Một Điều Tra
Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT X.
Về Phép Lạ.
PHẦN II.
E 10. 14, SBN 116
Trong những suy luận trên đây, chúng ta đã giả
định rằng lời chứng làm nền tảng cho một phép lạ có thể đạt tới mức của một
minh chứng [1] trọn vẹn, và sự sai lầm của lời chứng đó sẽ là một gì phi thường thực sự. Thế
nhưng, có thể dễ dàng cho thấy rằng chúng ta đã quá hào phóng trong sự nhượng
bộ của chúng ta, và chưa bao giờ có một biến cố mang tính phép lạ nào
được xác lập dựa trên một bằng chứng hiển nhiên đầy đủ đến như thế.
E 10. 15, SBN 116-7
Thứ nhất, trong toàn bộ lịch sử, chúng ta không tìm thấy bất kỳ phép lạ nào được chứng thực bởi một số lượng đủ lớn những người có khả năng nhận thức, học vấn và hiểu biết sâu rộng đến mức không thể nghi ngờ, đủ để bảo đảm cho chúng ta khỏi mọi sự tự huyễn hoặc nơi chính họ; có lòng ngay thẳng không thể bàn cãi, đủ để đặt họ vượt lên trên mọi ngờ vực về ý định lừa dối những người khác; có tiếng tăm và tên tuổi trong con mắt loài người đến mức họ sẽ mất đi rất nhiều, nếu bị tìm ra là đã nói dối; và cùng lúc đó, chứng thực cho những sự việc được làm một cách công khai, tại một vùng đất danh tiếng trên thế giới, khiến cho việc bị tìm ra sự thật là họ đã nói dối là điều không thể tránh khỏi. Tất cả những dữ kiện đi kèm này đều cần thiết để mang lại cho chúng ta một sự tin tưởng chắc chắn đầy đủ với lời chứng của con người.
E 10. 16, SBN 117
Thứ hai, chúng ta có thể quan sát thấy trong bản
chất con người một nguyên lý mà nếu được xem xét nghiêm ngặt, ta sẽ thấy nó làm
suy giảm cực độ sự tin tưởng chắc chắn mà chúng ta vốn có thể dành cho bất kỳ
loại điều phi thường nào dựa trên lời kể của người khác. Châm ngôn vốn chúng ta
thường dùng để dẫn dắt những suy luận của chúng ta là: rằng những đối tượng vốn
chúng ta không có kinh nghiệm thì cũng giống với những gì chúng ta đã có kinh
nghiệm; rằng những gì chúng ta tìm biết là hay xảy ra nhất thì luôn có thể xảy
ra cao nhất; và rằng khi có những lý lẽ trái ngược nhau, chúng ta nên chọn theo
những gì dựa trên số lần quan sát được nhiều nhất trong quá khứ.
Thế nhưng, dù khi
theo quy tắc này, chúng ta sẵn lòng gạt bỏ bất kỳ sự kiện nào lạ lùng và khó
tin ở mức thường; thì khi đi xa hơn, não thức không phải lúc nào cũng theo đúng
quy tắc đó; trái lại, khi ai đó khẳng định một điều gì đó hoàn toàn vô lý và
màu nhiệm, não thức lại càng dễ dàng chấp nhận sự kiện ấy hơn, chính vì cái dữ
kiện đi kèm mà lẽ ra phải xóa sạch mọi sức nặng của nó. Lòng ham thích sự
kinh ngạc và việc sững sờ thán phục nảy sinh từ những phép lạ, vốn
là một cảm xúc dễ chịu, tạo ra một khuynh hướng rõ rệt khiến người ta tin vào
những sự kiện sinh ra cảm xúc đó. Điều này còn đi xa đến mức, ngay cả những ai
không thể vui hưởng trực tiếp sự thích thú này, cũng không thể tin vào những
biến cố mang tính phép lạ đó, những gì họ nghe thuật kể, nhưng thì vẫn thích được chia sẻ sự thỏa mãn đó một cách gián tiếp hoặc qua
phản ứng của người nghe, và lấy làm tự hào cùng thích thú khi khơi dậy sự thán
phục của những người khác.
E 10. 17, SBN 117-8
Người ta háo hức
nuốt lấy những câu chuyện kỳ diệu của những nhà du hành đến mức nào, từ những
mô tả về quái vật dưới biển trên cạn, đến những thuật kể về những cuộc phiêu
lưu kỳ thú, những con người lạ lùng và những thói tục kỳ quặc? Nhưng nếu tinh
thần tôn giáo gắn liền với lòng ham thích sự thán phục, thì đó là dấu chấm hết
cho phán đoán thực tiễn dựa trên kiến thức thông thường; và lời kể của con
người, trong những dữ kiện đi kèm này, sẽ mất sạch mọi tư cách để đòi hỏi bất
kỳ sức nặng nào.
Một người sùng
đạo có thể là người cuồng nhiệt, và tự tưởng tượng rằng mình thấy những gì vốn
không có thật: Người đó có thể biết rõ chuyện kể của mình là dối trá, nhưng vẫn
khăng khăng theo đuổi nó, với những ý định tốt đẹp nhất trên đời, vì một cứu
cánh thiêng liêng. Hoặc ngay cả khi sự huyễn hoặc này không có chỗ, thì lòng
kiêu hãnh, được một sự cám dỗ khơi dậy bởi mạnh mẽ, vẫn tác động lên người đó
dữ dội hơn so với những người còn lại trong bất kỳ dữ kiện đi kèm nào khác; và
lợi ích cá nhân cũng có sức mạnh tương đương. Những người nghe có thể không có,
và thường là không có, đủ phán đoán thực tiễn để xem xét kỹ bằng chứng của
người đó: Nếu họ có chút khả năng phán đoán nào, họ cũng tự nguyện từ bỏ, như
một nguyên lý khi đối diện với những chủ đề cao siêu và huyền bí này. Hoặc nếu
họ có sẵn lòng vận dụng nó đi chăng nữa, thì lòng ham thích và một trí tưởng
tượng nồng cháy cũng sẽ làm rối loạn sự vận hành bình thường của nó. Sự cả tin của họ càng nuôi lớn sự lì lợm của người này— và sự lì lợm của người này thì lại đè bẹp
ngược lại sự cả tin của họ.
E 10. 18, SBN 118
Hùng biện, khi đạt đến đỉnh cao, chẳng để lại
chút khe hở nào cho lý trí hay suy xét; trái lại, bằng cách chiếm trọn trí
tưởng tượng và những cảm xúc, nó mê hoặc những thính giả đang tự nguyện và khuất phục sự
hiểu biết của họ. May mắn thay, hiếm khi nghệ thuật hùng biện đạt đến tầm mức
này. Thế nhưng, điều mà một Tully hay Demosthenes khó lòng gây ảnh hưởng nổi
lên thính giả Rome hay Athens, thì bất kỳ tu sĩ dòng Capuchin nào, bất kỳ người
truyền giáo lưu động hay tại chỗ nào cũng có thể thực hiện được trên đại bộ
phận loài người— thậm chí ở mức độ mãnh liệt hơn — chỉ bằng cách khơi dậy những đam mê
thô thiển và tầm thường đến thế. [2]
E 10. 19, SBN 118-9
Nhiều trường hợp về phép lạ, lời tiên tri và
sự kiện siêu nhiên bịa đặt, trong tất cả những thời đại, hay đã bị tìm ra bởi
bằng chứng trái ngược, hay tự tự phơi bày bởi sự phi lý của chúng, tất cả đủ để chứng minh rằng con người có
một thiên hướng mạnh mẽ và sâu xa hướng về những gì phi thường. Điều đó đáng lẽ
phải khiến người ta nảy sinh một nghi ngờ với mọi câu chuyện thuộc loại này. Đây là cách suy nghĩ tự nhiên của chúng ta, ngay cả với những sự kiện
phổ biến và đáng tin cậy nhất. Chẳng hạn: không có loại tin đồn nào nổi lên dễ dàng hơn và lan nhanh hơn —
đặc biệt trong những vùng quê và thị trấn nhỏ, như những chuyện liên quan đến
hôn nhân. đến mức chỉ cần hai người trẻ tuổi có điều kiện tương xứng gặp nhau
đôi lần, là làng xóm đã lập tức ghép họ thành đôi. Cái thú được kể một mẩu tin
hấp dẫn như vậy, được truyền đi, và được làm người đầu tiên loan báo nó, chính
cái thú đó đã thổi cho tin tức bay xa. Và điều này ai cũng biết, đến mức người
nào còn chút sáng suốt thì không thèm để ý đến những tin đồn như vậy, cho đến
khi chúng được xác nhận bởi bằng chứng chắc chắn hơn. Chẳng
phải chính những đam mê đó, và những đam mê khác còn mạnh mẽ hơn, đã khiến phần
lớn loài người tin tưởng và kể lại, với sự nhiệt thành và tin chắc lớn nhất, tất
cả những phép lạ tôn giáo hay sao?
E 10. 20, SBN 119
Thứ ba. Nó hình thành một tiền giả
định bất lợi cho mọi thuật kể siêu nhiên và kỳ diệu, rằng chúng được ghi nhận là xuất
hiện chủ yếu và tràn lan ở những dân tộc mông muội và man di. Hoặc nếu một dân tộc văn minh có bám giữ
lấy chúng, thì đó là bởi họ đã thừa hưởng từ những tổ tiên man di và thiếu hiểu
biết của họ, những người đã truyền lại chúng với sự chuẩn
y và uy quyền bất khả xâm phạm vốn luôn đi kèm với những quan niệm đã được định hình từ trước.
Khi chúng ta đọc kỹ những lịch sử sơ khai của tất cả
những dân
tộc, chúng ta dễ tưởng tượng
đang được đưa vào một thế giới mới nào đó; nơi toàn bộ trật tự tự nhiên bị đứt gãy, và mỗi yếu tố
thực hiện những hoạt động của nó theo một cách thức khác, so với những gì nó
thực hiện ở hiện tại. Những trận chiến, những cách mạng, dịch bệnh, nạn đói, và
cái chết, không bao giờ là hậu quả của những nguyên nhân
tự nhiên vốn chúng ta có kinh nghiệm. Những điều kỳ diệu, điềm báo, lời sấm truyền, phán quyết, hoàn
toàn làm lu mờ một vài biến
cố tự nhiên, những gì đã trộn lẫn với chúng. Nhưng khi những kỳ diệu trở nên thưa
thớt hơn qua từng trang sách, tỷ lệ thuận với việc chúng ta tiến gần hơn đến
thời khai sáng, chúng ta sớm nhận ra rằng không có một gì là bí ẩn hay siêu nhiên xảy ra ở đâ, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ
thiên hướng vẫn có của loài người hướng đến những gì kỳ diệu, và dù khuynh hướng này đôi khi có thể
được khả
năng phán đoán dựa trên thực tế và học thức chế ngự, nhưng nó không bao giờ có
thể hoàn toàn bị nhổ sạch rễ khỏi bản chất con người.
E 10. 21, SBN 119-20
Thật kỳ lạ—một
người đọc sáng suốt hẳn sẽ nói như vậy sau khi đọc những sử gia tuyệt vời này—rằng
những sự kiện phi thường như thế chẳng bao giờ xảy ra trong thời đại của chúng
ta. Nhưng tôi hy vọng chẳng có gì lạ khi con người vẫn nói dối trong mọi
thời đại. Chắc hẳn chúng ta đã từng chứng kiến đủ nhiều những minh chứng về sự
yếu đuối đó. Chính chúng ta đã nghe không ít những thuật kể kỳ diệu như thế
được khởi xướng; những gì mà khi bị tất cả những người khôn ngoan và sáng suốt
khinh miệt, cuối cùng đã bị từ bỏ ngay cả bởi những người bình dân. Hãy yên tâm
rằng, những lời dối trá khét tiếng vốn đã lan truyền và nảy nở tới một tầm cao
quái dị như thế, đều nảy sinh từ những khởi đầu tương tự; nhưng sau khi được
gieo vào một mảnh đất thích hợp hơn, cuối cùng đã đâm vọt lên thành những điều
kỳ diệu gần như tương đương với những gì mà chúng thuật lại.
E 10. 22, SBN 120
Đó là một kế sách khôn ngoan của người tiên
tri giả Alexander—người dù nay đã bị lãng quên nhưng thuở ấy từng lừng lẫy—khi
chọn Paphlagonia làm bối cảnh đầu tiên cho những trò lừa mị của ông. Nơi đó, như
Lucian thuật lại, dân chúng vô cùng mông muội, khờ khạo và sẵn lòng nuốt trọn
cả những ảo tưởng thô thiển nhất. Những người ở xa, nếu có đủ nhẹ dạ để coi
chuyện này đáng để bận tâm tìm hiểu, cũng chẳng có cơ hội tiếp cận nguồn tin
nào khả dĩ hơn. Những câu chuyện truyền đến họ đã được phóng đại bởi hàng trăm
tình tiết thêu dệt. người ngu xuẩn thì mải miết lan truyền trò lừa gạt; trong
khi giới trí thức và học giả thường chỉ bằng lòng với việc chế giễu sự phi lý
của nó, thay vì tự mình tìm hiểu những sự thật cụ thể vốn có thể bác bỏ nó một
cách rạch ròi. Nhờ vậy, người bịp bợm nói trên đã có thể bành trướng từ những
người dân Paphlagonia mông muội sang việc chiêu mộ tín đồ ngay trong hàng ngũ
những triết gia Hy Lạp và những người có địa vị hiển hách nhất ở Rome. Thậm chí,
hắn còn thu hút được sự chú ý của vị hoàng đế hiền triết Marcus Aurelius, đến
mức khiến ông tin tưởng phó mặc vận mệnh của một cuộc viễn chinh quân sự vào
những lời tiên tri hão huyền của hắn. [3]
E 10. 23, SBN 120-1
Lợi thế của việc
khởi xướng một sự lừa đảo giữa một dân tộc dốt nát là vô cùng lớn; đến mức ngay
cả khi ảo tưởng đó có quá thô thiển để áp đặt lên số đông bọn họ (điều dù hiếm
nhưng đôi khi vẫn xảy ra), nó vẫn có cơ hội thành công ở những vùng đất xa xôi
cao hơn nhiều so với việc màn đầu của trò lừa đảo được dàn dựng ở một thành
phố nổi tiếng về nghệ thuật và tri thức. Chính những thành phần thiếu hiểu biết
và sơ khai nhất trong số những dân tộc này sẽ mang thuật kể đó ra nước ngoài. Không một ai
trong số đồng hương của họ có đủ liên lạc rộng rãi, hay đủ uy tín và thẩm quyền
để phản bác và đánh bại ảo tưởng ấy. Khuynh hướng của con người hướng
đến những gì kỳ diệu có đầy đủ cơ hội để tự thể hiện. Và như thế, một thuật kể dù bị bác bỏ rộng
rãi ngay tại nơi khởi phát, vẫn sẽ được coi là chắc chắn hiển nhiên ở những nơi
xa cách hàng nghìn dặm. Nhưng nếu Alexander định cư tại Athens, những triết gia của trung tâm
học thuật lừng danh đó đã ngay lập tức truyền bá, trên khắp đế quốc Rome, khả năng phán đoán của họ về vấn đề này; những gì vốn khi
được hỗ trợ bởi uy tín lớn lao cùng sức mạnh của lý trí và hùng biện, đã hoàn
toàn mở mắt cho loài người. Thực vậy; Lucian, tình cờ
đi ngang qua Paphlagonia, đã có cơ hội thực hiện nhiệm vụ tốt đẹp này. Nhưng, dù là điều
rất đáng ao ước, không phải lúc nào mọi Alexander cũng đều gặp được một Lucian
sẵn sàng phơi bày và vạch trần những trò lừa đảo của người bịp bợm này.
