Một Điều Tra
Về Những Khả Năng Nhận Thức Của Con Người
(An Enquiry
concerning Human Understanding)
David Hume
TIẾT VIII.
Về Tự Do và Tất Yếu
PHẦN I.
E 8.1, SBN 80-1
Có thể kỳ vọng
một cách hợp lý rằng, với những câu hỏi đã được thảo luận và tranh luận hết sức
sôi nổi kể từ buổi đầu của khoa học và triết học, ít nhất ý nghĩa của tất cả
những từ ngữ lẽ ra phải được những bên tranh chấp thống nhất với nhau; và rằng
những điều tra của chúng ta, trong tiến trình hai nghìn năm, đáng lẽ đã có thể
chuyển từ tranh luận về từ ngữ sang bản chất thực sự và đích thực của vấn đề
tranh luận.
Bởi lẽ, việc đưa
ra những định nghĩa chính xác cho những từ ngữ được dùng trong lý luận có vẻ dễ
dàng đến nhường nào — và biến những định nghĩa ấy, chứ không phải chỉ là âm
thanh của từ ngữ, thành đối tượng của mọi suy xét và khảo sát về sau? Thế nhưng
nếu nhìn nhận vấn đề kỹ hơn, chúng ta có thể rút ra một kết luận hoàn toàn
ngược lại.
Chỉ từ thực tế
rằng một tranh luận đã kéo dài từ lâu mà vẫn chưa ngã ngũ, chúng ta có thể suy
ra rằng có sự mơ hồ nào đó trong cách diễn đạt, và rằng những bên tranh chấp
đang gán những ý nghĩa khác nhau cho cùng một từ ngữ. Vì khả năng nhận thức của
con người vốn được xem là giống nhau về căn bản ở mỗi người — bằng không, việc
cùng nhau lý luận hay tranh luận sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả. Không thể nào, nếu
mọi người gán cùng một ý nghĩa cho những từ ngữ của họ, mà họ lại có thể duy
trì những quan điểm trái ngược về cùng một vấn đề trong suốt thời gian dài như
vậy — nhất là khi họ đã trình bày lập trường của họ và mỗi bên đều ra sức tìm
kiếm những luận cứ có thể giúp họ thắng thế đối phương.
Đành rằng, nếu
người ta cố tranh luận về những vấn đề hoàn toàn vượt ngoài tầm với của khả
năng nhận thức con người — chẳng hạn như những câu hỏi về nguồn gốc của những
thế giới, hay về cơ cấu vận hành của hệ thống nhận thức hoặc cõi của những thực
thể siêu hình — thì có lẽ họ sẽ mãi loay hoay trong những tranh chấp vô bổ
nhưng không bao giờ đi đến bất kỳ một kết luận dứt khoát nào. Nhưng nếu câu hỏi
liên quan với bất kỳ đề tài nào của đời sống và kinh nghiệm thông thường, thì người ta sẽ nghĩ rằng, không gì có thể khiến cuộc tranh luận kéo
dài mãi không
ngã ngũ như vậy, ngoại trừ một số cách diễn đạt mơ hồ, những gì khiến những bên đối lập vẫn giữ
khoảng cách và ngăn họ chạm tới quan điểm của nhau và đi thẳng vào vấn đề.
E 8.2, SBN 81
Tình trạng này đã
xảy ra trong vấn đề vốn gây tranh luận lâu nay về tự do và tính tất yếu;
và ở một mức độ đáng chú ý đến mức, nếu tôi không nhầm lẫn nhiều, chúng ta sẽ
thấy rằng toàn thể loài người, cả giới học giả lẫn người bình dân, luôn có cùng một ý kiến về chủ đề này, và rằng chỉ cần một
vài định nghĩa dễ hiểu là toàn bộ tranh luận đã có thể chấm dứt ngay lập
tức. Tôi nhìn nhận rằng tranh
luận này đã được sàng lọc kỹ lưỡng, và đã dẫn dắt những triết gia vào một mê
cung của những ngụy biện tối tăm đến nỗi không có gì ngạc nhiên nếu một người
đọc sáng suốt lại tự cho phép được hưởng an nhàn bằng làm ngơ giả điếc trược
việc nêu lên một câu hỏi loại như vậy, vì họ không thể mong đợi nhận được thêm
kiến thức chỉ dẫn hay hứng thú tinh thần nào từ đó. Nhưng cách đặt vấn đề được đưa ra ở đây có lẽ sẽ
giúp người đọc chú ý trở lại; vì nó mang tính mới mẻ hơn, hứa hẹn mang lại ít nhất một
sự phân định nào đó cho tranh luận và sẽ không quấy rầy cho lắm sự an nhàn của
người này bằng bất kỳ sự lý
luận phức tạp hay tối tăm nào. [1]
E 8.3, SBN 81
Do đó, tôi hy
vọng sẽ làm cho thấy rõ rằng, tất cả mọi người luôn luôn đồng ý với học thuyết
về cả tất yếu lẫn tự do, theo bất kỳ nghĩa hợp lý nào có thể gán cho những từ
ngữ này; và rằng toàn bộ tranh luận từ trước đến nay chỉ thuần túy xoay quanh
những từ ngữ. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc xem xét học thuyết về tất yếu.
E 8.4, SBN 82
Đã nhìn nhận phổ
quát, rằng trong tất cả những hoạt động của vật chất, một lực tất yếu luôn đưa
chúng vào hoạt động; và rằng năng lực của nguyên nhân ấn định tất cả những tác
dụng tự nhiên một cách chính xác đến mức: trong những hoàn cảnh cụ thể như vậy,
không một hệ quả nào khác có thể nảy sinh từ nguyên nhân đó.
Những quy luật tự
nhiên ấn định mức độ và phương hướng của mỗi chuyển động với sự chính xác đến
mức: một sinh vật sống nảy sinh từ sự va chạm của hai vật thể cũng là phi lý
không tưởng, y hệt như việc một chuyển động diễn ra với mức độ hay phương hướng
khác đi so với những gì thực sự đã được tạo ra. [2]
Do đó, nếu chúng ta muốn hình thành một ý niệm
xác đáng và chính xác về tính tất yếu, chúng ta
phải xem xét nguồn gốc phát sinh của ý niệm đó khi chúng ta áp dụng nó vào hoạt
động của những vật thể.
E 8.5, SBN 82
Có vẻ hiển nhiên,
rằng nếu tất cả những cảnh tượng của tự nhiên liên tục
thay đổi theo một cách thức như thế, rằng không có hai sự kiện nào mang bất kỳ sự tương
đồng nào với nhau, nhưng mỗi đối tượng đều hoàn toàn mới, không có bất kỳ sự
giống nhau nào với bất cứ điều gì [chúng ta] đã thấy trước đó, chúng ta sẽ
không bao giờ, trong trường hợp đó, đạt được ý niệm nhỏ nhất về tính tất yếu,
hoặc về một sự kết nối giữa những đối tượng này.
Dưới một giả định
như vậy, chúng ta chỉ có thể nói rằng đối tượng hoặc sự kiện này đã nối tiếp
sau đối tượng hoặc sự kiện kia, nhưng không phải một này được tạo ra bởi một
kia. Tương quan nhân quả hẳn sẽ hoàn toàn xa lạ với loài người. Việc suy luận
và lập luận về những vận hành của tự nhiên, từ thời điểm đó, sẽ chấm dứt; và
trí nhớ cùng những giác quan sẽ vẫn là những kênh dẫn duy nhất mà qua đó kiến
thức về bất kỳ sự hiện hữu thực tại nào có thể có lối tiếp
cận vào não thức.
