Một Điều Tra
Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
Tiết XI
Về Sự Lo Liệu
Cá Biệt Của Gót Và Về Một Cõi Sống Sau Cái Chết. [1]
E 11. 1, SBN 132
Gần đây, tôi có
trò chuyện với một người bạn, người vốn yêu thích những nghịch lý hoài nghi. [2]
Trong trò chuyện đó, dù ông đưa ra nhiều nguyên lý vốn tôi chẳng đời nào tán
thành được, nhưng chúng có vẻ thú vị, gợi hiếu kỳ và mang một vài liên hệ với chuỗi
của những lập luận được dẫn dắt xuyên suốt tiến trình điều tra này, nên tôi xin
chép lại chúng từ trí nhớ một cách xác thực nhất có thể được, để trình lên sự
phán xét của người đọc.
E 11. 2, SBN
132-3
Cuộc trò chuyện
của chúng tôi bắt đầu khi tôi ngưỡng mộ vận may đặc biệt của triết học, thứ mà,
vì đòi hỏi trên hết mọi đặc quyền khác một sự tự do hoàn toàn, và chủ yếu phát
triển từ sự đối lập tự do giữa những quan điểm và lập luận, đã ra đời lần đầu
tiên trong một thời đại và một đất nước của tự do và khoan dung, và chưa bao
giờ bị kìm hãm, ngay cả trong những nguyên lý triết học cực đoan nhất, bởi bất
kỳ tín điều, lời tuyên xưng hay luật lệ trừng phạt nào.
Vì, ngoại trừ
việc trục xuất Protagoras và cái chết của Socrates—mà sự kiện sau cùng phần nào
xuất phát từ những động cơ khác—hầu như không thể tìm thấy trong lịch sử cổ đại
bất kỳ ví dụ nào về sự ghen tị cố chấp này, thứ đang bao trùm và lan tràn rất
nặng nề trong thời đại hiện nay.
Epicurus đã sống
tại Athens đến tuổi già trong hòa bình và yên ổn: thậm chí những người theo
phái Epicurus [28] còn được phép đảm nhận phẩm hàm tư tế [3]
, và thực hiện nghi lễ tại bàn thờ trong những nghi thức thiêng liêng
nhất của tôn giáo chính thống: và sự khuyến khích công khai bằng lương bổng và
bổng lộc cũng được ban cấp một cách công bằng, bởi những vị hoàng đế La Mã khôn
ngoan nhất, cho những người giảng dạy của mọi môn phái triết học. [4]
Sự cần thiết của
kiểu đối xử như vậy với triết học trong buổi đầu non trẻ của nàng sẽ dễ dàng
được hiểu, nếu ta suy ngẫm rằng, ngay cả hiện nay, khi nàng có thể được xem là
đã cứng cáp và mạnh mẽ hơn, nàng vẫn phải chịu đựng một cách khó khăn không chỉ
sự khắc nghiệt của thời tiết, mà còn cả những luồng gió dữ dội của vu khống và
bức hại đang thổi vào nàng.
E 11. 3, SBN 133
Ông bạn tôi nói:
Bạn ngưỡng mộ điều mà bạn cho là vận may đặc biệt của triết học, nhưng thực ra
điều đó dường như chỉ là kết quả của tiến trình tự nhiên của sự việc, và là
điều không thể tránh khỏi ở mọi thời đại và quốc gia. Sự cuồng tín cố chấp mà
bạn than phiền là tai hại cho triết học ấy, thực ra lại là sản phẩm của chính
triết học. Nó, sau khi kết giao với mê tín dị đoan, đã hoàn toàn tách rời khỏi
lợi ích của người mẹ của nó (tức triết học), rồi trở thành kẻ thù và người bức
hại không đội trời chung của bà.
Những giáo điều
mang tính suy lý của tôn giáo, vốn là nguyên nhân của những cuộc tranh luận dữ
dội hiện nay, không thể nào được hình thành hay chấp nhận trong những thời đại
sơ khai của thế giới; khi loài người còn hoàn toàn thất học, họ hình dung tôn
giáo theo cách phù hợp với sự hiểu biết yếu ớt của họ, và xây dựng nên những tín
điều thiêng liêng chủ yếu từ những câu chuyện truyền miệng dựa trên tin tưởng
truyền thống hơn là trên lý lẽ hay tranh luận.
Sau khi cơn lo
ngại ban đầu trước những nghịch lý và những nguyên lý mới của những triết gia
qua đi, những nhà tư tưởng này dường như, trong suốt thời cổ đại về sau, luôn
sống hòa hợp với tôn giáo chính thống đã được thiết lập, và đã , và thực hiện một
sự phân chia loài người tương đối rành mạch giữa hai bên: triết học nắm giữ tất
cả những người có học thức và khôn ngoan, còn mê tín chiếm giữ toàn bộ tầng lớp
bình dân và không học thức.
E 11. 4, SBN
133-4
Có vẻ như vậy, tôi
nói, rằng ông hoàn toàn gạt vấn đề chính trị ra khỏi vấn đề này, và không bao
giờ cho rằng một nhà cầm quyền khôn ngoan có thể có lý do chính đáng để nghi kỵ
một số học thuyết triết học, chẳng hạn như của Epicurus, những học thuyết phủ
nhận sự hiện hữu của thần linh, và do đó cũng phủ nhận sự lo liệu riêng biệt
của thần thánh và đời sống sau cái chết; những điều này dường như, ở một mức độ
lớn, làm suy yếu những ràng buộc của đạo đức, và vì lý do đó có thể bị xem là
có hại cho sự ổn định hòa bình của xã hội dân sự.
E 11. 5, SBN 134
Tôi biết, ông ấy
đáp, rằng trên thực tế những cuộc bức hại ấy chưa bao giờ, trong bất kỳ thời
đại nào, xuất phát từ lý trí điềm tĩnh hay từ kinh nghiệm về những hậu quả có
hại của triết học; mà hoàn toàn nảy sinh từ xung động cảm xúc và thành kiến. Nhưng
nếu tôi đi xa hơn nữa và khẳng định rằng, nếu Epicurus từng bị đưa ra trước
công chúng, bởi bất kỳ kẻ xu nịnh hay kẻ tố cáo nào của thời đó, thì ông hoàn
toàn có thể tự bào chữa cho mình, và chứng minh rằng những nguyên lý triết học
của ông cũng có lợi cho xã hội không kém gì những nguyên lý của những đối thủ, những
người đã cố gắng với sự hăng hái như vậy để khiến ông bị công chúng căm ghét và
ghen tị.
E 11. 6, SBN 134
Tôi ước gì, tôi
nói, ông thử vận dụng tài hùng biện của mình vào một chủ đề kỳ lạ như vậy, và
soạn một bài diễn thuyết thay cho Epicurus, bài diễn thuyết ấy có thể làm thỏa
mãn, không phải đám đông ở Athens—nếu ông cho phép rằng thành phố cổ kính và
thanh nhã ấy từng có một đám đông—mà là phần có tính triết học hơn trong cử tọa
của ông, tức những người có thể được xem là đủ khả năng hiểu được những lập
luận của ông.
E 11. 7, SBN 134
Vấn đề ấy sẽ
không khó, nếu đặt trong những điều kiện như vậy, ông ấy đáp. Và nếu ông muốn, tôi
sẽ tạm giả làm Epicurus trong chốc lát, còn ông sẽ đóng vai nhân dân Athens, và
tôi sẽ đọc cho ông một bài diễn thuyết hùng biện đến mức sẽ làm đầy tất cả
những bình bỏ phiếu bằng hạt đậu trắng, không để lại một hạt đậu đen nào để
thỏa mãn sự ác ý của những kẻ đối nghịch với tôi. [5]
E 11. 8, SBN 134
Tôi nói: Hay lắm. Xin hãy tiến hành theo như những giả
định này.
E 11. 9, SBN
134-5
Hỡi những người
dân Athens, tôi đến đây để biện minh trước đại hội công dân của quí vị về những
điều tôi vẫn giảng dạy trong trường học của mình; nhưng tôi thấy mình đang bị
những đối thủ hung hãn buộc tội, thay vì được tranh luận với những người tìm
hiểu điềm tĩnh và không thiên vị.
Đáng lẽ quí vị
phải hướng những cuộc thảo luận của mình vào những vấn đề lợi ích chung và lợi
ích của cộng đồng, nhưng nay chúng lại bị chuyển sang những khảo cứu về triết
học trừu tượng; và những cuộc tìm tòi tráng lệ nhưng có lẽ không mang lại kết
quả thực tiễn này đang chiếm chỗ của những công việc quen thuộc nhưng thiết
thực hơn của quí vị.
Nhưng trong phạm
vi khả năng của mình, tôi sẽ ngăn chặn sự lạm dụng ấy. Ở đây chúng ta sẽ không
tranh luận về nguồn gốc hay sự vận hành của những thế giới. Chúng ta chỉ xem
xét những câu hỏi ấy liên quan đến lợi ích công cộng đến mức nào. Và nếu tôi có
thể thuyết phục quí vị rằng chúng hoàn toàn không liên quan gì đến sự hòa bình
của xã hội hay sự an toàn của chính quyền, tôi hy vọng quí vị sẽ sớm đưa thầy
trò chúng tôi trở về trường học. Ở đó, chúng tôi sẽ thong thả khảo cứu câu hỏi
cao siêu nhất, nhưng đồng thời cũng mang tính trừu tượng nhất trong toàn bộ
triết học.
E 11. 10, SBN 135
Những triết gia
tôn giáo, không thỏa mãn với truyền thống của cha ông quí vị và giáo lý của
những thầy tu (những điều mà tôi sẵn lòng chấp nhận), đã buông mình vào một sự
tò mò liều lĩnh, khi thử xem họ có thể thiết lập tôn giáo dựa trên những nguyên
lý của lý trí đến mức nào. Và qua đó, họ lại kích thích, thay vì làm thỏa mãn, những
nghi ngờ vốn tự nhiên nảy sinh từ một cuộc khảo sát cần mẫn và kỹ lưỡng.
