(Of the Standard of Taste)
David Hume
ST 9, Mil 231-2
Rõ
ràng là không có quy luật nào của việc sáng tác được xác lập bằng những suy
luận tiên nghiệm, hay có thể coi chúng là những kết luận trừu tượng của trí tuệ
hiểu biết rút ra từ việc so sánh những thói quen và mối liên hệ giữa những ý
tưởng vốn vĩnh cửu và bất biến. Nền tảng của những quy luật này cũng giống như
nền tảng của tất cả những ngành khoa học thực hành, đó là kinh nghiệm; chúng
chẳng qua chỉ là những quan sát tổng quát về những gì mà con người ở tất cả
những quốc gia và tất cả những thời đại đều thấy là đem lại sự hài lòng. Nhiều
cái đẹp của thi ca và ngay cả của thuật hùng biện được xây dựng dựa trên sự sai
lệch và hư cấu, dựa trên những phép ngoa dụ, ẩn dụ, và việc dùng sai hay làm
biến dạng những từ ngữ khỏi nghĩa tự nhiên của chúng. Nếu chúng ta kìm hãm
những sự bay bổng của trí tưởng tượng và ép tất cả những cách diễn đạt phải
tuân theo sự chính xác và sự thực hình học, thì đó sẽ là điều đi ngược lại nhất
với những quy luật phê bình; bởi vì việc đó sẽ tạo ra một tác phẩm mà theo kinh
nghiệm phổ quát, con người thấy là vô vị và khó chịu nhất. Nhưng dù thi ca
không bao giờ có thể phục tùng sự thực chính xác, nó vẫn phải chịu sự ràng buộc
của những quy luật nghệ thuật mà tác giả tìm ra nhờ vào thiên tài hay sự quan
sát. Nếu một vài người viết cẩu thả hay tùy tiện làm người đọc hài lòng, họ
không làm được điều đó nhờ việc vi phạm quy luật hay trật tự, nhưng là bất chấp
những vi phạm này: Họ đã sở hữu những cái đẹp khác phù hợp với sự phê bình xác
đáng; và sức mạnh của những cái đẹp này đã có thể lấn át những lời chê bai,
đồng thời đem lại cho tâm trí một sự thỏa mãn cao hơn cả nỗi chán ghét nảy sinh
từ những khiếm khuyết.
Ariosto
làm chúng ta hài lòng; nhưng không phải bằng những hư cấu quái dị và phi lý,
hay bằng sự pha trộn kỳ quái giữa văn phong nghiêm trang và hài hước, bằng sự
thiếu mạch lạc trong cốt truyện, hay bằng việc liên tục làm đứt quãng dòng kể.
Ông quyến rũ chúng ta bằng sức mạnh và sự trong sáng trong diễn đạt, bằng sự
nhạy bén và đa dạng trong sáng tạo, và bằng những mô tả tự nhiên về những cung
bậc cảm xúc, đặc biệt là sự vui tươi và tình tứ. Và dù những sai sót của ông có
thể làm giảm sự hài lòng của chúng ta, chúng không thể tiêu diệt nó hoàn toàn.
Nếu thích thú của chúng ta thực sự nảy sinh từ chính những phần bị coi là lầm lỗi
đó, thì đó cũng không phải là lý lẽ để chống lại phê bình tổng quát; nó chỉ là
lý lẽ chống lại những quy luật phê bình cụ thể nào đó vốn thiết lập những chi
tiết đó là lầm lỗi và coi chúng là đáng chê trách trên mặt rộng lớn hơn. Nếu
chúng thực sự mang lại thích thú, chúng không thể là những lầm lỗi; bất kể
thích thú chúng tạo ra có bất ngờ và khó giải thích đến đâu. [1]
ST 10, Mil 232-3
Tuy
nhiên, mặc dù tất cả những quy luật tổng quát của nghệ thuật đều chỉ được xây
dựng dựa trên kinh nghiệm và sự quan sát những cảm nhận tổng quát của bản chất
con người, chúng ta cũng không được lầm tưởng rằng, trong tất cả những hoàn
cảnh, cảm xúc của con người sẽ luôn phù hợp với những quy luật này. Những cảm
xúc tinh tế ấy của tâm trí vốn mang bản chất rất mong manh và nhạy cảm, chúng
đòi hỏi sự hội tụ của nhiều điều kiện thuận lợi mới có thể vận hành trôi chảy và
chính xác theo đúng những nguyên lý tổng quát và đã được thiết lập của chúng.
