứng thực hiện thời của ký ức và giác quan của chúng ta.

Ích lợi trực tiếp duy nhất của tất cả những khoa học là dạy chúng ta cách kiểm soát và điều chỉnh những sự kiện tương lai qua nguyên nhân của chúng. Do đó, tư tưởng và sự tìm tòi của chúng ta luôn xoay quanh quan hệ này trong từng khoảnh khắc: Thế nhưng, những ý niệm vốn chúng ta hình thành về nó lại khiếm khuyết đến mức không thể đưa ra bất kỳ định nghĩa xác đáng nào về nguyên nhân, ngoại trừ định nghĩa được rút ra từ những gì ngoại lai và xa lạ với chính nó. [2]

Những đối tượng tương tự luôn luôn đi đôi với những đối tượng tương tự. Về điều này, chúng ta có kinh nghiệm. Do đó, phù hợp với kinh nghiệm này, chúng ta có thể định nghĩa một nguyên nhân là một đối tượng, theo sau là một đối tượng khác, và trong đó tất cả những đối tượng, tương tự với đối tượng đầu tiên, đều được theo sau bởi những đối tượng tương tự với đối tượng thứ hai. Hay nói cách khác, nơi nào nếu đối tượng đầu tiên không hiện hữu, thì đối tượng thứ hai sẽ không bao giờ hiện hữu.

Sự xuất hiện của một nguyên nhân luôn dẫn dắt não thức, bằng một sự chuyển dịch theo thói quen, đến ý niệm về hậu quả. Về điều này, chúng ta cũng có kinh nghiệm. Do đó, phù hợp với kinh nghiệm này, chúng ta có thể hình thành một định nghĩa khác về nguyên nhân; và gọi nó là: Một đối tượng được theo sau bởi một đối tượng khác, mà sự xuất hiện của nó luôn dẫn dắt tư tưởng hướng tới đối tượng kia. Nhưng dù cả hai định nghĩa này đều được rút ra từ những hoàn cảnh xa lạ với nguyên nhân, chúng ta không thể khắc phục sự bất tiện này, hay đạt được bất kỳ định nghĩa nào toàn hảo hơn, có thể chỉ ra hoàn cảnh trong nguyên nhân, nhữngtạo nên sự liên kết với hậu quả của nó. [3]

Chúng ta không có ý niệm nào về sự liên kết này; ngay cả chẳng có lấy một khái niệm rõ ràng nào về việc chúng ta thực sự khao khát muốn biết điều gì khi gắng sức hình dung về nó. Chẳng hạn, chúng ta nói rằng sự rung động của sợi dây này là nguyên nhân của âm thanh cụ thể kia. Thế nhưng, chúng ta ngầm hiểu gì qua khẳng định đó? Hoặc chúng ta muốn nói rằng rung động này được theo sau bởi âm thanh này,tất cả những rung động tương tự đều được theo sau bởi những âm thanh tương tự; hoặc, rung động này được theo sau bởi âm thanh này, và khi âm thanh này xuất hiện, não thức báo trước những giác quan và ngay lập tức hình thành ý niệm về âm thanh kia. Chúng ta có thể xem xét mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả dưới bất kỳ phương diện nào trong hai lăng kính soi chiếu này; nhưng vượt ngoài chúng, chúng ta không có ý niệm nào về nó. [17].

 

E 7.30, SBN 78-9

Tóm lại, những luận điểm trong Tiết này như sau: tất cả những ý niệm đều được sao chép từ một ấn tượng hay cảm nhận nào đó có trước; và khi chúng ta không tìm thấy bất kỳ ấn tượng nào tương ứng, chúng ta có thể chắc chắn rằng không hề có ý niệm nào car. Trong từng trường hợp riêng lẻ của hoạt động nơi những vật thể hay trong não thức, không có gì tạo ra một ấn tượng—và vì thế cũng không thể gợi lên ý niệm nào về quyền năng hay sự liên kết tất yếu. Nhưng khi nhiều trường hợp giống nhau xuất hiện, và cùng một đối tượng luôn được tiếp theo bởi cùng một sự kiện, thì khi đó chúng ta bắt đầu hình thành khái niệm về nguyên nhân và quan hệ. Khi đó, chúng ta cảm nhận được một cảm xúc hay ấn tượng mới, cụ thể là một sự liên kết theo thói quen trong suy nghĩ hoặc trí tưởng tượng giữa một đối tượng và những gì, thường đi kèm với nó; và cảm nhận này chính là nguồn gốc của ý niệm mà chúng ta đang tìm kiếm.

