Đời Tôi
(1777)
David Hume
(1711-1776)
1.
Vắn tắt về David
Hume
David Hume (1711-1776)
chắc chắn là một trong những triết gia có ảnh hưởng nhất của thời kỳ Hiện đại. Sinh
quán ở Edinburgh, Scotland, lược kê những tác phẩm triết học quan trọng của
ông: A Treatise on Human Nature /Một Chuyên Luận Về Bản Chất
Con Người (1739), Essays, Moral and Political /Những Tiểu Luận,
Đạo Đức Và Chính Trị (2 quyển, 1741-1742), An Enquiry
Concerning Human Understanding/Một Điều Tra Về Khả Năng Hiểu Biết Của Con Người (1748),
và An Enquiry Concerning the Principles of Morals/Một Điều Tra Về Những
Nguyên Lý Của Đạo Đức (1751). Dialogues Concerning Natural
Religion /Những Đàm Thoại Liên Quan Đến Tôn Giáo Tự
Nhiên (chỉ cho xuất bản sau khi ông mất). Ông cũng soạn bộ The
History of England / Lịch Sử England. (6 quyển)
Tư tưởng Duy Nghiệm
Hume thuộc truyền thống
triết học Duy nghiệm của England, gồm Francis Bacon
(1561-1626), John Locke (1632-1704), và George Berkeley (1685-1753). Quan
điểm chung của truyền thống này cho rằng tri thức được hình thành dựa trên nhận
thức giác quan vốn não thức con người thụ động tiếp nhận. Nhưng trong khi
Locke và Berkeley tin rằng tri thức của con người có thể vượt ngoài kinh nghiệm
giác quan, Hume, trong phần Mở đầu trong Chuyên Luận (Về Bản Chất Con Người) của ông, cho rằng kiến thức của chúng ta giới hạn trong kinh nghiệm
giác quan, và do đó đưa ra một tư tưởng Duy nghiệm vốn ông lập luận là nhất
quán hơn so với tư tưởng Duy nghiệm của những triết gia England trước
ông.
Phân tích của
Hume về những nội dung của kinh nghiệm giác quan bắt đầu với sự phân biệt giữa
những ấn tượng và những ý niệm. Những ấn tượng, gồm tất cả
những cảm giác và những cảm xúc không kiểm soát được (đam mê) của chúng ta, đều
mạnh mẽ và sống động hơn những ý niệm, vốn là “những hình ảnh mờ nhạt của
những sự vật việc này trong suy nghĩ và lý luận” (Chuyên Luận, trang
1). Những ý niệm đều thấp kém hơn những ấn tượng nhìn theo tri thức học,
và địa vị thứ yếu mà Hume đem cho chúng đứng ngược hẳn với một truyền thống lâu
đời trong triết học phương Tây (đặc biệt từ Plato) vốn khẳng định rằng những ý
tưởng phổ quát - không phải những ấn tượng đặc thù - là những đối tượng thích ứng
với trí tuệ con người. Theo sau Locke, Hume cũng phân biệt giữa sự đơn
giản và phức tạp. Những ấn tượng và ý niệm đơn giản, chẳng hạn như việc
nhìn thấy hoặc sự tưởng tượng về một màu đỏ cụ thể, nhìn nhận là chúng không có
phân biệt hay tách biệt. Những ấn tượng và ý niệm phức tạp, chẳng hạn như nhìn
thấy hoặc tưởng tượng một quả táo, có thể phân tích vào thành những phần của
chúng. Trong khi tất cả những ý niệm đơn giản đều bắt nguồn và biểu hiện
chính xác những ấn tượng đơn giản, nhiều ý niệm phức tạp thì không thế, và do
đó phải đặt câu hỏi về tính xác thực của chúng. Hume nhận xét, “Do đó, khi
chúng ta có bất kỳ nghi ngờ nào rằng một thuật ngữ triết học thì đem dùng với
không có bất kỳ ý nghĩa hay ý tưởng nào (vì điều đó thì quá thường xuyên),
chúng ta cần chỉ thăm dò, tìm xem ý niệm giả định đó bắt nguồn từ ấn tượng
nào? Và nếu không thể chỉ định nó với bất kỳ gì, điều này sẽ dùng để xác
nhận sự nghi ngờ của chúng ta” (Điều Tra thứ nhất, phần II).
Tiếp tục, Hume cho thấy rằng một số những ý niệm
phức tạp trong triết học, loại như ý niệm về một cái Tôi phi vật
chất vốn vẫn là cốt lõi của bản sắc định tính cá nhân, thì thất bại, không đáp ứng
được với tiêu chuẩn duy nghiệm của ông (xem Chuyên luận ,
Quyển I, Phần IV, phần VI). Nhưng đề tài phê bình nổi tiếng nhất của
ông là tương quan giữa nhân và quả. Những nhà khoa học và triết học
phương Tây tin theo truyền thống rằng để biết một sự vật việc gì đó đầy đủ, người
ta phải biết nguyên nhân trên đó nó tùy thuộc tất yếu. Hume biện luận rằng
kiến thức đó không thể có được. Ông lưu ý rằng quan hệ nhân quả đem lại
cơ sở cho mọi lý luận liên quan đến những vấn đề xảy ra trong thực tại; tuy
nhiên, không giống như những quan hệ của những ý niệm tìm ra trong toán học,
không phán đoán nào liên quan với những vấn đề thực tại là đều đúng tất yếu. Điều
này xảy ra do chúng ta luôn luôn có thể tưởng tượng, với không mâu thuẫn, điều
ngược lại của mỗi vấn đề thực tại (ví dụ: ‘ngày mai mặt trời sẽ không mọc’ thì
không là một mâu thuẫn cũng không hàm ý một mâu thuẫn). Hume thêm rằng
tương quan nhân quả giữa bất kỳ hai đối tượng nào đều dựa trên kinh nghiệm và
không biết trước khi có kinh nghiệm - a priori (ví dụ, nếu
Adam, con người đầu tiên của loài người, dù được tạo ra với khả năng lý trí
toàn hảo, nhưng trước khi có kinh nghiệm, anh ta vẫn không thể từ những thuộc
tính của nước biết được rằng nó sẽ có thể làm anh ta chết ngạt). Tuy
nhiên, tất cả những gì kinh nghiệm thiết lập liên quan đến những quan hệ nhân
quả là nguyên nhân thì có trước trong thời gian và liền kề với hậu quả
của nó. Thế nhưng kinh nghiệm không thể thiết lập liên hệ tất yếu giữa
nguyên nhân và hậu quả, vì chúng ta có thể hình dung một cách không mâu thuẫn về
một trường hợp mà nguyên nhân không gây ra tác động thông thường của nó (thí dụ,
chúng ta có thể tưởng tượng rằng một quả banh bi a cái đập mạnh
vào một quả banh bi-a khác và sau đó, thay vì gây ra quả banh bi-a chuyển động, quả
bi a cái này bật chõi lên theo một hướng ngẫu nhiên nào đó). Lý do khiến
chúng ta suy luận sai lầm rằng có một gì đó trong nguyên nhân vốn nhất thiết tạo
ra những tác động của nó là vì những kinh nghiệm quá khứ của chúng ta đã khiến
chúng ta có thói quen suy nghĩ theo cách này. Đó là, bởi vì chúng ta đã thấy
trong quá khứ rằng B thường xuyên theo sau A và
không bao giờ xảy ra mà không có nó, não thức của chúng ta liên kết B với A sao
cho sự hiện diện của một này quyết định não thức nghĩ đến một kia (xem Chuyên luận ,
Quyển I, Phần III ; Điều Tra thứ nhất , đoạn
IV-V).
