(Il Principe)
Niccolò Machiavelli
Chương XI
Về Những Lãnh Địa Thuộc Hội Nhà Thờ Catô
Giờ đây chỉ còn lại việc suy luận về những
lãnh địa thuộc hội nhà thờ Catô. Mọi khó khăn liên quan đến chúng đều xuất hiện
trước khi chúng được chiếm hữu, bởi vì chúng được thâu tóm nhờ bản lĩnh chính
trị hoặc thời vận may rủi, nhưng lại được duy trì mà không cần đến những yếu tố
này; chúng được nâng đỡ nhờ những định chế lâu đời gắn liền với tôn giáo, vốn
mạnh mẽ và đặc thù đến mức giữ cho những người cầm quyền đứng đầu tại vị bất kể
cách họ hành xử hay sống ra sao.
Chỉ những lãnh địa thuộc Hội Nhà Thờ mới có
điều “ngược đời” này: họ có nhà nước mà không cần tự bảo vệ, có thần dân mà
không cần cai trị, và quyền lực của họ vẫn không bị ai tước đoạt; thần dân, dù
không được quản lý, cũng không bận tâm và cũng không thể xa lánh những vị cầm
quyền. Như vậy, chỉ những lãnh địa này mới thực sự an toàn và hạnh phúc. Nhưng vì chúng tồn
tại nhờ những nguyên nhân cao siêu [1] vốn
trí tuệ con người không thể với tới, tôi sẽ bỏ qua việc bàn về chúng; bởi chúng
được Thiên Chúa tôn vinh và duy trì, việc một người ngạo mạn và liều lĩnh bàn
luận về chúng là quá phận.
Tuy nhiên, nếu ai đó hỏi tôi làm thế nào mà
Hội nhà thờ Catô lại đạt được vị thế vĩ đại như vậy trong những vấn đề thế tục,
mặc dù trước thời Alexander, những thế lực Ý — không chỉ những bên được gọi là
thế lực mà cả mọi quý phong kiến và lãnh chúa, kể cả những người nhỏ nhất — đều
coi thường Hội nhà thờ Catô trong những vấn đề thế tục; còn giờ đây một vị vua
Pháp phải run sợ trước Hội nhà thờ Catô, và Hội nhà thờ Catô đã có thể đuổi ông
khỏi Ý và làm suy yếu Venice. Mặc dù điều này đã được biết đến, nhưng tôi thấy
không thừa khi nhắc lại một phần quan trọng của nó.
Trước khi
Charles, vua Pháp, tiến vào Ý [2] , vùng đất này nằm
dưới quyền lực của Vua chiên, chính quyền Venice, vua Naples, công tước Milan
và người Florence. Những thế lực này phải quan tâm đến hai vấn đề then chốt:
một là ngăn không cho kẻ ngoại quốc mang vũ khí vào Ý; hai là không để bất kỳ
ai trong số họ mở rộng lãnh địa của mình. Trong số này,
những thế lực lo ngại nhất là Giáo hoàng và chính quyền Venice. Để kiềm chế Venice, cần sự liên minh của
tất cả những thế lực còn lại, như trong việc phòng thủ Ferrara; còn để kìm hãm
Vua chiên, họ lợi dụng những nam tước ở Rome. Những nam
tước này vốn bị chia thành hai phe, Orsini và Colonna, nên luôn có lý do để
xung đột [3] giữa họ; và với vũ khí trong tay và đứng ngay trước mắt vua chiên, họ
đã giữ cho vị thế vua chiên luôn yếu kém và bất lực, bất chấp danh nghĩa tối
cao của vị này.
Và mặc dù đôi khi có một vị vua chiên đầy
nhiệt huyết trỗi dậy, như Sixtus, [4]
nhưng thời vận may rủi hay sự khôn ngoan cũng không có thể giải thoát vị này
khỏi những rắc rối này. Nguyên nhân chính là sự ngắn ngủi của triều đại; trong trung bình
mười năm tại vị, một Giáo hoàng cũng chỉ kịp dẹp yên một phe phái. [5] Ví dụ, nếu một Vua chiên gần loại bỏ được
nhà Colonna, thì Vua chiên kế tiếp lại thù địch với nhà Orsini lại lên nắm quyền,
khiến nhà Colonna trỗi dậy trở lại, và không còn thời gian để dẹp nhà Orsini.
Kết quả là lực lượng thế tục của Vua chiên bị coi thường ở Ý.
Sau đó, Alexander VI trỗi dậy; [6] Trong
số tất cả những vua chiên, vị này đã chứng minh một vua chiên có thể đạt được quyền
lực nhờ tiền bạc và quân lực đến mức nào. Với Công tước Valentino làm công cụ,
và xâm lăng của người Pháp là cơ hội, vị này đã làm tất cả những việc vốn tôi đã thảo luận khi
nói về hành động của công tước. Mặc dù mục đích của Alexander có thể không phải
là làm Hội Nhà Thờ vĩ đại, vốn là để nâng cao quyền lực công tước, những hành
động của vị này vẫn đóng góp trực tiếp vào sự vĩ đại của Hội Nhà Thờ. Sau cái chết của
vị này,
khi công tước bị loại bỏ, nhà thờ Catô đã thừa hưởng những thành quả đó.
Tiếp đến là vua chiên Julius, người nhận thấy
Hội Nhà Thờ đã vĩ đại: nắm toàn bộ Romagna, loại bỏ những nam tước ở Rome, tiêu
diệt những phe phái bằng những đòn trấn áp của Alexander. Julius còn mở ra con
đường mới để tích lũy tiền bạc – điều chưa từng có trước thời Alexander. [7] Vị
vua chiên này không chỉ tiếp tục vốn còn gia tăng những chính sách đó; ông còn
tính đến việc giành Bologna, loại bỏ Venice, và trục xuất người Pháp khỏi Ý.
Tất cả đều thành công, và càng được ca ngợi vì Julius làm tất cả vì sự lớn mạnh
của Hội Nhà Thờ chứ không phải vì lợi ích cá nhân
Vị này cũng giữ những phe phái Orsini và
Colonna trong cùng giới hạn mà vị này tìm thấy; và mặc dù có thể có một số thủ
lĩnh sẵn sàng thay đổi, nhưng hai điều đã kiềm chế họ: một là sự vĩ đại của hội
nhà thờ Catô khiến họ sợ hãi; hai là việc họ không có những hồng y của riêng
mình — vốn là nguồn gốc của những cuộc biến loạn giữa họ. Những phe phái này sẽ
không bao giờ yên ổn chừng nào còn có những hồng y; vì những hồng y nuôi dưỡng
những phe phái, cả trong và ngoài Rome, và những nam tước buộc phải bảo vệ họ.