Vì ý niệm này phát sinh từ nhiều trường hợp tương tự, chứ không phải từ một trường hợp đơn lẻ; nên nó phải phát sinh từ yếu tố mà trong đó nhiều trường hợp khác biệt với từng trường hợp riêng lẻ. Nhưng sự liên kết theo thói quen hay sự liên tưởng của trí tưởng tượng chính là điểm khác biệt duy nhất giữa chúng. Dưới mọi khía cạnh khác, chúng đều giống nhau.

Trường hợp đầu tiên vốn chúng ta nhìn thấy về chuyển động truyền đi bởi sự va chạm của hai quả bi-a (để quay trở lại với ví dụ minh họa hiển nhiên này) hoàn toàn tương tự với bất kỳ trường hợp nào có thể xảy ra với chúng ta ở hiện tại; ngoại trừ duy nhất một điều, đó là ban đầu chúng ta không thể suy luận sự kiện này từ sự kiện kia; điều mà hiện nay chúng ta có khả năng thực hiện được, sau một dài những kinh nghiệm giống nhau không đổi. Tôi không biết liệu người đọc có sẵn lòng để nắm bắt lấy lập luận này không.

Tôi e rằng, nếu nói thêm nhiều lời hoặc trình bày nó dưới quá nhiều góc nhìn khác nhau, thì nó sẽ chỉ trở nên mơ hồ và phức tạp hơn. Trong tất cả những lập luận trừu tượng, luôn có một điểm nhìn, nếu chúng ta may mắn nắm bắt được, sẽ giúp làm sáng tỏ vấn đề hơn bất kỳ sự hùng biện hay diễn đạt phong phú nào. chúng ta nên cố gắng đạt tới điểm nhìn ấy, và dành những hoa mỹ của tu từ học cho những đề tài thích hợp hơn với chúng.

 

-----------------------------------------------

 

E 7.4n11, SBN 62

11. Mục II.

 

E 7.8n12, SBN 64

12. Ông Locke, trong chương bàn về quyền năng, nói rằng, từ kinh nghiệm, chúng ta thấy có nhiều sự hinh thành mới trong vật chất, và kết luận rằng phải có đâu đó một quyền năng có khả năng để tạo ra chúng, cuối cùng chúng ta đi đến ý niệm về quyền năng qua suy luận này. Nhưng không một suy luận nào có thể đem cho cho chúng ta một ý niệm mới, nguyên thủy, đơn giản; như chính triết gia này cũng nhìn nhận. Do đó, điều này không thể là nguồn gốc của ý niệm ấy.

 

E 7.15n13, SBN 67

13. Xem CHÚ THÍCH [C].

 

E 7.15n13. 1, SBN 67

Người ta có thể giả định rằng, sức đề kháng vốn chúng ta gặp phải trong những cơ thể, buộc chúng ta thường xuyên phải dùng lực của mình và huy động tất cả sức mạnh của mình, điều này cho chúng ta ý niệm về sức mạnh và quyền năng. Chính nisus hay gắng sức mạnh mẽ này, vốn chúng ta ý thức được, là ấn tượng ban đầu vốn ý niệm này được sao chép.