Lý Thuyết Đạo Đức
Hume chủ trương những phân biệt đạo đức (tốt/xấu; thiện/ác…) đều có nguồn
từ những trạng thái cảm xúc hoặc phản ứng với thích thú và đau đớn, thuộc một
loại đặc biệt nào đó, nhưng không bắt nguồn từ lý trí – như nhiều triết gia
phương Tây từ Socrates đã vẫn chủ trương. Dựng trên nguyên lý duy nghiệm rằng bản
chất của tinh thần là thụ động, [3] Hume cho rằng lý trí tự nó không bao giờ
có thể ngăn ngừa hoặc tạo ra bất kỳ hành động hoặc tình cảm nào. Nhưng vì
đạo đức liên quan với những hành động và những tình cảm, nó không thể được dựa
trên lý trí. Hơn nữa, lý trí có thể ảnh hưởng đến hành xử của chúng ta
trong chỉ hai cách. Thứ nhất, lý trí có thể thông tin cho chúng ta về sự
là-có của một gì gì đó vốn là đối tượng tương ứng của một đam mê, và bằng cách
đó, kích thích nó. Thứ hai, lý trí có thể cân nhắc về phương tiện để đạt mục
đích vốn chúng ta đã mong muốn. Nhưng nếu lý do có sai lầm trong một nào của
hai lĩnh vực này (ví dụ, do nhầm lẫn một đối tượng khó chịu với một đối tượng dễ
chịu, hoặc chọn sai phương tiện đi tới mục đích mong muốn), thì đó không phải
là thất bại đạo đức mà là thất bại trí tuệ. Điểm cuối cùng, Hume lập luận
về sự phân biệt giữa những sự kiện và những giá trị. Theo Hume, người ta
không thể suy diễn được những kết luận về gì là nên, hay không nên là trường hợp
xảy ra, trên những tiền đề của gì thì là-có hay không
là-có (xem Chuyên luận , Quyển III, Phần I, phần
1).
Nhận định rằng những phân biệt đạo đức đều không dựa
trên lý trí, Hume suy diễn rằng chúng đều dựa trên những xúc cảm được cảm nhận
bởi một gì ông gọi là một “ý thức đạo đức”. Khi chúng
ta mô tả một hành động, tình cảm hay nhân cách là đức hạnh hoặc xấu xa, đó là
vì cái nhìn của nó gây một thích thú hay đau đớn thuộc một loại cụ thể nào
đó. Hume nhận thức rõ rằng không phải tất cả những thích thú hoặc
những đau đớn (ví dụ, thích thú khi uống rượu ngon) đều dẫn đến những phán đoán
đạo đức. Đúng hơn, đó là “chỉ khi một nhân cách được xem xét trong tổng
quát, không nhắc dẫn đến quan tâm cụ thể của chúng ta, vốn nó gây một cảm
xúc hay tình cảm loại như vậy, như đặt cho nó tên là thiện hay ác về đạo
đức” (Chuyên luận , Quyển III, Phần I, phần 2 ). Cuối
cùng, Hume lập luận rằng mặc dù những phân biệt đạo đức dựa trên những cảm xúc,
nhưng điều này không dẫn đến thuyết tương đối về đạo đức. Đối với những
nguyên tắc đạo đức tổng quát và khả năng ý thức đạo đức vốn nhìn nhận chúng là
có chung với tất cả mọi người (xem Điều Tra thứ hai, “Một đàm
thoại”).
Giữ ý hướng vắn tắt, nên ở đây không thể mở rộng
quan điểm của Hume về những vấn đề triết học quan trọng khác, chẳng hạn
như câu hỏi Gót có hiện hữu hay không và con người có
một ý chí tự do và hồn người bất tử hay không. Nhưng tác động
tàn khốc của tư tưởng duy nghiệm của Hume với siêu hình học truyền thống được
tóm tắt một cách cô đọng trong những dòng kết thúc trong Điều Tra đầu
tiên của ông: “Nếu chúng ta cầm lên tay bất kỳ quyển sách nào về gót học hay
siêu hình học. . . chúng ta hãy hỏi, Liệu nó chứa bất
kỳ lý luận trừu tượng nào nói về lượng hay số? Không. Nó có chứa bất
kỳ lý luận thực nghiệm nào liên quan đến sự kiện thực tại và sự hiện hữu
không? Không. Khi đó hãy ném nó vào lửa: vì nó không thể chứa gì ngoài ngụy
biện và ảo tưởng”. (theo Shane Drefcinski, UW-Platteville)
2.