Họ dùng những màu
sắc rực rỡ nhất để phác họa trật tự, vẻ đẹp và sự sắp đặt khôn ngoan của vũ
trụ; rồi họ đặt câu hỏi rằng liệu một sự phô bày trí tuệ huy hoàng như vậy có
thể xuất phát từ sự tụ hội ngẫu nhiên của những nguyên tử hay không, hay liệu
sự ngẫu nhiên có thể tạo ra cái mà ngay cả thiên tài vĩ đại nhất cũng không thể
chiêm ngưỡng đủ.
Ta sẽ không xét
tính đúng đắn của lập luận này. tôi sẽ nhìn nhận nó vững chắc như những người
đối lập và buộc tội tôi mong muốn.
Chỉ cần tôi chứng
minh, từ chính lập luận này, rằng câu hỏi ấy hoàn toàn mang tính triết học trừu
tượng; và rằng khi trong những khảo luận triết học của mình tôi phủ nhận sự lo
liệu cá biệt của Gót và một đời sống sau cái chết, tôi không hề phá hoại nền
tảng của xã hội, mà chỉ đưa ra những nguyên lý mà chính họ, nếu lập luận nhất
quán từ những tiền đề của họ, cũng phải nhìn nhận là vững chắc và thỏa đáng.
E 11. 11, SBN
135-6
Vậy thì, quý vị —
những người đang buộc tội tôi — đã nhìn nhận rằng lập luận chủ yếu, thậm chí
duy nhất, cho sự hiện hữu của một Đấng thiêng liêng (điều mà tôi chưa bao giờ
phủ nhận) được rút ra từ trật tự của tự nhiên. Ở đó, quý vị thấy những dấu hiệu
của trí tuệ và sự sắp đặt, đến mức quý vị cho rằng thật vô lý nếu quy nguyên
nhân của nó cho sự ngẫu nhiên, hoặc cho sức mạnh mù quáng và không được định
hướng của vật chất.
Quý vị cũng nhìn
nhận rằng đây là một lập luận đi từ hệ quả suy ra nguyên nhân. Từ trật tự của
công trình, quý vị suy ra rằng hẳn phải có sự thiết kế và dự liệu trước trong
người kiến tạo. Nếu không chứng minh được điểm này, quý vị nhìn nhận rằng kết
luận của mình sẽ sụp đổ; và quý vị cũng không dám suy luận vượt ra ngoài phạm
vi những gì có thể quan sát trong tự nhiên. [6]
Đó là những điều
quý vị đã chấp nhận làm tiền đề cho lập luận của mình. Và tôi yêu cầu quý vị
hãy lưu ý đến những hệ quả tất yếu từ đó. [7]
E 11. 12, SBN 136
Khi chúng chúng
ta suy ra một nguyên nhân cụ thể từ một hệ quả, chúng ta phải luôn giữ sự tương
xứng giữa nguyên nhân và hệ quả, và không được gán cho nguyên nhân bất kỳ thuộc
tính nào vượt quá những gì cần thiết để tạo ra đúng hệ quả đó. Một vật nặng
mười ounce đặt lên bàn cân có thể chứng minh rằng vật đối trọng nặng hơn mười
ounce, nhưng không thể là cơ sở để kết luận rằng nó nặng hơn một trăm ounce.
Nếu nguyên nhân
được giả định cho một hệ quả nào đó không đủ để tạo ra hệ quả ấy, thì chúng ta hoặc
phải bác bỏ nguyên nhân đó, hoặc phải bổ sung cho nó những thuộc tính cần thiết
để nó tương xứng với hệ quả. Nhưng nếu chúng ta gán thêm cho nó những thuộc
tính vượt quá yêu cầu đó, hoặc khẳng định nó có khả năng tạo ra những hệ quả
khác, thì chúng ta chỉ đang dựa vào phỏng đoán tùy tiện, tự ý giả định sự hiện
hữu của những năng lực và thuộc tính vốn không có lý do hay cơ sở nào biện minh.
E 11. 13, SBN
136-7
Quy tắc này vẫn
giữ nguyên giá trị, dù nguyên nhân được giả định là vật chất vô tri, không ý
thức, hay là một thực thể có trí tuệ và lý tính. Nếu chúng ta chỉ biết đến
nguyên nhân thông qua hệ quả của nó, thì chúng ta không bao giờ được phép gán
cho nguyên nhân bất kỳ thuộc tính nào vượt quá những gì thực sự cần thiết để
tạo ra hệ quả đó.
Theo những quy
tắc lập luận đúng đắn, chúng ta cũng không thể từ nguyên nhân đã suy ra quay
ngược lại để kết luận thêm những hệ quả khác, vượt ra ngoài những hệ quả duy
nhất nhờ đó nguyên nhân ấy được biết đến. Chẳng hạn, không ai chỉ từ việc nhìn
một bức tranh của Zeuxis mà có thể biết rằng ông còn là một nhà điêu khắc hay
kiến trúc sư, hay rằng ông là một nghệ sĩ điêu luyện trong việc xử lý đá và cẩm
thạch không kém gì trong hội họa.
Từ những tài năng
và thị hiếu được thể hiện trong tác phẩm cụ thể trước mắt, chúng ta chỉ có thể
kết luận chắc chắn rằng người nghệ sĩ sở hữu đúng những năng lực đã được bộc lộ
trong tác phẩm đó. Nguyên nhân phải tương xứng với hệ quả; và nếu chúng ta giữ
đúng sự tương xứng này một cách chính xác, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy
trong nguyên nhân những thuộc tính dẫn chúng ta đến những kết luận xa hơn, hay
gợi ý về những thiết kế hoặc năng lực khác ngoài phạm vi quan sát.
Những thuộc tính
như vậy, nếu có, phải là những điều vượt quá mức cần thiết để tạo ra hệ quả mà
chúng ta đang xem xét.
E 11. 14, SBN 137
Vì vậy, nếu chúng
ta giả định rằng những vị gót là tác giả của sự hiện hữu và trật tự của vũ trụ,
thì từ đó chỉ có thể suy ra rằng họ sở hữu đúng mức độ quyền năng, trí tuệ và
lòng nhân từ tương ứng với những gì được thể hiện trong chính công trình của
họ; ngoài ra, chúng ta không thể chứng minh bất kỳ điều gì vượt xa hơn, trừ khi
viện đến sự phóng đại hoặc lời tán dương để bù đắp cho những thiếu hụt của lập
luận và lý lẽ.
Những dấu vết của
thuộc tính nào xuất hiện trong hiện tượng quan sát được, thì chúng ta chỉ có
thể kết luận rằng những thuộc tính ấy hiện hữu ở mức độ tương ứng. Mọi giả định
về những thuộc tính vượt ra ngoài đó chỉ là phỏng đoán thuần túy; và càng không
có cơ sở khi giả định rằng ở những không gian xa xôi hay những thời điểm khác, từng
có hoặc sẽ có một sự biểu lộ rực rỡ hơn của những thuộc tính ấy, hay một kế
hoạch cai quản phù hợp hơn với những phẩm tính tưởng tượng như vậy.
Chúng ta không
bao giờ được phép đi từ vũ trụ — như một hệ quả — để suy ngược lên một nguyên
nhân được gọi là Jupiter, rồi từ nguyên nhân đó lại suy diễn thêm những hệ quả
mới; như thể bản thân những hiện tượng hiện có chưa đủ để phản ảnh toàn bộ mức
độ của những thuộc tính mà chúng ta gán cho vị gót ấy.
Vì tri thức về
nguyên nhân chỉ được rút ra từ hệ quả, nên nguyên nhân và hệ quả phải được đặt
tương ứng chính xác với nhau; và một khi đã được xác lập như vậy, thì không bên
nào có thể được dùng làm cơ sở để suy ra thêm bất kỳ điều gì vượt ra ngoài phạm
vi đã quan sát.
E 11. 15, SBN
137-8
Quý vị quan sát
những hiện tượng trong tự nhiên. Quý vị tìm kiếm một nguyên nhân hay tác giả
của chúng. Rồi quý vị tưởng rằng mình đã tìm ra nguyên nhân ấy. Sau đó, quý vị
trở nên quá say mê “tạo phẩm” của chính trí tưởng tượng của mình đến mức cho
rằng không thể nào vị nguyên nhân ấy lại không tạo ra một điều gì đó lớn lao và
hoàn hảo hơn cảnh tượng hiện tại của thế giới — vốn đầy rẫy bất toàn và hỗn
loạn.
Nhưng quý vị quên
rằng toàn trí và toàn thiện mà quý vị gán cho vị nguyên nhân ấy chỉ là những
thuộc tính tưởng tượng, hoặc ít nhất cũng không có cơ sở trong lý trí; và rằng
quý vị không có lý do nào để gán cho nó bất kỳ thuộc tính nào ngoài những gì
quý vị thực sự quan sát thấy nó đã biểu hiện trong những tạo phẩm của nó.
Vì vậy, hỡi những
triết gia, hãy để những vị thần của quý vị phù hợp với những gì đang hiện ra
trong tự nhiên hiện tại; và đừng cố gắng thay đổi những hiện tượng ấy bằng
những giả định tùy tiện, chỉ để làm chúng phù hợp với những thuộc tính mà quý
vị quá dễ dàng gán ghép cho những thần linh của mình.