Do đó, ý niệm của
chúng ta về tính tất yếu và nhân quả nảy sinh hoàn toàn từ sự đồng nhất
(uniformity) có thể quan sát được trong những vận hành của tự nhiên; nơi mà
những đối tượng tương tự luôn được kết hợp cùng nhau, và thói quen thúc đẩy não
thức để suy luận ra đối tượng này từ sự xuất hiện của đối tượng kia. Hai hoàn
cảnh này — sự kết hợp thường xuyên của những đối tượng tương tự và sự suy luận
của não thức từ đối tượng này sang đối tượng kia — tạo nên toàn bộ tính tất yếu
vốn chúng ta gán cho vật chất. Ngoài chúng ra, chúng ta không có bất kỳ ý niệm
nào khác về tính tất yếu hay sự liên kết cả.
E 8.6, SBN 83
Do đó, nếu tất cả loài người đã luôn nhìn nhận, với không bất kỳ nghi
ngờ hay do dự nào, rằng hai trường hợp
này diễn ra trong những hành động tự nguyện của con người,
và trong những hoạt động của não
thức; thì sự việc đó phải dẫn đến hệ quả rằng tất cả loài người đã luôn đồng ý trong học
thuyết tất yếu, [3] và rằng cho đến nay họ tranh luận chỉ vì không hiểu lẫn nhau.
E 8.7, SBN 83-4
Về trường hợp thứ nhất, sự kết hợp liên tục và
đều đặn của những sự kiện tương tự; chúng ta có thể tự thỏa mãn bằng những cân
nhắc sau đây. Ai cũng công nhận rằng có một sự đồng nhất lớn giữa những hành
động của con người, trong tất cả những quốc gia và tất cả thời đại, và rằng bản
chất con người vẫn giữ không thay đổi như cũ, trong những nguyên lý và hoạt
động của nó.
Cùng những động
cơ luôn sản sinh ra cùng những hành động: Cùng những sự kiện nảy sinh từ cùng
những nguyên nhân. Tham vọng, lòng tham, lòng vị kỷ, sự
phù phiếm, tình bạn, sự hào phóng, tinh thần cộng đồng; những tình cảm này, được pha trộn ở những mức độ
khác nhau và được phân bổ khắp xã hội, từ thuở khai thiên
lập địa, đã và vẫn luôn là
nguồn cơn tất cả những hành động và những công cuộc từng
được quan sát thấy trong loài người.
Chúng ta muốn thấu hiểu những cảm xúc, khuynh
hướng và lối sống của người Hy Lạp hay La Mã thời cổ? Hãy nghiên cứu kỹ tính
khí và hành động của người Pháp hay người Anh ngày nay: chúng ta sẽ không gặp
sai sót đáng kể nào khi áp dụng vào nhóm người thời trước hầu hết những quan
sát mà chúng ta đã thực hiện về nhóm người thời sau. Loài người về cơ bản vẫn luôn giống nhau trong
tất cả những thời đại và ở tất cả những nơi chốn; do đó lịch sử chẳng cho chúng
ta thấy điều gì mới mẻ hay khác lạ về phương diện cụ thể này. Công dụng chính của lịch sử chỉ là để tìm ra những nguyên lý không đổi
và phổ quát của bản chất con người, bằng cách phơi bày con người trong đủ loại
hoàn cảnh và tình trạng đa dạng, từ đó cung cấp dữ liệu để chúng ta hình thành
những quan sát và trở nên quen thuộc với những suối nguồn bất biến trong hành
động và ứng xử của loài người.
Những ghi chép về chiến tranh, mưu đồ, bè phái
và cách mạng chính là những tập hợp những thí nghiệm, qua đó nhà chính trị hay nhà triết học
đạo đức xác lập những nguyên lý cho khoa học của họ; hệt như cách thức nhà y học hay nhà
triết học tự nhiên tìm hiểu bản chất của thực vật, khoáng vật và những vật thể
ngoại giới qua những thí nghiệm liên quan với chúng.
Những nguyên tố như đất, nước hay những thành
tố khác vốn Aristotle và Hippocrates từng nghiên cứu, cũng chẳng hề giống hơn với những gì chúng
ta đang quan sát ngày nay so với sự tương đồng giữa những con người
Polybius và Tacitus đã mô tả với những người ngày nay đang cai trị thế giới. [4]
E 8.8, SBN 84
Nếu một người đi du lịch, trở về từ một đất
nước xa xôi, kể cho chúng ta một câu chuyện về những con người hoàn toàn khác biệt
với bất kỳ ai chúng ta từng biết; những con người hoàn toàn trút bỏ hết tham
lam vật chất, tham vọng quyền lực, hay sự thù hận; những người không biết đến
thú vui
nào ngoài tình bằng hữu, sự hào phóng và tinh thần phục vụ cộng đồng; chúng ta sẽ lập tức nhận ra sự giả dối, từ những hoàn cảnh này, tìm ra sự dối trá và chứng minh người này là
kẻ nói dối, với cùng sự chắc chắn như thể người này đã nhồi nhét vào câu chuyện
của mình những câu chuyện về nhân mã và rồng thiêng, những phép màu và
những hiện tượng kỳ dị.
Và nếu chúng ta muốn bác bỏ bất kỳ sự ngụy tạo
nào trong lịch sử, chúng ta không thể dùng một lập luận nào thuyết phục
hơn là chứng minh rằng: những hành động mà người ta gán cho bất kỳ nhân vật
nào, đều trái ngược trực tiếp với tiến trình của tự nhiên, và rằng không có
động cơ người nào, trong những sự việc liên quan như thế, có thể từng thúc
đẩy người trong cuộc đến một hành xử như vậy.
Tính xác thực của
Quintus Curtius đáng ngờ không kém khi ông mô tả lòng dũng cảm phi thường đã
thúc đẩy Alexander đơn thương độc mã tấn công đám đông, cũng như khi ông mô tả
sức mạnh và linh hoạt phi thường đã khiến vị vua này có khả năng kháng cự lại
chúng. Chúng ta rất sẵn sàng và phổ quát nhìn nhận một sự đồng nhất trong
những động
cơ và hành động của con người cũng như trong những hoạt động của cơ thể.[5]
E 8.9, SBN 84-5
Do đó, ích lợi
của kinh nghiệm đó, đã tích lũy qua đời sống lâu dài và sự đa dạng trong nghề
nghiệp và giao thiệp, chính là để chỉ dẫn cho chúng ta về những nguyên lý của
bản chất con người, và điều chỉnh hành vi cũng như những suy xét của ta trong
tương lai. Nhờ vào sự dẫn dắt này, chúng ta đi lên tới tri thức về thiên hướng
và động cơ của con người từ chính những hành động, diễn đạt và ngay cả những cử
chỉ của họ; để rồi một lần nữa, chúng ta lại đi xuống để diễn giải những hành
động từ chính tri thức về những động cơ và thiên hướng đó.
Những quan sát
tổng quát mà chúng ta tích lũy qua dòng kinh nghiệm cung cấp cho chúng ta manh
mối về bản chất con người, và dạy chúng ta cách tháo gỡ tất cả những phức tạp
của nó. Những viện cớ và vẻ bề ngoài không còn lừa dối chúng ta được nữa. Chúng
ta xem những tuyên bố công khai chỉ là lớp sơn hào nhoáng của một nguyên nhân.