Giới thiệu bản văn của Peter Millican
Viết năm ông mất, khi Hume biết mức độ trầm trọng
của bệnh nan y của mình, bản văn này đã gửi đến William Strahan, giám đốc nhà
xuất bản của ông để
đưa vào bản in cuối cùng sắp tới của những tác phẩm của Hume, nhưng trong diễn
tiến, nó đã được xuất bản riêng rẽ năm 1777. Bản Đời Tôi này lấy từ bản in gốc, với một ít sửa chữa
nhỏ, đã làm được bằng so sánh với bản viết tay của Hume còn giữ trong Thư viện
Quốc gia Scotland. Chuyện kể của Hume về chính đời mình thì chắc chắn được
chọn lọc (thí dụ, nó không nhắc đến chuyện bất hòa không mấy vui với Rousseau),
và mục đích của ông dường như muốn để lại về sau một ấn tượng tương xứng về
thái độ lãnh đạm khách quan của triết học.
2.
ĐỜI TÔI
(My Own Life) [1]
Một người nói dài về mình
nhưng không tự phụ thì khó khăn; do đó, tôi sẽ ngắn. Có thể để nghĩ là một
trường hợp của tự phụ rằng tôi giả vờ tất cả để viết về đời tôi; nhưng Thuật Kể
này sẽ gồm không gì hơn một ít Lịch sử của những Viết lách của tôi; quả thực,
hầu như tất cả đời tôi đã dành vào những theo đuổi học thuật và chức nghiệp.
Thành công đầu tiên của hầu hết những tác phẩm của tôi đã không nhiều để là một
đối tượng của tự phụ.
Tôi
sinh ngày 26 tháng 4 năm 1711, lịch cũ, tại Edinburgh [2]. Tôi thuộc một gia đình danh giá, cả bên cha lẫn bên mẹ: gia
đình cha tôi là một chi của dòng Bá tước họ Home, hay Bá tước họ Hume; và tổ tiên của tôi đã là những người chủ của cơ ngơi nhà đất,
vốn anh tôi nắm giữ, qua nhiều thế hệ. [3] Mẹ tôi là con gái của Ngài David Falconer, Chủ tịch Hội đồng
Tư Pháp [4] : danh tước Đức Ông Halkerton đã truyền xuống người anh của bà. [5]
Tuy nhiên, gia đình tôi thì đã không giàu, và
bản thân tôi với tư cách một người em trai, phần gia tài của tôi, theo cách
thức của đất nước tôi, tất nhiên đã rất đạm bạc. Cha
tôi, người hết sức có khả năng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đã chết khi tôi
còn là một trẻ sơ sinh, để lại tôi, cùng một anh và một chị, cho mẹ chúng tôi
chăm sóc, một người phụ nữ xứng danh là phi thường, dù còn trẻ và đẹp, đã tận
tụy tự dành trọn đời bà vào việc nuôi và dạy những con của bà. Tôi đã theo học chương trình giáo dục thông thường
với thành công [6] , và từ rất sớm tôi đã bị một đam mê về học thuật thu
hút, vốn đã là đam mê chi phối đời tôi, và là nguồn lớn lao của những vui thích
của tôi. Khuynh hướng hiếu học, tính điềm
đạm, và sự chăm chỉ siêng năng của tôi, đã cho gia đình tôi một ý tưởng rằng ngành
luật là một nghề nghiệp thích hợp cho tôi; nhưng
tôi đã thấy có một ác cảm không thể gạt nổi với mọi sự vật việc, trừ
theo đuổi triết học và học thức tổng quát; và
trong khi những người trong gia đình đã hão huyền rằng tôi đang nghiền ngẫm
những Voet và Vinnius, nhưng Cicero và Virgil đã là những tác giả vốn tôi
đã dấu diếm nghiến ngấu [7]
Tuy nhiên, gia tài mong manh của tôi thì
không thích hợp với chương trình sinh sống này, và vì sức khỏe của tôi đã tổn
thương một chút bởi thực hành sốt sắng của tôi, tôi đã nghĩ mình nên, hay đúng
hơn phải, làm một gắng thử rất yếu ớt cho việc đi vào trong một cảnh
sống tích cực hơn. Năm
1734, tôi đã đến Bristol, với một vài gửi gắm giới thiệu cùng một vài nhà buôn
tên tuổi, nhưng trong một vài tháng, đã thấy cảnh sống đó hoàn toàn không
thích hợp với tôi [8]. Tôi đã sang tận France, với
một ý nghĩ tiếp tục hoàn tất những nghiên cứu của tôi trong một vùng quê ẩn
dật; và ở
đó tôi đã đặt chương trình sinh sống đó, vốn tôi đã theo đuổi kiên định và
thành công. Tôi đã giải quyết để làm một
tiết kiệm rất tiện tặn bù đắp cho sự thiếu hụt về tài sản của tôi, để giữ
nguyên vẹn sự độc lập của tôi, và để nhìn mọi đối tượng như đáng xem thường,
ngoại trừ sự cải thiện tài sức của tôi trong học thuật.
Trong thời ẩn dật của tôi ở Francre, bắt đầu
ở Rheims, nhưng chủ yếu ở La Fleche [9], tại Anjou, tôi đã biên soạn tập Treatise of Human Nature (Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người) của tôi. Sau
ba năm trải qua rất dễ chịu ở đất nước đó, tôi đã chuyển về London năm 1737.
