(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT VII.
Về Ý niệm về Sự Kết Nối Tất Yếu.
PHẦN I.
E 7.1, SBN 60
Lợi thế của những khoa học toán học lớn hơn những khoa học đạo đức gồm trong điều này, đó là những ý niệm của toán học, với tính cách có thể cảm nhận trực tiếp, luôn rõ ràng và
xác định; sự khác biệt nhỏ nhất giữa chúng cũng có thể nhận biết được ngay lập
tức, và cùng một từ ngữ luôn biểu đạt cùng một khái niệm nhưng không có sự mơ
hồ hay sai lệch. Một hình bầu dục không bao giờ nhầm với một hình tròn, cũng như một
đường hyperbola không bao giờ nhầm với một hình ellipsis. Những tam
giác cân và tam giác thường đều được phân định bằng những đường biên chính xác hơn là giữa cái ác và cái thiện, giữa cái
đúng và cái sai. Nếu bất
kỳ từ ngữ nào được định nghĩa trong hình học, não thức sẽ dễ dàng tự thay thế định nghĩa đó
cho từ ngữ vốn được định nghĩa trong mọi trường hợp. Hay ngay cả khi không có
định nghĩa nào được đem dùng, bản thân đối
tượng đó vẫn có thể được đưa ra trước giác quan, và nhờ đó
được lĩnh hội một cách vững chắc và rõ ràng.
Nhưng những cảm
xúc tinh tế hơn của não thức, những hoạt động của khả năng nhận thức, những xao động khác loại của tình cảm, dù thực sự khác biệt nhau, lại dễ dàng trốn lánh chúng ta khi được xem xét
bằng suy ngẫm; và chúng ta cũng không có năng lực để nhớ lại tri giác ban đầu,
mỗi khi có dịp hoặc nhu cầu để suy ngẫm về nó. Bằng cách này, sự mơ hồ dần dần được đưa vào lý luận của chúng ta:
những đối tượng tương tự dễ dàng được coi là giống nhau: Và cuối cùng, kết luận
trở thành rất xa vời với những tiền đề.
E 7.2, SBN 60-1
Tuy nhiên, người ta có thể khẳng định một cách
an toàn rằng, nếu chúng ta xem xét những khoa học này dưới một ánh sáng thuận hợp, những lợi thế và những bất lợi của chúng gần như
bù trừ cho nhau, và giảm cả hai về một vị thế ngang bằng. Nếu trí óc có thể ghi nhớ những ý niệm của hình học rõ ràng và xác định hơn, thì nó phải tiến
hành một chuỗi lập luận dài hơn và phức tạp hơn nhiều, và so sánh những ý tưởng rộng hơn
nhiều với nhau, để đạt được những sự thật khó hiểu hơn của khoa học đó.
Và nếu những ý niệm đạo đức dễ rơi vào sự mơ
hồ và lẫn lộn khi thiếu sự
cẩn trọng nghiêm ngặt, thì những suy luận trong những luận
giải này luôn ngắn gọn hơn nhiều, và những bước trung gian dẫn đến kết
luận cũng ít hơn nhiều so với những ngành khoa học nghiên cứu về lượng và số. Trong thực tế, hiếm có
một mệnh đề nào trong Euclid đơn giản đến mức không gồm nhiều thành phần lập
luận hơn những gì được tìm thấy trong bất kỳ lý luận đạo đức nào vốn không rơi vào ảo tưởng
và tự phụ.
Ở nơi mà chúng ta
lần theo các nguyên lý của trí óc con người qua một vài bước, chúng ta có thể
rất hài lòng với tiến bộ của chúng ta; khi cân nhắc rằng tự nhiên nhanh chóng
dựng lên một rào cản đối với tất cả những điều tra về nguyên nhân của chúng ta,
và buộc chúng ta phải thừa nhận sự thiếu hiểu biết của chính chúng ta.. Do đó,
trở ngại chính đối với sự tiến bộ của chúng ta trong khoa học đạo đức hoặc siêu
hình học là sự mơ hồ của những ý tưởng và sự không rõ ràng của những thuật ngữ.
Khó khăn chính trong toán học là độ dài của những suy luận và phạm vi tư duy,
cần thiết để hình thành bất kỳ kết luận nào.