E 10. 24, SBN 121-2
Tôi có thể thêm
vào một lý do thứ tư làm giảm đi uy tín của những điềm quái dị: đó là
không có một lời chứng nào—ngay cả với những trường hợp chưa bị vạch trần một
cách rõ ràng—mà lại không bị đối kháng bởi vô số những nhân chứng khác; sao cho
không chỉ phép lạ phá hủy uy tín của lời chứng, mà chính lời chứng cũng tự tiêu diệt lẫn
nhau.
Để hiểu rõ hơn
điều này, chúng ta hãy cân nhắc rằng: trong những vấn đề tôn giáo, bất cứ điều gì khác biệt
cũng đều là trái ngược; và không thể có chuyện những tôn giáo của Rome cổ đại, của Thổ Nhĩ Kỳ, của Xiêm và của nước
Tàu đều được thiết lập trên những nền tảng vững chắc như nhau. Mọi phép lạ được cho là
đã thực hiện trong bất kỳ tôn giáo nào (mà tôn giáo nào cũng đầy rẫy những phép lạ), một khi mục
đích trực tiếp của nó là nhằm thiết lập hệ thống giáo lý cụ thể mà nó thuộc về,
thì nó cũng có sức mạnh tương đương—dù gián tiếp hơn—để lật đổ mọi hệ thống
giáo lý khác. Khi tiêu diệt một hệ thống đối thủ, nó cũng đồng thời phá hủy uy
tín của những phép lạ vốn là nền tảng thiết lập nên hệ thống đó. Do vậy,
tất cả những điềm quái dị của những tôn giáo khác nhau phải được xem xét như
những sự kiện đối nghịch, và những minh chứng cho những điềm
quái dị này, dù yếu hay mạnh,
đều đối lập lẫn nhau. Chiếu theo phương pháp lập luận này, khi ta tin vào bất
kỳ phép lạ nào của Mahomet hay những người kế vị ông, ta chỉ có một sự bảo đảm duy
nhất là lời chứng của một vài người Ả Rập sơ khai. Mặt khác, chúng ta cũng phải
xem xét uy tín của Titus Livius, Plutarch, Tacitus, và tóm lại là của tất cả những tác giả cùng
nhân chứng người Hy Lạp, Tàu hay Kitô Rôma, những người đã thuật lại bất kỳ phép lạ nào trong tôn
giáo riêng của họ. Chúng ta phải nhìn nhận lời chứng của những người này dưới
cùng một nhãn quan như thể họ đang đề cập đến phép lạ của Mahomet và dùng những thuật ngữ đanh
thép nhất để bác bỏ nó, với cùng một sự quả quyết mà họ dành cho phép lạ mà chính họ
thuật lại.
Lập luận này có
vẻ quá tinh vi và tinh xảo; nhưng thực tế nó không khác gì suy luận của một vị
thẩm phán. Vị đó giả định rằng độ tin cậy của hai nhân chứng tố cáo người này
phạm tội sẽ bị triệt tiêu bởi lời chứng của hai người khác, những người khẳng
định rằng người này đang ở cách xa đó hai trăm dặm vào đúng thời điểm tội ác
được cho là đã xảy ra.
E 10. 25, SBN 122-3
Một trong những
phép lạ được minh chứng tốt nhất trong toàn bộ lịch sử thế tục là chuyện mà
Tacitus thuật lại về Vespasian. Vị hoàng đế này đã chữa khỏi một người mù ở
Alexandria bằng nước bọt của mình, và một người què chỉ bằng cách chạm vào chân
người này; theo sự mách bảo từ thị kiến của thần Serapis, vị thần đã ra lệnh
cho những người đó phải tìm đến Hoàng đế để có được những sự chữa lành thần kỳ
này. [24];
Câu chuyện có thể tìm thấy trong ghi chép của nhà sử học lỗi lạc đó; nơi mà
từng chi tiết sự việc dường như đều bồi thêm sức nặng cho lời chứng, và có thể
được phô bày rộng rãi với tất cả sức mạnh của lý lẽ và hùng biện, nếu như ngày
nay có ai đó còn bận tâm đến việc củng cố minh chứng cho một sự mê tín thờ ngẫu
tượng vốn đã bị bác bỏ này. Sự
điềm tĩnh, vững chãi, tuổi tác và tính chính trực của một vị hoàng đế vĩ đại
như thế — người mà trong suốt cuộc đời mình luôn trò chuyện thân tình với bạn
bè và cận thần, chưa bao giờ tỏ vẻ thần thánh khác thường như Alexander hay
Demetrius. Nhà sử học là một người viết cùng thời, nổi tiếng về sự ngay thẳng
và chân thực, đồng thời có lẽ là thiên tài vĩ đại và thâm
thúy nhất, có lẽ, của toàn bộ thời cổ đại; và [ông] hoàn toàn không có chút khuynh hướng cả tin nào, đến
mức thậm chí còn bị mang tiếng ngược lại là người không-tin-có-gót và ngoại
đạo.
Những người mà từ
thẩm quyền của họ nhà sử học thuật lại phép lạ này, ta có thể mặc định rằng họ
có tính cách kiên định về phán đoán và lòng trung thực; Họ là những nhân chứng
trực tiếp đã chứng kiến sự việc và kiên định xác nhận lời chứng của họ ngay cả
khi dòng họ Flavian đã mất hết quyền lực, đã mất đế quốc, không còn có thể ban
phát bất kỳ phần thưởng nào như cái giá cho một lời nói dối. Utrumque, qui
interfuere, nunc quoque memorant, postquam nullum mendacio pretium (Cả hai
người chứng kiến sự việc cho đến nay vẫn thuật lại nó, ngay cả khi lời nói dối
không còn mang lại lợi lộc gì) [4].
Nếu chúng ta thêm vào tính chất công khai của những sự kiện như đã được kể, sẽ thấy rằng không
có minh chứng nào có thể được giả định là mạnh mẽ hơn cho một sự dối trá thô
thiển và hiển nhiên đến thế.
E 10. 26, SBN 123-4
Cũng có một câu
chuyện đáng nhớ mà Hồng y De Retz kể lại, rất xứng đáng để chúng ta xem xét. Khi
nhà chính trị đầy mưu lược đó chạy trốn sang Tây Ban Nha để tránh sự truy đuổi
của kẻ thù, ông đã đi qua Saragossa, thủ phủ vùng Aragon. Tại đó, trong nhà thờ
lớn, người ta giới thiệu cho ông một người đã làm người giữ cửa nhà thờ suốt
bảy năm. Tất cả mọi người trong thị trấn, những ai từng đến cầu nguyện tại nhà
thờ đó, đều biết rõ người này. Suốt một thời gian dài, dân chúng đã thấy ông bị
cụt một chân; nhưng rồi ông đã có cái chân cụt đó mọc lại nhờ việc xoa dầu
thánh lên mỏm chân cụt; và vị hồng y cam đoan với chúng ta rằng chính ông đã
tận mắt thấy người này có đủ hai chân.
Toàn bộ những chức
sắc trong nhà thờ đều đứng ra bảo đảm cho phép lạ này; người ta viện dẫn toàn
dân trong thị trấn để xác nhận sự thật; và qua lòng sùng kính nhiệt thành của
họ, vị hồng y nhận thấy tất cả đều tin tưởng tuyệt đối vào phép lạ. Ở đây, người
thuật lại cũng sống cùng thời với sự quái dị được cho là đã xảy ra đó; ông vốn
là một người có trí tuệ bậc thầy với tính cách hoài nghi và tự do tư tưởng.
phép lạ này có tính chất kỳ lạ đến mức khó lòng là một sự giả mạo; còn nhân
chứng thì vô cùng đông đảo, và tất cả bọn họ, theo một cách nào đó, đều là
những người trực tiếp chứng kiến sự việc mà họ đưa ra lời chứng. Và những gì
cộng thêm vào sức mạnh cho bằng chứng này, cũng như có thể nhân đôi sự kinh
ngạc của chúng ta, chính là việc bản thân vị hồng y — người thuật lại câu
chuyện — dường như chẳng hề tin vào nó; do đó, chúng ta không thể nghi ngờ ông
có bất kỳ sự đồng lõa nào trong vụ lừa đảo thiêng liêng này.
Ông đã suy xét
một cách công bằng rằng: để bác bỏ một sự việc như thế, không nhất thiết phải
có khả năng bác bỏ chính xác từng lời khai hay truy tìm sự dối trá qua mọi tình
tiết gian trá và cả tin đã tạo ra nó. Ông hiểu rằng điều này thường là không
thể làm được, nếu xét đến khoảng cách thời gian và địa điểm; và cực kỳ khó khăn
ngay cả khi có mặt trực tiếp, bởi sự cố chấp, dốt nát, xảo quyệt và gian trá
của một bộ phận lớn loài người. Do đó, giống như một nhà lý luận công bằng, ông
kết luận rằng một minh chứng như vậy tự thân nó đã mang vẻ dối trá; và một phép
lạ, dù được hỗ trợ bởi bất kỳ lời chứng nào của con người, thì đúng hơn là một
đề tài để chế giễu thay vì để tranh luận. [5]
E 10. 27, SBN 124-5
Chắc chắn chưa bao giờ có nhiều phép lạ được
gán cho một người hơn những phép lạ gần đây được cho là đã xảy ra ở Pháp trên
ngôi mộ của Abbé Paris, người phái Jansen nổi tiếng, người vốn sự thánh thiện của
ông đã khiến dân chúng bị lừa dối trong một thời gian dài. Việc chữa lành người
bệnh, cho người điếc nghe được và người mù nhìn thấy, ở khắp tất cả những nơi được nói đến như
những hiệu quả thường thấy của ngôi mộ thánh đó. Nhưng những gì còn phi thường
hơn; nhiều phép lạ đã được chứng minh ngay tại chỗ, trước những thẩm phán có sự
chính trực không thể nghi ngờ, được chứng thực bởi những nhân chứng có uy tín
và danh tiếng, trong một thời đại học thức, và trên sân khấu nổi tiếng nhất trí thức hiện nay trên
thế giới. Và đó chưa phải là tất cả: Một bản tường thuật về chúng đã được xuất
bản và lan truyền khắp nơi; ngay cả những tu sĩ dòng Jesuits — dù là một
tập thể trí tuệ, được chính quyền dân sự hỗ trợ, và là kẻ thù quyết liệt của
những quan điểm mà những phép lạ này được thực hiện để ủng hộ — cũng không bao giờ có thể bác bỏ
hay vạch trần chúng một cách rõ ràng [25]. Chúng ta có thể tìm đâu ra một tập hợp những tình
tiết cùng hội tụ để củng cố cho một sự thật mạnh mẽ đến thế? Và ta lấy gì để
đối trọng với cả một đám mây nhân chứng như vậy, ngoài sự bất khả tuyệt đối
hoặc chính bản chất kỳ diệu của những sự kiện mà họ thuật lại? Và chắc chắn, trong
mắt tất cả những người có lý trí, chỉ riêng điều này thôi cũng sẽ được coi là
một pphur nhận đầy đủ. [6]
E 10. 28, SBN 125
Liệu hệ quả này
có công chính không, khi chỉ vì một số lời chứng của con người có sức mạnh và
thẩm quyền tối cao trong một số trường hợp — như khi thuật lại trận Philippi
hay Pharsalia chẳng hạn — mà chúng ta lại kết luận rằng mọi loại lời chứng, trong
mọi trường hợp, đều phải có sức mạnh và thẩm quyền ngang nhau? Giả định rằng
phe Caesar và phe Pompey, mỗi bên đều tuyên bố chiến thắng trong những trận
chiến này, và những sử gia của mỗi bên đều đồng loạt gán lợi thế cho phe mình;
thì làm sao nhân loại, ở khoảng cách thời gian này, có khả năng phân định được
giữa họ? Sự tương phản cũng mạnh mẽ như nhau giữa những phép lạ do Herodotus
hay Plutarch kể lại, và những chuyện được Mariana, Bede, hay bất kỳ sử gia tu
sĩ nào đưa ra. [7]
E 10. 29, SBN 125
Người khôn ngoan
không bao giờ tin tưởng một cách mù quáng vào mọi thuật kể có lợi cho tình cảm
của người đưa tin; cho dù lời thuật đó ca ngợi đất nước, gia đình hay bản thân
họ, hoặc phù hợp với bất kỳ khuynh hướng tự nhiên nào khác.
Nhưng còn cám dỗ
nào lớn hơn việc tự xưng là nhà truyền giáo, nhà tiên tri hay sứ giả từ trời?
Ai lại không sẵn lòng đối mặt với muôn vàn nguy hiểm và khó khăn để đạt được
danh vị cao cả như thế? Hoặc giả như, do lòng ham danh ảo và trí tưởng tượng
quá mức, một người đã tự biến mình thành người mộ đạo và thực sự lún sâu vào ảo
tưởng; liệu người đó có ngần ngại dùng những thủ đoạn giả tạo để ủng hộ một sự
nghiệp người này tin là thiêng liêng và đáng ca tụng đến vậy?
E 10. 30, SBN 126
Tia lửa nhỏ nhất ở đây có thể nhóm lên ngọn
lửa lớn nhất; bởi vì củi lửa luôn được chuẩn bị sẵn sàng cho nó. Avidum genus auricularum [26], đám đông
tò mò hiếu kỳ, tiếp nhận một cách tham lam, không cần xem xét, bất cứ gì xoa dịu mê tín và
khơi dậy sự ngạc nhiên.
E 10. 31, SBN 126
Biết bao câu chuyện mang tính chất này, trong
mọi thời đại, đã bị tìm ra và vỡ tan ngay từ trứng nước? Biết bao câu chuyện khác từng được ca tụng một thời, để rồi sau đó
chìm vào quên lãng và bị người đời ruồng bỏ? Vậy nên, khi những thuật kể như
thế lan truyền, lời giải đáp cho hiện tượng này đã quá hiển nhiên; chúng ta
phán đoán dựa trên kinh nghiệm và sự quan sát thường xuyên, bằng cách lý giải
chúng qua
những nguyên lý tự nhiên và dễ hiểu của sự cả tin và ảo tưởng. Và liệu chúng ta,
thay vì viện đến một giải pháp tự nhiên như vậy, có nên chấp nhận một sự vi
phạm kỳ lạ với những quy luật đã được thiết lập chặt chẽ nhất của tự nhiên?