Cuối năm 1738, tôi đã xuất bản tập Chuyên
Luận của tôi, và ngay lập tức về với mẹ và anh tôi, người đang sống ở thái
ấp của ông, và đang tự quán xuyến, rất thận trọng và rất thành công, trong việc
làm tài sản của ông thêm khá hơn. [10]
Chưa
bao giờ có gắng thử học thuật nào đã kém may mắn hơn Treatise of Human Nature của
tôi. Nó đã chết ngay lúc
lọt lòng khi mực in vừa ráo, không đến được nhận biết như vậy, đồng thời
không khởi động ngay cả một thầm thì giữa những người quá khích. Nhưng có tính khí tự nhiên của một người vui vẻ và phấn chấn
ấm áp, tôi đã hồi phục rất nhanh sau đòn giáng, và đã tiếp tục theo đuổi những
nghiên cứu của tôi với nhiều hăng say ở vùng quê. Năm 1742, tôi đã in ở Edinburgh phần đầu tiên của những Chuyên luận của tôi: tác phẩm đã
được đón nhận thuận lợi, và nhanh chóng làm tôi hoàn toàn quên thất vọng trước
đó của tôi. Tôi đã tiếp tục sống với mẹ và
anh ở vùng quê, và trong thời gian đó đã lấy lại được kiến thức về ngôn ngữ
Greece, vốn tôi sao lãng đã nhiều lắm trong thời tôi trẻ tuổi.
Năm 1745, tôi nhận được một lá thư từ Hầu
tước Annandale, mời tôi đến và sống cùng ông ở England; Tôi cũng thấy rằng bạn bè và gia đình của nhà
quý tộc trẻ đó rất mong muốn đặt ông dưới sự chăm sóc và chỉ dẫn của tôi, vì
tình trạng của tâm trí và sức khỏe của ông đòi hỏi điều đó. Tôi
đã sống với ông mười hai tháng. Những công việc tôi được
uỷ thác trong thời gian đó đã làm một tăng thêm đáng kể vào tài sản nhỏ của
tôi. Sau đó, tôi đã nhận một lời mời của
Tướng St. Clair để theo ông như một thư ký riêng trong cuộc viễn chinh của ông,
lúc đầu định là chống lại Canada, nhưng cuối đã kết thúc trong một vụ đột nhập
ở bờ biển France. Năm sau, tức là, năm
1747, tôi nhận được lời mời từ đại tướng để đi theo ông, cùng một công tác,
trong đoàn tùy viên quân sự sứ quán tại triều đình Vienna và Torino. Khi đó, tôi đã mặc đồng phục của một sĩ quan,
và được giới thiệu ở những triều đình này với tư cách là tùy viên cho Đại
tướng, cùng với Ngài Harry Erskine và Đại úy Grant, nay là Tướng Grant. Hai năm này đã gần như là những gián đoạn duy nhất vốn những
nghiên cứu của tôi đã nhận được trong suốt cuộc đời: tôi đã trải qua chúng một
cách thoải mái, và giữa những người thành công trọng vọng; và những công việc ủy nhiệm của tôi, với sự tiết kiệm của
tôi, đã làm tôi có được một gia tài, vốn tôi gọi là không phải nhờ ai, mặc dù
hầu hết bạn bè của tôi đều có khuynh hướng để mỉm cười khi tôi nói như vậy; vắn tắt, bây giờ tôi đã là chủ của gần một ngàn pounds.[11]
Tôi đã luôn luôn tán thành một ý nghĩ rằng sự
muốn thành công của tội trong việc xuất bản Treatise
of Human Nature đã tiến hành nhiều từ thái độ hơn nội dung, và tôi đã mắc
một thiếu thận trọng rất thông thường, là đi đến nhà in quá sớm. Do
đó, tôi đã viết mới lại phần đầu tiên của tác phẩm đó trong tập Enquiry concerning Human Understanding,
vốn đã xuất bản khi tôi ở Turin. Nhưng tác phẩm này,
đầu tiên đã thành công hơn một chút so với Treatise
of Human Nature. Khi tôi từ Italy trở
về, tôi đã hết sức xấu hổ để thấy toàn thể England trong một dậy men quấy động
vì tập Free Inquiry
của Tiến sĩ Middleton [12], trong khi thực hiện của tôi đã hoàn toàn bị bỏ qua và bị bỏ
quên. Một bản in mới của tập Essays của tôi đã được xuất bản tại
London, về đạo đức và chính trị, đã không gặp một đón nhận tốt hơn gì nhiều. [13]
Đó là sức mạnh của tính khí tự nhiên, khiến
những thất vọng này gây ít hay không gây ấn tượng nào với tôi. Năm 1749, tôi đã lui về, đã sống hai năm với anh
tôi ở nhà của ông ở vùng quê, vì bấy giờ mẹ tôi đã mất. Ở đó, tôi đã soạn phần thứ hai của tập Essays của tôi, mà tôi gọi là Những
Diễn văn Chính trị, và cũng cả tập Enquiry
concerning the Principles of Morals của tôi, vốn là một phần khác trong Treatise của tôi, mà tôi đã viết mới lại. Trong khi đó, chủ hiệu sách
của tôi, A. Millar, cho tôi biết, rằng những sách in trước đây của tôi (tất cả
trừ tập Treatise không may) đã bắt
đầu là đề tài của trò chuyện; rằng số bán
của chúng đã dần tăng lên, và có đòi hỏi cho những bản in mới. Những
Trả Lời Của Những Nhà Chăn Chiên Cao Và thấp [14], đã đưa ra hai hay ba trong một năm; và tôi nhận thấy, qua phê bình nghiêm khắc của Tiến sĩ
Warburton, rằng những quyển sách đã đang bắt đầu có chỗ đứng xứng đáng. Tuy
nhiên, tôi đã có một giải pháp cố định mà tôi giữ không đổi, là không bao giờ
trả lời bất kỳ ai; và không rất dễ nổi giận
trong tính khí của tôi, tôi đã dễ dàng giữ mình tránh sạch tất cả những cãi vã
lặt vặt về học thuật. Những dấu hiệu bên
ngoài này của một tiếng tăm đang lên đã cho tôi sự khích lệ, vì tôi đã chưa bao
giờ từng được đặt vào để thấy sự thuận lợi hơn sự không thuận lợi của những sự
việc; một cách suy nghĩ đặc biệt vốn sung
sướng hơn để có, hơn để là ra đời với một gia sản lợi tức mười ngàn một
năm.