Dù chúng ta nhìn nhận đức hạnh và danh dự với sức nặng và quyền uy tương xứng,
nhưng sự vô tư tuyệt đối — những gì vốn thường bị giả tạo — thì không bao giờ
được trông đợi nơi đám đông và những phe phái; hiếm khi thấy ở những người lãnh
đạo; và hầu như không bao giờ có ở những cá nhân thuộc bất kỳ thứ bậc hay địa
vị nào.
Nhưng nếu hành
động của con người không có sự đồng nhất, và nếu nếu tất
cả những thí nghiệm chúng ta
có thể thực hiện theo loại này đều bất thường và dị biệt, thì chúng ta không
thể thu thập được bất kỳ quan sát tổng quát nào về loài người; và không một
kinh nghiệm nào, dù cho có được suy ngẫm và đúc kết chính xác đến đâu, cũng
chẳng bao giờ phục vụ cho bất kỳ mục đích nào. Tại sao người nông dân già lại
lành nghề hơn người trẻ tuổi mới bắt đầu, nếu không phải vì có một sự đồng nhất
nhất định trong tác động của mặt trời, mưa và đất đối với quá trình sinh trưởng
của hoa màu; và chính kinh nghiệm đã dạy cho người thực hành lâu năm những quy
luật cai quản và chỉ đạo sự hoạt động này?
E 8.10, SBN 85
Tuy nhiên, chúng
ta không nên kỳ vọng sự đồng nhất trong hành động của con người đến mức tất cả
mọi người, trong cùng hoàn cảnh, sẽ luôn hành xử hoàn toàn như nhau, bất kể sự
khác biệt về tính cách, định kiến và quan điểm. Một sự đồng nhất đến từng chi tiết
như vậy không thể tìm thấy được ở bất kỳ phần nào của tự nhiên.
Ngược lại, bằng
quan sát sự đa dạng trong hành vi của những người khác nhau, chúng ta có thể
hình thành nhiều nguyên tắc sống [6]
đa dạng hơn, vốn vẫn giả định một mức độ đồng nhất và quy luật nhất định.
E 8.11, SBN 85-6
Phải chăng phong
tục của con người khác nhau trong những thời đại và quốc gia khác nhau? Từ đó,
chúng ta học được sức mạnh lớn lao của tập quán và giáo dục, những gì đã nhào
nặn não thức con người ngay từ thơ ấu và hình thành nên một nhân cách ổn định
và vững chắc. Phải chăng hành vi và cách ứng xử của giới tính này rất khác biệt
so với giới tính kia? Chính từ đó khiến chúng ta làm quen
với những tính cách khác biệt vốn tự nhiên đã ấn định lên những giới tính, và là những đặc điểm
mà tự nhiên luôn duy trì nhất quán và đều đặn. Phải chăng những hành động của cùng một người
thay đổi rất nhiều trong những giai đoạn khác nhau của
cuộc đời, từ ấu thơ cho đến lúc già yếu? Điều này tạo không gian cho nhiều quan sát tổng quát về sự thay đổi
dần dần trong những tình cảm và những thiên hướng của chúng ta, cũng như
những nguyên tắc sống khác nhau vốn phổ biến trong những lứa tuổi khác nhau của
con người. Ngay cả những cá tính riêng biệt của mỗi cá nhân cũng có một sự đồng
nhất trong ảnh hưởng của chúng; nếu không, sự quen biết của chúng ta với những
người đó và quan sát cách ứng xử của họ sẽ chẳng bao giờ dạy cho chúng ta biết
về tính khí của họ, hoặc giúp định hướng hành vi của chính chúng ta
đối với họ.
E 8.12, SBN 86
Tôi công nhận rằng có thể tìm thấy một vài
hành động dường như không có sự liên kết đều đặn nào với bất kỳ động
cơ đã biết nào, và chúng là những ngoại lệ đối với mọi chuẩn mực hành xử vốn đã được thiết lập
để cai quản con người. Nhưng nếu chúng ta thực lòng muốn biết nên đưa ra
phán đoán nào về những hành động bất thường và dị biệt như vậy; chúng ta có
thể xem xét những quan điểm thường thấy đối với những biến cố bất thường xuất hiện
trong tiến trình của tự nhiên và sự vận hành của những vật thể ngoại giới. Không phải mọi
nguyên nhân đều được kết nối với những tác dụng thông thường của chúng theo một sự đồng nhất như
nhau. Một người thợ thủ công, dù chỉ làm việc với những vật chất vô tri, cũng
có thể thất bại trong mục tiêu của người này, giống như một chính trị gia, người định
hướng hành vi của những chủ thể có tri giác và trí tuệ.
E 8.13, SBN 86-7
Những người bình
dân, những người cảm nhận sự vật theo vẻ bên ngoài ban đầu của chúng, gán sự
bất định của những biến cố cho một sự bất định trong những nguyên nhân, làm cho những nguyên nhân đó thường thất bại trong việc tạo ra tác dụng thông thường vốn có; dù chúng không gặp trở ngại nào trong hoạt động của
chúng. Nhưng những triết gia, quan sát rằng, hầu như trong mọi bộ phận của tự nhiên, có
chứa đựng một khác loại bao la của những nguồn lực và nguyên lý, những gì bị ẩn giấu, bởi lý do về
sự nhỏ bé hay sự xa xôi của chúng, tìm thấy rằng, ít nhất cũng có khả năng là sự trái
ngược giữa những biến cố không xuất phát từ bất kỳ tính ngẫu nhiên nào trong nguyên
nhân, mà từ sự hoạt động bí mật của những nguyên nhân đối lập. Khả năng này trở thành sự chắc chắn nhờ những quan
sát sâu xa hơn; khi họ nhận thấy rằng, qua sự xem xét kỹ lưỡng, một sự trái ngược
trong hệ quả luôn tiết lộ một sự trái ngược trong nguyên nhân, và xuất phát từ sự đối lập
giữa chúng với nhau. Một
người nông dân không thể đưa ra lý do nào tốt hơn cho việc chiếc đồng hồ ngừng
chạy ngoài việc nói rằng nó thường không chạy đúng giờ; nhưng một người thợ
lành nghề lại dễ dàng nhận thấy rằng cùng một lực trong lò xo hoặc con lắc luôn
tạo ra ảnh hưởng đồng nhất trên những vòng bánh xe răng cưa; và nếu nó không
đạt được tác dụng thông thường, có lẽ chỉ vì một hạt bụi đã làm ngưng toàn bộ
chuyển động. Từ việc quan sát một số trường hợp tương tự, những triết gia hình
thành nên một nguyên tắc rằng: sự liên kết giữa tất cả nguyên nhân và hệ quả
đều mang tính tất yếu như nhau, và sự bất định dường như tồn tại trong một số trường hợp
thực chất bắt nguồn từ sự đối lập ngấm ngầm của những
nguyên nhân trái ngược.