Do đó, từ tham vọng của những giáo phẩm mà nảy sinh sự hỗn loạn và biến loạn
giữa những nam tước.
Đức vua chiên Leo hiện nay [8] đã
kế thừa một vị thế vô cùng quyền lực; người ta có thể hy vọng rằng nếu những vua chiên trước đã làm Hội
Nhà Thờ vĩ đại nhờ vũ lực, thì ngài, nhờ lòng tốt và vô số đức tính xuất chúng
khác, có thể làm cho Hội Nhà Thờ trở nên vô cùng vĩ đại và đáng kính.
Chương XII
Có Bao Nhiêu Loại Quân Đội Và Về Quân Đánh
Thuê
Sau khi đã luận bàn chi tiết về tất cả những
đặc tính của những lãnh địa mà từ đầu tôi đã đề ra để khảo sát, sau khi đã xem
xét ở một vài khía cạnh những nguyên nhân dẫn đến sự hưng thịnh và suy tàn của
chúng, và đã chỉ ra những phương thức mà nhiều người đã dùng để chiếm lấy và
duy trì chúng, thì giờ đây còn lại cho tôi phải bàn một cách tổng quát về
phương thức tấn công và phòng thủ thích hợp với mỗi loại đã nêu.
Như đã nói ở
trên, một người cầm quyền đứng đầu cần phải đặt cho mình những nền móng vững
chắc; [9] nếu không, chắc chắn sẽ bị sụp đổ. Những nền móng chính của mọi nhà nước —
dù mới, cũ hay hỗn hợp — là luật pháp tốt và quân đội tốt. Và bởi không thể có
luật pháp tốt ở nơi không có quân đội tốt, và ở đâu có quân đội tốt thì ở đó
tất phải có luật pháp tốt, nên tôi sẽ bỏ qua việc lập luận về luật pháp mà chỉ
tập trung bàn về quân đội.
Tôi khẳng định rằng, những quân lực mà một
người cầm quyền đứng đầu dùng để bảo vệ nhà nước của mình có thể là quân đội
của chính mình, quân đánh thuê, quân cứu viện, hoặc quân hỗn hợp. Quân đánh
thuê và quân cứu viện là những thứ vô dụng và nguy hiểm; và nếu ai đó đặt nền
móng cho nhà nước của mình trên quân đánh thuê, người đó sẽ không bao giờ đứng
vững hay an toàn; vì chúng chia rẽ, tham vọng, thiếu kỷ luật, không trung
thành; dũng cảm trước bạn hữu nhưng lại hèn nhát trước kẻ thù; không sợ Gót, chẳng giữ tín nghĩa
với con người; sự sụp đổ chỉ bị trì hoãn chừng nào cuộc tấn công chưa tới; và
trong thời bình ngài bị chúng bóc lột, còn trong thời chiến ngài bị kẻ thù tàn phá.
Nguyên nhân của điều này là chúng không có tình cảm hay bất kỳ động lực nào
khác giữ chúng trên chiến trường ngoài một khoản tiền công nhỏ, vốn không đủ để
khiến chúng sẵn lòng chết vì ngài. Chúng rất sẵn lòng làm binh lính cho ngài
khi ngài không có chiến tranh; [10]
nhưng khi chiến tranh ập đến, chúng hoặc là tháo chạy, hoặc là đào ngũ.
Sẽ chẳng khó khăn gì để tôi thuyết phục bất kỳ
ai về điểm này, bởi sự sụp đổ hiện tại của nước Ý không do nguyên nhân nào khác
ngoài việc người ta đã dựa vào quân đánh thuê trong suốt nhiều năm. Những đội
quân này từng giúp một số người đạt được vài thành công, và có vẻ dũng cảm khi chỉ đối đầu với nhau;
nhưng khi người ngoại quốc kéo đến, chúng đã lộ rõ bản chất của chúng. Vì thế mà
Charles, vua nước Pháp, đã có thẻ chiếm nước Ý “chỉ với một mẩu phấn”.. [11] Và người
nào nói rằng tội lỗi của chúng ta là nguyên nhân thì người đó đã nói thật. [12]
Nhưng đó chắc chắn không phải là những tội lỗi mà người đó đã tưởng, nhưng là những tội lỗi tôi
vừa nêu, và bởi vì đó là tội lỗi của những người cầm quyền đứng đầu, nên chính họ cũng đã
phải chịu hình phạt.
Tôi muốn chứng
minh rõ hơn sự thất bại của loại quân đội này. Người chỉ huy quân đánh thuê hoặc là những người cầm quân xuất sắc, hoặc là không, ngài không thể tin họ họ luôn mưu cầu thế lực riêng cho bản thân họ, hoặc bằng cách họ khống
chế chính
ngài (người là chủ nhân của
họ), hoặc bằng cách họ đàn áp những người khác, trái với ý định của
ngài; nhưng nếu người chỉ huy thiếu năng lực cầm quân
năng lực, người này sẽ khiến ngài sụp đổ qua những thất bại tất yếu trên chiến
trường.