E 10. 32, SBN 126
Tôi không cần phải nhắc đến đến khó khăn trong
việc tìm ra sự dối trá trong bất kỳ lịch sử riêng tư hay ngay cả công khai nào,
ngay tại nơi sự việc được cho là đã xảy ra; huống hồ là khi nơi phát
sinh sự việc bị dời đi, dù chỉ một quãng cách nhỏ nhất. Ngay cả một tòa án, với
tất cả thẩm quyền, sự chuẩn xác và năng lực phán đoán mà họ có, cũng thường
thấy họ bất
lực trong việc phân định thực hư ngay cả với những sự việc vừa mới xảy ra vẫn còn nóng hổi. Nhưng
vấn đề sẽ chẳng bao giờ đi đến đâu nếu chỉ dựa vào phương cách thông thường là
cãi vã, tranh luận và những tin đồn lan truyền; nhất là khi tình cảm của con người đã
nghiêng về phía này hay phía kia.
E 10. 33, SBN 126
Vào thời kỳ sơ khai của những tôn giáo mới, những
bậc trí giả và học giả thường xem nhẹ sự việc, cho rằng vấn đề không xứng đáng với sự chú
ý hay sự
quan tâm của họ. Và về sau, khi họ sẵn sàng muốn vạch trần trò lừa bịp ấy để giúp đám đông mê muội tỉnh ngộ, thì
thời cơ đã mất; những hồ sơ và nhân chứng vốn có thể làm sáng tỏ mọi sự việc đã thất lạc và phân rã, không còn
gì để khôi phục.
E 10. 34, SBN 127
Không còn phương tiện tìm ra nào nữa, ngoại
trừ những phương tiện phải được rút ra từ chính lời khai của những người tường thuật: Và
những phương tiện này, dù luôn đủ với những người sáng suốt và hiểu biết, nhưng
thường quá tinh vi tế nhị để những người tầm thường có thể hiểu được.
E 10. 35, SBN 127
Tóm lại, dường như không có lời chứng cho bất
kỳ loại phép lạ nào từng đạt tới mức một xác suất, huống chi là một bằng chứng;
và ngay
cả khi giả sử nó đạt tới mức một bằng chứng, nó cũng sẽ bị đối kháng bởi một
bằng chứng khác, vốn bắt nguồn từ chính bản chất của sự kiện mà nó cố gắng thiết lập. Chỉ
có kinh nghiệm mới mang lại uy lực cho lời chứng của con người; và cũng chính
kinh nghiệm đó bảo đảm cho chúng ta về những quy luật của tự nhiên.
Do đó, khi hai loại kinh nghiệm này đối nghịch
nhau, chúng ta không có việc gì khác ngoài việc lấy cái này khấu trừ đi cái kia,
và chấp nhận một quan điểm, hoặc bên này hoặc bên kia, với sự đoan chắc đó nảy sinh từ
phần dư còn lại. Nhưng theo nguyên tắc được giải thích ở đây, phép khấu trừ này,
với tất cả những tôn giáo dân gian, đi đến một sự triệt tiêu hoàn toàn; và do
đó, chúng ta có thể thiết lập như một phương châm rằng, không lời chứng nào của
con người có thể có cường lực đủ để chứng minh một phép lạ, và biến nó thành
một nền tảng chính đáng cho bất kỳ hệ thống tôn giáo nào như thế. [8]
E 10. 36, SBN 127-8
Tôi xin mọi người
lưu ý những giới hạn tôi đặt ra ở đây, khi tôi nói rằng một phép lạ không bao
giờ có thể được chứng minh để làm nền tảng cho một hệ thống tôn giáo. Bởi tôi nhìn nhân rằng, ngoài
trường hợp đó ra, có thể hiện hữu những phép lạ, hay những sự vi phạm tiến trình
thông thường của tự nhiên, thuộc loại có thể chấp nhận được bằng chứng từ lời
kể của con người; dù rằng, có lẽ, sẽ không thể tìm thấy bất kỳ sự kiện nào như
thế trong mọi ghi chép lịch sử.
Thí dụ, giả sử
tất cả những tác giả, thuộc mọi ngôn ngữ, đều đồng ý rằng từ ngày 1 tháng 1 năm 1600, bóng
tối bao trùm toàn bộ trái đất trong tám ngày. Giả sử rằng truyền thuyết về sự
kiện phi thường này vẫn còn mạnh mẽ và sống động trong dân gian; và mọi du
khách từ nước ngoài trở về đều kể lại cùng một truyền thuyết đó vốn không có
chút thay đổi hay mâu thuẫn nào. Rõ ràng là, những nhà khoa học ngày nay của chúng ta, thay
vì nghi ngờ sự thật đó, nên tiếp nhận nó như một điều chắc chắn, và nên đi tìm những nguyên nhân
gây ra nó.
Sự suy yếu, mục
rỗng và tan rã của tự nhiên là một sự kiện có thể xảy ra dựa trên rất nhiều sự
so sánh tương đồng, đến mức bất kỳ hiện tượng nào có khuynh hướng dẫn tới thảm
họa đó đều nằm trong phạm vi chứng minh của lời kể con người, miễn là lời kể đó
cực kỳ rộng rãi và thống nhất.
E 10. 37, SBN 128
Nhưng giả sử, tất
cả những sử gia viết về nước Anh đều đồng ý rằng, vào ngày 1 tháng 1 năm 1600, Nữ
hoàng Elizabeth qua đời; rằng cả trước và sau khi chết, bà đều được những y sĩ
và toàn thể triều đình trông thấy, như thường lệ với những người cùng địa vị
với bà; rằng người kế vị bà đã được quốc hội công nhận và công bố; và rằng, sau
khi được chôn cất một tháng, bà lại xuất hiện, lên ngôi trở lại và cai trị nước
Anh trong ba năm.
Tôi phải thú thật
rằng, tôi sẽ ngạc nhiên trước sự trùng khớp của rất nhiều tình tiết kỳ lạ như
vậy, nhưng tôi sẽ không có một chút ý hướng nào để tin vào một sự kiện mang
tính phép lạ đến thế. Tôi sẽ không nghi ngờ về cái chết giả của bà, hay những
sự việc công khai khác theo sau đó; tôi sẽ chỉ khẳng định rằng đó là một sự giả mạo, và rằng việc
bà sống lại không bao giờ là thật, cũng như không thể nào có được.
Người đọc có thể
phản bác tôi vô ích về sự khó khăn, thậm chí là gần như không thể có được việc
đánh lừa cả thế giới trong một sự vụ hệ trọng đến thế; về sự khôn ngoan và phán
đoán vững vàng của vị nữ hoàng lừng danh đó; hay về việc bà chẳng thu được lợi
lộc gì từ một mưu kế tồi tệ như vậy. Tất cả những điều này có thể làm tôi kinh
ngạc; nhưng tôi vẫn sẽ trả lời rằng, sự gian giảo và điên rồ của con người là
những hiện tượng phổ biến đến mức, tôi thà tin rằng những sự kiện phi thường
nhất nảy sinh từ sự kết hợp của chúng, còn hơn là nhìn
nhân một sự vi phạm trắng
trợn với những quy luật của tự nhiên. [9]
E 10. 38, SBN 128-9
Nhưng nếu người
ta gán phép lạ này cho bất kỳ hệ thống tôn giáo mới nào; thì con người, ở mọi
thời đại, đã bị lừa dối quá nhiều bởi những câu chuyện lố bịch loại đó, đến mức
chính hoàn cảnh này sẽ là một bằng chứng đầy đủ về một sự gian trá. Nó đủ để
khiến tất cả những người có phán đoán thực tiễn không chỉ bác bỏ sự kiện đó, mà
thậm chí bác bỏ nó vốn không cần xem xét thêm.
Dù Hữu Thể vốn phép lạ được gán
cho, trong trường hợp này, là Đấng Toàn năng, thì không vì lý do đó mà sự kiện
trở nên có xác suất xảy ra cao hơn dù chỉ một chút; vì chúng ta không thể nào
biết được những thuộc tính hay hành động của một Hữu Thể như vậy, ngoại trừ từ kinh nghiệm mà
chúng ta có về những tạo vật của Ngài trong tiến trình thông thường của tự
nhiên.
Điều này vẫn đưa
chúng ta trở lại với việc quan sát trong quá khứ, và buộc chúng ta phải so sánh
những trường hợp vi phạm sự thật trong lời chứng của con người với những trường
hợp vi phạm quy luật tự nhiên bởi những phép lạ, để phán đoán xem trường hợp
nào có thể xảy ra và có xác suất cao nhất. Vì những sự vi phạm sự thật trong
những lời chứng liên quan đến phép lạ tôn giáo phổ biến hơn so với lời chứng về
bất kỳ sự kiện thực tế nào khác; điều này hẳn phải làm giảm sút rất nhiều thẩm
quyền của loại lời chứng về phép lạ, và khiến chúng ta hình thành và khiến
chúng ta hình thành một giải pháp tổng quát, là không bao giờ dành bất kỳ sự
chú ý nào cho nó, bất kể nó được che đậy bằng bất kỳ sự ngụy trang có vẻ chính
đáng nào.
E 10. 39, SBN 129
Lord Bacon dường
như cũng đã chấp nhận những nguyên tắc lập luận tương tự. Ông nói rằng, chúng
ta nên thực hiện một bộ sưu tập hay một lịch sử riêng biệt về tất cả những quái vật, những
sự sinh nở hay tạo vật kỳ diệu, , và tóm lại là về mọi thứ mới mẻ, hiếm có và phi
thường trong tự nhiên. Nhưng việc này phải được thực hiện với sự kiểm tra khắt
khe nhất, kẻo chúng ta xa rời sự thật. Trên hết, chúng ta phải xem mọi lời kể
là đáng nghi nếu chúng có bất kỳ liên hệ nào với tôn giáo, chẳng hạn như những
chuyện kỳ quái của Livy; và cũng đáng nghi không kém là mọi thứ tìm thấy trong
những tác giả viết về ma thuật tự nhiên hay thuật giả kim, hoặc những tác giả
tương tự, vốn dĩ tất cả nnhuwngx người này dường như đều có một sự ham thích
không thể chế ngự với sự giả dối và hoang đường. [27]. [10]
E 10. 40, SBN 129-30
Tôi càng hài lòng
hơn với phương pháp lập luận này, vì tôi nghĩ nó có thể làm ngượng mặt những
người bạn gây họa hoặc những kẻ thù ẩn mình của đạo Kitô — những kẻ đã tự phụ
muốn bảo vệ tôn giáo này bằng những nguyên tắc của lý trí con người. [11]
Tôn giáo được xây
dựng trên “Đức Tin”, chứ không phải trên lý trí; [12]
và cách chắc chắn để vạch trần nó là đặt nó vào một thử thách mà nó hoàn toàn
không đủ sức chịu đựng. Để làm rõ điều này hơn nữa, chúng ta hãy xem xét những
phép lạ được thuật lại trong Kinh thánh; và để không lạc lối trong một phạm vi
quá rộng, chúng ta hãy giới hạn mình trong những phép lạ mà chúng ta tìm thấy
trong Ngũ Kinh [13] ,
mà chúng ta sẽ xem xét, theo nguyên tắc của những người tự xưng là người Kitô này,
không phải như lời nói hay chứng ngôn của chính Đức Chúa Trời, mà chỉ là sản
phẩm của một nhà văn và nhà sử học phàm trần.
Ở đây khi đó, trước
hết ta phải xem xét một quyển sách được trình ra bởi một dân tộc cổ xưa còn lạc
hậu, được viết vào cái thời mà họ còn mông muội hơn thế nữa, và nhiều khả năng
là được viết rất lâu sau những sự việc mà nó thuật lại; một quyển sách không có
bất kỳ minh chứng nào đồng xác nhận, và chẳng khác gì những câu chuyện thần
thoại mà mỗi dân tộc thường thêu dệt về nguồn gốc của mình.
Khi đọc quyển
sách này, chúng ta thấy nó đầy rẫy những điềm quái dị và phép lạ. Nó mô tả một
trạng thái của thế giới và bản chất con người hoàn toàn khác với hiện tại: về
sự sa ngã của chúng ta khỏi trạng thái đó; về tuổi thọ của con người kéo dài
gần một nghìn năm; về sự hủy diệt thế giới bởi một trận đại hồng thủy; về sự
tùy tiện lựa chọn một dân tộc làm những người được ‘chọn lựa’ ưu ái (dân được
Chúa chọn / Am Nivchar), và dân tộc đó lại chính là đồng hương của tác
giả; về sự giải thoát của họ khỏi ách nô lệ bằng những điềm quái dị đáng kinh
ngạc nhất có thể tưởng tượng được. [14]
E 10. 41, SBN 130-1
Những gì chúng ta
đã nói về những Phép Lạ đều có thể áp dụng cho những lời tiên tri vốn không có bất kỳ khác biệt
nào; và thực vậy, mọi lời tiên tri đều là những Phép Lạ thực sự, và chỉ với tư
cách đó, chúng mới có thể được nhìn nhận là những minh chứng cho bất kỳ sự vén
lên cho thấy huyền bí nào. Nếu việc đoán trước những sự kiện tương lai không vượt quá năng lực
của bản chất con người, thì thật vô lý khi dùng bất kỳ lời tiên tri nào làm lập
luận cho một sứ mệnh thiêng liêng hay thẩm quyền từ trời cao. Do đó, tựu trung lại, chúng ta có
thể kết luận rằng đạo Kitôkhông chỉ đi kèm với những Phép Lạ trong buổi sơ khai, mà ngay cả ngày
nay, không một người có lý trí nào có thể tin vào tôn giáo này nếu thiếu đi một
Phép Lạ.
Lý trí thuần túy
không đủ để thuyết phục chúng ta về tính xác thực của nó: Và bất cứ ai được Đức
tin thúc đẩy để đồng thuận với tôn giáo này, đều ý thức được một Phép Lạ liên
tục bên trong chính người này, một Phép Lạ lật đổ mọi nguyên lý trong khả năng
hiểu biết của người này, [15]
và đưa cho người này một quyết tâm để tin vào những điều trái ngược nhất với
thói quen và kinh nghiệm. [16]
---------------------------------
NHỮNG GHI CHÚ (NOTES)
E 10. 9n21, SBN 113
21. Plutarch, trong cuộc đời Catonis.
E 10. 10n22, SBN 114
22. Xem CHÚ THÍCH [I].
E 10. 10n22. 1, SBN 114
Hiển nhiên là
không người India nào có thể có kinh nghiệm về việc nước không đóng băng trong
những vùng khí hậu lạnh. Điều này đặt tự nhiên vào một tình cảnh mà người này
hoàn toàn không biết tới; và người này không thể nào nói một cách tiên nghiệm (từ
lý lẽ có sẵn) về kết quả nảy sinh từ đó. Đây giống như việc thực hiện một thí
nghiệm mới, mà hệ quả của nó luôn luôn không chắc chắn. Đôi khi người ta có thể
phỏng đoán từ sự tương tự về những gì sẽ xảy ra; nhưng đó vẫn chỉ là phỏng đoán.