E 8.14, SBN 87
Chẳng hạn, trong cơ thể người, khi những triệu
chứng thông thường của sức khỏe hay bệnh tật làm thất vọng những mong đợi của chúng ta; khi thuốc men không phát huy năng lực quen thuộc; khi những biến cố
bất thường nảy sinh từ một nguyên nhân cụ thể nào đó—triết gia và y sĩ không lấy làm
ngạc nhiên, cũng không bao giờ có ý định phủ nhận tính tất yếu và tính đồng
nhất của những nguyên lý chi phối bộ máy sinh lý. Họ hiểu rằng cơ thể người là
một cỗ máy cực kỳ phức tạp; rằng nó ẩn chứa nhiều năng lực bí ẩn hoàn toàn nằm
ngoài khả năng hiểu biết của cúng ta; rằng với chúng ta, hoạt động của nó thường hiện ra đầy rẫy những
bất định. Và do đó, những biến cố bất thường tự bộc lộ ra bên ngoài không thể
là bằng chứng cho thấy những quy luật tự nhiên đã không được tuân thủ với sự
đều đặn tối đa trong sự hoạt động và sự cai quản nội tại của nó.
E 8.15, SBN 88
Triết gia, nếu nhất quán, phải áp dụng cùng
một lập luận cho những hành động và ý chí của những chủ thể có lý trí. Những quyết định bất thường và bất ngờ
nhất của con người thường có thể được giải thích bởi những người hiểu rõ tất cả
những hoàn cảnh cụ thể về tính cách và hoàn cảnh của họ. Một người có tính tình
ân cần đưa ra trả lời cáu kỉnh: Nhưng người này đang bị sâu răng, hay chưa ăn
bữa tối.
Một anh chàng ngốc nghếch lại bộc lộ sự nhanh nhẹn khác thường trong dáng vẻ của người này: Nhưng người này
vừa gặp
một vận may bất ngờ. Hay ngay cả khi một hành động, như đôi khi vẫn xảy ra, không thể
được giải thích cụ thể, bởi chính người đó hay những người khác; chúng ta vẫn biết, nói tổng quát, rằng tính cách của con
người, ở một mức độ nào đó, vốn không ổn định và thát thường. Theo một cách nào
đó, đây là tính cách bất biến của bản chất con người; dù nó có thể áp dụng,
theo một cách cụ thể hơn, cho một số người, những người không có quy luật cố
định cho hành vi của họ, nhưng tiếp tục theo một tiến trình thất thường và
không kiên định. Những nguyên lý và động cơ bên trong có thể hoạt động theo một
cách thống nhất, bất chấp những điều dường như bất thường này; tượng tự như cách vốn gió,
mưa, mây và những biến đổi khác của thời tiết được cho là chịu sự chi phối của
những nguyên lý ổn định; dù chúng không dễ dàng tìm ra được bằng sự sáng suốt và tìm
hiểu của con người.
E8.16, SBN 88-9
Như vậy, xem
chừng không chỉ sự kết hợp giữa động cơ và hành động tự nguyện cũng đều đặn và
đồng nhất như sự kết hợp giữa nguyên nhân và hệ quả trong bất kỳ phần nào của
tự nhiên; mà hơn thế, sự kết hợp đều đặn này vốn đã được toàn thể nhân loại công
nhận và chưa bao giờ là chủ đề gây tranh luận, dù là trong triết học hay trong
đời sống thường nhật. Giờ đây, vì dựa trên kinh nghiệm quá khứ, chúng ta rút ra
mọi suy luận liên quan đến tương lai, và khi chúng ta kết luận rằng những đối
tượng sẽ luôn được kết hợp với nhau theo cách mà chúng ta đã thấy chúng luôn
luôn được kết hợp; có vẻ là thừa thãi khi phải chứng minh rằng tính đồng nhất
được kinh nghiệm này trong những hành động của con người chính là nguồn gốc để
từ đó chúng ta rút ra những suy luận về chúng. Tuy nhiên, để soi chiếu lập luận
này từ nhiều góc độ đa dạng hơn, chúng ta cũng sẽ nhấn mạnh, dù ngắn gọn, về đề tài sau này.
E 8.17, SBN 89
Sự tùy thuộc lẫn nhau giữa con người lớn đến
mức, trong tất cả những xã hội, hiếm có hành động nào của con người là hoàn
toàn hoàn tự thân trọn vẹn, hay được thực hiện nhưng không liên hệ đến những hành động của những người khác, vốn là cần thiết
để khiến nó đáp ứng đầy đủ ý định của người thực hiện. Người thợ thủ công nghèo
nhất, người làm việc một mình, ít nhất cũng mong đợi sự bảo vệ của chính quyền, để bảo đảm
cho người
này được hưởng thành quả lao động của người này. Người này cũng mong đợi
rằng, khi mang hàng hóa ra chợ và chào bán với một giá hợp lý, sẽ tìm được
những người
mua; và sẽ có thể, bằng số tiền kiếm được, trao đổi với những người khác để họ cung ứng những nhu yếu
phẩm cần thiết cho sự sinh tồn của người này.
Cùng với tỉ lệ
khi con người mở rộng những giao dịch và làm cho tương giao với người khác trở
nên phức tạp hơn, họ luôn bao hàm trong những những trù tính cho cuộc đời của
họ một loạt những hành động tự nguyện đa dạng hơn, những hành động mà họ mong
đợi — từ những động cơ phù hợp — sẽ hiệp lực với hành động của chính họ. Trong
tất cả những kết luận này, họ rút ra thước đo từ kinh nghiệm quá khứ, theo cùng
một cách thức như trong những lý luận của họ về những đối
tượng bên ngoài; và tin tưởng
vững chắc rằng con người, cũng như mọi nguyên tố tự nhiên, sẽ tiếp tục hoạt
động giống như cách thức mà họ đã từng thấy. Một người chủ xí nghiệp trông
cậy vào sức lao động của những người thợ, để thực hiện bất kỳ công việc nào, cũng nhiều như
trông cậy vào những dungh cụ mà ông đem dùng, và sẽ ngạc nhiên không kém nếu những mong đợi của ông không thành. Tóm
lại, việc suy luận và lý luận thực nghiệm này về hành động của những người khác ăn sâu
vào đời sống con người nhiều đến mức không một ai, khi đang tỉnh thức, lại có
thể rời xa nó dù chỉ một khoảnh khắc. Vậy, chẳng phải chúng ta có lý do để
khẳng định rằng toàn thể nhân loại luôn đồng thuận về học thuyết tất yếu,
theo đúng định nghĩa và sự giải thích về nó ở trên sao?
E 8.18, SBN 89-90
Những triết gia cũng chưa bao giờ giữ quan điểm khác biệt với người bình dân trong phương diện cụ thể này. Bởi chưa kể đến việc hầu hết mọi hành
động trong đời sống của họ đều giả định quan điểm đó, nhưng ngay cả
trong những lĩnh vực học thuật suy tưởng, cũng hiếm có phần nào vốn quan
điểm này không phải là yếu tố thiết yếu. Lịch sử sẽ ra sao, nếu chúng ta không
thể tin cậy vào tính chân thực của sử gia theo như kinh nghiệm vốn chúng ta có
về loài người? Làm sao chính
trị có thể là một khoa học, nếu luật pháp và những hình thức chính
quyền không không có một ảnh hưởng đồng nhất lên xã hội? Nền tảng của đạo đức sẽ ở đâu, nếu những cá tính cụ thể không có
năng lực chắc chắn hay xác định để tạo ra những tình cảm cụ thể, và nếu những
tình cảm này không tác động liên tục lên hành động? Và lấy lý do gì để chúng ta
thực hiện việc phê bình đối với bất kỳ nhà thơ hay tác giả tao nhã nào, nếu
chúng ta không thể tuyên bố rằng hành vi và tình cảm của những nhân
vật trong tác phẩm là tự nhiên hay phi tự nhiên đối với những cá tính đó trong
những hoàn cảnh đó? Do đó, dường như không thể tham gia vào bất kỳ ngành khoa
học hay hoạt động nào vốn không nhìn nhận học thuyết tất yếu, và sự suy
luận này từ những động cơ đến những hành động tự nguyện; từ những tính cách đến hành vi.