Chỉ một trở ngại nhỏ nhất từ bên ngoài tác động vào những ‘lò xo’ siêu nhỏ ấy,
hay một sự rối loạn nhẹ nhất từ bên trong, cũng đủ để làm xáo trộn chuyển động
của chúng và làm nhiễu loạn hoạt động của toàn bộ máy. Khi chúng ta muốn thực
hiện một thí nghiệm thuộc loại này, nhằm kiểm chứng sức mạnh của bất kỳ cái đẹp
hay sự xấu xí nào, chúng ta phải lựa chọn cẩn thận thời gian và địa điểm thích
hợp, đồng cũng phải đưa trí tưởng tượng về một trạng thái và tâm thế phù hợp. Một
sự thanh thản tuyệt đối của tâm trí, một sự tập trung của tư tưởng, một sự chú
tâm đúng mức dành cho đối tượng; nếu thiếu bất kỳ điều kiện nào trong số này,
thí nghiệm của chúng ta sẽ sai lệch, và chúng ta sẽ không thể phán đoán về cái
đẹp phổ quát và vĩnh cửu. Liên hệ mà tự nhiên đã đặt để giữa hình thức [của tác
phẩm] và cảm nhận [của con người] ít nhất sẽ trở nên mờ mịt hơn; và việc truy dõi
cũng như phân biệt liên hệ đó sẽ đòi hỏi một sự chính xác lớn hơn. chúng ta sẽ
có thể xác định ảnh hưởng của nó không phải qua tác động của từng cái đẹp riêng
lẻ, cho bằng qua sự ngưỡng mộ bền vững dành cho những tác phẩm đã hiện hữu qua
tất cả những thăng trầm của khuynh hướng và thời thượng, qua tất cả những sai
lầm của thiếu hiểu biết và lòng đố kỵ.
ST 11, Mil 233
Cùng
một Homer, người đã làm hài lòng ở Athens và Rome hai nghìn năm trước, vẫn được
ngưỡng mộ ở Paris và ở London. Tất cả những thay đổi về khí hậu, chính quyền,
tôn giáo, và ngôn ngữ, đã không thể làm lu mờ vinh quang của ông. Quyền lực
hoặc thành kiến có thể mang lại một sự nổi tiếng tạm thời cho một nhà thơ hoặc
nhà hùng biện tồi; nhưng danh tiếng của người đó sẽ không bao giờ bền vững hoặc
phổ biến. Khi những sáng tác của ông được hậu thế hoặc người nước ngoài xem
xét, sự mê hoặc sẽ tan biến và những lỗi lầm của ông hiện rõ màu sắc thực sự
của chúng. Ngược lại, với một thiên tài thực thụ, tác phẩm của ông càng hiện
hữu lâu dài và càng được lan tỏa rộng rãi, thì sự ngưỡng mộ ông nhận được lại
càng chân thành hơn. Lòng đố kỵ và sự ghen ghét chiếm quá nhiều chỗ trong một
phạm vi [giao du] hạn hẹp; và ngay cả ngay cả việc quá quen thuộc với con người
cá nhân của tác giả cũng có thể làm giảm bớt những lời tán dương dành cho thành
quả của ông ta. Nhưng khi những rào cản này được gỡ bỏ, những cái đẹp vốn được
tự nhiên đặt để để khơi gợi những cảm nhận dễ chịu sẽ ngay lập tức phô diễn sức
mạnh của chúng; và chừng nào thế giới này còn hiện hữu, chúng sẽ duy trì uy
quyền của mình đối với tâm trí con người. .
ST 12, Mil 233-4
Như
vậy, rõ ràng là giữa tất cả những sự đa dạng và thay đổi thất thường của thị
hiếu, vẫn hiện hữu những nguyên lý tổng quát nhất định về việc khen hay chê, mà
một con mắt cẩn trọng có thể lần theo tầm ảnh hưởng của chúng trong tất cả
những hoạt động của tâm trí. Có những hình dáng hay phẩm chất cụ thể, do cấu
trúc nguyên bản của bộ khung bên trong tâm trí, đã được tính toán để làm hài
lòng, và những thứ khác thì gây khó chịu; và nếu chúng không tạo ra được hiệu
ứng đó trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào, thì đó là do một khuyết điểm hay sự
thiếu sót rõ rệt nào đó trong cơ quan cảm giác. Một người đang sốt sẽ không
khăng khăng rằng khẩu vị của mình có thể phán quyết về những hương vị; một
người mắc bệnh vàng da cũng sẽ không tự phụ đưa ra phán quyết về màu sắc. Trong
mỗi sinh vật đều có một trạng thái lành mạnh và một trạng thái khiếm khuyết; và
chỉ riêng trạng thái trước mới có thể được cho là cung cấp cho chúng ta một
tiêu chuẩn thực sự về thị hiếu và cảm nhận. Nếu trong trạng thái lành mạnh của
cơ quan [cảm giác], có một sự đồng nhất hoàn toàn hoặc đáng kể về cảm nhận giữa
người với người, thì từ đó chúng ta có thể rút ra một ý niệm về cái đẹp hoàn
hảo; tương tự như việc vẻ ngoài của những đối tượng dưới ánh sáng ban ngày,
trong mắt của một người khỏe mạnh, được gọi là màu sắc thực sự và xác thực của
chúng, ngay cả khi người ta thừa nhận màu sắc chỉ đơn thuần là một ảo ảnh của
những giác quan.