Nhưng trước hết, chúng ta gán sức mạnh cho một số lượng lớn những đối tượng, nơi chúng ta không bao giờ có thể giả định rằng sự kháng cự hay dùng sức mạnh này diễn ra; cho Đấng tối cao, đấng không bao giờ gặp bất kỳ sự kháng cự nào; cho não thức trong việc điều khiển những ý niệm và chân tau của nó, trong suy nghĩ và vận động thông thường, nơi hậu quả theo sau ý chí ngay tức khắc không cần bất kỳ sự vận dụng hay huy động lực nào; và cho vật chất vô tri, vốn không có khả năng có được cảm xúc này. Thứ hai, cảm xúc về một gắng sức nhằm vượt qua sự kháng cự này không có sự liên kết nào được biết đến với bất kỳ biến cố nào: những gì theo sau nó, chúng ta chỉ biết được qua kinh nghiệm, chứ không thể biết trước (a priori). Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng cái nisus động vật mà chúng ta kinh nghiệm, dù không thể cung cấp một ý niệm chính xác và xác đáng về quyền năng, lại đóng góp rất nhiều vào cái ý niệm tầm thường, thiếu chính xác vốn được hình thành về quyền năng đó

 

E 7.21n14, SBN 69

14. Θεος απο μηχανης. = Deus ex machina (Vị thần từ cỗ máy) [4]

 

E 7.24n15, SBN 72

15. Mục XII.

 

E 7.25n16, SBN 73

16. Xem GHI CHÚ [D].

 

E 7.25n16. 1, SBN 73

Tôi không cần phải xem xét kỹ lưỡng về vis inertiæ (lực quán tính) vốn được nhắc đến rất nhiều trong nền triết học mới và được gán cho vật chất. Qua kinh nghiệm, chúng ta nhận thấy rằng một vật thể đứng yên hay chuyển động sẽ duy trì mãi mãi trạng thái hiện thời của nó, cho đến khi bị thay đổi bởi một nguyên nhân mới; và một vật thể bị tác động sẽ tiếp nhận từ vật thể đẩy một lượng chuyển động đúng bằng lượng mà chính nó có được. Đây là những dữ kiện thực tế.

Khi chúng ta gọi đây là vis inertiæ, chúng ta chỉ đang đánh dấu những dữ kiện này nhưng không hề tự phụ rằng mình có bất kỳ ý niệm nào về quyền năng thụ động đó; tương tự như khi chúng ta nói về lực hấp dẫn, chúng ta ngụ ý về những hậu quả nhất định nhưng không hề thấu hiểu quyền năng chủ động kia. Ngài Isaac Newton chưa bao giờ có ý định tước bỏ mọi lực hay năng lực khỏi những nguyên nhân thứ cấp; dù một số môn đồ của ông đã gắng sức thiết lập lý thuyết đó dựa trên thẩm quyền của ông. Ngược lại, triết gia vĩ đại đó đã viện dẫn đến một chất lưu hoạt động mang tính ête để giải thích lực hấp dẫn phổ quát của mình; dù ông đã đủ thận trọng và khiêm tốn để nhìn nhận rằng đó chỉ là một giả thuyết thuần túy, không được khăng khăng duy trì nếu thiếu thêm những thí nghiệm.

Tôi phải thú nhận rằng, có điều gì đó hơi khác thường trong số phận của những quan điểm. Descartes đã ám chỉ học thuyết về hiệu lực phổ quát và duy nhất của Đấng Tối Cao nhưng không hề nhấn mạnh vào nó. Malebranche và những người theo phái Descartes khác đã biến nó thành nền tảng cho toàn bộ triết học của họ. Tuy nhiên, nó không hề có uy tín tại Anh. Locke, Clarke và Cudworth thậm chí chưa bao giờ mảy may để ý đến nó, mà luôn giả định rằng vật chất sở hữu một quyền năng thực sự, dù là quyền năng lệ thuộc và có nguồn gốc. Bằng cách nào mà nó lại trở nên phổ biến đến thế trong giới siêu hình học hiện đại của chúng ta?

 

E 7.29n17, SBN 77

17. Xem GHI CHÚ [E].

 

E 7.29n17. 1, SBN 77

THEO những cách giải thích và định nghĩa này, ý niệm về quyền lực cũng tương đối như ý niệm về nguyên nhân; và cả hai đều có liên quan đến một hậu quả hoặc một số sự kiện khác liên tục gắn liền với sự kiện trước đó. Khi chúng ta xem xét hoàn cảnh chưa biết của một đối tượng, theo đó mức độ hoặc số lượng hậu quả của nó không đổi và xác định, chúng ta gọi đó là quyền năng của nó: Và theo đó, tất cả những triết gia đều nhìn nhận rằng hậu quả chính là thước đo của quyền năng. Thế nhưng, nếu họ thực sự có bất kỳ ý niệm nào về quyền năng như tự thân nó vốn thế, tại sao họ không thể đo lường nó ngay trong chính nó?