E8.19, SBN 90-1
Và quả thực, khi
chúng ta xem xét sự liên kết khéo léo giữa minh chứng tự nhiên và minh chứng
đạo đức để tạo thành một chuỗi lập luận duy nhất, chúng ta sẽ không ngần ngại công
nhận rằng chúng có cùng bản chất và bắt nguồn từ cùng những nguyên lý. Một tù nhân, người không có tiền bạc lẫn thế lực, nhận ra sự vô phương của việc trốn
thoát khi xem xét sự sắt đá của người cai ngục cũng như những bức tường và song
sắt bao quanh; và trong mọi gắng sức để tìm tự do, người này thà chọn cách tác
động lên đá và sắt của những vật thể kia, hơn là tác động lên bản chất không
thể lay chuyển của người cai ngục. Cũng chính người tù này , khi được dẫn đến đoạn đầu
đài, đã thấy trước cái chết của mình từ sự kiên định và trung thành của những
người lính canh chắc chắn như từ sự vận hành của lưỡi rìu hay bánh xe
tội hình. Não thức người này chạy dọc theo một chuỗi những ý tưởng nhất
định: sự từ chối của những người lính trước việc chấp thuận cho người này trốn thoát;
hành động của đao phủ; sự lìa đầu khỏi cổ; sự chảy máu, những chuyển động co giật, và cái
chết.
Đây là một chuỗi kết nối giữa những nguyên
nhân tự nhiên và những hành động tự nguyện; nhưng não thức không cảm thấy sự
khác biệt nào khi bước từ mắt xích này sang mắt xích khác: Nó cũng không ít
chắc chắn hơn về biến cố trong tương lai so với việc biến cố đó được liên kết
với những đối tượng đang hiện diện trong trí nhớ hay giác quan, bởi một chuỗi
những nguyên nhân được gắn kết với nhau bằng thứ mà chúng ta hài lòng gọi là
một tính tất yếu vật lý. Cùng một sự hợp nhất đã qua kinh nghiệm sẽ
có cùng một tác động lên não thức, cho dù những đối tượng được hợp nhất đó là
động cơ, ý chí và hành động; hay là hình dáng và chuyển động. Chúng ta có thể
thay đổi tên gọi của sự vật; nhưng bản chất và sự vận hành của chúng
lên khả năng nhận thức của chúng ta không bao giờ thay đổi.
E 8.20, SBN 91
Nếu một người mà
tôi biết là trung thực và giàu có, và là người mà tôi ăn ở thân tình, có đến
nhà tôi, nơi tôi đang có những người hầu cận vây quanh, thì tôi yên tâm rằng,
người này sẽ không đâm tôi trước khi bỏ ra về để mà cướp cái khay mực bằng bạc
của tôi; và tôi cũng chẳng nghi ngờ sự việc này hơn là việc ngôi nhà tự sụp đổ,
cái nhà vốn còn mới, được xây dựng và đặt nền móng vững chãi. Nhưng người
này có thể lên cơn điên loạn đột ngột và không rõ căn nguyên chiếm lấy. Một
trận động đất bất thình lình cũng có thể phát sinh như thế, làm rung chuyển và
đổ sập ngôi nhà xuống ngay cạnh đầu sát bên tai tôi. Do đó, tôi sẽ thay đổi
những giả định. Tôi sẽ nói rằng tôi biết chắc chắn rằng người này sẽ không tự
dúi tay vào lửa, và cứ giữ đó cho đến khi bị cháy rụi. Và sự kiện này, tôi nghĩ
tôi có thể đoán trước với sự chắc chắn tương tự như việc, nếu người này nhảy ra
ngoài qua cửa sổ nhưng không va phải vật gì đỡ lại, người này sẽ không lơ lửng
trên không dù chỉ một khoảnh khắc nào. Không một sự nghi ngờ nào về một cơn
cuồng loạn không rõ nguồn gốc có thể đem lại khả năng nhỏ nhất cho sự việc
kể trước, điều vốn quá trái ngược với tất cả những nguyên lý đã biết của
bản chất con người. Một người vào giữa trưa bỏ quên một cái ví đầy vàng trên
vỉa hè ở Charing-Cross [7],
thì cũng đừng mong nó sẽ không bị lấy mất, như một chiếc lông chim bay vụt lên
không, cũng y như việc mong sẽ tìm thấy nó vẫn còn nằm yên đó không ai động đến
lúc quay lại một giờ sau. Hơn một nửa những lập luận của con người chứa đựng những suy diễn có
tính chất tương tự, với mức độ chắc chắn ít hay nhiều, tỷ lệ thuận với kinh
nghiệm của chúng ta về cách hành xử thông thường của loài người trong những tình
cảnh cụ thể như vậy.
E 8.21, SBN 92-3
Tôi thường ssuy
ngẫm về lý do khiến toàn thể loài người, dù luôn nhìn nhận học thuyết
về tính tất yếu trong tất cả những thực tiễn và lý luận mà không chút do
dự, nhưng lại vẫn bộc lộ một sự ngần ngại khi phải xác
nhận điều đó bằng ngôn từ, và đúng hơn là họ đã cho thấy một thiên
hướng, trong mọi thời đại, là tuyên bố quan điểm ngược lại. Tôi nghĩ chúng
ta có thể giải thích vấn đề theo cách sau.
Nếu chúng ta xem
xét những hoạt động của vật thể và sự tạo ra những hệ quả từ những nguyên nhân
của chúng, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả những năng lực của chúng ta không bao
giờ có thể đưa chúng ta đi xa hơn trong hiểu biết của chúng ta về sự liên hệ
này, ngoài việc chỉ quan sát thấy rằng những đối tượng cụ thể luôn kết
hợp thường xuyên với nhau, và sự liên tưởng theo thói
quen dẫn dắt não thức từ sự xuất hiện của một này sang tin tưởng vào một
kia.
Nhưng mặc dù kết
luận này về sự thiếu hiểu biết của con người là kết quả của việc xem xét
kỹ lưỡng nhất đối với chủ đề này, con người vẫn nuôi dưỡng một thiên hướng mạnh
mẽ là tin rằng họ nhìn thấu sâu hơn vào những quyền năng của tự nhiên
và nhận thức được điều gì đó giống như một sự liên kết tất yếu giữa
nguyên nhân và hệ quả.