Năm
1751, tôi rời vùng quê lên thành thị, cảnh trí đúng cho một người của học
thuật. Năm 1752, Political Discourses của
tôi được xuất bản ở Edinburgh, nơi tôi khi đó sống, tác phẩm duy nhất của tôi
đã thành công ngay lần in đầu tiên. Nó đã được tán thành ở ngoài và trong nước. Trong cùng năm, Enquiry
concerning the Principles of Morals của tôi đã xuất bản ở London; vốn
theo ý kiến riêng tôi (người không nên phán xét về đề
tài đó), là hay nhất trong so sánh với tất cả những tác phẩm lịch sử, triết học
hay học thuật của tôi. Nó đã ra đời không
được để ý và không được nhận biết.
Năm 1752, Hiệp hôi Luật sư [15] đã chọn tôi làm người giữ thư viện của họ,
một văn phòng vốn tôi nhận được ít hay không lương, nhưng nó đã cho tôi quyền
nắm trọn một thư viện lớn. Khi
đó tôi đã lập kế hoạch để viết bộ History of England; Nhưng sau khi khiếp hãi với ý tưởng của việc tiếp tục một
chuyện kể dài qua một thời kỳ của 1700 năm, tôi đã bắt đầu với việc lên ngôi
của Nhà Stuart, một thời kỳ tôi đã
nghĩ, khi những trình bày sai lạc về tranh chấp đã bắt đầu chủ yếu diễn ra. Tôi có, đã lạc quan trong những mong đợi của tôi về sự thành
công của công trình này. Tôi đã nghĩ rằng
tôi đã là nhà sử học duy nhất, rằng đồng thời đã sao lãng quyền thế, quyền lợi
và thẩm quyền hiện tại, và tiếng kêu của những thiên kiến phổ thông; và vì chủ đề đã phù hợp với mọi năng lực, tôi mong đợi những
tràng pháo tay cân xứng. Nhưng khốn khổ đã
là nỗi thất vọng của tôi: Tôi đã bị tiếng kêu của trách móc, không tán thành và
ngay cả sự ghét cay ghét đắng tấn công; người
England, Scotland, và Ireland, (đảng phái) Whig, và Tory, người hội nhà thờ và
bộ trưởng, người không tôn giáo và người có tôn giáo, người yêu nước (đứng
ngoài) và người (đứng trong) triều đình, đã đoàn kết trong thịnh nộ của họ
chống lại con người, là người đã giả định là nhỏ một giọt nước mắt tử tế cho số
phận của vua Charles I. và Bá tước của Strafford; và sau khi những thịnh nộ đầu tiên của giận dữ của họ đã kết
thúc, những còn lại đã còn xấu hổ mất thể diện hơn, quyển sách dường như đã
chìm vào quên lãng. Ông Millar bảo tôi rằng ông chỉ bán được bốn mươi lăm bản
in trong 12 tháng. Tôi hiếm khi, quả thật
vậy, nghe nói về một người ba vương quốc, đáng kể trong giới hay văn học, có
thể chịu đựng đươc quyển sách. Tôi chỉ
phải trừ ra nhà chăn chiên cao cấp của England, Tiến sĩ Herring và nhà
chăn chiên cao cấp của Ireland, Tiến sĩ Stone, có vẻ như hai ngoại lệ kỳ lạ. Những nhà lãnh đạo tôn giáo tôn quí này đã gửi riêng cho tôi
những thư nhắn rằng đừng nản lòng.
Tôi đã, tuy nhiên, tôi thú nhận,
nản lòng; và nếu như
chiến tranh không nổ ra giữa France và England, tôi chắc chắn đã lui về nghỉ
hưu ở một thị tỉnh thành nào đó của vương quốc kể trước, đã đổi tên và không
bao giờ quay lại quê hương nữa. Nhưng vì kế hoạch này bây
giờ đã không thực tế, và tập tiếp theo đã tiến bộ đáng kể, tôi quyết tâm lấy
can đảm và kiên trì. [16]
Trong khoảng thời gian này, tôi đã xuất bản
tại London, tập Natural History of Religion của tôi, cùng với một số bài viết nhỏ khác: nó đi vào công chúng khá mờ
mịt, ít người biết, ngoại trừ việc Tiến sĩ Hurd đã viết một truyền đơn chống
nó, với tất cả hẹp hòi nóng nảy, ngạo mạn và lỗ mãng, vốn phân biệt phe
Warburton. Truyền đơn này đã cho tôi
một vài an ủi vì nếu không thành tựu của tôi đã đón nhận với thờ ơ.
Năm 1756, hai năm sau tập thứ nhất thất bại,
tập thứ hai trong bộ History của tôi được xuất bản, gồm thời kỳ từ Charles
I. chết đến cách mạng. Thành
tựu này đã mang lại cho những người đảng Whig ít bất mãn hơn, và đã
được đón nhận tốt hơn. Nó không chỉ tự vươn
lên nhưng còn giúp để nâng lên người anh bất hạnh của nó.
Nhưng mặc dù tôi đã được kinh nghiệm dạy rằng
đảng Whig đang nắm quyền ban phát ở tất cả mọi nơi, cả trong nhà nước lẫn trong
học thuật, tôi đã nghiêng sang rất ít để nhường nhịn sự la lối vô nghĩa của họ,
rằng trong một trăm thay đổi ở trên, vốn nghiên cứu, đọc hay suy ngẫm thêm, đã
thu hút tôi để làm trong hai triều đại Stuarts đầu tiên, tôi đã làm tất cả họ
trong mọi trường hợp sang phe Tory. Thật
nực cười khi coi hiến pháp England trước thời kỳ đó như một chương trình thường
xuyên của tự do.
Năm 1759, tôi xuất bản quyển Lịch sử Nhà của Tudor. Sự kêu ca chống lại thực hiện này gần như tương
đương với lịch sử của hai Stuarts đầu tiên. Triều đại của Elizabeth đã đặc biệt khó chịu đáng ghét. Nhưng bây giờ tôi đã chai cứng phản lại với những ấn tượng
của sự điên rồ công chúng, và đã tiếp tục rất thanh thản và hài lòng, trong ẩn
dật của tôi tại Edinburgh, để kết thúc, trong hai tập, thêm
phần đầu của bộ History of England,
vốn tôi đã đưa ra cho công chúng năm 1761, với thoải mái, thoải mái của thành
công.