ST 13, Mil 234
Rất
nhiều và thường xuyên có những khiếm khuyết trong những cấu trúc nội tại của
trí óc con người; chính những khiếm khuyết này làm cản trở hoặc làm suy yếu tác
động của những nguyên lý tổng quát đó, vốn là cảm nhận của chúng ta về cái đẹp
hay cái xấu tùy thuộc trên chúng. Mặc dù, xét theo cấu tạo tự nhiên của não
thức, một số đối tượng được định sẵn là sẽ đem lại thích thú, nhưng không thể
mong đợi rằng thích thú ấy sẽ được tất cả những cá nhân cảm nhận ngang nhau. Có
những sự việc và hoàn cảnh cụ thể xảy ra, khiến con người hoặc nhìn những đối
tượng dưới một ánh sáng sai lệch, hoặc làm cho ánh sáng đúng thực không thể
truyền đạt đến trí tưởng tượng, qua đó ngăn cản việc hình thành cảm xúc và nhận
thức thích hợp.
ST 14, Mil 234
Một
nguyên nhân hiển nhiên khiến nhiều người không cảm nhận được đúng cảm thức về
cái đẹp là do họ thiếu sự tinh tế của trí tưởng tượng, vốn cần thiết để
truyền đạt và tiếp nhận những xúc cảm tinh vi hơn. Ai cũng tự nhận là mình có
sự tinh tế ấy; ai cũng nói đến nó, và ngay cả còn muốn lấy nó làm thước đo cho
tất cả những loại thị hiếu thẩm mỹ hay cảm xúc. Nhưng vì mục định của chúng ta
trong bài tiểu luận này là kết hợp một chút ánh sáng của trí tuệ hiểu biết với
với những rung động của cảm xúc, nên cần phải đưa ra một định nghĩa chính xác
hơn về “sự tinh tế” – điều mà trước đây chưa được làm một cách thỏa đáng. Và để
không rút triết học của mình từ những nguồn quá sâu xa hay trừu tượng, chúng ta
sẽ nhờ đến một câu chuyện nổi tiếng trong Don Quixote.
ST 15, Mil 234-5
Sancho
nói với người cận vệ có cái mũi lớn rằng: Tôi có lý do chính đáng để tự nhận
mình có khả năng phán đoán rượu vang; đó là một phẩm tính di truyền trong gia
đình tôi. Ngày trước, hai người bà con của tôi từng được mời đến cho ý kiến về
một thùng rượu lớn, vốn được cho là hảo hạng vì đã để lâu năm và thuộc một mùa nho
tốt. Một người nếm thử, suy ngẫm cẩn thận, rồi sau khi cân nhắc kỹ lưỡng thì
kết luận rằng rượu rất ngon – chỉ có điều ông nhận ra trong đó phảng phất một
vị da thuộc. Người kia, cũng thận trọng không kém, đưa ra phán quyết tương tự,
nhưng kèm theo nhận xét rằng ông dễ dàng nhận ra một vị kim loại, như mùi sắt.
Không thể tưởng tượng được hai người ấy đã bị chế giễu nhiều đến mức nào vì
những nhận xét đó. Nhưng rốt cuộc, ai là người cười sau cùng? Khi người ta đổ
cạn thùng rượu, ở đáy thùng xuất hiện một chiếc chìa khóa cũ, buộc vào đó là
một sợi dây da. [2]
ST 16, Mil 235-6
Sự
tương đồng lớn giữa thẩm khiếu tinh thần và thể xác sẽ giúp chúng ta dễ dàng
hiểu được cách áp dụng câu chuyện ấy. Mặc dù rõ ràng rằng cái đẹp và cái xấu –
ngay cả còn hơn cả vị ngọt hay vị đắng – không phải là những phẩm chất tự thân
của sự vật, nhưng hoàn toàn thuộc về cảm nhận, dù là bên trong hay bên ngoài;
tuy vậy, vẫn phải nhìn nhận rằng trong những đối tượng có những đặc tính nhất
định, vốn theo tự nhiên được cấu tạo để khơi gợi những cảm xúc cụ thể đó. Bây
giờ, vì những phẩm chất ấy có thể chỉ tìm thấy trong một mức độ rất nhỏ, hoặc
có thể bị pha trộn và lẫn lộn với nhau, nên thường xảy ra tình trạng thị hiếu
không bị tác động bởi những phẩm chất hết sức tế vi đó, hoặc không có khả năng để
phân biệt từng hương vị riêng lẻ giữa sự hỗn độn vốn chúng được trình bày. Khi
những “cơ quan” ấy tinh tế đến mức không để lọt bất cứ chi tiết nào, đồng thời
lại chính xác đến mức nhận ra từng thành phần trong toàn bộ tổng hợp, thì chúng
ta gọi đó là sự tinh tế của thị hiếu – dù chúng ta dùng cách nói này
theo nghĩa đen hay theo nghĩa ẩn dụ. Khi đó, những quy luật tổng quát về cái
đẹp sẽ sẽ phát huy tác dụng; chúng được rút ra từ những hình mẫu đã được xác
lập, và từ sự quan sát về những gì gây ra sự hài lòng hay khó chịu khi được
trình bày một cách riêng lẻ và ở mức độ cao: Và nếu cũng chính những phẩm chất
đó, khi nằm trong một tổng thể liên tục và ở mức độ nhỏ hơn, nhưng không làm
những cơ quan cảm giác rung động với một thích thú hay sự khó chịu rõ rệt, thì
chúng ta sẽ gạt bỏ tư cách của người đó đối với tất cả những sự tự xưng về độ
tinh tế này. Việc đưa ra những quy luật tổng quát hay những khuôn mẫu sáng tác
đã được công nhận này cũng giống như việc tìm thấy chiếc chìa khóa có buộc sợi
dây da; nó minh chứng cho phán quyết của hai người bà con của Sancho, và làm bẽ
mặt những người tự xưng là giám khảo đã chê bai họ. Ngay cả khi thùng rượu chưa
bao giờ được đổ cạn, thì vị giác của người này vẫn tinh tế và của người kia vẫn
mờ nhạt, uể oải như cũ. Tuy nhiên, nếu không có bằng chứng đó, sẽ khó lòng
chứng minh được sự ưu việt của người trước để thuyết phục những người đứng xem.