Khi họ hướng suy
ngẫm về những hoạt động của chính não thức mình và không cảm thấy sự liên
kết nào như vậy giữa động cơ và hành động, từ đó họ có xu hướng cho rằng
có sự khác biệt giữa những hệ quả nảy sinh từ lực vật chất và những hệ quả phát
sinh từ tư duy và trí thông minh. Nhưng một khi đã tin chắc rằng chúng ta
không biết gì thêm về bất kỳ loại nhân quả nào chỉ ngoài sự kết hợp thường
xuyên giữa những đối tượng và sự suy diễn là hệ quả của
não thức từ đối tượng này sang đối tượng khác; đồng thời nhận thấy rằng mọi
người đều công nhận hai phương diện này luôn hiện diện trong những hành động tự
nguyện; chúng ta sẽ dễ dàng được dẫn dắt để công nhận cùng một tính tất
yếu đó là chung cho mọi nguyên nhân.Và mặc dù lập luận này có thể mâu
thuẫn với những hệ thống của nhiều triết gia trong việc gán tính tất
yếu cho những quyết định của ý chí, nhưng khi suy ngẫm kỹ, chúng ta sẽ
thấy rằng họ chỉ bất đồng về ngôn từ chứ không phải trong cảm nhận thực sự của
họ.
Tính tất yếu,
theo nghĩa được hiểu ở đây, chưa triết gia nào từng bác bỏ, và tôi nghĩ, cũng
không triết gia nào có thể bác bỏ được. Có chăng, người ta chỉ giả tạo làm
như thể não thức có thể nhận thức được, trong những hoạt động của vật
chất, một sự liên kết nào đó xa hơn giữa nguyên nhân và hệ quả;
một sự liên kết không hề hiện diện trong những hành động tự nguyện
của những sinh thể có trí thông minh. Giờ đây, liệu điều đó có đúng hay không
chỉ có thể làm sáng tỏ qua việc kiểm chứng; và trách nhiệm thuộc về những
triết gia này trong việc chứng minh khẳng định của mình bằng cách định
nghĩa hoặc mô tả tính tất yếu đó, rồi chỉ ra nó cho chúng ta thấy
trong những hoạt động của những nguyên nhân vật chất.
E 8.22, SBN 93-4
Quả thực, có vẻ
như con người đã bắt đầu từ ngọn thay vì gốc của vấn đề liên quan đến
tự do và tính tất yếu, khi họ tiếp cận nó bằng cách xem xét những năng lực của tâm hồn, ảnh hưởng của sự hiểu biết và hoạt động của ý chí. Trước hết, hãy để họ
thảo luận về một câu hỏi đơn giản hơn, cụ thể là hoạt động của vật thể và của
vật chất thô lậu, thiếu trí thông minh; và thử xem liệu ở đó họ có thể hình
thành bất kỳ ý niệm nào về quan hệ nhân quả và tính tất yếu, ngoại trừ ý
niệm về một sự kết hợp thường xuyên giữa những đối tượng và sự
liên tưởng tiếp theo của não thức từ đối tượng này sang đối tượng khác.
Trên thực tế, nếu
những phương diện này cấu thành nên toàn bộ tính tất yếu mà
chúng ta quan niệm trong vật chất, và nếu mọi người cũng công nhận rộng rãi
rằng những phương diện này hiện diện trong những hoạt động của não thức, thì
tranh chấp đã chấm dứt; hoặc ít nhất, chúng ta phải công nhận rằng từ
nay về sau đó chỉ đơn thuần là sự tranh cãi về mặt ngôn từ.
Nhưng chừng nào
chúng ta còn hấp tấp giả định rằng mình có một ý niệm xa hơn nào đó
về tính tất yếu và quan hệ nhân quả trong hoạt động của những đối
tượng bên ngoài, đồng thời lại không thể tìm thấy điều gì xa hơn trong những
hành động tự nguyện của não thức; thì chúng ta không có khả năng đưa câu hỏi
đến bất kỳ kết luận xác định nào khi vẫn tiếp tục dựa trên một giả định sai lầm
như vậy.Phương pháp duy nhất để xóa tan sự lầm tưởng của chúng ta là
tiến xa hơn; xem xét phạm vi hạn hẹp của tri thức khoa học khi áp
dụng vào những nguyên nhân vật chất; và thuyết phục bản thân rằng tất cả những
gì chúng ta biết về chúng chỉ là sự kết hợp thường xuyên và sự
liên tưởng đã đề cập ở trên.
Nhưng chừng nào
chúng ta còn hấp tấp giả định rằng mình có một ý niệm xa hơn nào đó
về tính tất yếu và quan hệ nhân quả trong hoạt động của những đối
tượng bên ngoài, đồng thời lại không thể tìm thấy điều gì xa hơn trong những
hành động tự nguyện của não thức; thì chừng đó chúng ta không có khả năng đưa
câu hỏi đến bất kỳ kết luận xác định nào khi vẫn tiếp tục dựa trên một giả định
sai lầm như vậy. Phương pháp duy nhất để xóa tan sự lầm tưởng này là tiến xa
hơn; xem xét phạm vi hạn hẹp của tri thức khi áp dụng vào những nguyên nhân vật
chất; và thuyết phục bản thân rằng tất cả những gì chúng ta biết về chúng chỉ
là sự kết hợp thường xuyên và sự liên tưởng đã đề cập ở
trên. Có lẽ chúng ta sẽ thấy khó lòng ép mình ấn định những giới hạn chật hẹp
như vậy cho sự hiểu biết của con người; nhưng sau đó, chúng ta sẽ không gặp khó
khăn gì khi áp dụng học thuyết này vào những hành động của ý chí. Bởi vì rõ
ràng là những hành động này luôn có một sự kết hợp thường xuyên với
những động cơ, hoàn cảnh và tính cách; và vì chúng ta luôn rút ra những sự
liên tưởng từ đối tượng này sang đối tượng kia, nên
chúng ta buộc phải xác nhận bằng ngôn từ về tính tất yếu đó, những gì mà vốn dĩ
chúng ta đã mặc định nhìn nhận, trong tất cả những
cân nhắc của đời sống và trong tất cả những bước ứng xử và hành vi của chúng ta
[18].
E 8.23, SBN 95
Nhưng để tiến
bước trong dự án hòa giải này liên quan đến câu hỏi về tự do và tính tất
yếu — câu hỏi gây tranh luận nhất của siêu hình học, bộ môn khoa học dễ nảy sinh xung đột ý kiến nhất, sẽ không cần nhiều lời để chứng minh, rằng toàn thể
loài người đã từng đồng thuận về học thuyết tự do cũng như học thuyết tất yếu,
và rằng toàn bộ tranh luận, cũng về khía cạnh này, cho đến nay chỉ đơn thuần là vấn đề ngôn từ. Bởi vì tự do có nghĩa là gì khi áp dụng cho những hành động tự nguyện?
Chắc chắn chúng
ta không thể ngụ ý rằng những hành động có quá ít sự liên kết với
những động cơ, thiên hướng và hoàn cảnh, đến mức một này không hệ quả từ một
kia với một mức độ đồng nhất nhất định, hay một này không cung cấp một sự
liên tưởng nào để chúng ta có thể kết luận về sự hiện hữu của mmootj kia. đây là những sự kiện thực tế rõ ràng và được nhìn nhận. Vậy thì, khi nói về tự do, chúng ta chỉ
có thể ngụ ý một năng lực hành động hoặc không hành động theo những quyết
định của ý chí; nghĩa là, nếu chúng ta chọn ở yên, chúng ta có thể; nếu
chúng ta chọn cử động, chúng ta cũng có thể. Giờ đây, mọi người đều công nhận quyền
tự do giả định này thuộc về bất kỳ ai không phải là tù nhân đang bị xiềng
xích. Như vậy, ở đây không có vấn đề nào để mà tranh chấp cả. [8]
E 8.24, SBN 95
Dù chúng ta định
nghĩa tự do như thế nào đi nữa, chúng ta cũng cần lưu ý hai điều kiện thiết
yếu: thứ nhất, nó phải nhất quán với sự kiện thực tế; thứ hai, nó
phải nhất quán với chính nó. Nếu chúng ta tuân thủ những điều kiện này và làm cho định
nghĩa của chúng ta rõ ràng dễ hiểu, tôi tin chắc rằng toàn thể loài người sẽ có cùng một quan điểm về vấn đề đó.