Và phải thú nhận rằng, trong trường hợp đóng băng này, sự việc xảy ra trái
ngược với những quy luật của sự tương tự, và là một điều mà một người Ấn Độ có
lý trí sẽ không lường trước được. Tác động của cái lạnh lên nước không diễn ra
dần dần theo từng mức độ lạnh; mà bất cứ khi nào chạm đến điểm đóng băng, nước
sẽ chuyển trạng thái trong chớp mắt, từ dạng lỏng hoàn toàn sang dạng cứng hẳn.
Một sự việc như thế, do đó, có thể gọi là phi thường, và cần một lời chứng khá
mạnh mẽ để làm cho những người ở vùng khí hậu ấm áp tin được. Nhưng nó vẫn
không phải là một Phép Lạ, cũng không trái ngược với kinh nghiệm đồng nhất về
tiến trình của tự nhiên trong những trường hợp mà mọi hoàn cảnh đều như nhau. Những
cư dân ở Sumatra luôn thấy nước ở dạng lỏng trong khí hậu của họ, và việc sông
ngòi của họ đóng băng nên được coi là một điềm quái dị: Nhưng họ chưa bao giờ
thấy nước ở xứ Muscovy vào mùa đông; và do đó họ không thể quả quyết một cách
hợp lý về hệ quả sẽ xảy ra tại đó.
E 10. 12n23, SBN 115
23. Xem CHÚ THÍCH [K].
E 10. 12n23. 1, SBN 115
ĐÔI KHI một sự
kiện có thể không, tự thân nó, dường như là trái ngược với những định
luật của tự nhiên, và tuy vậy, nếu nó có thật, nó có thể, bởi lý do của một số
hoàn cảnh, được gọi tên là một Phép Lạ; bởi vì, trong thực tế, nó trái ngược
với những định luật này.
Như vậy, nếu một
người, tuyên bố một thẩm quyền thiêng liêng, ra lệnh cho một người bệnh trở nên
khỏe, một người khỏe mạnh ngã xuống chết, những đám mây đổ mưa, những ngọn gió
thổi, tóm lại, ra lệnh cho nhiều hiện tượng tự nhiên xảy ra ngay sau mệnh lệnh
của người này; những điều này có thể được coi là những Phép Lạ là hoàn toàn có
căn cứ, bởi vì chúng thực sự, trong trường hợp này, trái ngược với những định
luật của tự nhiên.
Vì nếu bất kỳ sự
nghi ngờ nào còn lại, rằng sự kiện và mệnh lệnh đã trùng hợp bởi ngẫu nhiên, thì
không có Phép Lạ và không có sự vi phạm những định luật của tự nhiên. Nếu sự
nghi ngờ này được loại bỏ, thì hiển nhiên có một Phép Lạ, và một sự vi phạm
những định luật này; bởi vì không có gì có thể trái ngược với tự nhiên hơn là
việc tiếng nói hay mệnh lệnh của một con người lại có một sự ảnh hưởng như thế.
Một Phép Lạ có
thể được định nghĩa một cách chính xác là: một sự vi phạm một định luật của
tự nhiên bởi một ý muốn cụ thể của Gót, hoặc bởi sự can thiệp của một tác nhân
vô hình nào đó. Một Phép Lạ có thể, hoặc là có thể tìm ra được bởi con
người hoặc không. Điều này không làm thay đổi bản chất và thực chất của nó. Việc
nâng một ngôi nhà hay con tàu lên không trung là một Phép Lạ trông thấy được. Việc
nâng một chiếc lông vũ, khi gió chỉ cần một lực rất nhỏ để làm điều đó, cũng là
một Phép Lạ thật sự như thế, mặc dù không dễ nhận thấy với chúng ta. [17]
E 10. 25n24, SBN 122
24. Hist. lib. v. cap. 8. Suetonius đưa ra lời
giải thích gần như tương tự trong vita Vesp.
E 10. 27n25, SBN 125
25. Xem GHI CHÚ [L].
E 10. 27n25. 1, SBN 344
Ngài Montgeron, cố
vấn hoặc thẩm phán của nghị viện Paris, đã viết CUỐN SÁCH NÀY. Người này là một
người có địa vị và nhân cách, cũng đã hy sinh vì sự nghiệp, và hiện nay người
ta nói rằng người này đang bị giam ở đâu đó trong một hầm ngục vì cuốn sách của
ông.
E 10. 27n25. 2, SBN 344
Một cuốn sách
khác gồm ba tập (gọi là Tuyển tập những Phép Lạ của Giáo sĩ Paris / Recueil des Miracles de l’Abbé Paris) thuật lại nhiều Phép Lạ trong số này, và đi kèm
với những bài diễn văn phi lộ được viết rất tốt. Tuy nhiên, xuyên suốt toàn bộ
tác phẩm này, tác giả đưa ra một sự so sánh nực cười giữa những Phép Lạ của
Đấng Cứu Thế chúng ta và những cái của vị Giáo sĩ; trong đó tác giả khẳng định
rằng, bằng chứng cho cái sau ngang bằng với bằng chứng cho cái trước: Như thể
người ta có thể đặt lời chứng của con người lên bàn cân với lời chứng của chính
Thiên Chúa, người đã dẫn dắt ngòi bút của những người viết được cảm hứng. Nếu
thực sự chúng ta chỉ xem xét những người viết này đơn thuần như là lời chứng
con người, thì tác giả người Pháp đã rất chừng mực trong sự so sánh của mình;
vì người này có thể, với một vài vẻ ngoài của lý trí, cho rằng những Phép Lạ
phái Jansen vượt xa cái kia về bằng chứng và thẩm quyền. Tác giả rút ra những
hoàn cảnh sau đây từ những giấy tờ xác thực được đưa vào trong cuốn sách đã nói trên.
E 10. 27n25. 3, SBN 344
Nhiều phép lạ của Abbé Paris đã được chứng
minh ngay lập tức bởi những nhân chứng trước tòa án chính thức hay tòa án giám
mục tại Paris, dưới sự chứng kiến của Hồng y Noailles, người vốn phẩm chất
chính trực và năng lực chưa bao giờ bị nghi ngờ ngay cả bởi những kẻ thù của ông.
E 10. 27n25. 4, SBN 344
Người kế nhiệm ông tạ tòa tổng giám mục là một kẻ
thù của phái Jansen, và vì lý do đó được triều đình thăng chức. Tuy nhiên, 22
linh mục hay cha xứ ở Paris, với lòng nhiệt thành vô hạn, đã thúc giục ông xem
xét những phép lạ vốn họ khẳng định là cả thế giới đều biết đến và chắc chắn
không thể chối cãi: Nhưng ông đã khôn ngoan kiềm chế.
E 10. 27n25. 5, SBN 344-5
Phe phái Molinist
đã cố gắng làm mất uy tín những Phép Lạ này trong một trường hợp, đó là trường
hợp của Mademoiselle le Franc (một trong những “bệnh nhân” nổi tiếng nhất tuyên
bố mình đã được chữa lành một cách thần kỳ tại nghĩa trang Saint-Médard (nơi
chôn cất Giáo sĩ Paris). Nhưng, bên cạnh việc những thủ tục của họ ở nhiều
phương diện là bất thường nhất trên thế giới, đặc biệt là trong việc chỉ trích
dẫn một vài trong số những nhân chứng phái Jansen, những người mà họ đã mua
chuộc: Bên cạnh đó, tôi phải nói rằng, họ nhanh chóng bị choáng ngợp bởi một
đám đông nhân chứng mới, tổng cộng một trăm hai mươi người, về số lượng, phần
lớn bọn họ là những người có uy tín và thực lực ở Paris, những người đã tuyên
thệ cho Phép Lạ. Điều này đã đi kèm với một sự kháng cáo trang trọng và tha
thiết tới nghị viện. Nhưng nghị viện đã bị thẩm quyền bên trên cấm can thiệp
vào vụ việc. Cuối cùng, người ta quan sát thấy rằng, nơi nào con người bị nung
nóng bởi sự nhiệt thành và sự cuồng nhiệt, thì không có mức độ nào của lời chứng
con người đủ mạnh mà lại không thể kiếm được cho sự vô lý lớn nhất: Và những
người quá ngớ ngẩn để đi kiểm tra vụ việc theo cách đó, và tìm cách soi mói
từng lỗ hổng cụ thể trong lời chứng, thì gần như chắc chắn sẽ bị làm cho câm
nín và sa lầy. Bởi lẽ, một trò lừa bịp phải tệ hại đến mức thảm hại thì mới
không giành phần thắng trong một cuộc đấu khẩu (đầy rẫy nhân chứng giả) như thế.
E 10. 27n25. 6, SBN 345
Tất cả những ai
từng ở Pháp vào thời điểm đó đều nghe tiếng tăm của Ngài Heraut, người đứng đầu
cảnh sát Paris; thiên hạ bàn tán rất nhiều về sự cảnh giác, sự thấu suốt, sự
năng nổ và mạng lưới tin tức sâu rộng của người này. Vị quan tòa nắm quyền lực
này, do bản chất chức danh của mình vốn có quyền hành gần như tuyệt đối, đã
nhận đầy đủ quyền hạn với mục đích trấn áp hoặc làm mất uy tín những Phép Lạ
này. Người này thường xuyên bắt giữ ngay lập tức, rồi thẩm vấn những nhân chứng
cùng những đối tượng liên quan; nhưng chưa bao giờ người này có thể tìm ra được
bất cứ điều gì thỏa đáng để chống lại chúng.
E 10. 27n25. 7, SBN 345
Trong trường hợp
của Quý cô Thibaut, người đứng đầu cảnh sát đã cử De Sylva nổi tiếng tới để
kiểm tra cô ấy; và vị y sĩ này đã đưa ra những bằng chứng rất gây tò mò. Vị y
sĩ tuyên bố rằng, cô ấy không thể nào đã bị bệnh nặng như những nhân chứng đã
chứng minh; bởi vì cô ấy không thể nào, trong một thời gian ngắn như thế, đã
hồi phục một cách hoàn hảo như người này đã tận mắt thấy. Vị y sĩ này đã lập
luận từ những nguyên nhân tự nhiên, giống như một người có phán đoán thực tiễn
dựa trên kiến thức thông thường; nhưng phe phái đối lập đã bảo người này rằng, toàn
bộ sự việc là một Phép Lạ, và bằng chứng của người này chính là minh chứng tốt
nhất cho điều đó.
E 10. 27n25. 8, SBN 345
Những người phái
Molinist rơi vào một đi-lem-ma buồn bã. Họ không dám khẳng định rằng lời chứng
của con người là hoàn toàn thiếu hụt để chứng minh một Phép Lạ. Hoàn cảnh bắt
buộc họ phải nói rằng, phù thủy và ác quỷ đã thực hiện những Phép Lạ này. Nhưng người ta bảo họ rằng, đây chẳng qua là chính lá bài cũ mà những người Do
Thái thời xưa đã dùng (để chống lại Chúa Giê-su).
E 10. 27n25. 9, SBN 345-6
Không người phái
Jansen nào từng lúng túng khi giải thích về sự chấm dứt của những Phép Lạ, khi
sắc lệnh của nhà vua đóng cửa khu sân nhà thờ. Chính sự chạm vào ngôi mộ đã tạo
ra những hiệu quả phi thường này; và khi không ai có thể tiếp cận ngôi mộ, người
ta không thể mong đợi hiệu quả nào nữa. Gót, thực sự, đã có thể xô đổ những bức tường
trong một khoảnh khắc; nhưng Ngài là chủ nhân của những ân sủng và công việc
của chính Ngài, và chúng ta không có quyền giải thích về chúng. Ngài đã không
xô đổ những bức tường của mọi thành phố giống như những bức tường thành Jericho
khi tiếng sừng cừu vang lên, cũng không phá vỡ nhà tù của mọi tông đồ như đã
làm cho Thánh Paul.
E 10. 27n25. 10, SBN 346
Không ai khác chính là Công tước Chatillon, một
công tước và quý tộc của nước Pháp, có địa vị và gia đình cao nhất, đã đưa ra
bằng chứng về một ca chữa bệnh kỳ diệu được thực hiện cho một người hầu của ông,
người đã sống nhiều năm trong nhà ông với một căn bệnh rõ ràng và dễ nhận biết.
E 10. 27n25. 11, SBN 346
Tôi xin kết luận bằng nhận xét rằng không có
giáo sĩ nào nổi tiếng về sự nghiêm khắc trong đời sống và cách cư xử hơn giáo
sĩ thế tục ở Pháp, đặc biệt là những mục sư hay cha xứ ở Paris, những người làm
chứng cho những hành vi giả mạo này.
E 10. 27n25. 12, SBN 346
Người ta đã ca
tụng nhiều trên khắp châu Âu về học thức, thiên tài và sự liêm chính của những
quý ông, cũng như lối sống khắc khổ của những nữ tu tại Port-Royal. Tuy nhiên, tất cả họ
đều đưa ra lời chứng cho một Phép Lạ thực hiện trên cháu gái của Pascal nổi
tiếng, một người mà thiên hạ vốn đã biết rõ về lối sống thánh thiện cũng như
năng lực phi thường.
Racine nổi tiếng
đã thuật lại Phép Lạ này trong cuốn lịch sử lừng danh của người này về
Port-Royal, và củng cố nó bằng tất cả những minh chứng mà một đám đông những nữ tu, linh
mục, y sĩ và những người thế tục — tất cả đều có uy tín không thể nghi ngờ — đã
có thể cung cấp. Một số văn sĩ, đặc biệt là giám mục xứ Tournay, nghĩ Phép Lạ
này chắc chắn đến mức đã dùng nó để bác bỏ những người không-tin-có-gót và
những người tự do tư tưởng.