Nhưng,
bất chấp sự khác nhau này của gió đến và mùa đi, những tác phẩm của tôi đã mở
ra với nó, chúng vẫn đạt được những tiến bộ như thế, rằng tiền tái bản được
những người bán sách đưa cho tôi, đã vượt xa bất cứ gì được biết trước đây ở
England rất nhiều; Tôi đã trở nên không chỉ độc lập, mà còn giàu có. Tôi đã lui về hưu ở quê hương Scotland tôi, đã nhất định
không bao giờ bước chân ra khỏi nó nữa; và
duy trì sự hài lòng của việc không bao giờ có ý thích hơn một yêu cầu đến với
một người tên tuổi, hay ngay cả tiến tới về tình bạn với bất kỳ ai trong số họ. Vì tôi bây giờ đã sang tuổi năm mươi, tôi đã nghĩ đến việc
dành hết quãng đời còn lại theo lối triết lý này, khi tôi nhận được, năm 1763,
một lời mời từ Bá tước Hertford, người mà tôi không phải là người ít quen biết
nhất, để theo ông trong sứ bộ của ông đến Paris, với một triển vọng gần là được
bổ nhiệm làm thư ký cho sứ quán; và, trong
khi đó, thực hiện những chức năng của văn phòng đó. Đề nghị này, dù mời
mọc đến đâu, lúc đầu tôi đã từ chối, vì tôi không muốn bắt đầu những quan hệ
với người tiếng tăm, và vì tôi sợ rằng những đám đông phóng đãng và phong nhã
của Paris, tất sẽ tỏ ra không chấp nhận một người nhiều tuổi và tính khí u mặc
của tôi: nhưng sau khi bá tước nhắc lại lời mời, tôi đã chấp nhận nó. Tôi có mọi lý do, cả vui thích và quan tâm, để nghĩ rằng bản
thân mình hạnh phúc trong những kêt nối của tôi với nhà quý tộc đó, cũng như
sau đó với người anh trai của ông, Tướng Conway.
Những ai là người chưa từng nhìn thấy những
tác động kỳ lạ của những thời thức, sẽ không bao giờ tưởng tượng được sự tiếp
đón mà tôi đã gặp ở Paris, từ những người nam và nữ thuộc mọi cấp bậc và địa
vị. Tôi càng thu lại với
những phong nhã quá mức của họ bao nhiêu, tôi càng chất đầy với họ bấy nhiêu. Tuy nhiên, có một sự hài lòng thực sự khi sống ở Paris, từ số
lượng lớn của những giao kết nhậy cảm, hiểu biết và lịch sự mà thành phố này có
rất nhiều vượt trên tất cả mọi nơi trong vũ trụ. Tôi một lần đã nghĩ đến định cư ở đó cho cuộc đời.
Tôi được bổ nhiệm làm thư ký riêng cho tòa
đại sứ [17]; và Ngài Hertford đã bỏ tôi, mùa hè năm 1765, sau khi được bổ
nhiệm làm Lord Lieutenant của Ireland [18]. Tôi
đã là chargé d'affaires [19] đến
khi Công tước Richmond đến, vào khoảng cuối năm. Vào đầu năm 1766, tôi rời Paris, và mùa hè năm sau đã đến
Edinburgh, với cùng quan điểm như trước đây, về việc chôn vùi bản thân mình
trong một ẩn cư triết học. Tôi trở về nơi
đó, không giàu hơn, nhưng với nhiều tiền hơn, và thu nhập lớn hơn nhiều, bằng
tình bạn của Ngài Hertford, hơn khi tôi rời nó; và tôi đã mong muốn để thử xem những gì hết sức không cần
thiết có thể tạo ra, như trước đây tôi đã từng làm một thí nghiệm về năng lực. Nhưng, năm 1767, tôi nhận được từ ông Conway một lời mời làm
Thứ trưởng [20]; và lời mời này, cả nhân
cách của con người, và sự quan hệ của tôi với Ngài Hertford, đã ngăn tôi từ
chối. Tôi đã trở lại Edinburgh năm 1769,
rất sung túc (vì tôi có một thu nhập khoảng 1000-pound mỗi năm), khỏe mạnh, và
mặc dù có phần bị suy yếu trong nhiều năm, với triển vọng vui hưởng lâu dài sự
thoải mái của tôi và của việc nhìn thấy sự gia tăng danh tiếng của tôi.
Mùa
xuân 1775, tôi đã mắc một chứng rối loạn trong ruột, lúc đầu đã không làm tôi
lo lắng, nhưng sau đó, khi tôi hiểu rõ bệnh, đã trở nên có thể chết và không
thể chữa được. Bây giờ tôi cảm chắc để sẵn sàng cho
một sự phân hủy nhanh chóng. Tôi đã chịu
rất ít đau đớn từ chứng rối loạn của tôi; và
điều kỳ lạ hơn là, bất chấp sự suy xụp lớn lao của cá nhân tôi, không bao giờ
phải chịu một khoảnh khắc của suy yếu tinh thần của tôi; đến mức nếu tôi đã có nhắc tên một giai đoạn của đời tôi, vốn
tôi nên chon nó nhất để trải qua một lần nữa, tôi có thể bị cám dỗ để trỏ về
giai đoạn kể sau này. Tôi có cùng một nhiệt
tình như từng bao giờ trong nghiên cứu, và cùng một vui vẻ trong với những
người khác. Bên cạnh đó, tôi suy xét rằng
một người ở tuổi sáu mươi lăm, khi bị chết, chỉ bị cắt mất một vài năm bệnh
tật; và mặc dù tôi thấy nhiều triệu chứng
của danh tiếng học thuật của tôi cuối cùng bùng phát với thêm vẻ vang, tôi biết
rằng tôi có thể đã chỉ có vài năm để vui hưởng nó. Thật khó để tách rời khỏi
đời sống hơn là tôi trong hiện tại.