E 11. 16, SBN 138
Khi những thầy tu
và thi sĩ, được hậu thuẫn bởi uy tín của quý vị, hỡi người Athens, nói về một
thời đại hoàng kim hay bạc kim đã hiện hữu trước tình trạng hiện tại đầy tội
lỗi và khổ đau, chúng ta lắng nghe họ với sự chú ý và kính trọng. Nhưng khi
những triết gia — những người tự nhận là không dựa vào thẩm quyền mà chỉ dựa
vào lý trí — lại trình bày cùng một quan điểm, chúng ta không dành cho họ, như
chính chúng ta nhìn nhận, sự phục tùng hay kính cẩn tương tự. [8]
Chúng ta đặt câu
hỏi: ai đã đưa họ lên những cõi trời, ai đã cho họ quyền tham dự vào hội nghị
của những thần linh, ai đã mở cho họ cuốn sách của số mệnh, để họ liều lĩnh
khẳng định rằng những hữu thể thần linh đã, hoặc sẽ, thực hiện những mục đích
vượt ra ngoài những gì thực sự được quan sát?
Nếu họ trả lời
rằng họ đã đi lên bằng bậc thang của lý trí, thông qua việc suy luận từ hệ quả
đến nguyên nhân, thì chúng ta vẫn khẳng định rằng họ đã nâng bước lý trí bằng
đôi cánh của tưởng tượng; nếu không, họ không thể thay đổi cách suy luận của
mình và từ nguyên nhân lại suy ra những hệ quả xa hơn, bằng cách giả định rằng
một thế giới hoàn hảo hơn hiện tại sẽ phù hợp hơn với những hữu thể thần linh
hoàn hảo như vậy, đồng thời quên rằng họ không có cơ sở nào để gán cho những hữu
thể ấy bất kỳ sự hoàn hảo hay thuộc tính nào vượt ra ngoài những gì có thể tìm
thấy trong thế giới hiện tại. [9]
E 11. 17, SBN
138-9
Do đó, mọi nỗ lực vô ích nhằm giải thích những
hiện tượng bất toàn của tự nhiên và nhằm cứu vãn danh dự của những thần linh
đều dẫn chúng ta đến chỗ phải thừa nhận thực tại của cái ác và sự hỗn loạn, những
thứ mà thế giới này chứa đầy. Người ta nói với chúng ta rằng chính những tính
chất ngoan cố và không thể uốn nắn của vật chất, hoặc việc tuân theo những quy
luật phổ quát, hay một lý do tương tự nào đó, là nguyên nhân duy nhất đã kiềm
chế quyền năng và lòng nhân từ của Jupiter, và buộc ông phải tạo ra loài người
cùng mọi sinh vật có cảm giác trong một trạng thái bất toàn và bất hạnh đến như
vậy.
Như thế, những thuộc tính ấy dường như đã được
giả định trước ngay từ đầu theo nghĩa rộng lớn nhất của chúng. Và trên giả định
ấy, tôi thừa nhận rằng những suy đoán như vậy có lẽ có thể được chấp nhận như
những cách giải thích có vẻ hợp lý cho những hiện tượng bất toàn ấy. Nhưng tôi
vẫn hỏi: tại sao lại giả định trước những thuộc tính ấy, hay tại sao lại gán
cho nguyên nhân bất kỳ phẩm tính nào vượt quá những gì thực sự xuất hiện trong
hệ quả? Tại sao lại phải tra tấn trí óc mình để biện minh cho tiến trình của tự
nhiên dựa trên những giả định mà, theo mọi điều quí vị biết, có thể hoàn toàn
chỉ là tưởng tượng, và không hề để lại bất kỳ dấu vết nào trong chính tiến
trình của tự nhiên.
E 11. 18, SBN 139
Do đó, giả thuyết tôn giáo chỉ nên được xem
như một phương thức đặc thù nhằm giải thích những hiện tượng có thể quan sát
được của vũ trụ: nhưng không một nhà lý luận chính đáng nào lại dám suy ra từ
đó bất kỳ sự kiện riêng lẻ nào, rồi thay đổi hay thêm thắt vào những hiện tượng
ấy trong bất kỳ phương diện riêng lẻ nào. Nếu quí vị cho rằng những biểu hiện
của sự vật chứng minh những nguyên nhân như vậy, thì quí vị được phép rút ra
một suy luận về sự hiện hữu của những nguyên nhân ấy. Trong những chủ đề phức
tạp và cao siêu như thế này, mọi người đều nên được hưởng sự tự do suy đoán và
lập luận.
Nhưng tại đây quí vị nên dừng lại. Nếu quí vị
quay ngược trở lại, rồi từ những nguyên nhân đã được suy luận ấy mà kết luận
rằng một sự kiện nào khác đã hiện hữu hoặc sẽ hiện hữu trong tiến trình của tự
nhiên, nhằm làm bộc lộ đầy đủ hơn những thuộc tính riêng biệt ấy; thì tôi buộc
phải lưu ý quí vị rằng quí vị đã rời bỏ phương pháp lý luận gắn liền với chủ đề
hiện tại này, và chắc chắn đã thêm vào những thuộc tính của nguyên nhân một
điều gì đó vượt quá những gì xuất hiện trong hệ quả; bởi nếu không như vậy, quí
vị sẽ không bao giờ có thể, với một mức độ hợp lý hay thích đáng nào, thêm điều
gì vào hệ quả nhằm làm cho nó xứng đáng hơn với nguyên nhân.
E 11. 19, SBN
139-40
Vậy thì, đâu là điều đáng ghét trong học
thuyết mà tôi giảng dạy trong trường học của tôi—hay đúng hơn, trong học thuyết
mà tôi tự mình khảo sát trong khu vườn của tôi? Hoặc quý vị tìm thấy trong toàn
bộ vấn đề này điều gì liên quan, dù chỉ ở mức nhỏ nhất, đến sự an toàn của đạo
đức tốt đẹp, hay đến sự hòa bình và trật tự của xã hội? [10]
E 11. 20, SBN
140-1
Tôi, quý vị nói, phủ
nhận sự lo liệu của Gót và một đấng cai quản tối cao của thế giới, người điều
hướng diễn tiến của những sự kiện, trừng phạt kẻ xấu bằng sự ô nhục và thất bại,
và ban thưởng cho người có đức hạnh bằng danh dự và thành công trong mọi công
việc của họ.
Nhưng chắc chắn
rằng tôi không hề phủ nhận chính diễn tiến của những sự kiện, vốn luôn mở ra
cho mọi người khảo sát và kiểm chứng. Tôi nhìn nhận rằng, trong trật tự hiện
tại của sự vật, đức hạnh thường đi kèm với sự thanh thản trong não thức nhiều
hơn so với điều xấu, và cũng nhận được sự đón nhận thuận lợi hơn từ thế gian.
Tôi cũng nhận
thức rằng, theo kinh nghiệm đã qua của nhân loại, tình bạn là niềm vui lớn nhất
của đời sống con người, và sự điều độ là nguồn gốc duy nhất của sự an tĩnh và
hạnh phúc. Tôi chưa bao giờ đặt lên bàn cân giữa đời sống đức hạnh và đời sống
xấu xa; trái lại, tôi thấy rõ rằng với một não thức được điều chỉnh tốt, mọi
lợi ích đều nghiêng về phía đời sống đức hạnh.
Và quý vị còn có
thể nói gì thêm, dù tôi chấp nhận mọi giả định và lập luận của quý vị? Quý vị
nói với tôi rằng trật tự của sự vật này bắt nguồn từ trí tuệ và sự thiết kế.
Nhưng dù nó bắt
nguồn từ đâu, thì chính trật tự ấy — cái nền tảng mà trên đó hạnh phúc hay khổ
đau của chúng ta phụ thuộc, và do đó quyết định hành vi và cách ứng xử của
chúng ta trong đời sống — vẫn không thay đổi. Nó vẫn mở ra cho tôi, cũng như
cho quý vị, khả năng điều chỉnh hành vi dựa trên kinh nghiệm về những sự kiện
đã xảy ra.
Và nếu quý vị
khẳng định rằng, khi đã nhìn nhận sự lo liệu của Gót và một công lý phân phối
tối cao trong vũ trụ, thì tôi phải kỳ vọng một sự thưởng phạt đặc biệt dành cho
người thiện và kẻ ác, vượt ra ngoài diễn tiến thông thường của những sự kiện;
thì ở đây tôi nhận ra chính ngụy biện mà tôi đã nhiều lần cố gắng chỉ ra.
Quý vị vẫn khăng
khăng rằng, nếu tôi đã nhìn nhận sự hiện hữu của thần linh mà quý vị nhiệt
thành bào chữa, thì quý vị có thể an toàn suy ra thêm những hệ quả từ đó, và bổ
sung vào trật tự kinh nghiệm của tự nhiên bằng cách lập luận từ những thuộc
tính mà quý vị gán cho những thần linh của mình.
Quý vị dường như
quên rằng toàn bộ lập luận của quý vị trong vấn đề này chỉ có thể đi từ hệ quả
đến nguyên nhân; và rằng mọi lập luận đi từ nguyên nhân trở lại hệ quả đều tất
yếu là một ngụy biện nghiêm trọng, bởi vì quý vị không thể biết bất cứ điều gì
về nguyên nhân ngoài những gì quý vị đã quan sát đầy đủ và trực tiếp trong hệ
quả.
E 11. 21, SBN 141
Nhưng một triết
gia phải nghĩ gì về những kẻ lập luận hão huyền, những người thay vì xem cảnh
giới hiện tại của sự vật như đối tượng duy nhất của sự suy tư, lại đảo ngược
toàn bộ trật tự tự nhiên đến mức biến đời sống này chỉ còn là một sự chuyển
tiếp đến một điều gì đó xa hơn; một tiền sảnh dẫn vào một tòa nhà lớn hơn và
hoàn toàn khác; một lời mở đầu chỉ nhằm giới thiệu vở kịch và làm cho nó thêm
phần trang nhã và thích hợp?
Theo quý vị, những
triết gia như vậy có thể rút ra ý niệm về thần linh từ đâu? Chắc chắn là từ sự
tự phụ và tưởng tượng của chính họ. Vì nếu họ rút ra ý niệm ấy từ những hiện
tượng hiện tiền, thì nó sẽ không bao giờ chỉ về bất cứ điều gì xa hơn, mà phải
hoàn toàn tương xứng và giới hạn trong chính những hiện tượng đó.