Tương tự như vậy, ngay cả khi những cái đẹp của văn chương chưa bao giờ được hệ
thống hóa hay đúc kết thành những nguyên lý tổng quát; ngay cả khi chưa có mô
hình xuất sắc nào được công nhận; thì những cấp độ thị hiếu thẩm mỹ khác nhau
vẫn hiện hữu, và phán quyết của người này vẫn đáng giá hơn người kia. Thế
nhưng, nếu thiếu quy luật, chúng ta sẽ không dễ dàng dập tắt được sự ngoan cố
của một nhà phê bình tồi – người luôn khăng khăng giữ cảm tính cá nhân và từ
chối khuất phục trước đối thủ. Nhưng khi chúng ta chỉ ra cho người này một
nguyên lý nghệ thuật đã được thừa nhận; khi chúng ta minh họa nguyên lý này
bằng những ví dụ mà chính người này, từ thị hiếu thẩm mỹ cá nhân của mình, cũng
phải thừa nhận là khớp với nguyên lý đó; và khi chúng ta chứng minh rằng chính
nguyên lý ấy cũng có thể áp dụng vào trường hợp hiện tại (nơi mà người này đã
không nhận ra hay cảm nhận được ảnh hưởng của nó): thì rốt cuộc người này phải
kết luận rằng lỗi nằm ở chính bản thân người này, và rằng chính người này thiếu
đi sự tinh tế cần thiết để cảm nhận được tất cả những cái đẹp cũng như tất cả
những khiếm khuyết trong bất kỳ tác phẩm hay bài diễn thuyết nào
ST 17, Mil 236-7
Điều
được nhìn nhận là sự hoàn hảo của tất cả những giác quan hoặc khả năng, để có
thể nhận thức với sự chính xác những đối tượng nhỏ nhất của nó và không để bất
cứ gì thoát khỏi sự chú ý và quan sát của nó. Những đối tượng càng nhỏ thì mắt
càng cảm nhận được, cơ quan đó càng tinh tế và cấu tạo cũng như thành phần của
nó càng phức tạp. Chúng ta không thử thách một vòm miệng tốt bằng những mùi vị
mạnh; nhưng bằng một hỗn hợp của những thành phần nhỏ bé, nơi mà chúng ta vẫn
cảm nhận được từng phần, bất kể sự nhỏ nhặt của nó và sự lẫn lộn của nó với
những phần còn lại.Tương tự như vậy, nhận thức nhanh chóng và nhạy bén về cái
đẹp và cái dị dạng xấu xí, phải là sự hoàn hảo trong thị hiếu tinh thần của
chúng ta; một người cũng không thể hài lòng với bản thân khi người này nghi ngờ
rằng bất kỳ sự xuất sắc hay khuyết điểm nào trong một bài diễn thuyết đều khiến
người này không thể nhận ra. Trong trường hợp này, sự hoàn hảo của con người và
sự hoàn hảo của giác quan hay cảm giác được coi là thống nhất. Trong nhiều
trường hợp, một khẩu vị rất tinh tế có thể là một sự bất tiện lớn cho cả bản
thân một người và bạn bè của người này: Nhưng một thị hiếu tinh tế về trí tuệ
hay cái đẹp luôn là một phẩm chất đáng khao khát; bởi vì nó là nguồn gốc của
tất cả những sự tận hưởng thanh tao và trong sáng nhất mà bản chất con người có
thể tiếp nhận. Trong quyết định này, cảm nhận của toàn loài người đều được đồng
tình. Bất cứ ở đâu bạn có thể xác định được thị hiếu thẩm mỹ tinh tế của nó,
chắc chắn nơi đó sẽ nhận được sự tán thành; và cách tốt nhất để xác định điều
đó là dựa vào những hình mẫu và nguyên lý đã được thiết lập bởi sự đồng thuận
và kinh nghiệm thống nhất của những quốc gia và thời đại.