Tranh luận về việc lực của một vật thể đang chuyển động tỉ lệ với vận tốc hay bình phương vận tốc của nó; tranh luận này, tôi muốn nói rằng, lẽ ra đã không cần phải định đoạt bằng cách so sánh những hậu quả của nó trong những khoảng thời gian bằng nhau hay khác nhau, nhưng đáng lẽ phải bằng một phép đo lường và so sánh trực tiếp. [5]

 

E 7.29n17. 2, SBN 77-8

Về việc thường xuyên dùng những từ ngữ như Lực, Quyền năng, Năng lực, v.v., vốn xuất hiện khắp nơi trong giao tiếp thông thường cũng như trong triết học; đó không phải là minh chứng cho thấy chúng ta đã thấu hiểu, trong bất kỳ trường hợp nào, nguyên lý kết nối giữa nguyên nhân và hậu quả, hay có thể giải thích rốt ráo về việc vật này sản sinh ra vật kia.

Những từ ngữ này, theo cách dùng thông thường, có ý nghĩa rất lỏng lẻo đi kèm; và những ý niệm về chúng thì hết sức bất định và mơ hồ. Không loài động vật nào có thể làm những vật thể bên ngoài chuyển động mà thiếu đi cảm quan về một nisus hay sự gắng sức; và mọi động vật đều có một cảm quan hoặc cảm giác từ cú va đập hay đánh vào của một vật thể bên ngoài đang chuyển động.

Những cảm giác này—vốn thuần túy mang tính động vật và từ đó chúng ta không thể rút ra bất kỳ phép suy diễn tiên nghiệm (a priori) nào—lại thường được chúng ta gán ghép cho những vật thể vô tri, và giả định rằng chúng cũng có những cảm giác tương tự mỗi khi chúng truyền đi hoặc tiếp nhận chuyển động. Với những năng lực được vận dụng nhưng không đi kèm với bất kỳ ý niệm nào về sự truyền chuyển động, chúng ta chỉ xem xét sự đi đôi liên tục của những sự kiện cố theo kinh nghiệm; và vì chúng ta cảm thấy một sự liên kết theo thói quen giữa những ý niệm, chúng ta liền gán cảm giác đó cho những đối tượng; bởi không có gì phổ biến hơn việc áp đặt lên những vật thể bên ngoài mọi cảm giác bên trong vốn chúng gây ra cho chúng ta.


Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai

(Mar/2026)

(Còn tiếp... →)

 

http://chuyendaudau.blogspot.com/

http://chuyendaudau.wordpress.com

 



[1] Hai ý niệm quan trọng ở đây > sự liên kết (conection connected), tưởng có giữa thực trong nội dung giữa sự vật việc quan sát được nhiều lần , nhưng thực chỉ có thể nói là có một sự có thường trực, như không đổi của một sự kết hợp /đi đôi (conjunction/conjoined) với nhau giữa chúng.

Trong hệ thống tư tưởng của Hume, việc phân biệt giữa "Sự kết hợp" (Conjunction) và "Sự liên kết" (Connection) đóng vai trò then chốt để giải cấu trúc bản chất của tương quan nhân quả. Sự kết hợp thường xuyên (Constant Conjunction) là hiện tượng khách quan mà giác quan có thể nắm bắt: đó đơn thuần là sự kế tiếp lặp đi lặp lại của hai sự kiện trong kinh nghiệm (A xảy ra rồi đến B xảy ra). Ngược lại, Sự liên kết tất yếu (Necessary Connection) là ý niệm về một sức mạnh nội tại hay "sợi dây" vô hình buộc kết quả phải nảy sinh từ nguyên nhân. Hume lập luận rằng, thực tế chúng ta chưa bao giờ quan sát được bất kỳ một "sự liên kết" thực thụ nào giữa những vật thể; chúng ta chỉ thấy chúng luôn "kết hợp" cùng nhau. Do đó, ý niệm về sự liên kết không nằm ở bản thân đối tượng bên ngoài mà là một cảm giác nảy sinh trong tâm trí. Sau khi chứng kiến sự kết hợp lặp lại nhiều lần, tâm trí hình thành một thói quen dẫn đến sự kỳ vọng tự động; chính quá trình liên tưởng tâm lý association of ideas) này đã tạo ra ảo tưởng rằng giữa những sự vật việc có một mối liên kết tất yếu và không thể tách rời.