Rằng thần linh có
thể được ban cho những thuộc tính mà chúng ta chưa từng thấy được biểu lộ; rằng
Ngài có thể được điều khiển bởi những nguyên tắc hành động mà chúng ta không
thể nhận ra trong kinh nghiệm — tất cả điều này đều có thể được nhìn nhận một
cách tự do. Nhưng đó vẫn chỉ là khả năng và giả thuyết.
Chúng ta không
bao giờ có lý do để suy ra bất kỳ thuộc tính nào hay bất kỳ nguyên tắc
hành động nào nơi Ngài, trừ khi chúng ta biết rằng chúng đã thực sự được biểu
lộ và vận hành trong những gì ta quan sát được.
E 11. 22, SBN
141-2
Có hiện hữu
bất kỳ dấu hiệu nào của một công lý phân phối trong thế giới này hay không?
Nếu quý vị trả
lời là có, tôi kết luận rằng, vì công lý đã tự biểu lộ ở đây, nên nó đã được
thỏa mãn.
Nếu quý vị trả
lời là không, tôi kết luận rằng quý vị không có bất kỳ lý do nào để gán cho
những thần linh một thứ công lý theo đúng nghĩa mà chúng ta hiểu.
Nếu quý vị giữ
một lập trường trung gian giữa khẳng định và phủ định, bằng cách nói rằng công
lý của những thần linh hiện tại chỉ được biểu lộ một phần, chứ không phải trong
toàn bộ phạm vi của nó; thì tôi trả lời rằng quý vị không có lý do nào để gán
cho nó bất kỳ phạm vi xác định nào, ngoại trừ đúng trong giới hạn mà quý vị
thấy nó đang được biểu lộ trong hiện tại.
E 11. 23, SBN 142
Như vậy, hỡi
những người Athens, tôi xin đưa cuộc tranh luận với những người đối lập của
mình về một kết luận ngắn gọn. Trật tự của tự nhiên mở ra trước sự chiêm nghiệm
của tôi cũng như của họ.
Chuỗi những sự
kiện đã được kinh nghiệm chính là chuẩn mực lớn lao mà tất cả chúng ta dùng để
điều chỉnh hành vi của mình. Không có điều gì khác có thể được viện dẫn trong
đời sống thực hành hay trong nghị trường. Cũng không có điều gì khác đáng được
lắng nghe trong trường học hay trong nơi suy tư riêng tư.
Thật vô ích khi
trí tuệ giới hạn của chúng ta tìm cách vượt qua những ranh giới ấy — những ranh
giới vốn quá chật hẹp với trí tưởng tượng thiên lệch của con người.
Trong khi chúng
ta lập luận từ trật tự của tự nhiên và suy ra một nguyên nhân thông minh đặc
biệt đã thiết lập và duy trì trật tự ấy trong vũ trụ, thì chúng ta đang chấp
nhận một nguyên lý vừa không chắc chắn vừa vô ích.
Nó là không chắc
chắn, bởi vì đối tượng ấy hoàn toàn nằm ngoài phạm vi kinh nghiệm của con người.
Nó là vô ích, bởi vì hiểu biết của chúng ta về nguyên nhân này hoàn toàn được
rút ra từ trật tự của tự nhiên; do đó, theo những quy tắc của lập luận đúng đắn,
chúng ta không bao giờ có thể quay ngược trở lại từ nguyên nhân ấy để suy ra
bất kỳ kết luận mới nào (any new inference), hay thêm vào trật tự chung đã được
kinh nghiệm những yếu tố mới, hay thiết lập những nguyên tắc mới cho hành vi và
cách ứng xử.
E 11. 24, SBN
142-3
Tôi quan sát thấy
(tôi nói, khi thấy ông đã kết thúc bài hùng biện của ông) rằng ông không bỏ qua
mưu mẹo của những kẻ mị dân thời xưa; và vì ông đã muốn tôi đứng về phía dân
chúng, ông khéo léo tìm cách chiếm thiện cảm của tôi bằng việc ôm lấy những
nguyên lý mà ông biết tôi luôn có sự gắn bó đặc biệt.
Nhưng nếu cho
phép ông lấy kinh nghiệm làm tiêu chuẩn duy nhất (như thực sự tôi nghĩ ông nên
làm) cho mọi phán đoán liên quan đến vấn đề này cũng như mọi vấn đề về sự kiện,
thì tôi không nghi ngờ rằng, từ chính cùng một kinh nghiệm mà ông viện dẫn, chúng
ta vẫn có thể bác bỏ lập luận mà ông đã đặt vào miệng Epicurus.
Chẳng hạn, nếu
quý vị nhìn thấy một công trình xây dựng còn dang dở, xung quanh là những đống
gạch, đá, vữa và những dụng cụ xây dựng, thì quý vị có thể từ hiệu quả ấy mà
suy ra rằng đó là một công trình có thiết kế và tính toán chứ?
Và quý vị có thể,
từ nguyên nhân đã suy ra ấy, quay ngược lại để suy ra thêm những phần mới của
công trình, và kết luận rằng tòa nhà sẽ sớm được hoàn thiện, đồng thời sẽ nhận
được mọi cải tiến tiếp theo mà nghệ thuật có thể mang lại chứ?
Nếu quý vị nhìn
thấy trên bờ biển dấu chân của một con người, quý vị sẽ kết luận rằng có một
người đã đi qua đó, và rằng người ấy cũng đã để lại dấu chân còn lại, mặc dù
chúng đã bị xóa nhòa bởi sóng cát hoặc nước biển cuốn trôi.
Vậy tại sao quý
vị lại từ chối chấp nhận cùng một phương pháp lập luận với trật tự của tự
nhiên? Hãy xem thế giới và đời sống hiện tại chỉ như một công trình chưa hoàn
chỉnh, từ đó quý vị có thể suy ra một trí tuệ siêu việt; và khi lập luận từ trí
tuệ siêu việt ấy — vốn không thể để lại điều gì không hoàn chỉnh — tại sao quý
vị lại không thể suy ra một kế hoạch hay cấu trúc hoàn thiện hơn, sẽ được hoàn
tất ở một điểm xa xôi nào đó trong không gian hoặc thời gian?
Chẳng phải những
phương pháp lập luận này hoàn toàn tương tự nhau sao? Và dựa vào cớ gì mà quý
vị có thể chấp nhận phương pháp này, trong khi lại bác bỏ phương pháp kia?
E 11. 25, SBN
143-4
Khoảng cách vô
cùng lớn giữa những đối tượng, “ ông đáp, “là một nền tảng đầy đủ cho sự khác
biệt trong những kết luận của tôi.
Trong những công
trình do con người tạo tác và thiết kế, chúng ta được phép đi từ hệ quả đến
nguyên nhân, rồi từ nguyên nhân quay trở lại để hình thành những suy diễn mới
về hệ quả, cũng như để xét xem những biến đổi mà nó có thể đã trải qua hoặc còn
có thể trải qua.
Nhưng đâu là nền
tảng của phương pháp lập luận này? Rõ ràng là thế này: con người là một thực
thể mà chúng ta biết nhờ kinh nghiệm; chúng ta quen thuộc với động cơ và dự
định của họ; và những kế hoạch cũng như xu hướng của họ có một sự liên kết và
mạch lạc nhất định, theo những quy luật mà tự nhiên đã thiết lập để điều khiển
một loài như vậy.
Vì thế, khi chúng
ta thấy một công trình xuất phát từ kỹ năng và lao động của con người, do đã
quen thuộc với bản chất của loài sinh vật này, chúng ta có thể rút ra hàng trăm
suy diễn về những gì có thể mong đợi nơi họ; và tất cả những suy diễn đó đều
dựa trên kinh nghiệm và quan sát.
Nhưng nếu chúng
ta chỉ biết đến con người qua một công trình hoặc sản phẩm duy nhất mà ta đang
khảo sát, thì không thể lập luận theo cách đó; bởi vì trong trường hợp ấy, mọi
hiểu biết về những đặc tính mà ta gán cho họ đều bắt nguồn từ chính sản phẩm ấy,
nên không thể dẫn tới điều gì xa hơn, cũng không thể làm nền tảng cho bất kỳ
suy diễn mới nào.
Dấu chân trên cát,
xét riêng lẻ, chỉ có thể chứng minh rằng có một hình dạng nào đó tương ứng với
nó đã tạo ra nó. Nhưng dấu chân con người còn chứng minh thêm rằng (dựa trên
những kinh nghiệm khác của ta) có thể đã có một bàn chân khác cũng để lại dấu
vết, dù đã bị thời gian hoặc những tác động khác xóa nhòa. [11]
Ở đây, ta đi từ
hệ quả lên nguyên nhân, rồi từ nguyên nhân quay lại suy ra những biến đổi trong
hệ quả; nhưng đây không phải là sự kéo dài đơn thuần của một chuỗi lập luận duy
nhất. Trong trường hợp này, chúng ta đã bao hàm hàng trăm kinh nghiệm và quan
sát khác về hình dạng và những bộ phận thông thường của loài sinh vật ấy; nếu
không có những điều đó, phương pháp lập luận này sẽ bị coi là sai lầm và ngụy
biện. .
E 11. 26, SBN
144-5
Trường hợp này
không giống với những lập luận của chúng ta khi suy xét những công trình của tự
nhiên. Thực thể thần linh chỉ được chúng ta biết đến qua những tạo phẩm của
ngài; ngài là một hữu thể đơn nhất trong vũ trụ, không thuộc về bất kỳ loài hay
giống nào, để từ những đặc tính hay phẩm chất đã được kinh nghiệm trong một
loài nào đó mà chúng ta có thể suy diễn tương tự về những phẩm chất của ngài.