Và có lẽ, sự tiến bộ của chúng ta trong triết học
tự nhiên chủ yếu do sự thiếu hụt những thí nghiệm và hiện tượng thích hợp làm cản trở, vốn là những gì thường được tình cờ tìm
ra, và không phải lúc nào cũng có thể tìm thấy, khi cần thiết, ngay cả bằng sự
khảo cứu siêng năng và thận
trọng nhất. Vì triết học đạo đức cho đến nay dường như nhận được ít sự tiến bộ hơn so
với hình học và vật lý, nên chúng ta có thể kết luận rằng, nếu thực sự có sự
khác biệt giữa những khoa học này về phương diện ấy, thì những trở ngại cản bước tiến của khoa ngành học đầu tiên đòi hỏi một mức độ cẩn trọng
và năng lực vượt trội hơn để có thể vượt qua
E7.3, SBN 61-2
Không có ý niệm nào , vốn tìm thấy trong siêu
hình học lại hàm hồ và không chắc chắn hơn những ý niệm về quyền năng
(power), lực (force), năng lượng (energy), hay sự kết nối tất yếu
(necessary connexion) — những ý niệm chúng ta phải liên tục bàn luận trong tất cả những thảo luận
của chúng ta. Do đó, trong tiết này, chúng ta sẽ cố gắng, nếu có thể, để xác định chính xác ý
nghĩa của những ý niệm này, và nhờ đó loại bỏ phần nào sự hàm hồ vốn người ta thường phàn
nàn nhiều trong thể loại triết học này.[1]
E 7.4, SBN 62
Xem dường như đây
là một luận điểm sẽ không gây ra nhiều tranh luận: đó là tất cả những ý niệm của chúng
ta đều không là gì khác hơn ngoài những sao chép của những ấn tượng của chúng
ta, hay nói cách khác, chúng ta không thể nào nghĩ về bất cứ một gì vốn trước
đây chúng ta chưa từng cảm nhận được, bằng giác quan bên ngoài hay bên
trong.Tôi
đã cố gắng [11] giải thích và chứng minh luận điểm này, và
bày tỏ những hy vọng của tôi, rằng bằng một áp dụng thích đáng của nó, con người có thể đạt đến một sự rõ ràng và chính
xác hơn trong những lập luận triết học so với những gì họ đã đạt được cho đến nay.
Những ý niệm phức
hợp, có lẽ, có thể biết được rõ bằng định nghĩa, vốn là không gì khác hơn một liệt kê của những phần hay những ý niệm đơn giản vốn hợp thành chúng. Nhưng
khi chúng ta đã đẩy những định nghĩa đến những ý niệm đơn giản nhất, và thấy vẫn còn một vài mơ
hồ và không xác định, khi đó thì chúng ta có phương kế nào để xoay xở? Bằng sáng kiến nào chúng ta có thể chiếu
sáng những ý tưởng này, và khiến chúng chính xác và rõ ràng tất cả trước cái
nhìn tri tuệ của chúng ta?
Hãy đưa ra những ấn tượng hay những cảm xúc nguyên
khởi vốn từ đó những ý niệm được sao chép
lại. Những ấn tượng này đều mạnh mẽ và có thể cảm nhận được qua giác quan.
Chúng không chấp nhận sự mơ hồ. Chúng không chỉ tự thân đã sáng tỏ hoàn
toàn, mà còn có thể soi sáng cho những ý niệm tương ứng vốn nằm trong bóng tối.Và bằng cách này, có lẽ chúng ta có thể
đạt đến một kính hiển vi mới hay một loại quang học, qua đó, trong khoa học đạo
đức, những ý niệm nhỏ bé nhất và đơn giản nhất có thể được phóng lớn lên để dễ
dàng rơi vào trong sự thấu hiểu của chúng ta, và cũng được biết bằng với những
ý niệm dễ cảm nhận nhất, vốn có thể là đối tượng của điều tra của chúng ta.
E 7.5, SBN 63
Do đó, để nắm vững đầy đủ ý niệm về quyền năng hay sự
kết nối tất yếu, ta hãy khảo sát ấn tượng của nó; và để xác định ấn tượng ấy
một cách chắc chắn hơn, chúng ta hãy tìm kiếm nó trong mọi nguồn vốn từ đó nó có thể phát sinh.