Nữ hoàng nhiếp
chính của Pháp, người vốn cực kỳ định kiến chống lại Port-Royal, đã cử y sĩ
riêng của bà tới để kiểm tra Phép Lạ, và người này trở về như một kẻ cải đạo
tuyệt đối. Tóm lại, sự chữa trị siêu nhiên này không thể tranh cãi đến mức nó
đã cứu tu viện nổi tiếng đó, trong một thời gian, khỏi sự sụp đổ mà những tu sĩ Dòng Tên
đang đe dọa. Nếu đây chỉ là một trò gian lận, những đối thủ sáng suốt và quyền
năng như thế chắc chắn đã tìm ra, và điều đó hẳn đã đẩy nhanh sự diệt vong của
những kẻ bày trò. [18]
Những nhà gót học
của chúng ta có thể xây dựng nên một lâu đài ghê gớm từ những vật liệu đáng
khinh như thế; vậy thì họ còn dựng lên một cấu trúc kỳ vĩ đến mức nào từ những
hoàn cảnh này và nhiều yếu tố khác mà tôi chưa đề cập đến! [19]
Những cái tên lớn như Pascal, Racine, Arnaud, Nicole, sẽ còn vang vọng bên tai
chúng ta bao nhiêu lần nữa? Nhưng nếu những nhà gót học khôn ngoan, họ thà nên
tiếp nhận Phép Lạ này, vì nó giá trị hơn gấp ngàn lần tất cả phần còn lại trong
bộ sưu tập của họ. Bên cạnh đó, nó phục vụ rất tốt cho mục đích của họ. Vì Phép
Lạ đó thực sự đã xảy chỉ bằng việc để cho một mẩu gai nhọn [20]
(được gọi là thánh) chạm vào người, rút ra từ chiếc gai thánh vốn cấu thành nên
vương miện thánh, cái mà [người ta thề thốt đủ thứ chuyện xung quanh nó], v. v.
E 10. 30n26, SBN 126
26. Lucret.
E 10. 39n27, SBN 129
27. Tháng 11. Org. lib. ii. aph. 29.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Proof = minh chứng
[2] Tully (Cicero) và
Demosthenes: Hai nhà hùng biện vĩ đại nhất thời cổ đại (Rome và Hy Lạp), tiêu
biểu cho nghệ thuật thuyết phục bằng trí tuệ và lý trí đỉnh cao. Tu sĩ dòng
Capuchin: Một dòng tu Kito Rôma nổi tiếng với lối sống khổ hạnh và cách thuyết
giáo bình dân, đại diện cho việc tác động vào cảm xúc và đức tin của tầng lớp
lao động nghèo. Những bậc thầy hùng biện dùng lý lẽ cũng
khó lay chuyển được người tỉnh táo, nhưng những kẻ thuyết giáo đánh vào nỗi sợ
và sự mê muội thì dễ dàng điều khiển được đại chúng.
[3] Alexander ngườithành
Abonoteichus: Kẻ bịp bợm lừng danh thế kỷ 2, lập ra giáo
phái thờ thần rắn giả Glycon để bán những lời tiên tri trục lợi. Lucian xứ
Samosata: Nhà văn châm biếm Hy Lạp, người viết bài ký bóc trân những mánh khóe
của Alexander; nếu không có ông, hậu thế có lẽ đã tin kẻ lừa đảo này là một vị
thánh. Marcus Aurelius: Hoàng đế Rome và triết gia Stoics hiền triết, nhưng vẫn
bị Alexander mê hoặc trong cuộc chiến với bộ tộc Marcomanni. Nghe theo lời nhà
tiên tri, ông ném hai con sư tử xuống sông Danube để cầu thắng nhưng lại chuốc
lấy thảm bại với 20. 000 binh sĩ tử trận. Alexander sau đó ngụy biện rằng lời
tiên tri về “một chiến thắng lớn” của hắn không chỉ rõ là chiến thắng cho bên
nào. Paphlagonia: Một vùng xa xôi hẻo lánh, dân trí thấp ở Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ
ngày nay).
[4] Trích từ bộ sử Histories (Quyển IV, Chương 81) của sử gia La Mã
Tacitus.
[5] Câu chuyện “phép lạ”
về một người giữ cửa nhà thờ có một chân bị cụt nhưng “mọc” lại, ở Saragossa
không phải là những đồn đại vô căn cứ. Sự kiện này được ghi chép trực tiếp trong hồi ký
của Hồng y De Retz (Mémoires du cardinal de Retz), cụ thể là phần thuật
lại quãng thời gian ông lưu vong tại Tây Ban Nha vào khoảng năm 1654. Đây là
một tài liệu lịch sử có thực, giúp thí dụ của Hume trở nên khả tín và có thể
truy cứu xác thực. Sự việc diễn ra tại Nhà thờ lớn ở Saragossa (Zaragoza), thủ
phủ vùng Aragon, Tây Ban Nha—một địa điểm nổi tiếng với lòng sùng kính đức tin
mãnh liệt. Câu chuyện về người giữ cửa mọc lại chân dựa trên một truyền thuyết
địa phương có thật, thường được biết đến trong sử liệu tôn giáo là “Phép lạ xứ
Calanda”. Hume viện dẫn trường hợp này như một minh chứng lý tưởng cho sự hoài
nghi: dù người kể chuyện có trí tuệ bậc thầy, nhân chứng đông đảo và sự việc
được cho là khó lòng giả mạo, nhưng bản chất phi lý của nó vẫn không thể thuyết
phục được một não thức duy lý. Thay vì cố gắng bóc tách từng lời khai gian trá,
De Retz đã chọn thái độ của một nhà lý luận công bằng: ông coi những sự việc
trái ngược hoàn toàn với quy luật tự nhiên như vậy là một đề tài để chế giễu
hơn là một đề tài tranh luận nghiêm ttrang.
[6] Abbé Paris
(1690–1727) là một thầy phó tế thuộc phái Jansen — một nhánh bị vvu chiên và
dòng Jesuits kết án là rối đạo. Sau khi ông mất, tại nghĩa trang Saint-Médard ở
Paris, hàng loạt câu chuyện về người mù được sáng mắt, người què đi lại được
bắt đầu lan ra, kéo theo một làn sóng sùng bái cuồng nhiệt. Hume chọn thí dụ
này vì nó đẩy lý luận của ông đến chỗ khó chịu nhất: đây không phải chuyện
hoang đường từ thời xa xưa, mà xảy ra giữa ban ngày, tại một trong những trung
tâm tri thức lớn nhất châu Âu, được những người có uy tín xác nhận, và ngay cả
Dòng Tên — vốn là đối thủ gót học của phái Jansen, có đủ lý do để bóc trân —
cũng không tìm được bằng chứng gian lận nào. Nhưng Hume vẫn bác bỏ. . Và đó
chính là điểm ông muốn giúp chúng ta đi tới khi một sự việc đi ngược lại quy
luật tự nhiên, thì dù lời chứng có vững đến đâu, người có lý trí vẫn phải hỏi —
điều nào có khả năng hơn: quy luật tự nhiên bị phá vỡ, hay người làm chứng đã
nhầm?
[7] Trận Philippi và Pharsalia — hai trận
đánh có thật, có thể kiểm chứng, được ghi lại bởi nhiều phía độc lập. Hume dùng
chúng như chuẩn mực của lời chứng đáng tin: sự kiện lịch sử cụ thể, không ai
được lợi gì khi bịa ra, và những nguồn không mâu thuẫn nhau về những gì thực sự
xảy ra.
Herodotus và
Plutarch — hai sử gia lớn của Hy Lạp và La Mã. Hume không phủ nhận tài năng của
họ, nhưng cho thấy rằng ngay cả trong những tác phẩm của những người này cũng
đầy phép lạ và chuyện thần linh — nghĩa là ngay cả người viết giỏi nhất cũng
không thoát khỏi thói quen của thời đại mình.
Mariana — Juan de
Mariana, tu sĩ Dòng Jesuits người Tây Ban Nha, tác giả bộ sử lớn về Tây Ban
Nha, nổi tiếng là lồng vào đó vô số chuyện phép lạ và sự can thiệp của Gót.
Bede — tu sĩ
người Anh thế kỷ thứ 8, được gọi là “cha đẻ của sử học Anh”, nhưng tác phẩm của
ông chứa đầy những câu chuyện về thánh nhân và phép lạ được kể lại như sự thật
lịch sử.
[8] Sự Triệt tiêu của
Tôn giáo Dân gian trước Tòa án Lý trí: Lập luận của Hume về phép lạ không chỉ đơn thuần
là sự hoài nghi, nhưng là một nhát dao chí mạng nhắm vào nền tảng của những tôn
giáo dân gian. Theo ông, ‘lòng tin’không phải là sự phó thác mù quáng, nhưng là
kết quả của một phép toán xác suất dựa trên kinh nghiệm. Khi một tôn giáo dân
gian được xây dựng trên những phép lạ—tức là những sự việc vi phạm quy luật tự
nhiên—nó tự đặt mình vào một thế đối đầu không cân sức. Hume thực hiện một “phép
trừ” nghiệt ngã: Ông lấy trọng lượng của lời chứng từ con người trừ đi trọng
lượng của kinh nghiệm về quy luật tự nhiên. Quy luật tự nhiên (như lửa thì
nóng, vật nặng thì rơi) vốn là những trải nghiệm bất biến, được bảo chứng bởi
sự lập đi lập lại của toàn nhân loại qua hàng ngàn năm, do đó chúng mang giá
trị tuyệt đối. Trong khi đó, lời chứng của con người về những sự kiện siêu
nhiên lại luôn đi kèm với khả năng sai lầm, sự cuồng tín hoặc mưu đồ lừa dối. Khi
lấy cái tuyệt đối của tự nhiên trừ đi cái mong manh của lời kể, kết quả cuối
cùng với những tôn giáo này luôn là con số không. Sự “triệt tiêu hoàn toàn”
(annihilation) mà Hume nói đến chính là cái chết về mặt logic: Một tôn giáo dân
gian sẽ hoàn toàn tan biến khi nó cố gắng dùng những lời thuật kể bất toàn để
chống lại sự vĩnh cửu của quy luật tự nhiên. Theo hệ thống này, phép lạ không
bao giờ có thể trở thành một nền tảng chính đáng (just foundation), bởi lẽ
không một lời chứng nào của con người đủ sức nặng để làm lung lay những gì mà
tự nhiên đã đóng đinh thành chân lý.
[9] Sự khác biệt giữa “Bóng
tối tám ngày” và “Nữ hoàng sống lại”: Hume đưa ra hai thí dụ này để vạch ra
ranh giới giữa điều phi thường có thể tin và phép lạ không thể tin. Với hiện
tượng tám ngày bóng tối, Hume chấp nhận lời chứng của con người vì nó mang tính
chất của một biến cố vật lý. Dù chưa từng xảy ra, nó vẫn có thể được coi là một
dạng “bệnh lý” hay một sự suy tàn của vũ trụ—điều mà chúng ta có thể suy luận
được qua sự suy tàn thông thường của vạn vật. Vì nó không phá vỡ hoàn toàn
logic tự nhiên, những nhà khoa học có thể tin vào lời kể để đi tìm nguyên nhân
vật lý. Ngược lại, với câu chuyện Nữ hoàng sống lại, Hume bác bỏ hoàn toàn dù
lời chứng có hùng hồn đến đâu. Việc người chết hồi sinh vi phạm trực tiếp và
trắng trợn quy luật sinh học cơ bản nhất. Trong trường hợp này, Hume thiết lập
một nguyên tắc ưu tiên: sự lừa dối và điên rồ của con người là hiện tượng xảy
ra hàng ngày, trong khi phép lạ thì không. Vì vậy, việc tin rằng có một âm mưu
lừa đảo tinh vi luôn hợp lý hơn là tin vào một sự kiện vi phạm quy luật tự
nhiên. Qua đó, Hume kết luận rằng lời chứng của con người chỉ có giá trị với
những hiện tượng tự nhiên hiếm gặp, nhưng hoàn toàn vô giá trị khi dùng để
chứng minh những phép lạ làm nền tảng cho tôn giáo.
[10] Ý tưởng mà Hume nhắc
tới thực chất nằm trong tác phẩm quan trọng nhất của Francis Bacon mang tên “Novum
Organum” (Phương pháp luận mới), xuất bản năm 1620. Cụ thể, Hume đã
trích dẫn gần như nguyên văn ý tưởng của Bacon từ Quyển II, Châm ngôn XXIX
(Book II, Aphorism XXIX) của tác phẩm này. Trong đoạn này, Bacon đang bàn về “Lịch
sử tự nhiên” (Natural History)—một bộ sưu tập những sự kiện thực tế để làm nền
tảng cho khoa học. Ông đề nghị: (a) Sưu tập những điều kỳ lạ: Cần ghi chép lại
những “vật dị hình” (monsters) và những hiện tượng phi thường của tự nhiên để
hiểu rõ ranh giới của những quy luật. (b) Sự hoài nghi cần thiết: Bacon nhấn
mạnh phải kiểm tra cực kỳ khắt khe (rigorous selection), đặc biệt cảnh
giác với những chuyện dựa trên mê tín và tôn giáo
Livy (Titus
Livius) là một sử gia La Mã nổi tiếng với bộ sách lịch sử đồ sộ về Roma. Tuy
nhiên, trong những tác phẩm này, ông thường ghi lại những “prodigies” (những sự
kiện kỳ quái, điềm báo thần thánh) như bò biết nói, mưa máu, hay những pho
tượng đổ mồ hôi.
[11] Làm ngượng mặt những
“người bạn gây họa”: Vì họ tưởng mình đang giúp đạo, nhưng thực chất đang mang “xăng”
(lý trí) đến dập “lửa” (phép lạ), kết quả là tự thiêu trụi nền móng của chính
mình. Làm ngượng mặt những “kẻ thù ẩn mình”: Hume cho thấy những kẻ này thường
hèn nhát, không dám công khai nhận là “vô thần” nhưng cứ núp bóng lý trí để
công kích. Hume chứng minh rằng phương pháp luận của ông (Xác suất và Quy luật
tự nhiên) mới là “vũ khí tối thượng”. Những lập luận trước đây của những kẻ thù
này chỉ là vụn vặt và chưa đủ tầm. Cái bẫy mỉa mai: Hume giả vờ nói: “Tôn giáo
là đức tin thiêng liêng, đừng dùng lý trí phàm trần mà chạm vào”. Câu này khiến
kẻ thù ẩn mình ngượng mặt vì họ nhận ra Hume đang dùng chính “sự tôn kính giả
tạo” để tiêu diệt tôn giáo một cách triệt để hơn cả họ. Chốt lại: Hume khiến cả
hai phe đều cảm thấy mình “tự phụ” và “sai lầm”. Ông đứng ở một vị thế cao hơn,
dùng sự tỉnh táo tuyệt đối để soi xét cả những người tin lẫn những người chống
đối. Câu này có thể hiểu như sau = (Tôi càng hài lòng hơn
với phương pháp lập luận này, vì nó có thể làm ngượng mặt cả những người bạn
gây họa lẫn những kẻ thù ẩn mình của đạo Kitô. Nó làm bẽ mặt những ‘người bạn’
vì họ đã tự phụ khi dùng lý trí để bảo vệ một thứ vốn chỉ dựa trên đức tin; và
nó cũng làm hổ thẹn những ‘kẻ thù ẩn mình’ khi bóc trần rằng: nếu họ cũng dùng
lý trí một cách hời hợt để bài bác tôn giáo, thì họ cũng chẳng khôn ngoan hơn
đối thủ của mình là bao)
[12] Khi Hume dùng từ faith
trong đoạn kết chương “Of Miracles, “ ông không dùng nó theo nghĩa thông thường
của người tin đạo — mà dùng nó như một thuật ngữ triết học chính xác, với hàm ý
mỉa mai được tính toán kỹ lưỡng.