Và nếu có ai vặn lại rằng bất kỳ ai nắm quân
đội trong tay cũng sẽ làm vậy, dù là quân đánh thuê hay không, tôi sẽ đáp rằng
quân đội phải được một người cầm quyền đứng đầu hoặc một nhà nước cộng hòa đem dùng. Người cầm
quyền đứng đầu nên đích thân đi, và tự mình thực hiện nhiệm vụ của một thủ
lĩnh. Nhà nước cộng hòa phải cử công dân của mình đi, và khi cử một người không
xứng đáng, nó phải thay thế ông; và nếu ông xứng đáng, nó phải kiềm chế ông
bằng luật pháp để ông không bước quá giới hạn. Qua kinh nghiệm, người ta thấy
rằng chỉ có những người cầm quyền đứng đầu và những nhà nước cộng hòa có quân
đội riêng mới đạt được những tiến bộ lớn; chẳng có gì ngoài tai hại đến từ quân
đánh thuê. Và một nhà nước cộng hòa được vũ trang bằng quân đội của chính mình
thì khó bị khuất phục bởi một trong những công dân của nó hơn là một nhà nước
cộng hòa được vũ trang bằng quân đội ngoại bang.[13]
Rome và Sparta đã đứng vững, tự do trong nhiều thế kỷ nhờ quân đội
riêng. Người Thụy Sĩ ngày nay cũng vũ trang tốt và tự do
tuyệt đối. Người Carthage là một ví dụ về quân đánh thuê thời cổ; họ suýt bị
chính quân đánh thuê của họ đàn áp vào cuối cuộc
chiến thứ nhất với người La Mã, dù những tướng chỉ huy là công dân của chính người Carthage. [14] Sau
cái chết của Epaminondas, Philip xứ Macedon được người Theban lập làm thủ lĩnh
đội quân của họ; và sau chiến thắng, ông đã tước đi sự tự do của họ. [15]
Người Milan, sau khi Công tước Filippo chết, đã thuê Francesco Sforza chống lại
người Venice; khi ông đã đánh bại kẻ thù tại Caravaggio, ông đã liên minh với
chúng để áp bức người Milan, tức là những người đã thuê ông. [16] Cha
của Sforza, khi được Nữ hoàng Giovanna xứ Naples thuê, cũng đã bất ngờ bỏ rơi
bà khiến bà mất hết quân đội; để khỏi mất vương quốc, bà buộc phải nương nhờ vua
Aragon.[17]
Và nếu người Venice cùng người Florence trước
đây đã mở rộng đế quốc của họ bằng loại quân này, và những thủ lĩnh của họ
không vì thế mà tự lập mình làm người cầm quyền đứng đầu nhưng vẫn bảo vệ họ,
tôi trả lời rằng người Florence đã được thời vận may rủi ưu ái trong trường hợp
này, vì trong số những thủ lĩnh tài ba mà họ đáng lẽ phải sợ, có người không thắng
trận, có người bị phe đối lập cản trở, có người lại chuyển tham vọng đi nơi
khác. Người không thắng trận là Giovanni Acuto. [18] Vì ông
không chiến thắng, người ta không thể biết lòng trung thành của ông, nhưng ai cũng
phải thừa nhận rằng nếu ông thắng, người Florence đã nằm trong quyền định đoạt
của ông. Sforza luôn có nhà Bracceschi [19] chống lại
mình, nên họ canh chừng lẫn nhau: Francesco chuyển tham vọng sang Lombardy, còn
Braccio chống lại Hội nhà thờ Kitô và vương quốc Naples.
Nhưng hãy đến với những gì đã xảy ra cách đây
không lâu. Người Florence đã chọn Paolo Vitelli làm thủ lĩnh, một người cực kỳ
thận trọng, từ thân phận thường dân mà gây dựng được danh tiếng lớn. Nếu ông
chiếm được Pisa, không ai phủ nhận rằng người Florence sẽ buộc phải lệ thuộc
vào ông; bởi nếu ông chuyển sang phục vụ kẻ thù của họ, họ sẽ không có cách
chống lại, còn nếu họ giữ ông lại thì họ sẽ phải phục tùng ông
Nếu ai đó xem xét những bước tiến của người
Venice, người đó sẽ thấy rằng họ đã hành động thận trọng nhưng đầy dũng khí khi
chính họ tự tiến hành chiến tranh (đó là trước khi họ chuyển sang những chinh
phạt trên đất liền). Với tầng lớp quý tộc và dân thường tự vũ trang, họ đã hành
xử đầy bản lĩnh chính trị, nhưng khi họ bắt đầu chiến đấu trên bộ, họ đã bỏ lại
bản lĩnh chính trị này và chạy theo tập tục chiến tranh ở Ý. Và lúc bắt đầu mở rộng trên bộ,
vì họ chưa có nhiều lãnh thổ ở đó và vì họ có uy tín lớn, họ không có nhiều
điều phải sợ từ những thủ lĩnh của họ; nhưng khi họ bành trướng dưới thời
Carmagnola, [20] họ
đã phải nếm một ví dụ về sai lầm này. Khi thấy ông rất có bản lĩnh chính trị — vì
công tước Milan đã bị họ đánh bại dưới quyền chỉ huy của ông — và khi họ nhận
ra rằng ông đã trở nên nguội lạnh với chiến tranh, họ phán đoán rằng họ không
còn có thể thắng với ông nữa, bởi ông không muốn thắng; nhưng họ cũng không thể
sa thải ông mà không mất đi những gì đã thu được. Vì vậy, để bảo vệ chính mình,
họ buộc phải giết ông.
Sau đó, họ có
những thủ lĩnh như Bartolomeo Colleoni của Bergamo, Roberto Sanseverino,
Niccolò Orsini, Count of Pitigliano và những người tương tự. Với những người
này, họ phải sợ sự thất bại chứ không phải sự thắng lợi; điều này đã xảy ra tại
Battle of Agnadello (Vailà), nơi họ mất sạch trong một ngày những gì đã thu
được với bao gian khổ trong tám trăm năm. Loại quân này chỉ mang lại những thu
hoạch chậm chạp, muộn màng và yếu ớt, nhưng lại gây ra những tổn thất đột ngột
và khó tin. Và vì với những ví dụ này tôi đã đi vào nước Ý — nơi trong nhiều
năm đã được cai quản bởi quân đánh thuê — tôi muốn bàn luận sâu hơn về chúng,
để khi người ta thấy được nguồn gốc và quá trình của chúng, người ta có thể sửa
chữa và điều chỉnh chúng tốt hơn.
Vì vậy, ngài [21] phải hiểu
rằng trong thời gian gần đây, ngay khi nước Ý bắt đầu đẩy lui Đế quốc La Mã
Thần thánh, và Vua chiên giành được nhiều uy tín trong những vấn đề thế tục,
nước Ý bị chia cắt thành nhiều lãnh địa độc lập. Bởi nhiều thành phố lớn đã cầm
vũ khí chống lại giới quý tộc của mình, những người trước đây được hoàng đế hậu
thuẫn để áp bức họ; đồng
thời, Hội nhà thờ Kitô đã ủng hộ những thành phố này nhằm tăng thêm uy tín cho
mình trong những vấn đề thế tục. Ở nhiều thành phố khác, chính những công dân
của họ đã trở thành những người đứng đầu cai trị.