[2] Extraneous and foreign (Ngoại lai và xa lạ): Đây là điểm “cay đắng”nhất với những triết gia duy lý. Hume nói rằng chúng ta không thể định nghĩa nguyên nhân bằng chính bản thân nó (vì chúng ta không thấy “quyền năng”bên trong nó), mà phải định nghĩa dựa trên những thứ “bên ngoài”như: sự lặp lại của những đối tượng khác, hoặc sự vận hành của não thức ta.

[3] Hume tìm thấy hai định nghĩa về Nguyên nhân: (a) Định nghĩa 1 (Khách quan/Kinh nghiệm): Dựa trên việc những sự kiện luôn đi đôi với nhau trong thực tế. (b) Định nghĩa 2 (Chủ quan/Tâm lý): Dựa trên sự chuyển dịch theo thói quen của tư tưởng. Connexion (Sự liên kết): Câu cuối cùng của đoạn này là nhìn nhận rằng chúng ta vẫn không bao giờ “chạm”vào được yếu tính/bản chất của sự liên kết vốn vẫn cho là có. Chúng ta chỉ thấy A và B đi cùng nhau, chứ không thực sự thấy sợi dây “liên kết”chúng. Thấy trong tưởng tượng, không ngoài thực tại.

[4] “Vị thần từ cỗ máy”- Θεός από μηχανής = Θεός (Theós) / Deus: God + από (apó) / + ex: From + μηχανής (mēkhanḗs) / machina: Machine > Nó đề cập đến nhà hát Hy Lạp thời cổ, nơi một chiếc cần cẩu (máy) được dùng để hạ một diễn viên đóng vai một vị thần xuống sân khấu để giải quyết một diễn biến trong vở kịch tính dường như vô vọng. Trong phê bình văn học, nó chỉ khoảnh khắc mà xung đột trở nên quá phức tạp đến mức không thể giải quyết bằng logic nội tại—cho đến khi một “Vị thần từ cỗ máy”đột ngột xuất hiện để dàn xếp mọi chuyện.

Ở đây, chỉ một giải pháp gán ép, mang tính cứu viện . Một can thiệp từ bên ngoài vấn đề để giải quyết bế tắc. Hume dùng hình ảnh trong kịch nghệ này như mọt ẩn dụ để chỉ những triết gia (như Descartes hay phái duy ý) khi không thể giải thích được sự liên kết tất yếu trong tương quan nhân quả bằng khả năng nhận thức của con người, họ đã phải

“triệu hồi”Gót như một lực tác động mang tính áp đặt. Những triết gia siêu hình học này, không thể giải thích được cơ chế (làm sao A dẫn đến B), nên họ dùng Gót như một “vị thần từ cỗ máy”từ trời cao hạ xuống sân khấu của những cảnh tượng thế gian. Thay vì nhìn nhận giới hạn trí tuệ con người, họ giả định rằng Gót trực tiếp can thiệp vào mọi biến cố. Ví dụ: Gót chính là thực thể đã “đẩy”quả bi-a này ngay khi nó chạm vào quả bi-a kia. Hume coi đây là một giải pháp khiên cưỡng; ông nhấn mạnh rằng việc viện dẫn thần linh không giúp chúng ta hiểu thêm chút nào về khả năng nhận thức, mà chỉ cho thấy chúng ta đang rời xa thế giới của những ấn tượng thực tại để rơi vào những huyễn tưởng siêu hình.