1. “Faith” trong gót học truyền thống
— điều Hume đang phản bác
Để hiểu Hume, cần
biết ông đang phản bác điều gì.
Trong gót học đạo Kitô chính thống
— đặc biệt là truyền thống Kitô Rôma được Thomas Aquinas hệ thống hóa từ thế kỷ 13 — faith
không được coi là sự mù quáng. Aquinas phân biệt ba tầng nhận thức: (a) Lý trí tự nhiên (ratio): những gì con người có thể biết bằng tư
duy thuần túy — chẳng hạn, sự hiện hữu của Gót như nguyên nhân đầu tiên của vũ
trụ. (b) Sự vén lên cho thấy chân lý huyền nhiệm (revelatio): những chân
lý Gót tiết lộ qua Kinh Thánh và Hội nhà thờ — Gót Ba Ngôi, sự nhập thể, phục
sinh — những điều lý trí không tự mình đạt tới được. (c) Đức tin (fides):
hành động tâm linh chấp nhận sự vén lên cho thấy chân lý huyền nhiệm — không
phải mù quáng, nhưng là tin tưởng vào thẩm quyền của Gót như nguồn tri
thức cao hơn lý trí.
Theo kiến trúc này, faith không phủ
nhận lý trí — nó vượt lên trên lý trí, tiếp nhận những chân lý mà lý trí
không đủ tầm với. Augustin
tóm gọn: “Hãy tin để hiểu” — faith đến trước, hiểu biết đến sau. Đây là
lập trường chính thống của Hội nhà thờ từ thế kỷ 13 đến nay, và là lập trường mà
hầu hết những người bảo vệ tôn giáo thế kỷ 18 đang đứng trên đó khi Hume viết.
2. Hume cắt đứt
nền tảng — bằng một câu hỏi
Hume không tranh
luận trực tiếp với kiến trúc gót học của Aquinas. Ông chỉ đặt một câu hỏi đơn giản:
Lấy gì để xác
nhận rằng “sự vén lên cho thấy chân lý huyền nhiệm” là thật?
Câu trả lời
truyền thống là: phép lạ — những sự kiện siêu nhiên xác nhận thẩm quyền của Gót và tính xác thực
của Kinh Thánh. Không có phép lạ, không có cơ sở để tin rằng Kinh Thánh là lời Gót chứ không phải
lời người thường.
Và đây chính là
nơi toàn bộ chương “Of Miracles” cắm vào: nếu phép lạ — định nghĩa là sự kiện
vi phạm quy luật tự nhiên — không thể đứng vững trước lập luận xác suất, thì
toàn bộ chuỗi sự vén lên cho thấy chân lý huyền nhiệm → đức tin → chân lý tôn giáo mất đi nền tảng khách quan. Faith
không còn là “lý trí được nâng lên cao hơn” như Aquinas mô tả — nó trở thành “lý
trí bị đình chỉ. “
Lập luận xác suất
của Hume vận hành như sau: để tin vào một phép lạ dựa trên lời chứng, ta phải
so sánh hai vế — toàn bộ kinh nghiệm nhân loại xác nhận quy luật tự nhiên một
cách nhất quán, không có ngoại lệ, đặt lên một bên; và lời chứng của một số
người rằng quy luật đó đã bị phá vỡ, đặt lên bên kia. Xác suất lời chứng sai
— dù vì nhầm lẫn, ảo giác, hay dối trá — luôn luôn cao hơn xác suất phép lạ thật.
Đây không phải phán xét về đạo đức của nhân chứng. Đây là cấu trúc toán học bác
bỏ phép lạ trước khi ta cần xét đến bất kỳ chi tiết cụ thể nào.
3. “Faith” như
thuật ngữ — Hume dùng nó như thế nào
Khi Hume viết “tôn
giáo được xây dựng trên Faith, chứ không phải trên lý trí, “ câu này có ba
tầng ý nghĩa hoạt động đồng thời:
Tầng một — mô tả:
Ông đang nói đúng về cấu trúc của tín ngưỡng đạo Kitô. Faith, theo định nghĩa gót học của chính Hội nhà thờ, là chấp
nhận điều vượt ngoài lý trí. Hume không bịa ra điều này — ông trích lại định
nghĩa của chính đối thủ.
Tầng hai — bẫy
logic: Bằng cách xác nhận rằng tôn giáo dựa trên Faith chứ không phải lý trí,
Hume đẩy những người bảo vệ tôn giáo vào thế lưỡng nan không lối thoát. Nếu họ
đồng ý — họ nhìn nhận tôn giáo đứng ngoài địa hạt chân lý có thể kiểm chứng, và
do đó không thể đòi hỏi người khác chấp nhận nó như một sự thật khách quan. Nếu
họ phản bác và nói tôn giáo có dựa trên lý trí — Hume đã chuẩn bị sẵn
toàn bộ chương “Of Miracles” để bác bỏ từng bước.
Tầng ba — mỉa
mai: Câu “tôn giáo được xây dựng trên Faith” nghe như lời bảo vệ — như thể Hume
đang nói “đừng tấn công tôn giáo bằng lý trí, vì nó không thuộc về lý trí. “
Nhưng ngay trước đó, ông đã dành toàn bộ chương để chứng minh rằng thứ gì đứng
ngoài lý trí thì đứng ngoài chân lý có thể biết được. Lời “bảo vệ” đó thực chất
là bản án.
4. Faith là “phản
lý trí” — không phải lời buộc tội nhưng là mô tả cấu trúc
Khi Hume gọi
Faith là contrary to reason — phản lý trí — ông không dùng từ đó như lời
sỉ nhục. Ông dùng nó như một mô tả chính xác về cơ chế vận hành.
Lý trí, theo
Hume, có một nguyên lý duy nhất và nhất quán: tỷ lệ mức độ tin tưởng theo trọng
lượng bằng chứng. Đây không phải đặc quyền của triết học — đây là cách mọi
người bình thường điều hướng cuộc sống hàng ngày vốn không cần suy nghĩ. Không
ai tin người lạ trên đường nói rằng người này vừa thấy người chết sống lại — không phải
vì ghét người này, nhưng vì kinh nghiệm tích lũy nói rằng điều đó không xảy ra, và xác suất người này nhầm lẫn
cao hơn nhiều so với xác suất sự kiện đó thật.
Faith yêu cầu
điều ngược lại: duy trì niềm tin bất chấp sự vắng mặt của bằng chứng,
thậm chí bất chấp bằng chứng phản bác. Điều quan trọng là Hume nhận ra
đây không phải lỗi của cá nhân tín đồ — đây là yêu cầu cấu trúc của Faith như
một thể chế. Khi có mâu thuẫn giữa lý trí và giáo lý, giải pháp không bao giờ
là sửa giáo lý — mà luôn là “hãy tin sâu hơn. “ Lý trí không được mời
vào như một đối tác — nó được yêu cầu im lặng.
Đây là điều Hume
gọi là “phép lạ trong chính não thức” — để có Faith, người ta phải tự
thực hiện một sự vi phạm quy luật nhận thức ngay bên trong đầu mình, trước khi
tin vào bất kỳ phép lạ bên ngoài nào.
5. Tại sao đây là
bước ngoặt — không phải chỉ phê phán tôn giáo
Hầu hết những
người hoài nghi tôn giáo trước Hume tấn công theo hướng trực tiếp: tôn giáo này
sai, giáo lý kia vô lý, lịch sử Hội nhà thờ đầy bạo lực. Hume làm điều khác hẳn và
sâu hơn — ông không tranh luận về nội dung của tín ngưỡng mà đặt câu hỏi
về điều kiện nhận thức của nó: dựa vào đâu để biết?
Đây là bước
chuyển từ tranh luận gót học sang nhận thức luận (epistemology) — khoa
học về nền tảng và giới hạn của tri thức. Và một khi câu hỏi được đặt ở tầng
này, nó không còn là tranh luận giữa người tin và người không tin — nó trở
thành câu hỏi về phương pháp: chúng ta nên hình thành niềm tin như thế nào, và
tiêu chuẩn gì phân biệt niềm tin có cơ sở với niềm tin không có cơ sở?
Câu trả lời của
Hume — tỷ lệ niềm tin theo bằng chứng — là nền tảng của tư duy khoa học hiện
đại. Và hệ quả của nó với Faith không phải là tôn giáo sai, nhưng là: Faith và
khoa học không cùng chơi trên một sân.
6. Hume không
phải vô thần — và đó mới là điều thú vị
Một điều thường
bị hiểu lầm: Hume không tuyên bố Gót không hiện hữu. Ông không thể làm vậy — vì chính
nhận thức luận của ông không cho phép khẳng định điều gì vượt ngoài tầm bằng
chứng, theo cả hai hướng.
Lập trường của
ông gần với thuyết Không-thể-biết (agnosticism) hơn là vô thần: câu hỏi về Gót nằm ngoài tầm với
của lý trí con người, và do đó không nên được trả lời bằng sự chắc chắn theo
hướng nào. Điều ông phê phán không phải là niềm tin cá nhân — nhưng là việc thể
chế hóa Faith thành chuẩn mực nhận thức xã hội: khi hội
nhà thờ, nhà nước và văn hóa
đồng thuận rằng tin không cần bằng chứng là đức hạnh, thì khả năng tư
duy phê phán của toàn xã hội bị xói mòn từ gốc rễ.
Đây chính là điểm
Russell sau này kế thừa và phát triển thành phê phán đạo đức — nhưng hạt nhân
của nó đã nằm trong Hume từ thế kỷ 18, ẩn dưới lớp mỉa mai lịch sự của một quý
ông người Scotland không muốn bị thiêu sống.
[13] Pentateuch vẫn dịch
là Ngũ Thư. Đây là từ dùng để chỉ năm quyển sách đầu tiên của Kinh Thánh Hebrew
(Đạo Juda gọi là Torah) và Cựu Ước của đạo Kitô. Tác giả truyền thống: Thường
được gán cho ngôn sứ Môi-se (Moses), nên còn gọi là “Năm sách của Môi-se”. Thành
phần: Gồm 5 sách theo thứ tự:Sáng Thế Ký (Genesis): Kể về khởi đầu của thế giới
và nhân loại. Xuất Hành Ký (Exodus): Kể về cuộc giải thoát dân Israel khỏi ách
nô lệ Ai Cập. Lê-vi Ký (Leviticus): những bộ luật về tế tự và đời sống thánh
khiết. Dân Số Ký (Numbers): Hành trình của dân Israel trong hoang địa. Phục
Truyền Luật Lệ Ký (Deuteronomy) hay Đệ Nhị Luật: Những lời di huấn cuối cùng
của Môi-se và sự nhắc lại luật pháp.
[14] Hume liệt kê những sự kiện cốt lõi trong
5 quyển đầu của Kinh Thánh) để cho thấy rằng chúng hoàn toàn xa lạ với kinh
nghiệm thực tế của con người:
1. Trạng thái thế
giới và bản chất con người hoàn toàn khác hiện tại: Hume nói đến Vườn Địa Đàng.
Vườn Eden và sự đứt gãy của thực tại
: Khi Hume nhắc đến một trạng thái thế giới “hoàn toàn khác biệt với hiện tại”,
ông đang chất vấn về tính xác thực của Vườn Eden dưới góc độ một địa điểm lịch
sử. Theo sách Sáng Thế Ký (Genesis 2), Eden không phải là một cõi mộng ảo nhưng
là một địa danh vật lý có thật trên Trái
Đất, được xác định nằm tại Trung Đông, gần khu vực Lưỡng Hà (Mesopotamia)
thuộc Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Iran ngày nay, nơi có bốn dòng sông lớn chảy qua,
bao gồm cả sông Tigris và Euphrates. Tuy nhiên, Hume cho thấy một nghịch lý:
Nếu Eden nằm ngay trên trần gian này, tại cùng một tọa độ địa lý mà con người
vẫn đang sinh sống, thì tại sao bản chất của nó lại hoàn toàn đối nghịch với
mọi quy luật tự nhiên mà loài người từng trải nghiệm? Kinh Thánh mô tả một nơi
mà con người bất tử và không phải lao động, trong khi thực tế nghiệt ngã tại
chính vùng đất đó — cũng như mọi nơi khác trên hành cầu — là con người buộc
phải làm lụng mới có ăn và ai cũng phải chết.
Với Hume, sự đứt
gãy quá lớn giữa mô tả thiêng liêng và kinh nghiệm thực tế khiến Eden không thể
là một thực tế lịch sử. Ông coi đó là một “điềm quái dị” — một trạng thái giả
tưởng vi phạm mọi quy luật tự nhiên. Thay vì chấp nhận đó là một địa danh có
thật, Hume xem Eden là một sản phẩm hư cấu được thêu dệt nên để đối lập với
thực tại, nhằm xoa dịu nỗi đau của kiếp người bằng một ảo ảnh về một quá khứ
huy hoàng đã mất.
2. Sự sa ngã của
loài ngườ: Nhắc đến sự kiện Adam và Eve ăn trái cấm. Hume mỉa mai ý tưởng cho
rằng chỉ vì một hành động của tổ tiên mà toàn bộ bản chất con người bị thay đổi
từ bất tử thành phải chết và mang “tội tổ tông”.
Sự Sa Ngã – Một “phép lạ” của sự phi lý: Hume mỉa mai sự kiện Adam và Eve ăn trái
cấm không chỉ như một câu chuyện cổ, mà như một sự đảo lộn logic khủng khiếp. Ông
cho thấy một sự phi lý đến mức trở thành phép lạ: Làm sao một hành động đơn lẻ,
nhỏ nhặt của một cặp đôi tổ tiên lại có sức mạnh xoay chuyển toàn bộ cấu trúc
sinh học và định mệnh của hàng tỷ con người sau này?
Với Hume, việc
bản chất con người bị biến đổi đột ngột từ bất
tử sang phải chết, và gánh chịu
những gì gọi là “tội tổ tông” chỉ vì một miếng ăn, là một sự vi phạm quy luật
tự nhiên còn chấn động hơn cả việc rẽ đôi mặt nước. Ông coi đây là một loại “phép lạ nghịch đảo”: thay vì một hành
động thần thánh cứu rỗi, thì đây là một sự kiện siêu nhiên được thêu dệt để đổ
lỗi cho thực tại nghiệt ngã.