E 7.6, SBN 63
Khi chúng ta nhìn
quanh, hướng về những đối tượng bên ngoài, và xem
xét sự hoạt
động của những nguyên nhân, chúng ta không bao giờ có thể, trong một trường hợp
đơn lẻ, tìm ra được bất kỳ
quyền năng hay sự kết nối tất yếu, bất kỳ tính chất nào, vốn gắn buộc kết quả
với nguyên nhân, và khiến cho một này thành một hệ quả không
thể sai lầm của một kia.
Chúng ta chỉ
thấy, trong thực tế, rằng cái này thực sự, đi theo
sau cái kia. Xung lực của một quả bi-a được đi kèm với chuyển động ở quả thứ hai. Đây là toàn bộ những gì hiện ra trước những giác quan bên
ngoài. Não thức không cảm nhận bất kỳ cảm giác hay ấn tượng bên trong nào từ sự kế
tiếp của những đối tượng này: Hệ quả là, trong bất kỳ trường hợp cụ thể, đơn lẻ nào của
nguyên nhân và kết quả, không có bất cứ một gì có thể gợi lên ý niệm về quyền
năng hay sự kết nối tất yếu,
E 7.7, SBN 63
Từ lần xuất hiện
đầu tiên của một đối tượng, chúng ta không bao giờ có thể phỏng đoán được hệ
quả nào sẽ nảy sinh từ nó. Nhưng nếu quyền năng hay năng lượng của bất kỳ
nguyên nhân nào có thể được trí óc khám phá ra, chúng ta đã có thể tiên đoán
được hệ quả, ngay cả khi chưa có kinh nghiệm; và ngay từ đầu, có thể khẳng định
chắc chắn về nó, chỉ bằng chính suy nghĩ và lập luận.
E 7.8, SBN 63-4
Trong thực tại, không phần nào của vật
chất, bởi những tính chất cảm
nhận được của nó, lại từng bộc lộ bất kỳ quyền năng hay
năng lượng nào, hay cho chúng ta cơ sở để tưởng tượng, rằng nó có thể tạo ra bất cứ một gì, hoặc được tiếp theo bởi bất kỳ đối tượng
nào khác vốn chúng ta có thể gọi tên là kết quả của nó. Tính rắn chắc, sự giãn nở,
chuyển động; tất cả những tính chất này đều trọn vẹn trong tự thân chúng, và
không bao giờ chỉ ra bất kỳ biến cố nào vốn có thể là hệ quả từ chúng.
Những cảnh tượng của vũ trụ liên tục xoay vần,
và đối tượng này nối tiếp đối tượng kia trong một sự kế tiếp không đứt đoạn;
nhưng quyền năng hay lực, những gì khiến toàn bộ cỗ máy hoạt động, lại hoàn toàn bị che giấu khỏi chúng ta,
và không bao giờ tự xác định trong bất kỳ
những tính
chất được cảm nhận nào của vật thể. Chúng ta biết, trong thực tế, rằng nhiệt thì luôn đi kèm với lửa cháy; nhưng sự kết nối giữa chúng là gì, chúng ta thậm chí không
có cơ sở nào như thế để phỏng đoán hay tưởng tượng. Vì thế, không thể nào ý niệm về quyền
năng lại suy ra từ sự quan sát tỉ mỉ của những vật thể trong những trường hợp vận hành đơn lẻ của chúng; bởi vì
không vật thể nào từng tự xác định bất kỳ quyền năng nào, vốn có thể là nguồn gốc của ý niệm này. [12].
E 7.9, SBN 64
Do đó, vì những đối tượng bên ngoài như chúng xuất hiện với những
giác quan, không cho chúng ta ý niệm nào về quyền năng hay sự
kết nối tất yếu, qua hoạt động của chúng trong những trường hợp cụ thể, chúng ta
hãy xem liệu ý niệm này có bắt nguồn từ sự suy ngẫm về hoạt động của não thức chúng
ta hay không và được sao chép từ bất kỳ ấn tượng bên trong nào hay không. Có thể nói
rằng, chúng ta luôn ý thức được quyền năng bên trong; trong khi chúng ta cảm thấy
rằng, chỉ bằng mệnh lệnh đơn giản của ý chí, chúng ta có thể cử động những cơ quan
cơ thể chúng ta, hay điều khiển những khả năng của não thức. Một hành động của ý chí tạo ra chuyển
động ở tay chân chúng ta hay gợi lên một ý niệm mới trong trí tưởng tượng của chúng ta.