ST 18, Mil 237
Nhưng
dù cho trong tự nhiên vốn có một sự khác biệt lớn về độ tinh tế giữa người này
và người kia, thì không gì giúp gia tăng và cải thiện tài năng này hơn việc rèn
luyện trong một bộ môn nghệ thuật cụ thể, và việc thường xuyên xem xét hay
ngắm nhìn một loại cái đẹp nhất định. Khi những đối tượng thuộc bất kỳ loại nào
mới được trình bày lần đầu trước mắt hay trí tưởng tượng, cảm nhận đi kèm với
chúng thường mờ nhạt và hỗn độn; và tâm trí, ở một mức độ lớn, chưa có khả năng
đưa ra phán quyết về những ưu điểm hay khuyết điểm của chúng. Thị hiếu lúc ấy
chưa thể nhận ra những điểm xuất sắc khác nhau của trình diễn; lại càng không
thể phân biệt được đặc tính riêng của từng điểm xuất sắc đó, cũng như xác định
chất lượng và mức độ của chúng. Nếu một người chưa thực hành như vậy có tuyên
bố tổng quát rằng toàn bộ tác phẩm là đẹp hay xấu, thì đó đã là điều tối đa có
thể kỳ vọng; và ngay cả phán quyết này, họ cũng sẽ đưa ra với sự ngần ngại và
dè dặt lớn. Nhưng hãy để người này tích lũy kinh nghiệm về những đối tượng đó,
cảm giác của người này sẽ trở nên chính xác và tinh tường hơn: Người này không
chỉ nhận ra những cái đẹp và khiếm khuyết của từng phần, nhưng còn đánh dấu
được loại biệt riêng biệt của từng phẩm chất, và dành cho nó khen ngợi hay chê
trách thích đáng. Một cảm nhận rõ ràng và rành mạch đi theo người đó trong suốt
tiến trình xem xét những đối tượng; và người này nhận ra đúng mức độ và loại
khen ngợi hay khó chịu mà mỗi phần của tác phẩm, theo lẽ tự nhiên, được tạo ra
để khơi gợi. Lớp sương mù từng dường như bao phủ lên đối tượng giờ đây tan biến
dần: Cơ quan cảm giác đạt được sự hoàn thiện lớn hơn trong những hoạt động của
nó; và có thể đưa ra phán quyết về những ưu điểm của tất cả những màn trình
diễn mà không sợ sai lầm. Nói tóm lại, sự khéo léo và thuần thục mà việc rèn
luyện đem lại cho việc thực hiện bất kỳ công việc nào, thì cũng có thể đạt được
bằng chính cách đó trong việc đánh giá công việc ấy.
ST 19, Mil 237-8
Việc
rèn luyện mang lại lợi ích lớn cho khả năng nhận ra cái đẹp đến mức,
trước khi chúng ta có thể đưa ra phán quyết về bất kỳ tác phẩm quan trọng nào,
chúng ta ngay cả cần phải đọc đi đọc lại chính trình diễn cụ thể đó nhiều hơn
một lần, và xem xét nó dưới những góc độ khác nhau với sự chú tâm và cân nhắc
kỹ lưỡng. Luôn có một sự xao động hay vội vã của tư tưởng đi kèm trong lần đọc
đầu tiên bất kỳ tác phẩm nào, thứ làm xáo trộn cảm nhận chân thực về cái đẹp.
Khi đó, chúng ta không nhận ra liên hệ giữa những phần của tác phẩm: Những đặc
điểm thực sự của phong cách cũng ít khi được phân biệt rõ: Những điểm hoàn hảo
và khiếm khuyết khác nhau dường như bị gói ghém trong một sự hỗn độn, và chúng
hiện ra một cách mờ nhạt trước trí tưởng tượng. Đó là chưa kể đến việc có một
loại cái đẹp, vì nó quá rực rỡ và hời hợt, nên làm chúng ta hài lòng lúc đầu;
nhưng khi chúng ta thấy nó không tương xứng với sự diễn đạt xác đáng của lý trí
hay cảm xúc, nó sẽ sớm trở nên nhàm chán đối với thị hiếu, rồi bị gạt bỏ với vẻ
khinh miệt, hoặc ít nhất là bị đánh giá với một giá trị thấp hơn nhiều.
ST 20, Mil 238
Việc duy trì thói quen chiêm ngưỡng bất kỳ thứ bậc hay mức độ nào của cái đẹp mà không nảy sinh nhu cầu thường xuyên phải
thực hiện những sự so sánh giữa những chủng loại và cấp độ xuất sắc khác
nhau, cũng như ước lượng tỷ lệ giữa chúng, là điều không thể tránh khỏi. Một người không có cơ hội so sánh những loại hình khác nhau của cái đẹp thì quả thực hoàn toàn không đủ tư cách để đưa ra một ý kiến về bất kỳ đối tượng nào được trình bày trước người này. Chỉ bằng cách so sánh, chúng ta mới xác lập được
những từ ngữ khen ngợi hay chê trách, và học được cách ấn định mức độ tương xứng
cho mỗi loại. Ngay cả một bức vẽ thô thiển nhất cũng chứa đựng một độ rạng rỡ
nhất định của màu sắc và sự chính xác trong việc mô phỏng, vốn ở chừng mực nào
đó là những cái đẹp, và chúng có thể khiến tâm trí của một người nông dân hay
một người thổ dân (Indian) phải vô cùng ngưỡng mộ [3]. Những bản ballad tầm thường nhất không hẳn
là hoàn toàn thiếu đi sự hài hòa hay tính tự nhiên; và không ai trừ một người
đã quen thuộc với những cái đẹp thượng đẳng mới có thể tuyên bố rằng nhịp điệu
của chúng thật chói tai, hay cách kể chuyện thật tẻ nhạt. Một sự kém cỏi lớn về
cái đẹp sẽ gây ra sự khó chịu cho một người vốn đã quen
thuộc với những gì ưu tú nhất trong thể loại đó, và vì lý do ấy, nó bị tuyên bố
là một sự xấu xí. Cũng giống như
đối tượng hoàn mỹ nhất mà chúng ta biết thường được tự nhiên cho là đã đạt đến
đỉnh cao của sự hoàn hảo, và xứng đáng nhận được những tán thưởng nồng nhiệt
nhất. Chỉ một người đã quen với việc xem xét, kiểm chứng và cân nhắc những
thành quả nghệ thuật khác nhau, vốn được ngưỡng mộ qua những thời đại và quốc
gia khác nhau, mới có thể đánh giá đúng giá trị của một tác phẩm được trưng bày
trước mắt mình, và ấn định cho nó một vị trí xứng đáng trong số những tác phẩm
của thiên tài.