E 8.25, SBN 95-6
Người ta thường công nhận phổ quát rằng không
có gì hiện hữu mà không có nguyên nhân cho sự hiện hữu của nó; và khi xem xét
một cách nghiêm ngặt, sự ngẫu nhiên chỉ thuần túy là một từ ngữ trống rỗng, không hàm
ý bất kỳ sức mạnh thực sự nào hiện diện ở bất kỳ đâu trong tự nhiên. . Nhưng người ta lại giả tạo làm như thể một số nguyên nhân thì tất yếu, một số khác thì không.
Ở đây, khi đó là
sự ưu thắng của những định nghĩa. Hãy để bất kỳ ai thử định nghĩa một
nguyên nhân nhưng không bao hàm trong đó — như một phần của định nghĩa —
một sự kết nối tất yếu với hệ quả của nó; và hãy để người đó
chỉ ra một cách minh bạch nguồn gốc của ý niệm được định nghĩa được
diễn đạt; khi đó, tôi sẽ sẵn lòng từ bỏ toàn bộ tranh luận này. Nhưng nếu cách
giải thích trước đó về vấn đề này được chấp nhận, thì điều này tuyệt đối không
thể thực hiện được.
Nếu những sự vật không có một sự kết hợp
đều đặn với nhau, chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được bất kỳ khái niệm nào
về Nguyên nhân và Hệ quả; và chính sự kết hợp đều đặn này tạo ra sự suy
diễn của
khả năng hiểu biết, vốn là sự liên hệ duy nhất mà chúng ta có thể nhận thức được. Bất kỳ ai
cố gắng định nghĩa nguyên nhân mà loại trừ đi những điều kiện này, sẽ buộc phải
dùng những thuật ngữ vô
nghĩa, hoặc những thuật ngữ đồng nghĩa với chính từ ngữ mà
người này cố gắng định nghĩa [19]. Và nếu định nghĩa đã nhắc đến ở trên được
chấp nhận; thì tự do, khi đối lập với tính tất yếu, nhưng không phải với sự
cưỡng ép, cũng chính là một với sự ngẫu nhiên; mà sự ngẫu nhiên thì đã được
nhìn nhận phổ quát là không hề hiện hữu.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ hai
(Mar/2026
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Tự do và Tất yếu: Từ Mê cung Ngôn từ đến Bản chất Con người
Trong lịch sử
tư tưởng Tây phương, hiếm có tranh luận nào dai dẳng và gây chia rẽ như tương
quan giữa sự tự do của con người và tính tất yếu của tự nhiên. Trước khi David
Hume đặt bút viết chương này, thế giới trí thức bị chia làm hai phe đối lập gay
gắt. Một bên là những nhà cơ giới luận, tiêu biểu như Thomas Hobbes, coi vũ trụ
như một bộ máy khổng lồ mà con người chỉ là một bánh răng cưa nhỏ; mọi hành động
của chúng ta đều bị định đoạt bởi những tiền đề vật lý không thể đảo ngược. Bên
kia là những nhà gót học và triết gia duy ý như Descartes, những người nỗ lực
bảo vệ “ý chí tự do”như một đặc ân thiêng liêng, tách biệt con người khỏi những
quy luật xơ cứng của vật chất để bảo tồn trách nhiệm đạo đức.
Hume bước vào
tranh luận này không phải với tư cách một người phân xử xem ai đúng ai sai, mà
như một nhà giải phẫu ngôn ngữ. Ông nhận ra rằng mê cung mà những triết gia
đang lạc lối thực chất được xây dựng từ những định nghĩa mơ hồ. Để phá bỏ mê
cung đó, Hume dùng chính lập trường hoài nghi về nhân quả mà ông đã thiết lập ở
những chương trước: một cái nhìn điềm tĩnh vào những gì chúng ta thực sự kinh
nghiệm thay vì những gì chúng ta tưởng tượng ra.
Nền tảng từ
sự hoài nghi về Nhân quả: Để hiểu lập luận của Hume về con người, trước
hết chúng ta phải nhớ lại cách ông nhìn nhận thế giới vật lý. Trong những hoạt
động của vật chất—như khi một hòn bi sắt va chạm vào một hòn bi khác—chúng ta
tin rằng có một “lực tất yếu”buộc hòn bi thứ hai phải chuyển động. Tuy nhiên,
Hume chỉ ra rằng giác quan của chúng ta chưa bao giờ nhìn thấy cái “lực”hay “sự
kết nối”thần bí đó. Tất cả những gì chúng ta thực sự thấy chỉ là hai biến cố đi
đôi với nhau một cách liên tục: hòn bi A chạm, và rồi hòn bi B lăn.
Chính việc lập
đi lập lại sự đi đôi này đã hình thành nên một Thói quen (Custom) trong
não thức con người. Khi thấy nguyên nhân, chúng ta tự động suy luận ra kết quả.
Như vậy, “Tính tất yếu”mà chúng ta gán cho tự nhiên thực chất không nằm ở bản
thân vật chất, nhưng là một cảm giác của não thức, một sự chuyển dịch tư duy
dựa trên kinh nghiệm quá khứ.
Sự đồng nhất
trong bản chất con người: Khi áp dụng lăng kính này vào xã hội, Hume đưa
ra một quan sát mang tính cách mạng: Hành vi của con người cũng mang tính quy
luật y như sự vận hành của vật chất. Thông qua việc nghiên cứu lịch sử của
những sử gia như Polybius hay Tacitus, ông chỉ ra rằng bản chất con người là
một hằng số bất biến xuyên thời gian và không gian. Tham vọng của một chính
khách La Mã thời cổ cũng vận hành theo cùng một cơ chế như tham vọng của một
chính khách Anh thế kỷ 18.
Nếu chúng ta
nhìn nhận rằng đất, nước và lửa thời Aristotle vẫn giống hệt đất, nước và lửa
ngày nay, thì tại sao chúng ta lại hoài nghi rằng lòng ích kỷ hay tình thân hữu
của con người đã thay đổi? Sự đi đôi giữa động cơ và hành động là một dữ kiện
thực tế mà ai cũng nhìn nhận trong đời sống hàng ngày. Chúng ta tin tưởng vào
người đưa thư sẽ mang thư đến, cũng như chúng ta tin rằng lửa sẽ làm bỏng tay.
Nếu hành vi con người là ngẫu nhiên và không có tính tất yếu, mọi dự báo xã
hội, mọi luật lệ và mọi mối quan hệ giữa người với người sẽ hoàn toàn sụp đổ.
Tái định
nghĩa Tự do
Nút thắt lớn
nhất mà Hume tháo gỡ chính là sự mâu thuẫn giả tạo giữa Tự do và Tất yếu. Ông
cho rằng chúng ta hoàn toàn có thể sở hữu cả hai.