Để kết luận theo hướng lịch sử với cá tính
của riêng tôi. Tôi thì, hay đúng hơn là
(vì đó là phong cách mà bây giờ tôi phải dùng để nói về bản thân mình, việc này
làm tôi mạnh bạo thêm hơn để nói lên những tình cảm của mình); Tôi đã, tôi nói, là một người ôn hòa, có tính dễ nóng nảy,
hài hước cởi mở, xã hội và vui vẻ, có khả năng gắn bó, nhưng ít nhạy cảm với sự
thù hằn và nhiều điều độ trong mọi đam mê của tôi. Ngay cả yêu thích của tôi về danh tiếng học thuật, đam mê
phán đoán của tôi, không bao giờ làm dịu đi sự nóng nảy của tôi, bất chấp sự
thất vọng thường xuyên của tôi. Thân hữu
với người khác của tôi không thể chấp nhận được với những người trẻ tuổi
và bất cẩn, cũng như người sách vở và văn chương; và vì tôi có một niềm vui đặc biệt trong sự cùng với bên những người phụ nữ khiêm
tốn, tôi không có lý do gì để không hài lòng với sự tiếp đón mà tôi gặp được từ
họ. [21] Nói gọn, mặc dù hầu hết những người, bất kỳ nổi tiếng khôn
ngoan nào, đều tìm thấy lý do để phàn nàn về sự vu khống, tôi chưa bao giờ bị
xúc động, hay ngay cả bị tấn công bởi răng cắn đe dọa của nàng: và mặc dù tôi
đã bất cẩn tự phơi ra trước thịnh nộ của cả những phe dân sự và tôn giáo, họ
dường như đều bị giải giới trong sự đại diện của tôi cho thói thường giận dữ
của họ. Bạn bè của tôi không bao giờ có cơ
hội để minh oan cho bất kỳ trường hợp nào về tính cách và hành vi của tôi:
không phải là những người quá khích, chúng ta rất có thể giả định, hẳn đã là
vui sướng để bịa đặt và tuyên truyền bất kỳ câu chuyện nào bất lợi cho tôi,
nhưng họ không bao giờ có thể tìm thấy bất kỳ gì vốn họ nghĩ tất sẽ khoác được
áo của sự có thể có. Tôi không thể nói rằng
không có sự tự phụ nào trong việc tạo ra điếu văn này về bản thân tôi, nhưng
tôi hy vọng nó thì không là một tự phụ đặt sai chỗ; và đây thực sự nó thì dễ dàng dễ hiểu và chắc chắn.
Ngày 18 tháng 4 năm 1776.
David Hume
NHỮNG TÁC PHẨM CỦA DAVID HUME
Những Tác phẩm Dấu Tên (1739-45)
A Treatise of Human Nature / Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người / (1739-40)
An Abstract of a Book Lately Published/ Tóm tắt một cuốn sách mới xuất bản (1740)
A Letter from a Gentleman to His Friend in Edinburgh / Thư của một nhân sĩ gửi cho người bạn ở Edinburgh (1745)
Những Tác phẩm – Chính thức (1741-78)
Essays and Treatises on Several Subjects (1758, 1777)
Advertisement
(1758)
Essays, Moral,
Political, and Literary, Part 1 (1741, 1777)
Essays, Moral,
Political, and Literary, Part 2 (1752, 1777)
Advertisement
(1777)
An Enquiry concerning Human Understanding /
Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người (1748, 1777)
A Dissertation on the Passions / Một Luận Văn Về Những Đam Mê (1757, 1777)
An Enquiry concerning the Principles of Morals (/ Một Điều Tra Về
Những Nguyên Lý của Đạo Đức 1751, 1777)
The Natural History of Religion/ Lịch Sử Tự Nhiên Của Tôn Giáo (1757, 1777)
The History of England (1754-62,
1778)
Những Tác phẩm – Phổ biến sau khi chết
My Own Life // Đời Tôi 1777)
Of Suicide / Về Tự Tử (1777,
1755)
Of the Immortality of the Soul / Về Sự Bất Tử Của Hồn Người (1777, 1755)
Dialogues concerning Natural Religion / Những Đàm thoại về
Tôn giáo Tự nhiên (1779)
Những Sưu tập Khác
Essays, Moral and Political (1741-2)
Essays, Moral and Political [withdrawn essays] (1741-2)
Political Discourses (1752)
Four Dissertations (1757)
Lê
Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Jan/2019)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Dịch từ Hume Texts Online,
hai giáo sư Amyas Merivale và Peter Millican biên tập
Những tác phẩm của Hume đều có đầy đủ trong thư mục những nhà xuất bản
lớn như Cambridge, Oxford và Penguin, tôi cũng đọc chúng, học hỏi thêm trong những
phần giới thiệu, dẫn nhập giá trị của những giáo sư, triết gia, học giả lỗi lạc.
Nhằm giới thiệu với những người đọc tiếng Việt, và hiện nay, vẫn chưa
thấy có những bản dịch Hume, tôi tạm bắt đầu với – My Own Life – như để vị triết gia này tự giới thiệu, trước khi dịch những công
trình quan trọng của vị triết gia quan trọng bậc nhất này.
My Own Life, tôi dịch theo bản thấy trong: https://davidhume.org/texts/mol
Những chú
thich để trong [ … ] lấy từ những bản tiếng England
Những chú thích khác (với sai lầm nếu
có) là của tôi. Mục đích là mong giúp những người đọc, không chuyên môn, hiểu
được ý ‘nôm na’ của tác giả.
[2] Lịch cũ :26 April 1711(Julian)= Lịch mới:25 August 1776 (Gregorian). Edinburgh: thủ phủ của
Scotland
[3] Vùng điền trang, nằm gần Berwick, tên là Ninewells.
[4] College of Justice
[5] Earl of Home, hay Earl of Hume, Sir David
Falconer, Lord Halkerton
[6] Ông theo học trường đại học Edinburgh: năm 12 tuổi.