Chúng ta biết ảnh hưởng của ý chí này qua ý thức. Do đó, chúng ta có được ý niệm
về quyền năng hay năng lượng; và chắc chắn rằng tự thân chúng ta và tất cả những
sinh vật thông minh khác đều có được quyền năng này. Do đó, ý niệm này là một
ý niệm của tự suy ngẫm, vì nó nảy sinh từ suy ngẫm về hoạt động của não thức của chính chúng ta và về
mệnh lệnh được ý chí thực hiện, với cả những cơ quan của cơ thể và những khả năng của hồn người.
E 7.10, SBN 64-5
Chúng ta sẽ tiến
hành xem xét sự khẳng định ngộ nhận này; và trước hết là về ảnh hưởng của ý chí
lên những cơ quan của cơ thể. Chúng ta có thể thấy rằng ảnh
hưởng này là một sự kiện, giống như tất cả những biến cố tự nhiên khác, chỉ có thể
được biết đến qua kinh nghiệm, và không bao giờ có thể được thấy trước được từ bất
kỳ năng lượng hay quyền năng rõ ràng nào trong nguyên nhân, kết nối nó với hệ quả, và biến một này thành hệ quả không
thể sai lầm của một kia. Sự chuyển động của cơ thể chúng ta đi theo sau mệnh lệnh của ý chí
ta. Về điều này, chúng ta ý thức được trong từng khoảnh khắc. Nhưng phương cách,
nhờ đó điều này được thực hiện; năng lượng, nhờ đó ý chí thực hiện một hoạt động
phi thường như vậy; về điều này, chúng ta còn rất xa với ý thức được ngay lập tức,
đến mức nó sẽ mãi mãi vuột khỏi sự điều tra cần mẫn nhất của chúng ta.
E 7.11, SBN 65
Trước hết, liệu có
nguyên lý nào trong tất cả tự nhiên bí ẩn hơn sự hợp nhất giữa hồn người và thể xác; qua đó giả định một thực thể tinh thần có được ảnh hưởng
như thế trên một thực thể vật chất,
rằng suy
nghĩ tinh tế nhất thì có thể tác động đến vật chất thô sơ nhất? Nếu chúng ta được trao quyền,
bởi một mong muốn thầm kín, để dời non lấp bể, hay kiểm soát những hành tinh trên
quỹ đạo của chúng; thì thẩm quyền bao la này hẳn không phải là phi thường hơn, cũng
không phải là vượt quá tầm hiểu biết của chúng ta. Nhưng nếu bằng ý thức, chúng
ta tri giác được bất kỳ quyền năng hay năng lượng nào trong ý chí, chúng ta phải
biết quyền năng này; chúng ta phải biết liên kết của nó với tác dụng; chúng
ta phải biết sự hợp nhất bí mật giữa hồn người và thể xác, và bản chất của cả hai
thực thể này; nhờ đó, trong rất nhiều trường hợp, thực thể này có thể tác động lên
thực thể kia.
E 7.12, SBN 65
Thứ hai, chúng ta không
thể điều khiển tất cả những cơ quan trong cơ thể với cùng một thẩm quyền; dù chúng
ta không thể đưa ra bất kỳ lý do nào ngoài kinh nghiệm, vì có một sự khác biệt đáng
chú ý giữa một này và một kia. Tại sao ý chí lại có ảnh hưởng đến lưỡi và ngón tay, nhưng không phải
đến tim hay gan? Câu hỏi này sẽ không bao giờ làm chúng ta bối rối, nếu chúng ta
ý thức được một quyền năng trong trường hợp trước, nhưng không phải trong trường
hợp sau. Khi đó, chúng ta sẽ nhận thức, độc lập với kinh nghiệm, tại sao thẩm quyền
của ý chí với những cơ quan trong cơ thể lại bị giới hạn trong những giới hạn cụ
thể như vậy. Trong trường hợp đó, khi đã hoàn toàn quen thuộc với quyền năng hay
lực vốn nó vận hành, chúng ta cũng sẽ biết tại sao ảnh hưởng của nó chỉ đạt đến
chính xác những ranh giới đó, nhưng không phải xa hơn.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Những khái niệm —power, force, energy, necessary
connexion / quyền năng, lực, năng lượng, sự kết nối tất yếu
1. Quan điểm của
David Hume
Trong diễn đạt
nổi tiếng của David Hume ở đây —”quyền năng, lực, năng lượng, hoặc sự kết
nối tất yếu”—chúng không được trình bày theo một hệ thống phân loại rõ ràng
với bốn khái niệm riêng biệt, nhưng như một nhóm từ ngữ được cô đọng với chủ
đích. Trong lập luận của ông, Hume cho rằng những từ ngữ
này cùng hướng đến một ý tưởng cơ bản duy nhất: hiệu lực nhân quả, tức là nguyên lý giả định mà nhờ đó
một nguyên nhân tạo ra kết quả tất yếu của nó.