Qua cái nhìn duy
nghiệm, Hume cho rằng sự phi lý này chỉ phục vụ một mục đích duy nhất: tạo ra
một lý do mang màu sắc thần thoại để giải thích tại sao thế giới hiện tại lại
đầy rẫy khổ đau và cái chết, thay vì nhìn nhận đó vốn là bản chất nguyên thủy
của tự nhiên.
3. Tuổi thọ kéo
dài gần một nghìn năm: Trong sách Sáng Thế Ký, những nhân vật thời kỳ
đầu được kể là sống rất thọ (thí dụ: Methuselah sống 969 tuổi). Hume coi đây là
một điềm quái dị về sinh học, vì mọi kinh nghiệm loài người đều cho thấy không
ai sống quá 120-150 tuổi.
4. Sự hủy diệt
thế giới bởi một trận đại hồng thủy: Nhắc đến Con tàu Noah. Hume nghi ngờ tính
xác thực của việc một trận lụt nhấn chìm toàn bộ trái đất (kể cả những đỉnh núi
cao nhất) và toàn bộ sinh vật bị tiêu diệt trừ những con vật trên một chiếc tàu.
Trận Đại Hồng Thủy – Phép lạ hủy diệt và sự phi lý
về sinh học: Hume xem câu
chuyện về Con tàu Noah là một trong
những điềm quái dị khó chấp nhận nhất trong Năm quyến sánh Thánh. Ông đặt ra
một nghi vấn lớn về tính thực chứng: Làm sao một trận lụt có thể nhấn chìm toàn
bộ Trái Đất, vượt qua cả những đỉnh núi cao nhất, rồi sau đó biến mất không dấu
vết?
Sự phi lý này đạt
đến đỉnh cao khi xét về mặt sinh học: Ý tưởng cho rằng toàn bộ sự đa dạng của
muôn loài trên hành tinh có thể được thu nhỏ và bảo tồn chỉ trên một chiếc tàu
duy nhất, để rồi từ đó tái lập lại toàn bộ hệ sinh thái, là một điều không tưởng
với một nhà duy nghiệm.
Lập luận của Hume
ở đây đã mở đường cho tư tưởng khoa học hiện đại, mà đỉnh cao sau này là
Charles Darwin với tác phẩm Nguồn gốc những loài (The Origin of
Species). Thay vì tin vào một phép lạ hủy diệt và tái tạo tức thời mang
tính thần thoại, Darwin đã chứng minh rằng sự đa dạng của sinh giới là kết quả
của một quá trình tiến hóa chậm chạp, tự nhiên qua hàng triệu năm. Với Hume,
trận Đại Hồng Thủy không phải là lịch sử, nhưng là một sự vi phạm trắng trợn
quy luật địa chất và sinh học—một câu chuyện phi lý đến mức chỉ có thể hiện hữu
trong đức tin chứ không bao giờ có chỗ trong lý trí.
5. Sự tùy tiện
lựa chọn một dân tộc (Dân được Gót chọn – Am Nivchar): Hume tấn công vào tính
cục bộ của tôn giáo. Ông cho thấy sự “trùng hợp” nực cười: Tác giả quyển sách
kể rằng Gót đã chọn đúng dân tộc của chính ông để ưu ái. Theo Hume, đây là biểu
hiện điển hình của việc thêu dệt để tôn vinh dân tộc mình.
Sự tùy tiện lựa
chọn một dân tộc (Dân được Gót chọn – Am Nivchar): Hume tấn công vào tính cục
bộ của tôn giáo. Ông cho thấy sự “trùng hợp” nực cười: Tác giả quyển sách kể
rằng Gót đã chọn đúng dân tộc của chính ông để ưu ái. Theo Hume, đây là biểu
hiện điển hình của việc thêu dệt để tôn vinh dân tộc mình.
“Dân được Gót chọn” – Từ sự kiêu ngạo dân tộc đến
bi kịch loài người: Hume
coi khái niệm “Dân được Gót chọn” (Am
Nivchar) là đỉnh cao của sự phi lý và giả dối trong Năm quyến sánh Thánh. Ông
bóc trân một sự “trùng hợp” nực cười mang tính tâm lý: Tác giả quyển sách kể
rằng Đấng Tối cao đã chọn đúng dân tộc của chính ông để ban đặc ân. Hume lập
luận rằng đây không phải là một sự thật thiêng liêng, nhưng là một biểu hiện
điển hình của tính cục bộ dân tộc:
con người luôn có xu hướng thêu dệt nên những huyền thoại siêu nhiên để tự tôn
vinh và hợp thức hóa quyền lợi của nhóm mình.
Sự phi lý này,
theo Hume, đã dẫn đến những tác hại khôn lường cho xã hội và đạo đức khi tôn
giáo bị thao túng bởi những đam mê cực đoan. Trong lịch sử, những bạo chúa
thường lợi dụng tin tưởng có gốc tôn giáo “được chọn” này như một công cụ chính
trị để củng cố quyền lực và đàn áp những người khác biệt.
Đáng buồn thay,
tư tưởng “đặc quyền thiêng liêng” này vẫn đang để lại những tttooij ác đẫm máu
trong thế giới hiện đại. Khi một dân tộc tin rằng mình có quyền lợi tối thượng
được ban phát từ Gót, họ dễ dàng rơi vào cái bẫy của sự tàn ác: (a) Palestine
và sự đối đầu giữa Judaism với Islam: Xung đột tại Gaza không chỉ là cuộc tranh
chấp địa chính trị nhưng là sự va chạm trực diện giữa hai ý hệ tôn giáo sâu xa.
Một bên là chủ thuyết Judaism cực đoan, nơi khái niệm “Đất Hứa” (Eretz Yisrael)
được coi là một khế ước thần thánh không thể chuyển nhượng, biến quyền sở hữu
đất đai thành một mệnh lệnh tôn giáo tuyệt đối. Đối diện là niềm xác tín của
thế giới Islam về tính thiêng liêng của vùng đất Palestine như một phần không
thể tách rời của di sản Hồi giáo (Waqf). Khi lòng cuồng tín hóa thân vào chính
sách thực dân, những biện pháp giam giữ và tàn sát dân bị trị không còn bị phán
xét bởi lý trí nhân bản nhưng được biện minh như một cuộc “thanh tẩy” để thực
thi ý hệ tôn giáo sâu xa, đẩy hàng triệu người vào thảm kịch diệt chủng dưới
danh nghĩa bảo vệ đức tin.
(b) Iran và đụng
độ giữa nói viết Christian-Zionism với cách mạng Islam: Cuộc bao vây và đe dọa
hủy diệt Iran mang đậm dấu ấn của sự đối đầu giữa khối Christian-Zionism (đạo
Kitô phục quốc) phương Tây và Islam chính thống (Shia). Phía Mỹ và đồng minh
thường dùng những nói viết mang tính mạt thế, coi Iran là một phần của “trục ác
quỷ” cần phải bị khuất phục để chuẩn bị cho một trật tự thế giới mới. Ngược
lại, Iran tự định vị mình là thể chế “thay mặt Thần quyền” chống lại sự báng bổ
của phương Tây. Sự bao vây kinh tế và tàn phá quân sự hiện nay không chỉ nhắm
vào hạ tầng vật chất nhưng còn là nỗ lực bẻ gãy một biểu tượng văn minh Hồi
giáo đang thách thức trật tự quyền lực dựa trên hệ giá trị Do Thái – Kitô
(Judeo-Christian).
Khi đức tin trở
thành vũ khí: Đúng như Bertrand Russell từng nhận định, nỗi sợ hãi và sự kiêu
ngạo là “cha đẻ” của những xác tín tôn giáo phi lý. Trong bối cảnh này, những
truyền thống tôn giáo lớn (Judaism, Christianity, Islam) đang bị công cụ hóa để
lấp đầy khoảng trống của lý trí. Khi nỗi sợ về sự “xâm lăng” của kẻ khác đạo
trở nên quá lớn, sự kiêu ngạo về sự ưu tuyển của tôn giáo mình sẽ trỗi dậy. Con
người trốn chạy vào những hy vọng độc đoán, biến những giáo lý vốn mang tính
cứu rỗi thành vũ khí tàn khốc hủy diệt đồng loại. Đức tin lúc này không còn là
hành trình tìm kiếm chân lý khách quan, mà trở thành tấm khiên chắn cho sự tàn
ác và là liều thuốc độc gây nên những khổ đau bất tận không dứt cho loài người.
6. Đào thoát ách
nô lệ bằng những điềm quái dị kinh ngạc: Chỉ sự kiện Exodus (Dân Do Thái rời Ai
Cập). Hume nói về Mười tai họa (The Ten Plagues) là chuỗi những sự kiện siêu
nhiên kinh hoàng mà Gót đã giáng xuống Ai Cập. Mục đích của Gót là buộc vua
Pharaon phải trả tự do cho những người Jews đang chịu cảnh nô lệ tại đây. Với
ông, đây là những sự vi phạm quy luật tự nhiên trắng trợn nhất vốn không có bất
kỳ bằng chứng lịch sử nào bên ngoài quyển sách đó xác nhận. Exodus là một tập
hợp những vi phạm quy luật tự nhiên trắng trợn và có hệ thống nhất. Hume dẫn ra
ví dụ kinh điển này về Phép Lạ để làm đối trọng, chỉ ra sự xung đột gay gắt
giữa những điều phi lý và khả năng hiểu biết của lý trí: (Nước hóa máu: Toàn bộ
sông Nile và những nguồn nước biến thành máu. , Ếch nhái: Ếch tràn ngập mọi
ngóc ngách, từ nhà cửa đến tận giường ngủ. , Sâu bọ (Muỗi/Chấy): Bụi đất biến
thành côn trùng tấn công cả người lẫn súc vật. …Ruồi mòng: Những đàn ruồi dày
đặc tàn phá khắp xứ sở. …. Cái chết của con đầu lòng: Tai họa cuối cùng và kinh
khiếp nhất, tước đi sinh mạng của tất cả con trưởng trong những gia đình người
Ai Cập. )
Với một người dựa
vào lý trí và kinh nghiệm thông thường, những sự kiện này hoàn toàn “không thể
tin nổi”. Hume lập luận rằng chúng ta chỉ chấp nhận những tai họa này qua lời
chứng của những văn bản cổ, chứ bản thân chúng hoàn toàn lật đổ mọi nguyên lý
tự nhiên mà khả năng hiểu biết của chúng ta từng ghi nhận. Với Hume, đây không
phải là những sự thật lịch sử nhưng là những tuyên bố phi thường cần đến những
bằng chứng phi thường tương xứng để được chấp nhận. Ông đưa ra hai luận điểm
phản biện đanh thép: (a) Sự thiếu hụt
minh chứng khách quan: Hume cho thấy rằng toàn bộ những phép lạ kinh thiên
động địa này chỉ được thuật lại trong duy nhất một quyển sách tôn giáo của
chính dân tộc được hưởng lợi, mà hoàn toàn không có bất kỳ bằng chứng lịch sử,
khảo cổ hay ghi chép nào từ những dân tộc lân bang (đặc biệt là Ai Cập — nạn
nhân của những tai họa Gót giáng phạt) đồng xác nhận tại thời điểm đó. (b) Sức nặng của quy luật tự nhiên: Dựa trên
“kinh nghiệm đồng nhất”, chúng ta biết rằng nước luôn chảy theo dòng và biển
không bao giờ tự rẽ đôi cho con người đi qua. Với Hume, xác suất để “lời kể của
con người bị sai lạc hoặc thêu dệt” luôn cao hơn gấp bội so với xác suất để “các
định luật vật lý của vũ trụ bị đình chỉ”. Hume coi những câu chuyện này là minh
chứng điển hình cho việc tôn giáo dùng những yếu tố kỳ ảo và gây kinh ngạc để lấn át lý trí, biến một sự kiện lịch sử
mờ nhạt thành một huyền thoại thiêng liêng nhằm củng cố tin tưởng có gốc tôn
giáo về một quyền năng siêu việt.
[15] Hume kết luận như
vậy vì với ông, khả năng hiểu biết (understanding) của con người vận hành dựa
trên kinh nghiệm và thói quen. Dưới đây là lý do tại sao Phép Lạ lại “lật đổ”
những nguyên lý đó:Nguyên lý của kinh nghiệm: Chúng ta hiểu biết thế giới bằng
cách quan sát những sự việc lập đi lập lại (ví dụ: lửa thì nóng, vật nặng thì
rơi). Từ đó, não thức hình thành quy luật tự nhiên. Định nghĩa về Phép Lạ: Hume
định nghĩa Phép Lạ là sự vi phạm những quy luật tự nhiên. Nó là thứ chưa từng
có tiền lệ hoặc trái ngược hoàn toàn với mọi quan sát từ trước đến nay. Sự “lật
đổ”: Khi một người tin vào Phép Lạ (qua Đức tin, ở đây là “lòng tin Ki tô như
một đức hạnh”), người đó đang chấp nhận một điều vốn toàn bộ hệ thống lý trí và
kinh nghiệm của họ bảo rằng “không thể xảy ra”. Phép Lạ trong não thức: Để tin
được điều đó, bản thân não thức người đó phải trải qua một trạng thái bất
thường — một “phép lạ nội tại”. Trạng thái này buộc họ phải gạt bỏ mọi logic
thông thường, mọi bằng chứng từ thực tế để bám lấy một tin tưởng tôn giáotrái
ngược với thói quen. Nói cách khác, theo Hume, tin vào tôn giáo không phải là
một quá trình suy luận logic, vốn là một sự xáo trộn mãnh liệt trong tư duy,
nơi tin tưởng tôn giáolấn át và vô hiệu hóa những quy luật của lý trí.
[16] Theo Hume, định
nghĩa về phép lạ là cốt lõi trong lập luận của ông: > Hume = Phép Lạ = Sự
Vi Pham Những Qui Luật Của Tự Nhiên
Định nghĩa của Hume: Ông định nghĩa một phép lạ là “một sự vi phạm những quy luật tự nhiên”
(a violation of the laws of nature).
(a)
Tại sao định nghĩa này quan trọng? (a) Quy
luật tự nhiên: Được xây dựng dựa trên một “kinh nghiệm đầy đủ và bất biến”
(firm and unalterable experience). Thí dụ: Con người ai cũng phải chết,
lửa luôn đốt nóng, chì không thể tự bay lơ lửng. (b) Sự vi phạm: Để được gọi là “phép lạ”, sự kiện đó phải là thứ mà
toàn bộ kinh nghiệm nhân loại từ trước đến nay khẳng định là không thể xảy ra. Nếu nó chỉ là một sự
kiện lạ lùng nhưng vẫn nằm trong quy luật (như một người sống sót sau tai nạn
hy hữu), Hume không gọi đó là phép lạ.