Từ đó, vì nước Ý gần như đã rơi vào tay Hội
nhà thờ Kitô và một vài nhà nước cộng hòa, và vì những thày chăn chiên cùng
những công dân khác không có kiến thức về quân sự, họ bắt đầu thuê người ngoại
quốc. Người đầu tiên tạo ra uy tín cho loại quân này là Alberigo da Conio, từ
vùng Romagna. [22] Từ
sự huấn luyện của ông đã nảy sinh ra Braccio và Sforza, những người vào thời
của họ là những trọng tài của nước Ý. Sau họ là tất cả những người khác đã quản
lý loại quân này cho đến thời đại của chúng ta. Và kết quả từ những gì gọi là bản lĩnh
chính trị của họ là nước Ý đã
bị Charles VIII of France giày xéo, bị Louis XII of France cướp bóc, bị
Ferdinand I of Aragon xâm phạm và bị người Thụy Sĩ sỉ nhục.
Cách làm họ áp dụng là: trước hết, hạ thấp uy
thế của bộ binh để nâng cao uy thế của bản thân. Họ làm vậy vì họ là những kẻ
không có đất nước, sống bằng nghề đánh thuê. Có ít bộ binh thì không mang lại
uy thế cho họ, mà nuôi quá nhiều bộ binh thì họ không kham nổi; vì vậy họ chỉ
giữ lại kỵ binh — với số lượng vừa phải, vừa dễ nuôi vừa được trọng dụng. Và mọi
sự việc đã đi đến chỗ: trong một đạo quân hai mươi nghìn người, không tìm được
đến hai nghìn bộ binh.
Ngoài ra, họ dùng
tất cả những thủ thuật của họ để loại bỏ gian khổ và sợ hãi cho chính họ và
binh lính: họ không giết nhau trong trận chiến mà chỉ bắt làm tù binh, đồng
thời không đòi tiền chuộc; họ không tiến công những thị trấn vào ban đêm, và
người dân thị trấn cũng không tấn công doanh trại của quân đánh thuê; quanh
doanh trại, họ không rào chắn hay đào hào phòng thủ, và họ không tham chiến vào
mùa đông. Tất cả những sự việc này đều được ghi trong điều lệ quân sự của họ và
do họ phát minh ra, như đã nói, nhằm trốn tránh gian khổ và nguy hiểm — nhưng
kết quả là họ đã đưa [23] nước Ý vào trong nô lệ và nhục nhã.
Chương XIII
Về Quân Cứu Viện, Quân Hỗn Hợp Và Quân Đội
Riêng
Quân cứu viện, loại quân vô dụng khác, là quân
của một thế lực mà ngài kêu gọi đến để giúp đỡ và bảo vệ mình, như Vua chiên
Julius đã làm trong thời gian gần đây. Khi vị này nhìn thấy kết quả thảm hại
của quân đánh thuê trong chiến dịch Ferrara, vị này đã chuyển sang dùng quân cứu viện; và đã
thỏa thuận với Ferdinand, vua Tây Ban Nha, rằng Ferdinand sẽ giúp vị này bằng người và quân đội của
mình. Loại quân này tự thân có thể hữu ích và tốt, nhưng đối với bất kỳ ai kêu
gọi chúng đến, chúng hầu như luôn gây hại, ngài tiêu vong; nếu chúng thắng,
ngài trở thành tù nhân của chúng.
Và dẫu cho lịch sử thời cổ đầy rẫy những ví dụ như vậy, tôi vẫn không muốn bỏ ví dụ gần đây về Vua
chiên Julius II, người mà quyết định phó mặc hoàn toàn bản thân vào tay một kẻ
ngoại bang khi ông muốn chiếm Ferrara, một quyết định không thể thiếu suy tính hơn nữa.
Nhưng thời vận may rủi đã tạo ra một điều thứ ba khiến vị này không phải gặt hái hậu
quả của lựa chọn sai lầm ấy. Bởi vì sau khi quân cứu viện của vị này thất bại tại Ravenna, [24]
người Thụy Sĩ đã nổi dậy và — ngoài mọi mong đợi của vị này cũng như của những người
khác — đã đánh đuổi những kẻ chiến thắng. Nhờ vậy, vị này không trở thành tù nhân
của kẻ thù (vì chúng đã tháo chạy), cũng không trở thành tù nhân của quân cứu
viện, (bởi
đã chiến thắng nhờ binh lính và đạo quân khác chứ không phải của họ). Người Florence, vốn
hoàn toàn không có vũ trang, đã đưa mười nghìn quân Pháp đến Pisa để chiếm
thành này [25], và chính quyết định đó đã khiến họ lâm vào nguy hiểm lớn hơn bất kỳ
thời kỳ khốn khó nào trước đây. Hoàng đế Constantinople, để chống lại những nước láng
giềng, đã đưa mười nghìn quân Thổ vào Hy Lạp; khi chiến tranh kết thúc, chúng
từ chối rời rời đi [26].
Đây là khởi đầu cho sự nô dịch của Hy Lạp dưới tay những người ngoại đạo.
Vì vậy, người nào muốn mình không thể chiến thắng
thì hãy dùng loại quân này, vì chúng nguy hiểm hơn nhiều so với quân đánh thuê.
Bởi với chúng, sự hủy diệt là trọn vẹn; chúng là một khối thống nhất, tất cả
đều quyết tâm tuân lệnh người khác. Nhưng quân đánh thuê, khi đã thắng, cần
nhiều thời gian và cơ hội lớn hơn để làm hại ngài, vì chúng không phải là một
cơ thể thống nhất và do chính ngài tìm đến và trả lương. Trong quân đánh thuê,
bên thứ ba mà ngài đặt lên đầu họ không thể nhanh chóng chiếm đoạt nhiều quyền
uy đến mức có thể xúc phạm ngài. Tóm lại, trong quân đánh thuê, sự lười biếng
là nguy hiểm nhất; còn trong quân cứu viện, chính là bản lĩnh chính trị của
chúng.
Một người cầm quyền đứng đầu khôn ngoan, do
đó, luôn tránh loại quân này và quay về với quân đội của chính mình. Vị này thà
thua với quân đội của mình còn hơn thắng bằng quân đội của người khác, vì vị
này phán xét rằng không có chiến thắng thực sự nào được thâu tóm bằng quân lực
ngoại bang.
Tôi sẽ dẫn chứng
Cesare Borgia và những hành động của ông. Công tước tiến vào Romagna bằng quân
cứu viện, dẫn theo toàn bộ quân đội Pháp, và chiếm được Imola cùng Forlì. Nhưng
khi ông thấy loại quân đó không còn an toàn cho bản thân, ông chuyển sang quân
đánh thuê, vì phán đoán rằng chúng ít nguy hiểm hơn; ông thuê nhà Orsini cùng
nhà Vitelli. Sau đó, khi điều hành những đạo quân này, ông nhận ra chúng đáng
ngờ, không trung thành và nguy hiểm, nên loại bỏ chúng và quay về quân đội của
chính mình. Người ta có thể dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa những loại quân
này khi xem xét uy tín của công tước: lúc ông chỉ có quân Pháp, lúc ông dựa vào
nhà Orsini và Vitelli, và lúc ông chỉ còn binh lính của chính mình dưới quyền.