ST 21, Mil 239-40
Nhưng
để giúp một nhà phê bình có thể thực hiện công việc này một cách đầy đủ hơn,
người đó phải giữ cho tâm trí mình thoát khỏi tất cả những tiên kiến, và không
để bất cứ điều gì lọt vào sự cân nhắc của mình ngoài chính đối tượng đang được
đưa ra để xem xét. chúng ta có thể quan sát thấy rằng, tất cả những tác phẩm
nghệ thuật, để tạo ra hiệu ứng đúng mức lên tâm trí, đều phải được xem xét từ
một góc nhìn nhất định, và những người có hoàn cảnh (dù là thực tế hay tưởng
tượng) không phù hợp với hoàn cảnh mà tác phẩm yêu cầu thì không thể thưởng
thức tác phẩm đó một cách trọn vẹn. Một nhà hùng biện nói chuyện với một nhóm
khán giả cụ thể, và người đó phải để tâm đến thiên tư, lợi ích, ý kiến, cảm xúc
và những tiên kiến riêng biệt của họ; nếu không, người đó sẽ hoài công vô ích
vào việc chi phối những quyết định hay khơi dậy tình cảm của họ. Ngay cả khi
khán giả đã có sẵn một vài thành kiến chống lại mình, dù phi lý đến đâu, diễn
giả cũng không được làm ngơ bất lợi đó; nhưng trước khi đi vào đề tài, người đó
phải nỗ lực để hòa giải tình cảm của họ và và tranh thủ thiện cảm của họ. Một
nhà phê bình ở một thời đại hay quốc gia khác khi đọc kỹ bài diễn thuyết này,
phải lưu ý đến tất cả những hoàn cảnh đó, và phải tự đặt vào cùng hoàn cảnh với
khán giả để đưa ra phán đúng đúng về bài diễn thuyết. Tương tự như vậy, khi bất
kỳ tác phẩm nào được gửi đến công chúng, dù tôi có tình bạn hay lòng thù ghét
với tác giả, tôi cũng phải tách mình ra khỏi hoàn cảnh đó; và khi coi bản thân
mình như một con người nói chung, tôi phải quên đi, nếu có thể, con người cá
nhân và những hoàn cảnh riêng biệt của tôi. Một người bị tiên kiến chi phối sẽ
không tuân theo điều kiện này; mà cứ khăng khăng giữ lấy vị trí tự nhiên của
mình, không chịu đặt mình vào góc nhìn vốn tác phẩm giả định. Nếu tác phẩm được
gửi đến những người thuộc một thời đại hay quốc gia khác, người đó sẽ không
màng đến những quan điểm và tiên kiến riêng biệt của họ; mà vì chứa đầy những
thói tục của thời đại và đất nước mình, người đó vội vàng lên án những gì vốn
được xem là tuyệt vời trong mắt những người mà bài diễn thuyết đó vốn chỉ được
tính toán dành riêng cho họ. Nếu tác phẩm được thực hiện cho công chúng, người
đó không bao giờ mở rộng sự hiểu biết của mình một cách đủ mức, hay quên đi lợi
ích của mình với tư cách là một người bạn hay kẻ thù, một đối thủ hay một người
bình luận. Bằng cách này, những cảm nhận của người đó bị bóp méo; và những cái
đẹp hay khiếm khuyết cũng không có cùng tầm ảnh hưởng lên người đó, giống như
nếu người đó đã tự ép buộc trí tưởng tượng của mình một cách đúng mực và đã
quên mình đi trong một khoảnh khắc. Khi đó, thị hiếu của người đó rõ ràng đã
rời xa tiêu chuẩn xác đáng; và hệ quả là nó mất đi tất cả những uy tín cũng như
thẩm quyền.