Về mặt lịch sử,
những từ ngữ này xuất phát từ những truyền thống trí tuệ khác nhau. “Quyền
năng” (Power/ dunamis) bắt nguồn từ siêu hình học Aristoteles, biểu thị một
khả năng thực sự vốn có trong những thực thể; “năng lượng” (energy /
energeia) biểu thị tính hiện thực hoặc sự hiện thực hóa tích cực; “lực” (force)
xuất hiện trong triết học tự nhiên thời kỳ cận đại, đặc biệt là trong vật lý cơ
học của Isaac Newton, nơi nó hoạt động như một nguyên nhân chuyển động có thể
mô tả bằng toán học; và “mối liên hệ tất yếu” ( “necessary connexion”) thuộc về
ngữ vựng của siêu hình học, chỉ định sự liên hệ ràng buộc làm cho chuỗi nhân
quả trở nên dễ hiểu hơn là chỉ đơn thuần là sự kế tiếp. Bất chấp những khác
biệt về nguồn gốc và sắc thái, cả bốn từ ngữ đều nhằm mục đích—ngầm hoặc rõ
ràng—nắm bắt cùng một đặc điểm khó nắm bắt: rằng có một gì đó trong thực tại
cưỡng bách sự chuyển dịch từ nguyên nhân sang kết quả.
Phương sách của
Hume là xóa nhòa những khác biệt lịch sử này bằng cách coi những từ ngữ như
những dấu hiệu có thể hoán đổi cho nhau của một giả định triết học duy nhất.
Sau đó, ông áp dụng tiêu chuẩn duy nghiệm: mọi ý niệm chính đáng đều phải bắt
nguồn từ một ấn tượng tương ứng. Tuy nhiên, khi quan sát, xem sét kinh nghiệm,
ta chỉ thấy sự kết hợp thường xuyên — một sự kiện này đều đặn theo sau một sự
kiện khác — chứ chưa bao giờ thấy bất kỳ ấn tượng nào về một mối dây liên kết
tất yếu, quyền năng, hay lực để ràng buộc chúng lại với nhau. Những gì gọi là
tính tất yếu đó không nằm trong bản thân những đối tượng mà nảy sinh từ sự kỳ
vọng theo thói quen của não thức được hình thành qua việc quan sát sự lập đi lập
lại.
Do đó, dù “quyền
năng”, “lực”, “năng lượng” và “sự kết nối tất yếu” không hoàn toàn đồng nhất về
mặt ý nghĩa lịch sử, Hume coi chúng là tương đương về chức năng; bởi lẽ tất cả
chúng đều tự xưng là tên gọi cho cùng một đặc tính của quan hệ nhân quả—một đặc
tính mà khi kiểm chứng kỹ lưỡng, lại thiếu đi cơ sở thực nghiệm. Vì vậy, Kết
luận của ông không chỉ là về ngữ nghĩa mà còn là về nhận thức luận: những thuật
ngữ này, dù không thể thiếu trong nói viết của chúng ta, không tương ứng với
bất kỳ ý niệm rõ ràng và dễ hiểu nào nào xuất phát từ kinh nghiệm, và hệ quả là
chúng trở nên “mơ hồ và không chắc cahwns/bất định.
2. Sự phát triển
lịch sử của những khái niệm này
Trong thời tiền-Socrates,
những giải thích về sự thay đổi đã giả định trước một gì đó giống như hiệu quả
nhân quả, mặc dù nó vẫn chưa được hệ thống hóa thành một lý thuyết chính thức.
những nhà tư tưởng như Heraclitus và Parmenides đã trình bày vấn đề dưới góc độ
trở thành và tồn tại: làm thế nào có thể thay đổi được và điều gì làm nền tảng
cho nó.