Vì vũ trụ cho
thấy trí tuệ và sự tốt lành, nên chúng ta suy ra trí tuệ và sự tốt lành. Và vì
nó cho thấy một mức độ nhất định của những hoàn thiện ấy, nên chúng ta chỉ có
thể suy ra đúng mức độ tương ứng, hoàn toàn phù hợp với hệ quả mà chúng ta quan
sát.
Nhưng chúng ta
không bao giờ có quyền suy ra hay giả định những thuộc tính xa hơn, hay những
mức độ cao hơn của cùng những thuộc tính ấy, theo bất kỳ quy tắc lập luận đúng
đắn nào.
Vì nếu không có
sự giả định tùy tiện như thế, chúng ta không thể lập luận từ nguyên nhân để suy
ra bất kỳ thay đổi nào trong hệ quả vượt ra ngoài những gì đã trực tiếp quan
sát được. Nếu hữu thể này tạo ra điều tốt lớn hơn, thì điều đó chỉ chứng minh
một mức độ tốt lớn hơn; nếu có sự phân phối phần thưởng và hình phạt công bằng
hơn, thì điều đó chỉ xuất phát từ một mức độ công lý và công bằng lớn hơn.
Mọi sự thêm thắt
vào những công trình của tự nhiên đều kéo theo việc thêm thắt vào những thuộc
tính của Tác giả tự nhiên; và do đó, vì hoàn toàn không được chứng minh bằng lý
trí hay lập luận nào, chúng chỉ có thể được chấp nhận như những phỏng đoán và
giả thuyết thuần túy. [31].
E 11. 27, SBN
145-7
Nguồn gốc lớn
nhất của sai lầm trong vấn đề này, cũng như của sự phóng túng vô hạn trong
phỏng đoán mà chúng ta thường mắc phải, nằm ở chỗ: chúng ta một cách ngầm định
tự đặt mình vào vị trí của Hữu thể Tối cao, rồi kết luận rằng ngài trong mọi
trường hợp sẽ tuân theo cùng một cách hành xử mà chính chúng ta, nếu ở vị trí
của ngài, sẽ cho là hợp lý và nên theo.
Nhưng ngoài việc
trật tự thông thường của tự nhiên có thể khiến chúng ta nhận ra rằng hầu như
mọi sự đều được điều khiển bởi những nguyên lý và quy tắc rất khác với của
chúng ta; ngoài điều đó ra, rõ ràng là hoàn toàn trái với mọi quy tắc loại suy
khi suy luận từ ý định và dự định của con người sang ý định và dự định của một
Hữu thể hoàn toàn khác biệt và vượt trội đến mức như vậy.
Trong bản tính
con người, hiện hữu một sự liên kết kinh nghiệm nhất định giữa những dự định và
xu hướng; do đó, khi từ một sự kiện nào đó chúng ta đã tìm ra một ý định của
một người, thì thường có thể hợp lý, dựa trên kinh nghiệm, để suy ra một ý định
khác, và hình thành một chuỗi dài kết luận về hành vi quá khứ hoặc tương lai
của người ấy.
Nhưng phương pháp
lập luận này không bao giờ có thể áp dụng với một Hữu thể xa vời và không thể
thấu hiểu như vậy, vốn ít giống với bất kỳ hữu thể nào khác trong vũ trụ hơn cả
mặt trời so với một cây nến sáp; và chỉ tự bộc lộ qua vài dấu vết mờ nhạt hay
phác họa sơ lược, vượt ra ngoài đó chúng ta không có quyền gán cho ngài bất kỳ
thuộc tính hay sự hoàn thiện nào.
Những gì chúng ta
tưởng là một sự hoàn thiện cao hơn, thực ra có thể chỉ là một khiếm khuyết. Và
dù có thật sự là một sự hoàn thiện đi nữa, thì việc gán nó cho Hữu thể Tối cao
trong khi nó không được thực sự thể hiện đầy đủ trong những công trình của ngài,
thì cũng mang nhiều màu sắc của sự tâng bốc và ca tụng hơn là của lập luận đúng
đắn và triết học vững chắc.
Vì vậy, toàn bộ
triết học trên đời, cũng như toàn bộ tôn giáo — vốn chỉ là một dạng của triết
học — sẽ không bao giờ có thể đưa chúng ta vượt ra ngoài trật tự kinh nghiệm
thông thường, hay cung cấp cho chúng ta những chuẩn mực hành vi khác với những
gì được rút ra từ suy tư về đời sống thường nhật.
Không thể suy ra
bất kỳ sự kiện mới nào từ giả thuyết tôn giáo; không thể tiên đoán hay báo
trước bất kỳ biến cố nào; cũng không thể mong đợi hay lo sợ phần thưởng hay
trừng phạt nào vượt ra ngoài những gì đã được biết nhờ thực hành và quan sát.
Do đó, lời biện
hộ của tôi dành cho Epicurus vẫn sẽ là vững chắc và thỏa đáng; và những lợi ích
chính trị của xã hội không hề có liên hệ gì với những tranh chấp triết học về
siêu hình học và tôn giáo.
E 11. 28, SBN 147
Vẫn còn một điểm
nữa, “ tôi đáp, “mà ông dường như đã bỏ qua. Dù tôi có chấp nhận những tiền đề
của ông, tôi vẫn phải bác bỏ kết luận của ông.
Ông kết luận rằng
những học thuyết tôn giáo và những lập luận về chúng không thể có ảnh hưởng nào
đến đời sống, bởi vì chúng không nên có ảnh hưởng nào; ông hoàn toàn
không xét đến việc con người không lập luận theo cùng cách như ông, mà họ lại
rút ra nhiều hệ quả từ tin tưởng vào một Hữu thể Thần linh, và cho rằng Thần
linh sẽ giáng trừng phạt với điều xấu và ban thưởng cho điều thiện, vượt ra
ngoài những gì xuất hiện trong trật tự thông thường của tự nhiên.
Việc lập luận ấy
của họ đúng hay sai không phải vấn đề. Ảnh hưởng của nó với đời sống và hành vi
của họ vẫn sẽ giống như vậy.
Và những người
tìm cách giải trừ họ khỏi những định kiến như thế, theo chỗ tôi biết, có thể là
những người lập luận giỏi; nhưng tôi không thể coi họ là những công dân hay nhà
chính trị tốt, vì họ giải phóng con người khỏi một ràng buộc với đam mê của họ,
và làm cho việc vi phạm luật lệ xã hội, trong một phương diện nào đó, trở nên
dễ dàng và an toàn hơn
E 11. 20, SBN 147
Sau cùng, tôi có
lẽ có thể đồng ý với kết luận chung của ông về tự do, dù dựa trên những tiền đề
khác với những tiền đề mà ông tìm cách thiết lập.
Tôi cho rằng nhà
nước nên khoan dung với mọi nguyên lý triết học; và cũng chưa từng có trường
hợp nào cho thấy bất kỳ chính quyền nào bị tổn hại về lợi ích chính trị bởi sự
khoan dung như thế.
Những triết gia
không hề có sự cuồng tín; học thuyết của họ cũng không mấy hấp dẫn với quần
chúng; và không thể áp đặt bất kỳ sự kiềm chế nào lên lập luận của họ vốn không
gây ra những hậu quả nguy hiểm cho khoa học, và thậm chí cho cả nhà nước, vì
điều đó sẽ mở đường cho sự đàn áp và bức hại trong những vấn đề mà đại đa số
nhân loại quan tâm và lo ngại sâu xa hơn.
E 11. 30, SBN
147-8
Nhưng có một khó
khăn nảy ra trong tôi (tôi tiếp tục), liên quan đến chủ đề chính của ông, mà
tôi chỉ xin nêu ra với ông, chứ không nhấn mạnh, kẻo nó dẫn chúng ta vào những
suy luận quá tinh vi và tế nhị.
Tóm lại, tôi rất
nghi ngờ liệu có thể có một nguyên nhân chỉ được biết qua hệ quả của nó (như
ông vẫn luôn giả định), hoặc là một nguyên nhân có tính đơn nhất và đặc thù đến
mức không có bất kỳ tương đồng hay song song nào với bất kỳ nguyên nhân hay đối
tượng nào khác từng nằm trong kinh nghiệm của chúng ta hay không.
Chỉ khi nào hai loại
đối tượng được thấy luôn luôn đi kèm với nhau, thì chúng ta mới có thể suy ra
cái này từ cái kia; và nếu một hệ quả hoàn toàn đơn lẻ được trình bày, không
thể xếp vào bất kỳ loại nào đã biết, thì tôi không thấy chúng ta có thể hình
thành bất kỳ phỏng đoán hay suy luận nào về nguyên nhân của nó.
Nếu kinh nghiệm, quan
sát và phép loại suy thực sự là những hướng dẫn duy nhất mà chúng ta có thể hợp
lý theo đuổi trong loại suy luận này, thì cả hệ quả lẫn nguyên nhân đều phải có
sự tương đồng với những hệ quả và nguyên nhân khác mà chúng ta đã biết, và đã
thấy trong nhiều trường hợp luôn đi kèm với nhau.
Tôi để ông tự suy
xét để tiếp tục triển khai hệ quả của nguyên lý này. Tôi chỉ xin lưu ý rằng, khi
những đối thủ của Epicurus luôn giả định vũ trụ — một hệ quả hoàn toàn đơn nhất
và không có tiền lệ — là bằng chứng cho một Thần linh, tức một nguyên nhân cũng
không kém phần đơn nhất và không có tương đồng, thì lập luận của những ông, trên
giả định đó, ít nhất cũng đáng để chúng ta chú ý.
Tôi nhìn nhận
rằng có một khó khăn ở chỗ: làm sao chúng ta có thể quay trở lại từ nguyên nhân
để đến hệ quả, và từ những ý niệm về nguyên nhân ấy mà suy ra bất kỳ sự thay
đổi hay bổ sung nào cho hệ quả. [12]
-----------------------------------
NHỮNG GHI CHÚ (NOTES)
E 11. 2n28,
SBN 132
E 11. 2n29,
SBN 132
E 11. 2n30,
SBN 133
E 11. 26n31,
SBN 145
E 11. 26n31.