ST 22, Mil 240-1
Ai
cũng biết rằng, trong tất cả những vấn đề được đưa ra trước trí tuệ hiểu biết,
tiên kiến sẽ hủy hoại sự phán đoán sáng suốt và làm lệch lạc tất cả những hoạt
động của những năng lực trí tuệ. Đối với thị hiếu tốt, tiên kiến cũng gây hại
không kém; nó có sức mạnh tương đương trong việc làm hư hỏng cảm nhận của chúng
ta về cái đẹp. Chính cảm quan tốt [4] đóng vai trò kiểm soát ảnh hưởng của tiên kiến
trong cả hai trường hợp; và về phương diện này cũng như nhiều phương diện khác,
lý trí—nếu không phải là một phần thiết yếu của thị hiếu—thì ít nhất cũng là
điều kiện kiên quyết cho những hoạt động của năng lực này. Trong tất cả những
sản phẩm cao quý của thiên tài, luôn hiện hữu một mối liên hệ và sự tương ứng
lẫn nhau giữa những phần; người nào không có tư tưởng đủ rộng mở để bao quát
toàn bộ những phần đó, và không đủ khả năng so sánh chúng với nhau nhằm nhận ra
sự nhất quán và tính thống nhất của tonaf thể, thì người đó không bao giờ có
thể cảm thụ được cái đẹp hay nhận ra những khiếm khuyết. Tất cả những tác phẩm
nghệ thuật đều có một mục đích hay tôn chỉ nhất định mà nó hướng tới; và chúng
ta sẽ đánh giá tác phẩm đó hoàn hảo đến đâu dựa trên việc nó đạt được mục đích
này hiệu quả như thế nào. Mục tiêu của hùng biện là để thuyết phục, của lịch sử
là để chỉ dạy, của thi ca là để mang lại cảm xúc qua đam mê và trí tưởng tượng.
Chúng ta phải luôn giữ vững những mục đích này trong tâm trí khi thưởng thức
bất kỳ trình diễn nào; và phải có khả năng phán đoán xem những phương tiện được
dùng đã thích ứng ra sao với mục đích tương ứng của chúng. Bên cạnh đó, tất cả
những thể loại sáng tác ngay cả những bài thơ giàu nhạc tính nhất, thực chất
chẳng qua cũng chỉ là một chuỗi những mệnh đề và suy luận; dù chúng không phải
lúc nào cũng chuẩn xác nhất hay xác đáng nhất, nhưng chúng vẫn phải có vẻ hợp
lý và thuyết phục, dẫu đã được ngụy trang bằng sắc màu của trí tưởng tượng. Những
nhân vật trong bi kịch và sử thi phải được khắc họa sao cho cách họ lập luận,
suy nghĩ, kết luận và hành động đều phù hợp với tính cách và hoàn cảnh của họ. Nếu
thiếu đi sự phán đoán (judgment), cũng như thị hiếu thẩm mỹ và sự sáng tạo, một
nhà thơ không bao giờ có thể hy vọng thành công trong trong một công việc tế
nhị như vậy. Đó là chưa kể đến việc chính những năng lực xuất sắc góp phần cải
thiện lý trí—như sự sáng suốt trong quan niệm, sự chính xác trong phân biệt và
khả năng lĩnh hội nhạy bén, cũng chính là những yếu tố thiết yếu cho những hoạt
động của một thị hiếu thẩm mỹ đích thực và luôn song hành cùng nó như những hệ
quả tất yếu. Hiếm khi, hoặc không bao giờ, chúng ta thấy một người có óc phán
đoán sáng suốt và có kinh nghiệm trong bất kỳ thể loại nghệ thuật nào mà lại
không thể đánh giá được cái đẹp của nó; và cũng hiếm hoi không kém khi gặp một
người có thị hiếu thẩm mỹ xác đáng mà lại thiếu đi một trí tuệ hiểu biết lành
mạnh. [5]
ST 23, Mil 241
Như
vậy, mặc dù những nguyên lý của thị hiếu thẩm mỹ là phổ quát và gần như giống
nhau ở tất cả những người; nhưng thực tế ít ai đủ tư cách để đưa ra phán quyết
về một tác phẩm nghệ thuật, hoặc thiết lập cảm nhận riêng của họ thành tiêu
chuẩn của cái đẹp. Những cơ quan của cảm giác bên trong hiếm khi hoàn hảo đến
mức cho phép những nguyên lý tổng quát phát huy hết tác dụng và tạo ra một cảm
giác tương xứng với những nguyên lý đó. Những cơ quan này hay là chịu đựng một
khiếm khuyết nào đó, hay bị làm cho hư hỏng bởi một sự rối loạn nào đó; và do
đó, chúng khơi dậy một cảm nhận có thể bị coi là sai lầm. Khi nhà phê bình
thiếu sự tinh tế, người này phán đoán nhưng không có sự phân biệt, chỉ bị tác
động bởi những đặc điểm thô thiển và hiển nhiên của đối tượng; còn những nét
chạm trổ tinh vi hơn thì người này bỏ qua và không để tâm tới. Khi thiếu sự rèn
luyện, phán quyết của người này sẽ đi kèm với sự bối rối và ngần ngại. Khi
không áp dụng sự so sánh, người này sẽ ngưỡng mộ cả những cái đẹp phù phiếm
nhất – những thứ đáng ra phải gọi là khiếm khuyết. Khi nằm dưới ảnh hưởng của
tiên kiến, tất cả những cảm nhận tự nhiên của người này đều bị bóp méo. Khi
thiếu cảm quan tốt, người này không đủ tư cách để nhận ra những cái đẹp của cấu
trúc và lập luận – vốn là những giá trị cao quý nhất. Đa số con người đều vấp
phải một hoặc vài khiếm khuyết này; và do đó, ngay cả trong những thời đại văn
minh nhất, một người thẩm định thực thụ trong các bộ môn nghệ thuật tinh vi
cũng hiếm khi xuất hiện: Chỉ có sự minh mẫn mạnh mẽ, kết hợp với cảm nhận tinh
tế, được cải thiện bởi rèn luyện, được hoàn thiện bởi so sánh, và được gột rửa
khỏi tất cả những tiên kiến, mới có thể mang lại cho những nhà phê bình danh
hiệu quý giá này; và phán quyết đồng thuận của những người như vậy, dù ở bất cứ
nơi nào họ được tìm thấy, chính là tiêu chuẩn thực sự của thị hiếu thẩm mỹ và
cái Đẹp.