Uy tín của ông luôn tăng lên, nhưng ông chưa bao giờ được kính nể nhiều như khi
mọi người thấy ông là chủ nhân toàn quyền của quân đội riêng mình.
Tôi không muốn bỏ qua những ví dụ của Ý và thời gần đây; tuy vậy, tôi
cũng không muốn bỏ qua Hiero xứ Syracuse, vì ông là một trong những người tôi
đã nêu trước đó. Khi ông, như đã nói, được người Syracuse lập làm người đứng
đầu quân đội, ông ngay lập tức nhận ra rằng quân đánh thuê của họ không hữu
dụng, bởi đó là những thủ lĩnh đánh thuê (condottieri) được lập ra giống như
những người Ý của chúng ta. Vì nhận thấy mình không thể giữ họ lại mà cũng
không thể để họ đi, ông ra lệnh chém sạch tất cả, rồi sau đó tiến hành chiến
tranh bằng quân đội của chính mình, chứ không dùng quân ngoại bang.
Tôi muốn nhắc thêm một nhân vật từ Cựu Ước, để
minh họa cho điều này. Khi David đề nghị với Saul rằng ông sẽ ra
chiến đấu với Goliath, kẻ thách thức người Philistine, Saul đã trang bị cho
David bằng binh khí của chính nhà vua để tiếp thêm dũng khí cho ông.
Nhưng David, ngay khi khoác chúng lên người, đã từ chối và nói rằng với
những thứ ấy ông không thể xoay xở một cách đắc lực; vì vậy, ông chọn đối đầu
với kẻ thù bằng chiếc ná và con dao của chính ông.[27]
Tóm lại, quân lực của người khác hoặc bỏ mặc
ngài, hoặc đè nặng lên ngài, hoặc xiết chặt lấy ngài. Charles VII, cha của vua
Louis XI, người đã giải phóng Pháp khỏi tay người Anh nhờ thời vận may rủi và
bản lĩnh chính trị của mình, nhận ra sự tất yếu của việc vũ trang bằng quân đội
của chính mình, và đã ban hành một sắc lệnh [28] trong vương quốc về kỵ binh và bộ binh.
Sau đó, con trai ông, vua Louis, bãi bỏ sắc lệnh đối với bộ binh và bắt đầu
thuê người Thụy Sĩ; sai lầm này, được tiếp nối bởi những người khác, như hiện
nay người ta thấy, là nguyên nhân gây ra những hiểm họa cho vương quốc.Bởi khi
ông trao uy tín cho người Thụy Sĩ, ông đã làm suy yếu toàn bộ quân lực của
mình, vì ông loại bỏ hoàn toàn bộ binh và khiến kỵ binh của mình phụ thuộc vào
quân lực của người khác. Sau khi đã quen chiến đấu cùng người Thụy Sĩ, họ không
còn tin rằng mình có thể thắng nếu thiếu họ. Từ đó, người Pháp không đủ sức
chống lại người Thụy Sĩ, và nếu thiếu người Thụy Sĩ, họ không dám thử sức với
bất kỳ kẻ thù nào khác.
Do đó, quân đội của Pháp là quân hỗn hợp, một
phần là quân đánh thuê và một phần là quân của chính mình. Những quân đội này
gộp lại thì tốt hơn nhiều so với quân cứu viện đơn thuần hay quân đánh thuê đơn
thuần, nhưng kém xa quân đội của chính mình. Ví dụ này đã đủ chứng minh, vì
vương quốc Pháp sẽ gần như không thể bị đánh bại nếu sắc lệnh của Charles được
gìn giữ hoặc mở rộng. Nhưng sự thiếu thận trọng của con người thường bắt đầu
một điều gì đó mà lúc đầu trông có vẻ tốt, nhưng ẩn chứa chất độc bên dưới, như
tôi đã nói ở trên về những “cơn sốt tiêu hao”. [29]
Vì vậy, người nào không nhận ra những mầm mống
tai họa khi chúng mới nảy sinh trong một lãnh địa thì không phải là người thực
sự khôn ngoan, và điều này chỉ ban cho ít người. Nếu người ta xem xét nguyên
nhân đầu tiên dẫn đến sự sụp đổ của Đế quốc La Mã, họ sẽ thấy nó bắt đầu từ
việc thuê người Goth, bởi từ điểm khởi đầu đó, lực lượng của Đế quốc La Mã bắt
đầu suy yếu, và tất cả bản lĩnh chính trị bị tước khỏi đế quốc đều chuyển sang
tay những kẻ ngoại bang.
Tôi kết luận rằng
không có quân đội của chính mình thì không lãnh địa nào an toàn; trái lại, lãnh
địa hoàn toàn lệ thuộc vào thời vận may rủi, vì không có bản lĩnh chính trị để
tự vệ [30] trong nghịch cảnh. Và xưa nay những bậc trí giả luôn có ý kiến và phán
xét rằng: “Không có gì yếu ớt và bấp bênh hơn tiếng tăm về quyền lực nhưng
không được nâng đỡ bởi sức mạnh của chính mình.” [31]
Và quân đội của chính mình là những đạo quân
được hình thành từ thần dân, công dân, hoặc những người do chính ngài tạo ra;
tất cả những loại khác đều là quân đánh thuê hoặc quân cứu viện. Phương thức tổ
chức quân đội riêng có thể dễ dàng thấy nếu người ta xem xét lại [32] những
quy tắc của bốn nhân vật mà tôi đã nêu trước đó [33], và nếu người ta quan sát Philip, cha của Alexander Đại đế, cùng nhiều
nước cộng hòa và những người cầm quyền đứng đầu, đã vũ trang và tổ chức lực
lượng như thế nào. Tôi hoàn toàn tuân theo những quy tắc này.