1, SBN 145 (Ghi chú M)
Nói chung, tôi
cho rằng có thể thiết lập một châm ngôn như sau: khi một nguyên nhân chỉ được
biết đến qua những hệ quả riêng biệt của nó, thì không thể suy ra bất kỳ hệ quả
mới nào từ nguyên nhân ấy.
Bởi vì những phẩm
chất cần thiết để tạo ra những hệ quả mới đó, bên cạnh những hệ quả đã biết, tất
yếu phải hoặc là khác biệt, hoặc cao hơn, hoặc có phạm vi hoạt động rộng hơn so
với những phẩm chất vốn chỉ đủ để tạo ra hệ quả ban đầu — thứ duy nhất từ đó
chúng ta suy ra nguyên nhân.
Do đó, chúng ta
không có bất kỳ lý do nào để giả định sự hiện hữu của những phẩm chất như vậy.
Nếu có người nói
rằng những hệ quả mới chỉ phát sinh từ sự tiếp tục của cùng một năng lực vốn đã
được nhận biết qua những hệ quả đầu tiên, thì điều đó cũng không giải quyết
được khó khăn.
Bởi ngay cả khi nhìn
nhận điều đó (điều hiếm khi có thể giả định), thì chính sự tiếp nối và vận hành
của một năng lực tương tự — vì nó không thể hoàn toàn là cùng một năng lực
trong mọi phương diện — vẫn là một giả định tùy tiện, và không thể tìm thấy bất
kỳ dấu vết nào của nó trong những hệ quả, vốn là nguồn duy nhất cung cấp cho ta
toàn bộ tri thức về nguyên nhân.
Hãy để nguyên
nhân được suy ra một cách hoàn toàn tương xứng với hệ quả đã biết (như lẽ ra
phải thế); khi đó, nguyên nhân ấy không thể sở hữu bất kỳ phẩm chất nào mà từ
đó ta có thể suy ra những hệ quả mới hay khác biệt. [13]
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Đây là câu hỏi –
đặt vấn đề của chương này – Liệu có một Đấng Tối cao – hiểu như Gót Kitô – nào đó đang trông nom, sắp đặt riêng cho thế giới
này (như tin tưởng của những tôn giáo Abraham không, và liệu có một đời sống sau cái chết hay không?
(a) Một Sự Lo
Liệu Cá Biệt (A Particular Providence): (a) Providence: Gốc từ “provide”, nghĩa đen là nhìn trước
và chuẩn bị. Trong tôn giáo, đây là sự chăm sóc, tiên liệu và can thiệp của
Thần thánh vào thế giới. (b) Particular:
Nghĩa là cụ thể, riêng biệt. “Particular Providence” ám chỉ việc thần thánh
trực tiếp can thiệp vào từng sự việc cụ thể trong đời sống (như ban phước cho
người tốt, giáng họa cho kẻ xấu ngay tại đời này), thay vì chỉ thiết lập những
quy luật chung rồi để mặc vũ trụ vận hành. (c) dùng “Lo liệu”: Để tránh
từ “quan phòng” vốn đặc biệt dùng trong đạo Kitô , từ “Lo liệu” giữ đúng nghĩa
đen là việc sắp đặt, trông nom và chuẩn bị cho vạn vật.
(b) Một Cõi
Sống sau cái chết (A Future State): Trong nội dung của Hume, đây là cách nói trung lập để chỉ Thiên đường hay Hỏa ngục, trong đạo Kitô Ông dùng từ “State” (trạng thái/cõi) để
người đọc tự hiểu về một sự hiện hữu của linh hồn sau khi thể xác qua đời. Bên
cạnh quan niệm của Kitô giáo, khái niệm A
Future State (Một trạng thái tương lai/Một kiếp sống tương lai) cũng xuất
hiện trong nhiều văn hóa và tôn giáo khác dưới những tên gọi và hình thức và
nội dung khác nhau, cũng nói thêm ở đây, dù không phải là ý của Hume (ông chỉ
nói về đạo Ki tô vốn ông không tin theo)
1. Thần thoại Hy Lạp: Elysium (Elysée)Elysium (hay Cánh đồng Elysian) là nơi
dành cho những anh hùng và những người đức hạnh sau khi chết Khác với địa ngục
Tartarus đầy khổ hình, Elysium là một cõi thanh bình, hạnh phúc vĩnh cửu. Hume
nhắc đến bối cảnh Athens cổ đại chính là để gợi nhớ về thời kỳ mà những triết
gia có thể bàn luận về Elysium hay những vị thần trên đỉnh Olympus vốn không sợ
bị những đạo luật hình sự khắt khe kìm kẹp.
2. Bắc Âu: Valhalla Trong thần thoại của người Norse (Bắc Âu), những
chiến binh tử trận một cách dũng cảm trên chiến trường sẽ được đưa tới Valhalla. Đây là một “trạng thái tương
lai” nơi họ được yến tiệc và chuẩn bị cho trận chiến cuối cùng (Ragnarök).
3. Đạo Hindu: Luân hồi (Samsara) Ở những tôn giáo phương Đông, “Future
State” không nhất thiết là một địa điểm cố định vĩnh viễn: Luân hồi: Một kiếp sống tiếp theo trong sáu nẻo (trời, người,
thần, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục) dựa trên nghiệp (karma). Đạo Phật Amida's Land (Tây Phương Cực Lạc / Cõi
của Phật A Di Đà) chính là một ví dụ điển hình cho “Một trạng thái tương lai” (A Future State) mà người tu hành hướng
tới. Trong tiếng Việt, cõi này thường được gọi là Cõi Cực Lạc (Sukhavati).
4. những bộ lạc cổ xưa: Cõi săn bắn vĩnh hằng
(Happy Hunting Grounds) Nhiều
thổ dân bản địa Bắc Mỹ tin vào một kiếp sau nơi linh hồn tiếp tục những hoạt
động như khi còn sống nhưng trong một môi trường lý tưởng, không có đói khát
hay bệnh tật.
“sceptical paradoxes” (những nghịch lý
hoài nghi) đề cập đến những lập luận đi ngược lại quan niệm thông thường, nhằm
cho thấy sự giới hạn hoặc mâu thuẫn trong lý trí con người. Hume muốn nói tới
hai tầng hoài nghi chính trong bối cảnh này:
1. Hoài nghi về Tôn giáo và Sự quan phòng
(Scepticism about Religion)
Đây là trọng tâm
của Phần XI. Hume mượn lời “người bạn” (đóng vai Epicurus) để đưa ra những lập luận hoài nghi về: (a) Lập luận từ thiết kế (Argument from Design):
Phủ nhận việc ta có thể suy diễn ra một Đấng sáng tạo hoàn hảo chỉ dựa trên một
thế giới không hoàn hảo. (b) Sự công bằng
của thần thánh: Hoài nghi việc có một “trạng thái tương lai” (thiên
đường/địa ngục) để thưởng phạt, vì kinh nghiệm thực tế không cho thấy dấu vết
rõ ràng của một công lý tuyệt đối như vậy trong trật tự tự nhiên.
2. Hoài
nghi Học thuật / Ôn hòa (Academic or Mitigated Scepticism)
Hume không ủng hộ sự hoài nghi cực đoan (Pyrrhonism) — kiểu hoài nghi phủ nhận
mọi tin tưởng cho đến khi cuộc sống trở nên không thể vận hành. Thay vào đó,
ông hướng tới: (a) Giới hạn của lý trí: Nhấn mạnh rằng lý trí không thể chứng minh được những điều vượt ngoài
kinh nghiệm (như bản chất của thần thánh). (b) Sự khiêm
tốn trong tri thức: Khuyên chúng ta chỉ nên tập trung vào những đối tượng
của đời sống thường nhật (common life) thay vì những suy diễn siêu hình xa xôi.
[2] “Nghịch lý hoài nghi” (sceptical paradoxes) trong tư tưởng của Hume là
những lập luận đảo ngược quan niệm thông thường nhằm bóc trân giới hạn và mâu
thuẫn nội tại của lý trí. Trong bối cảnh này, Hume tập trung vào hai tầng mức
hoài nghi chủ đạo:
Thứ nhất là sự
hoài nghi về tôn giáo và sự quan phòng. Đây là tâm điểm của Phần XI, nơi Hume
mượn vai Epicurus để chất vấn “Lập luận từ thiết kế” (Argument from Design). Ông
cho rằng ta không thể suy diễn về một Đấng sáng tạo hoàn hảo khi căn cứ trên
một thế giới đầy khiếm khuyết. Đồng thời, ông hoài nghi về sự hiện hữu của một
trật tự thưởng phạt ở “trạng thái tương lai” (thiên đường hay địa ngục), bởi
kinh nghiệm thực tế không cho thấy bất kỳ dấu vết rõ ràng nào của một công lý
tuyệt đối trong trật tự tự nhiên.
Thứ hai là sự
hoài nghi học thuật hay hoài nghi ôn hòa (Mitigated Scepticism). Khác với sự
hoài nghi cực đoan (Pyrrhonism) vốn làm tê liệt mọi khả năng hành động, Hume
hướng tới việc xác lập những giới hạn cho lý trí. Ông nhấn mạnh rằng lý trí
không thể minh định được những thực thể vượt ngoài kinh nghiệm như bản chất
thần thánh. Từ đó, ông cổ xúy cho một sự khiêm tốn tri thức: khuyên chúng ta
nên từ bỏ những suy diễn siêu hình xa xôi để tập trung vào những đối tượng thực
tiễn của đời sống thường nhật (common life).
Hume mượn vai Epicurus để trình bày những nghịch
lý về nhân quả: ông lập luận rằng lý trí không thể suy diễn về một “Nguyên nhân”
(Thần thánh) ưu việt hơn những gì được thể hiện qua “Kết quả” (Thế giới hữu
hình). Bằng cách này, Hume khéo léo dùng logic để tách biệt siêu hình học khỏi
đức tin, vừa bảo vệ bản thân trước sự đàn áp, vừa khẳng định lập trường hoài
nghi giảm nhẹ của một triết gia độc lập, không lệ thuộc vào những hệ thống giáo
điều.