Đối với
Heraclitus, sự thay đổi giống như một dòng sông; “hiệu quả” là Logos—một
sự căng thẳng tiềm ẩn hay “cuộc chiến” giữa những mặt đối lập buộc dòng sông
phải tiếp tục chảy. Ngược lại, Parmenides xem hiện thực như một khối cầu bằng
đá cẩm thạch rắn chắc; nếu một thứ gì đó thực sự “là” thì nó không thể “trở
thành” một thứ khác, tạo ra một cuộc khủng hoảng về cách chúng ta giải thích về
“sức mạnh” dường như khiến mọi thứ thay đổi.
Những câu hỏi ban
đầu này vẫn chưa phân biệt rõ ràng giữa sự tiếp nối có thể quan sát (nhìn thấy
những mùa thay đổi) và tính tất yếu cơ bản , như sự tất yếu ẩn sau (quy luật
tiềm ẩn buộc những mùa phải thay đổi), nhưng chúng đã thiết lập nhu cầu siêu
hình về một nguyên lý để giải thích sự chuyển dịch/thay đổi.
Nhu cầu này được
Aristotle hệ thống hóa một cách cổ điển, khi ông đề xuất những khái niệm
dunamis (quyền năng/tiềm năng) và energeia (hiện thực/năng lượng). Ở đây, quyền năng nhân quả là một đặc tính thực sự của sự vật, đặt nền
tảng cho sự thay đổi trong bản chất của chúng. Sự chuyển đổi từ tiềm năng sang
hiện thực cung cấp một giải thích nội tại về tính tất yếu: kết quả theo sau
nguyên nhân vì bản chất của sự vật. Sự chuyển dịch từ tiềm năng sang năng lượng thực tại đem cho một giải thích
nội tại về tính tất yếu: những kết quả theo sau nguyên nhân chính bởi vì bản
chất của vật là như thế.Thời Trung cổ, đặc biệt là với Thomas Aquinas, tiếp tục
phát triển và thần học hóa khung lý thuyết này, đưa quyền năng nhân quả vào một
vũ trụ có trật tự thần linh và có thể hiểu được.
Như yêu cầu này
đã được công nhận là diễn đàn đạt kinh điển nơi Aristotle, người đã phát biểu
những khái niệm về dunamis (quyền năng/tính tiềm tàng) và năng lượng (năng
lượng/tính hiện thực). Trong hệ thống này, quyền nhân quả là một đặc tính thực
sự và vốn có của vật thể, đặt cơ sở cho sự biến đổi ngay trong bản tính của
chúng. Sự chuyển dịch từ tính kho tàng sang năng lượng thực tế cung cấp một giải
thích nội tại về tính tất yếu: những kết quả theo sau nguyên nhân chính bởi vì
bản chất của vật là như thế. Một hạt sồi sở hữu dunamis (quyền năng) để trở
thành một cây sồi; đó là một “quyền năng” hay tiềm năng nội tại chờ được khai
mở. Energeia chính là năng lượng hiện thực hóa tích cực tiềm năng đó—tức quá
trình tăng trưởng khi nó đâm chồi qua mặt đất—sự chuyển dịch từ cái “có thể là”
sang cái “đang là”. Triết học Kinh viện Trung cổ, đặc biệt là nơi Thomas
Aquinas, cố tạo một khuôn mặt duy lý cho cho gót học Ki tô - đã duy trì và đào
sâu khuôn khổ này về mặt gót học, đẩy “quyền năng” nhân quả vào trong một vũ trụ
có trật tự và củu cánh do Gót thiết lập. Theo quan điểm này, Gót “Nguyên nhân
Đầu tiên”, Người ban cho mỗi thực thể những quyền năng và năng lượng cụ thể,
đảm bảo rằng vũ trụ vận hành không phải do ngẫu nhiên, mà bởi một tính tất yếu
vừa thiêng liêng và vừa thuận lý.
Thời cận đại đã phá
vỡ bức tranh này. Với René Descartes, tự nhiên được tái khái niệm theo cơ giới:
giải thích nhân quả được giảm thiểu thành vật chất chuyển động theo quy luật.
Khái niệm phong phú của Aristotle về “quyền năng” bị loại bỏ như một tính chất
huyền bí. Tuy nhiên, điều này tạo ra một khoảng trống:
khoa học mới sử dụng những khái niệm như chuyển động và tác động mà không có giải
thích rõ ràng về tính tất yếu liên kết nguyên nhân và kết quả. Isaac Newton
giới thiệu “lực” như một khái niệm chính xác về toán học và có khả năng dự
đoán, nhưng lại né tránh giải thích bản chất siêu hình của nó. Do đó, “lực” trở
nên không thể thiếu trong thực hành nhưng lại mơ hồ về mặt khái niệm.