Chương XIV
Người Cầm Quyền Đứng Đầu Nên Làm Gì Với
Quân Lực
Do đó, một người cầm quyền đứng đầu không nên
có mục tiêu nào khác, cũng không có ý nghĩ nào khác, cũng không coi bất cứ điều
gì khác là nghệ thuật của mình ngoài chiến tranh cùng những phương cách và kỷ
luật của nó; vì đó là nghệ thuật duy nhất liên quan đến người nắm quyền chỉ
huy. Nghệ thuật này có giá trị đến mức không chỉ duy trì vị thế của những người
sinh ra đã là người cầm quyền đứng đầu, mà nhiều lần còn giúp những người xuất
thân thường dân thăng tiến lên hàng ngũ đó. Ngược lại, người ta thấy rằng khi
những người cầm quyền đứng đầu quan tâm đến những thú vui xa hoa hơn là binh
đao, họ đã mất đi nhà nước của mình. Và nguyên nhân đầu tiên khiến họ mất nước là sự xao
nhãng nghệ thuật này; còn nguyên nhân giúp họ đoạt được quyền lực chính là
sự tinh thông chuyên nghiệp về nghệ thuật này.
Francesco Sforza,
nhờ nắm giữ binh quyền, đã từ một cá nhân bình thường trở thành Công tước
Milan; còn những con trai ông, vì trốn tránh những gian khổ của binh đao, từ vị
thế công tước lại trở thành những cá nhân bình thường. Trong số những hậu quả
khác của việc không được vũ trang, một trong những sự việc tai hại lớn là vị
này bị khinh rẻ, vốn là một trong những nhục nhã mà người cầm quyền đứng đầu
phải cảnh giác. Thật phi lý khi một người được vũ trang lại sẵn sàng vâng lời
người không vũ trang, và một người không có vũ khí không thể an toàn giữa những
thuộc hạ có vũ trang. Vì khi một bên mang lòng khinh miệt và bên kia mang nỗi
nghi kỵ, họ chẳng thể nào cộng tác tốt với nhau. Do đó, một người cầm quyền
đứng đầu không am hiểu quân sự, ngoài những bất hạnh khác, sẽ không thể khiến
binh lính kính trọng mình, mà chính vị này cũng chẳng thể đặt tin tưởng vào
chúng.
Vì vậy, vị này không bao giờ nên để ý nghĩ của
mình rời xa việc rèn luyện chiến tranh, và trong thời bình vị này nên rèn luyện
nó nhiều hơn cả trong thời chiến. Điều này vị này có thể làm theo hai phương
thức, một là bằng hành động, hai là bằng tâm trí. Về hành động, ngoài việc giữ
cho quân đội của mình được tổ chức và rèn luyện tốt, vị này nên luôn ra ngoài
săn bắn, và thông qua đó rèn luyện cơ thể chịu đựng gian khổ; đồng thời vị này
nên học hỏi đặc điểm của những địa thế, và nhận biết những ngọn núi mọc lên thế
nào, những thung lũng mở ra sao, những đồng bằng nằm ở đâu, và hiểu bản chất
của sông ngòi và đầm lầy — và dành sự quan tâm lớn nhất vào việc này. Kiến thức
này hữu ích theo hai phương thức. Trước hết, người ta học được cách biết về đất
nước của chính mình, và có thể hiểu rõ hơn về việc phòng thủ nó; sau đó, thông
qua kiến thức và kinh nghiệm về những địa thế đó, người ta có thể dễ dàng lĩnh
hội mọi địa thế khác mà có thể cần phải thám sát [34] như một
nơi mới mẻ. Ví dụ, những ngọn đồi, thung lũng, đồng bằng, sông ngòi và đầm lầy
ở Tuscany có một sự tương đồng nhất định với địa thế ở những tỉnh khác, nên từ
kiến thức về địa thế ở một tỉnh, người ta có thể dễ dàng đi đến kiến thức về
những tỉnh khác. Và người cầm quyền đứng đầu thiếu kỹ năng này thì thiếu đi
phần đầu tiên mà một thủ lĩnh phải có, vì nó dạy vị này cách tìm ra kẻ thù,
chọn nơi trú quân, dẫn dắt quân đội, dàn trận, và bao vây những thị trấn theo
hướng có lợi cho ngài.[35]
Trong số những lời ca ngợi khác mà những văn
sĩ dành cho Philopoemen, người cầm quyền đứng đầu của người Achaean [36], là
trong thời bình ông không bao giờ nghĩ đến điều gì khác ngoài những phương thức
chiến tranh; và khi ông đang ở vùng nông thôn cùng bạn bè, ông thường dừng lại
và tranh luận với họ: “Nếu kẻ thù ở trên đỉnh đồi kia còn chúng ta ở đây với
quân đội của mình, bên nào trong chúng ta sẽ có lợi thế? Làm thế nào người ta
có thể tiến lên gặp chúng mà vẫn duy trì đội hình? Nếu chúng ta muốn rút lui
khỏi đây, chúng ta sẽ phải làm thế nào? Nếu chúng rút lui, chúng ta sẽ phải bám
theo chúng ra sao?” Và ông đặt ra trước mặt họ, khi đang đi trên đường, mọi
tình huống có thể xảy ra với một quân đội; ông lắng nghe ý kiến của họ, đưa ra
ý kiến của riêng mình, bảo vệ nó bằng những lý lẽ, sao cho nhờ những suy ngẫm
liên tục này, trong khi dẫn dắt quân đội, không bao giờ có thể nảy sinh bất kỳ
sự cố nào mà ông không có sẵn biện pháp khắc phục.
Nhưng về việc rèn luyện tâm trí, một người cầm
quyền đứng đầu nên đọc lịch sử và xem xét trong đó hành động của những bậc vĩ
nhân., quan sát cách họ cầm quyền và hành xử trong chiến trận, xem xét kỹ lưỡng
nguyên nhân dẫn đến chiến thắng hay thất bại của họ, để có thể tránh được điều
sau và bắt chước điều trước. Trên hết, nên làm như những vĩ nhân trong
quá khứ: chọn cho mình một tấm gương để noi theo, lấy từ những người từng được
ca ngợi và vinh danh, luôn giữ bên mình những chiến tích và hành động của họ.
Như người ta nói, Alexander Đại đế mô phỏng Achilles, Caesar mô phỏng
Alexander, và Scipio mô phỏng Cyrus. Bất kỳ ai đọc tiểu sử Cyrus do Xenophon [37]
viết sẽ nhận thấy trong cuộc đời Scipio rằng sự mô phỏng đó đã mang lại cho ông
bao nhiêu vinh quang, và cách Scipio thực hành sự tiết chế, niềm nở, nhân hậu
cùng lòng rộng lượng đã rập theo những gì Xenophon viết về Cyrus.