[5] Tranh Luận Về Vis Viva — thuật ngữ Latin có nghĩa là “Lực sống”— không đơn thuần là một chương cũ trong lịch sử vật lý học thế kỷ XVII và XVIII, mà còn là hiện thân của một cuộc đối đầu trí tuệ khốc liệt về bản chất của vũ trụ. Trong tiến trình giải phẫu Khả năng nhận thức của con người, David Hume đã biến tranh luận này thành một lập luận phản chứng / lập luận thu về phi lý (reductio ad absurdum) sắc sảo, nhắm thẳng vào sự tự phụ của giới duy lý và những nhà vật lý đương thời.Mọi chuyện bắt đầu khi giới trí thức khoa học chia rẽ bởi một câu hỏi tưởng chừng mang tính kỹ thuật: Làm thế nào để định lượng được “lực”của một vật thể đang chuyển động? Một bên, dẫn đầu bởi Descartes và sau đó là Newton, khẳng định rằng lực tỉ lệ thuận với vận tốc; trong khi bên kia, Leibniz cùng những môn đồ lại khăng khăng rằng lực phải tỉ lệ với bình phương vận tốc. Để phân định đúng sai, họ đã bị cuốn vào một vòng xoáy của những thực nghiệm gián tiếp đầy phức tạp, từ việc đo độ lún của những quả cầu khi rơi vào khối đất sét cho đến việc tính toán quãng đường dịch chuyển sau những cú va chạm cơ học.Tuy nhiên, với Hume, ông không hề có ý định đóng vai một trọng tài vật lý để phân xử đúng sai. Với ông, chính việc những triết gia và nhà khoa học lỗi lạc nhất phải tranh luận suốt hơn nửa thế kỷ đã là một bằng chứng cho sự giới hạn của khả năng nhận thức con người. Hume lập luận rằng, nếu chúng ta thực sự sở hữu một ý niệm rõ ràng và trực tiếp về “quyền năng”hay “lực”ẩn chứa bên trong vật thể, thì tại sao chúng ta lại không thể đo lường quyền năng đó trong chính tự thân nó? Nếu quyền năng là một thuộc tính mà khả năng nhận thức có thể thấu hiểu, lẽ ra chúng ta chỉ việc quan sát đối tượng và xác định cường độ của nó một cách tiên thiên — tự nhiên và hiển nhiên như cách chúng ta đo chiều dài của một đoạn thẳng hay cân nặng của một hòn đá — nhưng không cần phải kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi hành động xảy ra.Việc những nhà khoa học buộc phải định đoạt tranh luận dựa trên việc so sánh những biến cố kết quả, tức là những gì xảy ra sau khi va chạm kết thúc, đã phơi bày một sự thật trần trụi: Họ hoàn toàn không “thấy”được cái lực đó khi nó chưa bộc phát. Họ chỉ đang cố gắng suy diễn về một tình tiết ẩn dấu/không biết được (unknown circumstance) mà họ hoàn toàn không có bất kỳ ấn tượng trực tiếp nào. Hume đi đến một kết luận mang tính giải ảo rằng thuật ngữ “quyền năng”thực chất chỉ là một cái tên mang tính tương đối. Nó là một nhãn dán ngôn ngữ mà chúng ta dùng để gọi tên một điều gì đó chúng ta không thể biết, nhưng lại giả định rằng nó tồn tại để ấn định cường độ của kết quả mà chúng ta nhìn thấy trước mắt.Thông điệp cốt lõi mà Hume muốn gửi gắm rất rõ ràng: Trong thế giới của thực nghiệm, chúng ta không bao giờ chạm tới được bản thân cái “lực”trong chính tự thân nó. Cái mà chúng ta đang đo đạc, tính toán thực chất chỉ là cái “bóng”mà quyền năng để lại sau khi những biến cố đã đi qua. Bản chất của sự liên kết tất yếu giữa nguyên nhân và kết quả vẫn sẽ mãi mãi là một ẩn số, nằm ngoài tầm với của khả năng nhận thức con người.