[3] “sacerdotal character”: Dịch sát là “phẩm cách/ vai trò tư tế “ để người
đọc thấy rõ sự mâu thuẫn: một người hoài nghi thần thánh vẫn được làm thầy tư
tế.
(a) Protagoras là
một triết gia Hy Lạp cổ đại theo trường phái ngụy biện, nổi tiếng với quan điểm
tương đối luận (“con người là thước đo của vạn vật”). Ông bị người Athens trục
xuất vì bị nghi ngờ có tư tưởng xúc phạm thần linh, trở thành một trong số ít
trường hợp cổ đại cho thấy việc thành bang từng can thiệp và trừng phạt tư
tưởng triết học. (b) Socrates là triết gia Hy Lạp quan trọng, bị kết án tử hình
tại Athens năm 399 TCN với cáo buộc làm hư hỏng thanh niên và không tôn kính
thần linh của thành phố. Ông bị buộc uống độc dược. Tuy nhiên, cái chết của ông
không chỉ xuất phát từ lý do triết học mà còn gắn với những yếu tố chính trị và
xã hội phức tạp trong bối cảnh Athens thời hậu chiến. (c) Epicurus là một triết
gia Hy Lạp cổ đại, sáng lập trường phái Epicurean, chủ trương hạnh phúc đạt
được qua sự thanh thản tinh thần và đời sống tiết độ, đồng thời cho rằng những
thần linh (nếu có) không can thiệp vào đời sống con người. Dù quan điểm của ông
từng bị xem là gây nghi ngờ tôn giáo, Epicurus vẫn được để yên và giảng dạy
công khai tại Athens, không bị đàn áp như một số triết gia khác.
[4] Vị hoàng đế khôn ngoan nhất của La Mã mà
Hume nhắc đến là Marcus Aurelius (trị vì 161–180 SCN), vị vua thứ 16 của Đế
quốc La Mã và là người cuối cùng trong nhóm “Năm vị vua hiền đức”. Ông còn là
một triết gia Stoics lỗi lạc, tác giả cuốn Suy tưởng. Vào năm 176 SCN,
khi ghé thăm Athens sau cuộc viễn chinh phương Đông, ông đã lập ra bốn tòa
giảng cho những phái triết học lớn nhất thời bấy giờ gồm: Stoics, Plato,
Aristotle và Epicurus. Đáng chú ý, dù bản thân theo phái Stoics, ông vẫn dùng
công quỹ từ kho bạc nhà nước để trả mức lương rất cao (khoảng 10. 000 đồng
drachmae mỗi năm) cho những người đứng đầu mỗi phái, bao gồm cả phái Epicurus
vốn có quan điểm đối lập hoàn toàn về thần thánh. Hành động này cho thấy lòng
bao dung hiếm có của một người nắm quyền lực tối cao dành cho sự tự do tư tưởng
[5] hạt đậu trắng và đen vì đây là cách người Athens cổ đại bỏ
phiếu (trắng là đồng ý/vô tội, đen là bác bỏ/có tội).
[6] Trong lập luận của David Hume, phương
sách cốt lõi là “đồng thuận tiền đề để giới hạn kết luận”. Ông tạm thời chấp
nhận toàn bộ nền tảng kinh nghiệm mà đối phương dựa vào (trật tự tự nhiên, suy
luận nhân quả từ hiệu quả đến nguyên nhân), rồi chỉ ra rằng chính những tiền đề
này tự thiết lập một giới hạn nhận thức luận không thể vượt qua. Từ đó, Hume
đảo chiều lập luận: nếu nguồn gốc duy nhất của suy luận là tự nhiên, thì mọi
kết luận hợp lệ cũng phải bị giới hạn trong phạm vi những gì tự nhiên có thể
cung cấp, không thể vươn sang những khẳng định siêu hình vượt kinh nghiệm.
[7] Trong lập luận của David Hume, mục tiêu
phê phán chính là lập luận thiết kế (Argument from Design) — tức suy luận từ
trật tự và tính thích hợp của thế giới tự nhiên để kết luận về sự hiện hữu của
một trí tuệ thiết kế siêu việt. Hume không phủ nhận dữ kiện quan sát (order,
regularity, apparent teleology), mà tập trung vào tính hợp thức của bước chuyển
suy luận từ hiện tượng sang nguyên nhân siêu hình. Theo ông, lập luận này dựa
trên một phép ngoại suy nhân quả vượt khỏi phạm vi kinh nghiệm khả hữu: từ
những “hiệu quả” trong tự nhiên, ta chỉ có thể suy ra những “nguyên nhân” tương
ứng trong giới hạn những kinh nghiệm tương tự, chứ không có cơ sở để quy chiếu
đến một trí tuệ thiết kế mang tính tuyệt đối hay vượt kinh nghiệm. Do đó, vấn
đề không nằm ở việc có hay không trật tự trong thế giới, mà ở chỗ liệu trật tự
đó có cho phép một suy luận hợp lệ sang một nguyên nhân siêu hình mang tính gót
học hay không. Hume vì thế chuyển trọng tâm từ nội dung tin tưởng tôn giáo sang
giới hạn nhận thức luận của suy luận nhân quả, qua đó làm suy yếu tính tất yếu
của kết luận gót học từ chính tiền đề kinh nghiệm mà đối phương dùng.
[8] Trong đoạn này, cụm “priests and poets”
không nhằm chỉ hai nghề nghiệp theo nghĩa hiện đại, mà là hai nguồn sản xuất và
duy trì nói viết tôn giáo–vũ trụ học trong thế giới Hy Lạp cổ. “Poets” trước
hết gợi đến truyền thống thi ca thần thoại, tiêu biểu là Homer, người đã hệ
thống hóa hình ảnh những thần linh và những thời đại vũ trụ qua hình thức tự sự
thi ca. “Priests” chỉ giới tư tế và những thiết chế nghi lễ trong những đền thờ
Hy Lạp, nơi diễn giải và trung gian hóa ý chí thần linh trong đời sống cộng đồng.
Trong bối cảnh này, Delphi** (với Oracle of
Apollo) có thể được xem là một ví dụ điển hình của quyền lực tư tế, nơi lời sấm
và nghi lễ được hiểu như sự phát ngôn của thần linh. Tuy nhiên, Hume không giới
hạn khái niệm “priests” vào một trung tâm như Delphi, mà mở rộng nó thành toàn
bộ cơ chế truyền thống tôn giáo dựa trên thẩm quyền và nghi lễ.
Điểm quan trọng trong lập luận của Hume là việc
đặt “priests and poets” đối lập với những triết gia: trong khi hai nhóm đầu vận
hành dựa trên truyền thống và tưởng tượng tập thể, những triết gia tự nhận dựa
trên lý trí thuần túy. Tuy nhiên, Hume cho thấy rằng ngay cả triết học cũng có
thể bị chi phối bởi tưởng tượng khi vượt quá kinh nghiệm, qua đó làm mờ ranh
giới giữa nói viết tôn giáo và suy luận siêu hình.
[9] rong cách phân tích của David Hume**, cấu
trúc những nói viết về thần linh và thế giới có thể được hiểu như một tiến
trình gồm bốn tầng, trong đó mỗi tầng không thay thế hoàn toàn tầng trước, mà
chồng lên nhau và biến đổi cách con người hình dung về nguyên nhân tối hậu của
thế giới.
Tầng đầu tiên là Myth (huyền thoại), gắn
với truyền thống thi ca thần thoại Hy Lạp, tiêu biểu qua Homer**. Ở đây, thế
giới được hiểu như một câu chuyện do trí tưởng tượng kiến tạo: những thần linh,
những thời đại vàng – bạc – suy thoái, và toàn bộ trật tự vũ trụ được trình bày
dưới dạng tự sự mang tính hình tượng. Đây là tầng mà kinh nghiệm trực tiếp bị
thay thế bằng hình ảnh biểu tượng.
Tầng thứ hai là Ritual (nghi lễ), tương ứng
với giới tư tế trong tôn giáo Hy Lạp cổ, với những trung tâm như Delphi**. Nếu
tầng huyền thoại tạo ra nội dung tưởng tượng, thì tầng nghi lễ biến những nội
dung đó thành thực hành xã hội có tính quyền lực: hiến tế, sấm truyền, và những
hình thức trung gian hóa ý chí thần linh. Ở đây, tin tưởng không chỉ được kể
lại mà được duy trì và củng cố qua thiết chế.
Tầng thứ ba là Reason (lý trí), tức triết
học. những triết gia tự cho rằng họ vượt lên trên huyền thoại và nghi lễ bằng
cách suy luận từ kinh nghiệm đến nguyên nhân, đặc biệt qua lập luận từ trật tự
tự nhiên để suy ra một trí tuệ thiết kế. Tuy nhiên, theo Hume, tầng này vẫn
mang dấu vết của tầng tưởng tượng, vì nó mở rộng vượt quá dữ liệu quan sát và
gán cho nguyên nhân những thuộc tính không được kinh nghiệm xác nhận.
Tầng thứ tư là Experience (kinh nghiệm), và
đây chính là điểm điều chỉnh của Hume. Ông nhấn mạnh rằng mọi suy luận hợp lệ
đều phải quay về giới hạn của những gì được quan sát. Kinh nghiệm không chỉ là
nền tảng của tri thức, nhưng còn là giới hạn của mọi diễn giải hợp lý. Khi vượt
ra ngoài kinh nghiệm, cả huyền thoại, nghi lễ lẫn siêu hình học đều bắt đầu vận
hành bằng suy đoán.