ST 24, Mil 241
Thế
nhưng, có thể tìm thấy những nhà phê bình như vậy ở đâu? Dựa vào những dấu hiệu
nào để nhận biết họ? Làm sao phân biệt được họ với những người tự xưng? Những
câu hỏi này thật gây bối rối; và dường như chúng đang đẩy chúng ta quay trở lại
chính sự bất định mà chúng ta đã cố gắng thoát ra trong suốt bài tiểu luận này.
Lê
Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Dec/2023 – Jan/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Chống lại suy luận Tiên nghiệm (A priori): Hume khẳng định bạn không
thể ngồi trong phòng kín, dùng logic thuần túy để suy ra cái gì là đẹp. Cái đẹp
không phải là định lý Pythagore. Nó là một sự kiện của tâm lý con người. - Chân
lý hình học (Geometrical truth): Nếu một bài thơ mô tả tất cả những thứ chính
xác như thực tế (ví dụ: mô tả một trận chiến với số lượng quân lính chính xác
và sơ đồ chiến thuật khô khan), nó sẽ trở nên “insipid” (nhạt nhẽo). Nghệ thuật
cần “falsehood and fiction” (sự hư cấu) để chạm đến cảm xúc. Một tác phẩm vĩ đại
có thể chứa đầy lỗi, nhưng nếu những vẻ đẹp của nó quá mạnh mẽ, chúng sẽ “đè bẹp”
(overpower) cảm giác khó chịu từ những lỗi đó.
Ludovico
Ariosto (1474–1533) là một nhà thơ người Ý vĩ đại, nổi tiếng nhất với sử thi Orlando
Furioso (Orlando cuồng điên). Hume chọn Ariosto làm thí dụ vì tác phẩm của
ông cực kỳ gây tranh cãi trong giới phê bình thời bấy giờ:
Các “lỗi” theo
quan điểm cổ điển: Ariosto viết theo lối phóng túng, những câu chuyện của ông
vô lý, quái dị (monstrous), trộn lẫn giữa bi và hài, và thường xuyên bị ngắt
quãng giữa chừng để chuyển sang nhân vật khác. Tại sao ông vẫn vĩ đại?: Hume giải
thích rằng dù Ariosto vi phạm nhiều “qui luật” về cấu trúc, ông vẫn làm say
lòng độc giả bằng: (a) Sức mạnh biểu đạt: Ngôn từ rõ ràng, sống động. (b) Sự
sáng tạo: Những phát minh tình tiết đa dạng, phong phú. (c) Sự thấu hiểu đam
mê: Những bức tranh tâm lý tự nhiên về tình yêu và thích thú. Kết luận của Hume
thông qua Ariosto: Nếu một qui luật phê bình nói rằng Ariosto “dở”, nhưng thực
tế cả thế giới đều thấy ông “hay”, thì cái sai nằm ở qui luật đó nhưng không phải
ở cảm xúc của độc giả. Qui luật phải phục vụ mỹ cảm của con người, chứ con người
không sinh ra để phục vụ qui luật.
[2] Người cận vệ có cái mũi lớn: Tức Tomé Cecial, (hàng xóm và bạn của Sancho, đang
cải trang làm cận vệ cho một hiệp sĩ khác. Câu chuyện nếm rượu được Sancho kể lại
trong cuộc nhậu giữa hai người nhằm khoe khoang dòng máu có “gu” thưởng thức
tinh tế.
[3] Indian: thổ
dân, người bản địa (thường là người bản địa châu Mỹ - Native
Americans). Vào thời điểm đó, trong mắt những nhà triết học châu Âu, những cộng
đồng này đại diện cho trạng thái “tự nhiên” hoặc “nguyên thủy” của con người,
chưa tiếp xúc với giáo dục nghệ thuật hàn lâm hay những tiêu chuẩn thẩm mỹ phức
tạp của châu Âu.
[4] good sense
[5] quan hệ giữa Lý trí (Reason/Good Sense) và Thị hiếu (Taste). Hume đập
tan quan niệm cho rằng nghệ thuật chỉ là chuyện của cảm xúc vu vơ bằng cách khẳng
định: Nếu thiếu đi sự tỉnh táo của lý trí, chúng ta không bao giờ chạm tới được
vẻ đẹp thực sự.