[7] Johannes Voet, hay John Voet (1647–1713), Arnold Vinnius (1588 –1657):
những nhà luật học nổi tiếng của Netherlands. Marcus Tullius Cicero
(106-43 TCN): nhà hùng biện, chính trị, của Cộng hòa Rome; Publius
Vergilius Maro hay Virgil (70–19 TCN): thi hào Latin, tác giả sử thi Aeneid, được xem như nhà thơ quốc gia của
Rome.
[8] Thư ký trong một công ty nhập cảng đường mía
[9] La
Flèche, La Flèche, một làng (tỉnh Anjou thời Hume) trong vùng thung lũng sông
Loire, France. Nổi tiếng vì có trường Collège Royal Henry-Le-Grand (do
dòng tu Jesuit điều khiển), khoảng 100 năm trước, triết gia Descartes và nhà
toán học Mersenne đã theo học ở đây.
Trong Treatise (Book 1,
Part 4, sec. 6) David Hume cho rằng ý tưởng về một tự ngã vĩnh cửu có thể khám
phá được là không có cơ sở. Tự quán sát nội tâm tiết lộ ‘không có gì ngoài một
bó hoặc tập hợp những nhận thức khác nhau, nối tiếp nhau với sự nhanh chóng
không thể tưởng tượng được, và trong một dòng chảy và chuyển đổi vĩnh viễn.’
Nhiều người đã nhận thấy sự tương đồng giữa vị trí của Hume ở đây và thảo luận
của đạo Phật về tự ngã. Những triết gia và những học giả đạo Phật cũng ghi nhận
có quan hệ gần gũi giữa tư tưởng duy nghiệm của David Hume, và truyền thống duy
nghiệm thấy trong triết học đạo Phật. Vậy, Hume có thể đã được tiếp xúc với những
quan điểm này trong triết học đạo Phật. Ông đã có thể biết đến đạo Phật qua những
học giả Jesuit tại La Flèche. Charles Francois Dolu là một nhà truyền giáo
Jesuit sống tại Collège Royal Henry-Le-Grand từ năm 1723 1740, trùng nhập với
thời gian Hume sống ở đây. Dolu có kiến thức sâu rộng cả về những tôn giáo và
văn hóa khác Kitô. Dolu đã có kinh nghiệm trực tiếp với Đạo Phật Nguyên thủy
khi làm việc cho sứ bộ Pháp thứ hai, tại Xiêm vào năm 1687-1688. Năm 1727, Dolu cũng đã nói chuyện với
Ippolito Desideri, một nhà truyền giáo Jesuit từng đến Tibet (1716–1721)
đã thực hiện một nghiên cứu sâu rộng về đạo Phật Tibet. Ít nhất có thể là
Hume đã nghe biết về những ý tưởng của đạo Phật qua Dolu. (theo Giáo sư Alison
Gopnik).
[10] A Treatise of Human Nature (Một Chuyên Luận về Bản Chất Con người) Nhiều
học giả ngày nay đồng ý đây là tác phẩm quan trọng nhất của ông, và cũng là một
trong những tác phẩm quan trọng nhất trong lịch sử triết học. Năm 1744 Hume bị
từ chối ghế giáo sư Đạo đức và Tâm lý (Chair of Ethics and Pneumatics) ở đại học
Edinburgh.
[11] Năm 1800, một pound, £1= $30.62 đôla ngày nay, 2019
[12] Conyer Middleton (1683-1750) – nhà chăn chiên Anglican, tác phẩm A free inquiry into the miraculous powers,
which are supposed to have subsisted in the Christian church, from the earliest
ages through several successive centuries. By which is shewn, that we have no
sufficient reason to believe, upon the authority of the primitive fathers, that
any such powers were continued to the church, after the days of the apostles (1749)
– đặt nghi ngờ trên thực tại của những phép lạ được cho là đã xảy ra từ thời những
thánh chiên Kitô đầu tiên. Hume đã tấn công mạnh mẽ hơn khái niệm về những phép lạ (miracles) trong sec 10 của First Inquiry
[13] Hume xuất bản An Enquiry
Concerning Human Understanding / Một Điều Tra Về Những Khả Năng Nhận Thức
Của Con Người, năm 1748. Điều này có hậu quả là ông bị buộc vào tội ‘rối đạo’ (heresy:
có tin tưởng/quan điểm trái với quan điểm/tin tưởng chính thống của giáo điều
Kitô). Tội này có thể bị xử thiêu sống, ông đã biện hộ thành công bằng tuyên bố
lại cho rõ ràng về quan điểm không-tin-gót của ông, và dặn người cháu chỉ cho
xuất bản Dialogues concerning Natural
Religion sau khi ông chết). Nhưng tai tiếng rắc rối này có lẽ là nguyên
nhân khiến ông không được chọn giữ ghế giáo sư Lôgích ở đại học Glasgow (ghế
này về Adam Smith, người bạn thân của ông), hay một số những ghế giáo sư quan
trọng khác. Trước sau, Hume không bao giờ từng giữ một ghế giáo sư giảng dạy ở
đại học nào.
[14] Reverends, Right Reverends
[15] Faculty of Advocates
[16] The History of Great Britain from the Saxon
Kingdoms to the Glorious Revolution. Viết trong 15 năm, xuất bản
từ 1754 đến 1762 thành 6 tập. Đọc nhiều và bán rất chạy, rất thành công về tài
chính.
[17] Thư ký riêng cho Lord Hertford, đại sứ Britain ở
France, ở đó ông gặp Voltaire and Rousseau
[18] The Lord Lieutenant of Ireland (cũng gọi là Viceroy/Phó Vương) vị đứng
đầu bộ máy hành chính England hay Britain ở Ireland
[19] Xử lý thường vụ - ông điều
hành công việc hàng ngày của sứ quán thay vị đại sứ vắng mặt.
[20] Under Secretary of State, Northern Department
(Phòng Bắc Europe dưới quyền một thứ trường, có trách nhiệm trông coi công việc
của chính phủ liên quan với những nước Bắc Europe – thương mại lẫn ngoại giao)
[21] Ông sống độc thân suốt đời, chưa từng lập gia đình