Như vậy, trong cấu trúc bốn tầng này, Hume không
đơn giản phủ nhận tôn giáo hay triết học, mà chỉ ra một trật tự nhận thức: từ
huyền thoại (tưởng tượng), đến nghi lễ (thiết chế hóa), đến lý trí (suy luận),
và cuối cùng là kinh nghiệm (giới hạn). Điểm then chốt của ông là mọi tầng phía
trên đều phải chịu sự kiểm soát của tầng kinh nghiệm, nếu không sẽ rơi vào mở
rộng tùy tiện của tưởng tượng dưới hình thức triết học.
[10] Trong đoạn này, sự đối lập giữa “school”
và “gardens” không nên hiểu theo nghĩa địa điểm vật lý đơn thuần, mà như một ẩn
dụ mang chức năng phương pháp luận về hai cách hiện hữu khác nhau của triết
học: triết học như một hệ thống được công khai hóa và triết học như một hoạt
động khảo sát mang tính cá nhân.
“School” chỉ không gian giảng dạy triết học theo
nghĩa truyền thống — tức môi trường học thuật nơi những giả thuyết, đặc biệt là
những giả thuyết siêu hình, được trình bày, tranh luận và hệ thống hóa theo
những quy ước nhất định của truyền thống triết học. Trong nghĩa này, “school”
gợi đến triết học như một cấu trúc có thẩm quyền: có giảng dạy, có hệ thống, và
có xu hướng hướng tới việc xây dựng những học thuyết mang tính tổng quát.
Ngược lại, “gardens” (khu vườn) không đơn thuần
chỉ một không gian sinh hoạt, mà là biểu tượng của hoạt động tư duy riêng tư,
không chính thức và ít chịu áp lực của tính hệ thống. Đây là nơi triết gia suy
tư trong trạng thái tự do hơn, nơi những ý tưởng có thể được thử nghiệm và kiểm
tra trong quá trình suy nghĩ, thay vì được đóng khung thành học thuyết hay giáo
điều. Nếu “school” đại diện cho triết học như một thiết chế, thì “gardens” đại
diện cho triết học như một thực hành sống.
Sự đối lập này phục vụ một chiến lược tu từ quan
trọng của Hume: nó làm giảm mức độ căng thẳng và tính “nguy hiểm” của những lập
luận hoài nghi bằng cách đặt chúng vào không gian riêng tư của khảo sát trí
tuệ, thay vì không gian công khai của giáo lý tôn giáo hay tranh luận chính trị.
Điều này cũng nhất quán với toàn bộ phương pháp của Hume trong Dialogues
Concerning Natural Religion và An Enquiry Concerning Human Understanding,
nơi những lập luận triết học được trình bày dưới dạng đối thoại hoặc khảo sát, nhằm
tránh biến chúng thành hệ thống giáo điều khẳng định.
Vì vậy, “school vs gardens” không phải là
một đối lập địa lý, mà là sự phân biệt giữa hai chế độ tri thức: một bên là
triết học như hệ thống công khai, có cấu trúc và thẩm quyền; bên kia là triết
học như hoạt động tư duy cá nhân, mang tính thử nghiệm, linh hoạt và không bị
ràng buộc bởi yêu cầu hệ thống hóa hay công bố học thuyết.
[11] Ví dụ “dấu chân trên cát” trong Hume
không chỉ là minh hoạ cho đời sống thường ngày, mà là cách ông làm rõ một điểm
về suy luận.
Một dấu chân đơn lẻ chỉ cho ta biết có một nguyên
nhân trực tiếp (một bàn chân đã tạo ra nó). Nhưng từ dấu vết đó, ta không thể
tự do suy ra thêm những đặc điểm khác của người đó nếu không có thêm thông tin.
Ngược lại, với con người, ta có rất nhiều kinh
nghiệm trước đó về hình dạng cơ thể, cách đi lại, hành vi… nên từ một dấu chân
ta có thể suy rộng ra nhiều điều khác.
Hume dùng điều này để nói rằng lập luận thiết kế
không tương tự như vậy: khi nhìn vũ trụ, ta chỉ có một “dấu hiệu” duy nhất là
trật tự của nó, nhưng lại không có kinh nghiệm nào khác về “nguyên nhân tạo ra
thế giới” để có thể suy ra thêm những đặc điểm vượt quá những gì ta trực tiếp
thấy.
[12] (a) David Hume** dùng nguyên tắc kinh
nghiệm để giới hạn mọi suy luận nhân–quả: nếu một “Thần linh” chỉ được biết đến
thông qua thế giới mà ta quan sát, thì ta chỉ có quyền quy chiếu những thuộc
tính của ngài đúng bằng những gì đã biểu hiện trong thế giới đó. Mọi suy diễn
vượt ra ngoài kinh nghiệm — như thêm vào những kế hoạch, mục đích hay thuộc
tính siêu việt — đều không có cơ sở lý luận. Chính nguyên tắc này được Hume
dùng để củng cố lập trường hoài nghi kiểu Epicurus, tức là không cho phép mở
rộng suy luận vượt quá dữ kiện quan sát.
(b) Có thể hình
dung lập luận của Hume theo sơ đồ ba tầng:
Kết luận: Hume “chặn”
lập luận thiết kế ngay ở bước thứ ba — tức là không cho phép từ nguyên nhân giả
định quay ngược trở lại để thêm nội dung mới vào thế giới vượt quá những gì
kinh nghiệm ban đầu cung cấp.
[13] Trong hai tiết Of Miracles và Providence
trong An Enquiry Concerning Human Understanding, David Hume dùng
Epicurus không như biểu tượng của lập trường không tin có gót cực đoan, mà như
một “mặt nạ triết học” để triển khai một lập trường hoài nghi phương pháp luận.
Điều Hume muốn đặt thành vấn đề không phải trước hết là sự hiện hữu của thần
linh, mà là quyền hạn của lý trí khi cố gắng suy diễn về bản tính và ý định của
thần linh vượt quá những gì kinh nghiệm thực sự cho phép.
Nền tảng của sự
hoài nghi này nằm trong phân tích nổi tiếng của Hume về quan hệ nhân quả, trong những
chương trước với những qua bi-a. Theo ông, chúng ta không bao giờ trực tiếp tri
giác được “mối liên hệ tất yếu” giữa nguyên nhân và hệ quả; điều mà kinh nghiệm
thực sự cung cấp chỉ là sự nối tiếp thường xuyên của những hiện tượng. Từ sự
lặp lại ấy, não thức hình thành một thói quen kỳ vọng rằng hiện tượng này sẽ
tiếp tục theo sau hiện tượng kia. Vì vậy, tin tưởng vào nhân quả cuối cùng
không phát sinh từ một chứng minh tất yếu của lý trí, mà từ thói quen liên
tưởng của trí óc.
Từ điểm xuất phát
đó, Hume cho rằng những lập luận của gót học tự nhiên đã đi quá xa khi muốn suy
từ thế giới hữu hạn và bất toàn đến một nguyên nhân thần linh vô hạn, toàn trí
và toàn thiện. Nếu nguyên nhân chỉ được biết qua những hệ quả của nó, thì chúng
ta không có quyền gán cho nguyên nhân ấy bất kỳ thuộc tính nào vượt quá những
gì đã thực sự biểu lộ trong thế giới. Theo nghĩa này, Hume không trực tiếp phủ
nhận thần linh; ông chỉ phủ nhận khả năng của lý trí khi muốn biến những giả
thuyết tôn giáo thành tri thức chắc chắn.
Sự dè dặt ấy xuất
hiện rất rõ trong chương Of Miracles. Hume không nói rằng phép lạ là bất
khả về mặt logic; ông chỉ lập luận rằng kinh nghiệm đồng nhất và thường xuyên
về trật tự tự nhiên luôn có sức nặng lớn hơn bất kỳ lời chứng đơn lẻ nào về sự
vi phạm trật tự ấy. Vì vậy, vấn đề không phải là “phép lạ không thể xảy ra”, mà
là con người không bao giờ có đủ cơ sở hợp lý để xác tín chúng.
Tương tự, trong
những đoạn bàn về quan phòng, Hume không bác bỏ trực tiếp ý niệm thần linh, mà
chỉ từ chối việc suy ra từ thế giới hiện tại những thuộc tính như công lý tuyệt
đối, lòng nhân từ vô hạn hay một kế hoạch cứu độ phổ quát. Với ông, những suy
luận như vậy phản ảnh khuynh hướng tự nhiên của con người muốn phóng chiếu
những tiêu chuẩn đạo đức và mục đích của mình lên vũ trụ, hơn là kết quả của
một lập luận nghiêm ngặt.
Chính vì thế,
hoài nghi của Hume không nên được hiểu như sự phủ nhận tôn giáo theo nghĩa
thông thường. Đó đúng hơn là một sự hoài nghi triết học với tham vọng của lý
tính siêu hình. Ông tìm cách giới hạn những gì con người có thể khẳng định một
cách hợp lý về thần linh, chứ không nhất thiết phủ nhận mọi hình thức lòng tin
tôn giáo.
Sự thận trọng này
còn phản ảnh rõ trong hình thức văn chương của Hume. Ông thường trình bày những
lập luận gây tranh cãi thông qua đối thoại, phân vai nhân vật và những “mặt nạ
triết học” như Epicurus, thay vì tuyên bố trực tiếp dưới danh nghĩa của chính
mình. Trong bối cảnh châu Âu thế kỷ XVIII — nơi gót học, đạo đức và quyền lực
chính trị vẫn còn gắn chặt với nhau — sự dè dặt ấy không chỉ là lựa chọn văn
phong, nhưng còn là một chiến lược trí thức cần thiết để bảo vệ tự do tư tưởng.
Sau cùng, thông
điệp quan trọng nhất của Hume có lẽ nằm ở đây: triết học không nhất thiết phải
bác bỏ lòng tin tôn giáo, nhưng phải thận trọng trước khuynh hướng của lý tính
khi nó vượt quá giới hạn của kinh nghiệm và tự biến mình thành một thứ gót học
trá hình.