Một người cầm quyền đứng đầu khôn ngoan nên
tuân theo những phương cách
đó, không bao giờ để mình nhàn rỗi trong thời bình, mà phải dùng sự cần mẫn của
mình tích lũy chúng thành vốn liếng để thu lợi trong nghịch cảnh; khi thời vận
may rủi thay đổi, nó sẽ thấy vị này đã sẵn sàng để chống
chọi lại.
Chương XV
Về Những Sự Việc Khiến Con Người, Và Đặc
Biệt Là Những Người Cầm Quyền Đứng Đầu, Được Ca Ngợi Hay Bị Chỉ Trích
Giờ đây còn phải xem xét những phương cách và
sự cai quản của một người cầm quyền đứng đầu nên như thế nào đối với thần dân
và với thân hữu. Và bởi vì tôi biết rằng đã có nhiều người viết về điều này,
tôi e rằng khi viết lại, mình có thể bị xem là tự phụ, nhất là khi trong việc
tranh luận vấn đề này, tôi rời bỏ những định chế của những người khác. Nhưng vì
ý định của tôi là viết điều gì đó hữu ích cho bất cứ ai hiểu được nó, tôi thấy
phù hợp hơn khi đi thẳng vào sự thực hiệu quả của sự vật hơn là vào trí tưởng
tượng về nó.
Và nhiều người đã tưởng tượng ra những nhà
nước cộng hòa và những lãnh địa chưa từng được thấy hoặc chưa từng được biết là
có tồn tại trong thực tế; bởi vì khoảng cách giữa cách người ta sống và cách
người ta nên sống là quá xa vời, đến mức kẻ nào từ bỏ những gì đang được thực
hiện để chạy theo những gì nên được thực hiện thì sẽ học được cách dẫn đến sự
diệt vong hơn là sự bảo tồn chính mình. Bởi một người muốn thực hành sự lương
thiện trong mọi phương diện thì chắc chắn sẽ tiêu vong giữa biết bao kẻ không lương
thiện. Do
đó, cần thiết cho một người cầm quyền đứng đầu, nếu vị này muốn giữ vững ngôi
vị của
mình, phải
học cách để có thể không lương thiện, và biết khi nào nên dùng nó và khi nào không dùng nó, tùy theo sự
cần thiết.
Vậy nên, bỏ qua những gì người ta tưởng tượng
về một người cầm quyền đứng đầu và thảo luận về những gì là thực tế, tôi nói
rằng tất cả mọi người, bất cứ khi nào người ta nói về họ, và đặc biệt là những
người cầm quyền đứng đầu, vì họ được đặt ở vị trí cao hơn, đều được ghi nhận
bởi một số phẩm tính mang lại cho họ hoặc là sự chỉ trích hoặc là sự ca ngợi.
Và đây là lý do tại sao người này được coi là hào phóng, kẻ kia là keo kiệt
(dùng một thuật ngữ Tuscan bởi vì avaro [tham lam] trong ngôn ngữ của
chúng ta vẫn chỉ kẻ ham muốn chiếm đoạt thứ gì đó bằng cách cướp bóc, còn misero
[keo kiệt] ] là cách chúng ta gọi kẻ quá bủn xỉn trong việc chi dùng tài sản
của chính mình); người này được coi là kẻ hay ban ơn, kẻ kia là kẻ tham tàn;
người này tàn nhẫn, kẻ kia nhân từ; [38] kẻ này là
kẻ thất tín, người kia trung thành; kẻ này nhu nhược và hèn nhát, người kia
hung mãnh và quả cảm; người này nhân đạo, kẻ kia kiêu ngạo; kẻ này dâm dật,
người kia khiết tịnh; người này thành thật, kẻ kia tinh ranh; người này cứng
rắn, kẻ kia dễ dãi [39]
người này nghiêm nghị, kẻ kia phù phiếm; người này sùng đạo, kẻ kia vô thần, và
những sự việc tương tự.
Tôi biết mọi người đều thừa nhận rằng: sẽ thật
đáng ca ngợi nếu một người cầm quyền đứng đầu hội tụ đủ mọi phẩm tính tốt đẹp
kể trên. Nhưng vì bản chất con người không cho phép vị này sở hữu hay thực hành
trọn vẹn tất cả chúng [40],
nên vị này cần đủ khôn ngoan để biết cách tránh né vết nhơ từ những thói xấu có
thể khiến mình mất nước; đồng thời, vị này cũng nên thận trọng trước những thói
xấu ít nguy hại hơn, nếu có thể. Nhưng trong trường hợp không thể tránh khỏi, vị
này cứ để chúng diễn ra mà không cần quá lo lắng.
Xa hơn nữa, vị này đừng bận tâm nếu phải mang
tiếng ác [41] vì
những thói xấu mà nếu thiếu chúng, vị này khó lòng cứu vãn được quốc gia. Bởi
lẽ, nếu cân nhắc kỹ mọi việc, ta sẽ thấy: có những thứ trông như đức hạnh nhưng
nếu theo đuổi lại dẫn đến diệt vong; ngược lại, có những thứ trông như thói xấu
nhưng nếu thực hành lại mang đến sự an toàn và thịnh vượng cho vị này.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ nhất
(Feb/2026)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
https://chuyenxgan.blogspot.com/
[1] [Lisio và Bertelli đọc phần này là “nguyên nhân” ở
số ít.
[2] [Charles VIII, tiến vào Ý năm 1494
[3] [Nghĩa đen: Vụ bê bối (scandal)
[4] [Sixtus IV (1414–84), vua chiên từ năm 1471 đến
1484. Machiavelli đã nói về vị này trong cuốn Lịch sử Florence (VII 22): “Vị
giáo chủ này là người đầu tiên bắt đầu cho thấy một vua chiên có thể làm được
những gì, và biết bao nhiêu điều trước đây vốn bị gọi là sai lầm nay có thể
được che đậy dưới quyền uy vua chiên.
[5] [Xem thêm Lịch sử Florence của Machiavelli,
Quyển I, Chương 23 (phần kết).
[6] [Machiavelli đã bỏ qua Innocent VIII, vua chiên từ
năm 1484 đến 1492, nằm giữa nhiệm kỳ của Sixtus IV và Alexander VI (người làm vua
chiên từ 1492 đến 1503).
[7] [Rõ ràng là ám chỉ việc bán những chức vụ giáo hội
hoặc bán thẻ miễn tội.
[8] [Leo X, tức Giovanni de’ Medici, con trai của
Lorenzo de’ Medici, vua chiên từ năm 1513 đến 1521.
[9] [Xem Chương 7.
[10] [Theo nghĩa đen của từ “binh lính” (soldier):
nằm trong sự chi trả [thuê mướn] của ngài.