Logic triệt tiêu của Hume: (a) Bởi vì một quy luật tự nhiên có xác
suất xảy ra là gần như 100% (dựa trên kinh nghiệm dày đặc). (b) Lời chứng về
một phép lạ (sự vi phạm quy luật đó) luôn có xác suất thấp hơn (vì con người có
thể nhầm lẫn, nói dối hoặc bị lừa). > (c ) Do đó, khi lấy “Kinh nghiệm về quy luật” trừ đi “Lời chứng về phép lạ”, kết quả luôn
nghiêng về phía quy luật tự nhiên.
Với Hume, không
có lời chứng nào đủ mạnh để chứng minh một sự vi phạm quy luật tự nhiên, vì bản
thân cái “quy luật” đó đã là bằng chứng hùng hồn nhất chống lại nó rồi.
Hume đã phân biệt
rất rõ giữa sự kiện “phi thường”
(extraordinary) và sự kiện “phép lạ”
(miraculous) dựa trên mối quan hệ của chúng với kinh nghiệm nhân loại. Dưới
đây là sự khác biệt then chốt:
Sự kiện Phi thường (Extraordinary/Marvelous): Đây là những sự kiện hiếm gặp hoặc lạ lùng,
nhưng không vi phạm quy luật tự nhiên.
Đặc điểm: Nó không phù hợp (not
conformable) với kinh nghiệm thông thường của một cá nhân hoặc một nhóm
người cụ thể, nhưng vẫn có thể giải thích được bằng những quy luật vật lý hoặc
những phép tương tự (analogies). Thí
dụ của Hume: Một “vị hoàng tử ở vùng khí hậu nóng” chưa từng thấy băng giá.
Khi nghe kể rằng nước có thể trở nên cứng và chịu được sức nặng của một con
voi, ông coi đó là chuyện phi thường.
Tuy nhiên, đó không phải là phép lạ vì nước đóng băng vẫn là một quy luật tự
nhiên, chỉ là vị hoàng tử đó chưa có trải nghiệm mà thôi. Kết luận: Với sự kiện phi thường, chúng ta cần lời chứng mạnh mẽ hơn để tin, nhưng nó vẫn nằm trong phạm vi có thể
tin được.
Sự kiện
Phép lạ (Miraculous): Đây
là một sự vi phạm (violation)
hoặc băng hoại (transgression)
những quy luật tự nhiên. Đặc điểm: Nó
mâu thuẫn trực tiếp (contrary) với kinh nghiệm đồng nhất, phổ quát và
không thay đổi của toàn nhân loại. Quy luật tự nhiên là thứ đã được bảo chứng
bởi hàng tỷ trải nghiệm giống nhau qua mọi thời đại. Thí dụ của Hume: Một người chết rồi sống lại. Hume cho rằng đây là
phép lạ vì việc “mọi người chết đều không sống lại” là một kinh nghiệm đồng
nhất của nhân loại ở mọi quốc gia và mọi thời đại. Kết luận: Vì phép lạ trái ngược hoàn toàn với “bằng chứng đầy đủ”
từ kinh nghiệm, Hume lập luận rằng không có lời chứng nào của con người đủ sức
nặng để làm cho nó trở nên đáng tin.
“Phi thường”
chỉ là việc chúng ta chưa thấy, còn “Phép lạ” là việc trái ngược với những gì
tất cả mọi người đã thấy.
(b)
Hume áp dụng
logic này để tấn công vào nền tảng của những tôn giáo (đặc biệt là đạo Kitô
thời bấy giờ) qua ba lập luận sắc bén:
1. Phá hủy “Bằng chứng từ Phép lạ”
Các tôn giáo
thường dùng phép lạ (như chữa lành người mù, đi trên nước, hồi sinh người chết)
để chứng minh nguồn gốc thần thánh của mình. Lập luận của Hume: Nếu phép lạ là nền tảng của tôn giáo, mà phép lạ
lại không bao giờ có thể được chứng minh bằng lời kể của con người (như đã phân
tích ở trên), thì toàn bộ hệ thống tôn giáo đó mất đi nền tảng chính đáng (just foundation).
2. Sự tự triệt tiêu giữa những tôn giáo
(Contradictory Miracles)
Đây là một đòn
đánh rất thông minh về mặt logic. Hume cho thấy rằng: Mỗi tôn giáo (Hồi giáo,
Công giáo, những tôn giáo cổ đại. . . ) đều tuyên bố mình là “đúng nhất” dựa trên những phép lạ riêng của họ. Logic: Nếu phép lạ của Tôn giáo A chứng minh Tôn giáo A đúng, thì
nó đồng thời phủ nhận Tôn giáo B. Ngược lại, phép lạ của Tôn giáo B cũng phủ
nhận Tôn giáo A. Kết quả: những phép
lạ của những tôn giáo khác nhau tự tiêu diệt lẫn nhau. Trong một “cuộc chiến”
giữa những lời chứng mâu thuẫn, xác suất để bất kỳ bên nào đúng đều trở về bằng
không.
3. Bản chất của con người: Sự ham thích điều kỳ ảo
Hume quan sát tâm
lý học đám đông và nhận thấy: Con người có xu hướng bẩm sinh là thích những
chuyện giật gân, kỳ lạ (wonder and
surprise). Sự nhiệt thành tôn giáo thường làm mờ đi lý trí. Một người sùng
đạo có thể biết lời kể là sai nhưng vẫn lan truyền nó vì tin rằng mình đang
phụng sự thần linh. Vì thế, những lời chứng về tôn giáo dân gian thường xuất
phát từ những dân tộc “thiếu văn minh” hoặc trong trạng thái quá khích, khiến
chúng hoàn toàn không đáng tin dưới
góc độ khoa học.
Kết luận của Hume: Ông không nói thẳng rằng “Gót không hiện hữu”,
nhưng ông kết luận rằng Đức tin không dựa
trên Lý trí. Để tin vào một tôn giáo, một người phải chấp nhận một “phép lạ”
ngay trong chính não thức họ—đó là tin vào một điều mà tất cả kinh nghiệm và lý
trí đều bảo là không thể.
© Phép Lập Luận của Hume: Tại sao Lời chứng về
Phép lạ không thể là Nền tảng của Tôn giáo
Trong nền tảng
triết học của Hume, tin tưởng có gốc tôn giáo không phải là sự phó thác mù
quáng nhưng là kết quả của một phép toán logic dựa trên kinh nghiệm. Qua tiểu
luận nổi tiếng về phép lạ, Hume đã thiết lập một rào cản lý trí mạnh mẽ với những hệ thống
tôn giáo dân gian bằng cách phân tích mối quan hệ giữa lời chứng của con người
và quy luật tự nhiên.
1. Định nghĩa về Phép lạ và Quy luật tự nhiên : Hume bắt đầu bằng việc phân biệt rõ
giữa sự kiện “phi thường” và “phép lạ”. Một sự kiện phi thường có thể hiếm gặp nhưng vẫn nằm trong quy luật vật
lý. Ngược lại, phép lạ được ông định nghĩa là “một sự vi phạm những quy
luật tự nhiên”. Quy luật tự nhiên vốn được bảo chứng bởi một “kinh nghiệm đầy đủ và bất biến” của nhân loại qua
hàng ngàn năm (như việc lửa luôn nóng hay mọi người đều phải chết). Vì vậy, một
phép lạ, về bản chất, là sự kiện chống lại toàn bộ kho tàng kinh nghiệm của con
người.
2. Phép toán về tin tưởng có gốc tôn giáo: Sự
triệt tiêu (Annihilation): Hume lập luận rằng lý trí đòi hỏi chúng ta phải điều chỉnh tin tưởng có
gốc tôn giáo theo bằng chứng. Khi đối diện với một lời chứng về phép lạ, chúng
ta có hai luồng dữ liệu xung đột:
Luồng 1: Kinh nghiệm đồng nhất về quy luật tự nhiên (xác suất gần như tuyệt đối).
Luồng 2: Lời chứng của con người (vốn dễ sai lầm, bị lừa dối hoặc thổi phồng).
Ông đưa ra nguyên
tắc: Chúng ta phải lấy sự chắc chắn của quy luật tự nhiên trừ đi độ tin cậy của
lời chứng. Với những tôn giáo dân gian, vì lời chứng thường mơ hồ và
đầy cảm tính, phép trừ này dẫn đến một “sự triệt tiêu hoàn toàn”. Trọng lượng
của kinh nghiệm thực tế luôn áp đảo lời kể, khiến xác suất của phép lạ trở về
bằng không.
3. Phê phán nền tảng tôn giáo:
Từ logic này, Hume tấn
công trực diện vào những hệ thống tôn giáo. Ông cho thấy rằng những tôn giáo
thường dùng phép lạ làm “nền tảng chính đáng” để chứng minh tính thiêng liêng. Tuy
nhiên, nếu không có lời chứng nào đủ mạnh để chứng minh một phép lạ, thì nền
tảng đó hoàn toàn sụp đổ. Hơn nữa, ông nhấn mạnh sự tự triệt tiêu giữa những tôn giáo: nếu
phép lạ của tôn giáo này được coi là đúng, nó đồng thời phủ nhận phép lạ của
tôn giáo kia, khiến tất cả những lời chứng tôn giáo trở nên vô hiệu.
Kết luận:
Với Hume, không có lời
chứng nào của con người đủ sức nặng để thiết lập một phép lạ như một nền tảng
cho tôn giáo. Ông kết luận một cách mỉa mai nhưng sắc bén rằng: Đức tin không
dựa trên lý trí, nhưng là một sự lựa chọn chấp nhận điều không thể—một phép
lạ nằm ngoài mọi quy luật của kinh nghiệm và logic nhân loại.
[17] Hume muốn nhấn mạnh rằng: Phép Lạ là một khái niệm logic và vật lý,
không phải một khái niệm về tâm lý hay cảm xúc. Một sự vi phạm nhỏ nhất vào quy
luật của tự nhiên cũng đủ để gọi là một Phép Lạ, dù con người có đủ tinh tế để
nhận ra sự vi phạm đó hay không.
[18] Hume mỉa mai để cho thấy tính “tiện dụng” chính trị và sức mạnh thao túng của Phép Lạ. Việc ông
nói đến sự kiện này đã “cứu tu viện Port-Royal khỏi sự hủy diệt” là một cách
bóc trần bối cảnh lịch sử: Khi phái Jansen đang bị những tu sĩ Dòng Tên và nhà
vua vây hãm, một hiện tượng siêu nhiên xuất hiện “rất đúng lúc” đã trở thành lá
bùa hộ mệnh, khiến những kẻ thù quyền lực nhất cũng phải chùn tay vì e sợ chạm
đến “dấu ấn của Gót”.
Sâu cay hơn,
Hume cho rằng cái Phép Lạ vô lý đó mang giá trị “gấp ngàn lần” những tác phẩm
triết học lừng lẫy của những thiên tài như Pascal hay Racine. Đây là đòn giễu
cợt nhắm vào những nhà thần học: Hume ngầm bảo rằng hàng vạn trang giấy lý luận
thông thái cũng không thể thuyết phục đám đông hiệu quả bằng một sự kiện hoang
đường. Thay vì dùng lý trí vốn đầy kẽ hở, phái Jansen nên bám lấy “chiếc gai
thánh” này, bởi chính sự phi lý của nó mới có sức mạnh thao túng niềm tin và
khóa chặt mọi sự phản biện từ đối thủ.
[19] Hume kín đáo khắc họa những nhà thần học như những kỹ nghệ gia của sự
ngụy tạo. Theo ông, họ sở hữu khả năng nhào nặn những “vật liệu đáng khinh”—bao
gồm những lời đồn đại dân gian, những thánh tích không rõ nguồn gốc (như chiếc
gai nhọn từ vương miện thánh) hay những lời thề thốt cảm tính của đám đông—để biến
chúng thành một “lâu đài ghê gớm”. Lâu đài này chính là những hệ thống lý luận
thần học đồ sộ và những niềm tin tôn giáo không thể lay chuyển được dựng lên
trên nền tảng của sự vô lý.
Mục đích của
Hume là bóc trần bản chất của đức tin tôn giáo: nó không bắt nguồn từ những sự
thật khách quan hay suy luận lý tính, mà được kiến tạo thông qua việc thổi
phồng những hiện tượng hoang đường thành những chân lý vĩ đại. Qua lối viết đầy
mỉa mai, ông chỉ ra rằng những nhà thần học đã lợi dụng tâm lý ưa chuộng sự kỳ
bí của con người để thiết lập một cấu trúc quyền năng nhằm điều khiển não thức
và duy trì sự phục tùng của đại chúng.
[20] Hume nhắc đến chiếc gai nhọn này chính là để ám chỉ sự kiện năm 1656
tại Port-Royal. Khi đó, Marguerite Périer (cháu gái của thiên tài Blaise
Pascal) mắc chứng viêm túi lệ mãn tính (fistula lacrymalis) rất trầm
trọng, khiến vùng mắt sưng tấy và rò mủ liên tục. Theo lời kể, cô đã khỏi hẳn
ngay sau khi chạm vào một mảnh gai thánh (được tin là lấy từ vương miện của
Gót). Hume chọn từ “prickle”
(mẩu gai nhọn, gây châm chích) để gọi thánh tích này nhằm tạo ra một sự tương
phản cực độ: Toàn bộ danh tiếng của những thiên tài vĩ đại nhất châu Âu (như
Pascal, Racine) và sự tồn vong của một tu viện lừng lẫy lại được đặt vào một
vật thể nhỏ bé, tầm thường và vô giá trị như một mẩu gai vụn. Hume bóc trần
rằng đức tin tôn giáo thường không xây trên sự thật khách quan mà được dựng lên
nhờ khả năng “thổi phồng” những hiện tượng hoang đường. Ông ngầm chỉ ra rằng:
Chỉ cần gán chữ “Thánh” vào một mẩu rác thải thực vật, những nhà thần học có
thể dựng lên cả một “lâu đài đức tin” đồ sộ để lấn át lý trí và điều khiển đám
đông.
Hume kết thúc
đoạn văn bằng hình ảnh chiếc “gai thánh” để tung ra đòn châm biếm quyết định. Theo
ông, nếu chúng ta tin vào lời chứng của những vĩ nhân như Pascal hay Racine về
một Phép Lạ, chúng ta buộc phải chấp nhận luôn cái nguyên nhân phi lý đi kèm:
một sự chữa lành chỉ bằng cách chạm vào một mẩu gai nhọn. Hume muốn chỉ ra một
nghịch lý: những bộ óc thông thái nhất châu Âu lại dùng uy tín của mình để bảo
chứng cho một sự mê tín vật chất tầm thường. Qua đó, ông kết luận rằng sức mạnh
của sự cuồng tín tôn giáo có thể biến một “vật liệu đáng khinh” (chiếc gai)
thành một “lâu đài đức tin” lấn át mọi quy luật của lý trí và kinh nghiệm.