Các nhà triết học duy lý cố gắng khôi phục
tính tất yếu ở một cấp độ sâu xa hơn. Gottfried Wilhelm Leibniz tái diễn giải
thực tại qua lực nội tại (vis viva), đặt nền tảng cho nhân quả trong
những nguyên tắc siêu hình; Nicolas Malebranche, một triết gia người Pháp thế kỷ 17, còn đi xa hơn, đã
chuyển đổi thuyết nhị nguyên Cartesian thành một thuyết cấp tiến về nhân quả
thần thánh - thuyết cơ duyên (Occasionalism). Malebranche lập luận rằng
vạn vật được tạo ra không có quyền năng. Không vật thể nào có thể tác động đến
vật thể khác, và không não thức nào có thể tác động đến cơ thể. Chỉ có Gót mới
là "nguyên nhân thực sự". Điều này đã mở đường cho sự phê phán nổi
tiếng của Hume về nhân quả. Mặc dù Hume loại bỏ Gót khỏi phương trình, ông vẫn hướng
đến lập luận của thuyết cơ duyên khi cho thấy răng chúng ta không bao giờ thực
sự thấy một "quyền năng" nào kết nối hai sự kiện — chúng ta chỉ thấy
sự kiện này nối tiếp sự kiện kia. Cả hai tiếp cận như trên đều bảo tồn
tính tất yếu, nhưng với giá là sự trừu tượng siêu hình ngày càng tăng.
Thuyết duy nghiệm của John Locke đã tạo ra một
sự mâu thuẫn khó giải quyết. Một mặt, Locke tin rằng các vật thể phải có 'quyền
năng' để tác động lên nhau (như lửa có quyền năng làm sáp chảy). Mặt khác, ông
lại thú nhận rằng con người không thể nhìn thấy hay cảm nhận trực tiếp cái
quyền năng đó. Điều này tạo ra một bước ngoặt: dù chúng ta vẫn cần dùng đến
khái niệm này, nhưng giá trị khoa học của nó đã bị lung lay vì không có bằng
chứng thực tế. sự thừa nhận này đã đẩy khái niệm 'quyền năng' vào một vị thế bấp bênh:
nó vừa là yếu tố không thể thiếu để giải thích thế giới, vừa là một thực thể mơ
hồ, thiếu bằng chứng thực nghiệm.
Chính sự mâu thuẫn này đã được David
Hume đẩy lên mức triệt để. Bằng cách bác bỏ bất kỳ ý niệm nào không thể truy
nguyên về một ấn tượng, Hume lập luận rằng cả quyền năng, lực, lẫn sự kết nối
tất yếu đều chưa bao giờ hiện diện như một dữ kiện trong kinh nghiệm. Những gì
những nhà tư tưởng trước đây coi là một đặc tính thực thụ của thế giới, thì đối
với Hume, lại là một sự phóng chiếu của não thức được hình thành thông qua thói
quen. Do đó, tiến trình lịch sử này đã đạt đến điểm đảo chiều: thứ
vốn khởi đầu như một nguyên lý siêu hình khách quan đã trở thành một cấu trúc
tâm lý nội tại. Hệ quả từ sự
phê phán của Hume đã tác động tức thì đến Immanuel Kant, người tìm cách cứu vãn
tính tất yếu bằng cách tái định vị nó không nằm trong bản thân những đối tượng,
mà nằm trong những cấu trúc tiên nghiệm (a priori) của sự hiểu biết.
Theo cách này, khái niệm về sự kết nối tất yếu vẫn tồn tại, nhưng chỉ bằng cách
trải qua một sự biến đổi sâu sắc hơn—từ một đặc tính bản thể luận của thực tại,
trở thành một điều kiện siêu vượt của kinh nghiệm.
Tóm lại, từ thời
Tiền-Socratic đến Hume, khái niệm này đã tiến hóa từ quyền năng thực thụ trong
sự vật, sang lực cơ học không lời giải thích, đến sự mơ hồ được thừa nhận, và
cuối cùng là sự tan rã trong hoài nghi—một tiến trình giải thích lý
do Hume có thể chính đáng mô tả nó như vừa không thể thiếu vừa bất địn, không
chắc chắn.