[11] [Loại phấn được dùng để đánh dấu những ngôi nhà sẽ
cho binh lính Pháp trú ngụ dọc theo con đường xâm lược không gặp kháng cự của
họ; cách diễn đạt này được nhà sử học Pháp Philippe de Commines quy cho vua
chiên Alexander VI trong cuốn Hồi ký của ông.
“viên phấn” là một ẩn
dụ nổi tiếng của thời đó, ám chỉ việc quân Pháp chiếm nước Ý dễ dàng đến mức
chỉ cần dùng phấn đánh dấu nhà nghỉ chân chứ không cần dùng đến gươm giáo.
[12] [Đây là Savonarola trong bài giảng đạo ngày 1
tháng 11 năm 1494, người đã nói rằng cuộc xâm lược của Pháp là sự trừng phạt
của Chúa đối với Ý và Florence. Xem Luận bàn về Livy I 11, 45, 56 để
biết thêm ý kiến của NM về Savonarola, và I 21; II 18 về tội lỗi của những quân
vương Ý.
[13] [Nghĩa đen: bên ngoài (external).
[14] [Cuộc chiến quân thuê vào cuối Chiến tranh Punic
lần thứ nhất, năm 241–237 TCN
[15] [Sau cái chết của Epaminondas vào năm 362 TCN,
Philip (người dường như không phải là một đội trưởng quân thuê) đã trở thành
vua của Macedon vào năm 359 và chiếm đóng Thebes vào năm 338.
[16] Trận Caravaggio diễn ra vào năm 1448; xem tường
thuật đầy đủ hơn của NM về mưu đồ thành công của Sforza trong Lịch sử
Florence VI 18–22.
[17] [Muzio Attendolo Sforza (1369–1424); xem Lịch
sử Florence I 38.
[18] [Cách NM phiên âm tên của đội trưởng quân thuê
người Anh John Hawkwood
[19] [Những quân thuê của Andrea Fortebraccio, còn được
biết đến với tên gọi Braccio da Montone; xem Lịch sử Florence I 38, V 2.
[20] [Francesco di Bussone, bá tước vùng Carmagnola
(khoảng 1380–1432); xem Luận bàn về Livy II 18.
[21] [Từ “Ngài” (you) ở dạng trang trọng hoặc số
nhiều.
[22] [Alberigo da Barbiano, bá tước vùng Conio, mất năm
1409; về “Đoàn binh Thánh George” của ông, xem NM, Lịch sử Florence I
34.
[23] [condotta, một lối chơi chữ dựa trên hợp
đồng (condotta) mà qua đó một đội trưởng quân thuê (condottiere)
được thuê.]
Giải thích sự liên kết
chặt chẽ giữa tính thương mại (hợp đồng) và tính quân sự trong hệ thống quân đội dánh thuê mà Machiavelli rất ghét.
[24] [Vào năm 1512.
[25] [Vào năm 1500.
[26] [Hoàng đế John Cantacuzene, vào năm 1353.
[27] [Tường thuật của NM về tình tiết này khác biệt
đáng kể so với bản gốc trong Kinh thánh tại 1 Samuel 17: 38–40, 50–51.
Chú thích số 5 rất
quan trọng: Machiavelli thường xuyên điều chỉnh những chi tiết lịch sử hoặc tôn
giáo để phục vụ cho lập luận chính trị của mình. Trong trường hợp của David,
ông nhấn mạnh việc David từ bỏ giáp trụ của Saul để dùng chính vũ khí của mình
(chiếc ná), nhằm minh họa cho bài học: Vũ khí của người khác hoặc là quá rộng,
hoặc là quá nặng, hoặc là quá gò bó.
[28] [Nghĩa đen: được sắp đặt/ra lệnh (ordered).
[29] [Ở Chương 3, nơi NM đề cập đến những căn bệnh,
không phải những phương thuốc.
“consuming
fevers” (hoặc tương tự) để chỉ những vấn đề ban đầu trông nhỏ nhưng âm thầm phá
hoại sức mạnh của một lãnh địa.
[30] [Một bản thảo có cụm từ “với đức tin” (with
faith) tại điểm này.
[31] [Được NM trích dẫn bằng tiếng Latinh từ Tacitus, Annals
XIII. 19; cụm từ rerum mortalium (“của những sự vật hữu hình/phàm trần”)
đã bị NM lược bỏ sau từ “không có gì” (nothing).
[32] [Nghĩa đen: luận bàn về (discourses on).
[33] [Bốn nhân vật được nêu tên trong chương này là
Cesare Borgia, Hiero, David và Charles VII. Ở Chương 6, NM đề cập đến Moses,
Cyrus, Romulus và Theseus.
[34] [Nghĩa đen: suy xét/nghiền ngẫm về (speculate
on).
[35] [Về việc hiểu biết đặc điểm của những địa điểm như
một môn “khoa học”, xem Luận bàn về Livy III 39; và xem Thư tặng ở trên.
Machiavelli nâng tầm
việc hiểu biết địa lý quân sự lên thành một môn “khoa học”. Điều này củng cố
quan điểm của ông rằng một người cầm quyền không bao giờ được rời xa việc rèn
luyện quân sự, ngay cả trong thời bình.
[36] [Philopoemen (253–183 TCN), một thủ lĩnh của Liên
minh Achaean. những tác giả ca ngợi ông là Livy (XXXV.28) và Plutarch (Cuộc
đời của Philopoemen, 4).
[37] [Tựa đề cuốn sách của Xenophon thực chất là Cyropaideia,
“Sự giáo dục đối với Cyrus.”
[38] [pietoso có hàm ý của sự “sùng đạo”.
Việc Machiavelli gắn
sự nhân ái với lòng sùng đạo cho thấy ông đang ngầm phê phán những đức tính đạo
Kitô truyền thống. Đối với ông, sự “nhân ái” mù quáng đôi khi lại là nguyên
nhân dẫn đến sự hỗn loạn và sụp đổ của quốc gia.
[39] [Nghĩa đen: dễ dãi.
[40] [Hoặc: một cách trung thực.
[41] [Một số bản thảo dùng từ infamia (tai
tiếng).
infamia Sự lựa chọn giữa “mang tiếng” (fame) và “tai tiếng”
(infamy) phản ánh nỗi lo lớn nhất của một người lãnh đạo: không phải là việc
trở nên xấu xa, mà là việc để danh tiếng bị hủy hoại đến mức mất đi quyền kiểm
soát.