Theo Hume, Tất
yếu chỉ đơn giản là sự ổn định của mối quan hệ giữa động cơ và hành vi. Còn
Tự do, hiểu theo nghĩa thực tế và hợp lý nhất, không phải là sự ngẫu
nhiên vô căn cứ, nhưng là “khả năng hành động theo ý muốn của chính mình”. Một
người được coi là tự do khi họ không bị xích xiềng hay cưỡng bức vật lý để phải
làm điều trái với ý chí.
Sự tự do này
không hề xung đột với tính tất yếu. Việc tôi tự nguyện chọn đi dạo là một hành
động tự do vì tôi không bị ép buộc, nhưng hành động đó vẫn là tất yếu vì nó bắt
nguồn từ một động cơ cụ thể trong não thức tôi (như mong muốn hít thở không khí
trong lành). Nếu hành động của tôi không có nguyên nhân, nó sẽ là sự điên rồ
chứ không phải sự tự do.
Bằng hạ thấp
tính “thần bí”của Tất yếu và đưa Tự do trở về với ý nghĩa hành động thực tế,
Hume đã giải phóng độc giả khỏi những tranh luận siêu hình mệt mỏi. Ông khẳng
định rằng toàn thể loài người thực chất đều đồng ý về vấn đề này, chỉ là họ bị
kẹt vào những từ ngữ hoa mỹ mà quên mất những Dữ kiện (Fact) hiển nhiên
trước mắt.
Lập luận của
Hume không chỉ là một bài tập triết học; nó là một lời kêu gọi chúng ta nhìn
vào thực tại bằng sự quan sát tỉnh táo. Ông hứa hẹn rằng cách tiếp cận này sẽ
không làm xáo trộn “sự an ổn”của độc giả bằng những lý luận phức tạp, mà ngược
lại, nó mang đến một sự minh triết giản đơn: Con người là một phần hữu cơ của
tự nhiên, và chính sự tất yếu trong bản chất là thứ cho phép chúng ta hiểu được
chính mình và thấu hiểu lẫn nhau.
[2] Khởi nguồn từ thời trước-Socrates, Democritus đã phác thảo một vũ trụ của chủ
nghĩa tất định nghiêm ngặt, nơi những hạt nguyên tử rơi thẳng tắp trong chân
không theo một trật tự toán học bất biến. Trong thế giới cơ học thuần túy đó,
mọi chuyển động đều được định đoạt từ vĩnh cửu, không có chỗ cho sự tự do hay
những biến số bất ngờ. Tuy nhiên, khi Epicurus tiếp nhận thuyết nguyên tử này,
ông nhận thấy rằng nếu vũ trụ chỉ vận hành như một bộ máy vô tri, con người sẽ
chẳng khác nào những quân cờ của định mệnh. Để cứu vãn đạo đức học và khẳng
định tự do cá nhân, Epicurus đã đưa vào khái niệm “Cú lệch hướng”(Clinamen).
Ông giả định rằng đôi khi những nguyên tử sẽ tự ý chệch khỏi quỹ đạo thẳng đứng
một cách ngẫu nhiên mà không cần nguyên nhân tác động. Chính sự “lệch hướng”này
đã tạo điều kiện cho những nguyên tử va chạm chéo, kết tụ thành những cấu trúc
phức tạp như cơ thể và linh hồn sinh vật sống. Với Epicurus, nếu không có sự
ngẫu nhiên ấy, thế giới sẽ mãi chỉ là những dòng chảy song song, trống rỗng và
bất động.
Ở trên, Hume nhắc
lại hình ảnh này không phải để ủng hộ nhưng là để xác lập tính tất yếu nhân
danh vật lý học Newton. Đứng trên lập trường của một nhà khoa học thực nghiệm,
Hume coi sự “ngẫu nhiên”(chance) thực chất chỉ là một cách gọi khác cho sự thiếu hiểu biết
của chúng ta về những nguyên nhân ẩn giấu. Ông dùng ẩn dụ về “sinh vật nảy sinh từ cú va chạm”như một phép so sánh
tương đương: Nếu một người coi việc sự sống tự phát nảy sinh từ sự ngẫu nhiên
là điều phi lý, thì họ cũng phải công nhận rằng việc một vật thể bay lệch khỏi
quỹ đạo đã được định luật tự nhiên ấn định là điều bất khả thi tương tự. Bằng
cách loại bỏ khả năng “lệch hướng”trong thế giới vật chất, Hume xác lập tính
sắt đá của luật nhân quả. Đây là bước đệm quan trọng để ông lập luận rằng não
thức và hành vi con người cũng vận hành theo những quy luật không thể lay
chuyển. Với Hume, vũ trụ không có những cú “lệch hướng”tự thân; mọi chuyển động đều diễn ra chính
xác theo mức độ và hướng mà những điều kiện tiền đề đã quy định.
[3] Trong Hume, Học
thuyết Tất yếu (Doctrine of Necessity) là cách giải thích về tính quy luật
trong hành vi của con người, đặt nó trên cùng một nền tảng với những quy luật vật
lý. Thay vì coi “tất yếu”là một thế lực huyền bí hay sự áp đặt định mệnh, Hume
định nghĩa nó qua hai dữ kiện quan sát được: sự kết hợp thường xuyên của những sự kiện và
thói quen suy luận của não thức.
Theo đó, mọi hành
động tự nguyện của con người đều bắt nguồn từ những động cơ và đặc điểm tính
cách nhất định. Hume lập luận rằng nếu con người không hành động theo những quy
luật ổn định này, đời sống xã hội sẽ trở nên bất khả tri và hỗn loạn. Chúng ta có
thể dự đoán hành vi của người khác trong đời sống hàng ngày chính là nhờ tin
vào tính “tất yếu”đó; ví dụ, chúng ta tin rằng một người thợ làm việc vì lợi
nhuận hoặc một người bạn trung thành vì tình cảm. Nếu không có sự liên kết ổn
định giữa động cơ (nguyên nhân) và hành động (kết quả), lịch sử và những ngành khoa học
về con người sẽ không thể tồn tại.
Học thuyết này
cũng giải quyết mâu thuẫn giữa “tự do” và “tất yếu”. Với Hume, tự do không có
nghĩa là hành động ngẫu nhiên không nguyên nhân, nhưng là khả năng hành động
theo ý muốn mà không bị cản trở bởi những thế lực bên ngoài (như xiềng xích hay sự
ràng buộc). Tính tất yếu chỉ cung cấp quy luật giải thích tại sao ý muốn đó
hình thành trong não thức. Vì vậy, con người vẫn là một thực thể tự do khi
hành động theo ý mình, đồng thời cũng là một phần của tự nhiên khi tuân theo
những quy luật vận hành của não thức. Hume kết luận rằng, toàn thể loài người thực tế đã
luôn vận hành dựa trên niềm tin vào tính tất yếu này, và những tranh cãi gay
gắt về nó phần lớn xuất phát từ việc hiểu sai hoặc dùng khác thuật ngữ mà thôi.
[4] Tính nhất quán giữa Thế giới Tự nhiên và Bản chất Con người: Hume khéo léo đặt
song song hai nhóm nhân vật đại diện cho hai lĩnh vực khác nhau để củng cố lập
luận về tính bất biến của thực tại. Nhóm thứ nhất gồm Aristotle và Hippocrates,
những người đã nghiên cứu về vật chất và y học từ hơn hai thiên niên kỷ trước.
Qua đó, Hume khẳng định một Dữ kiện (Fact) hiển nhiên: đất, nước và những yếu
tố tự nhiên mà họ quan sát thời thời cổ hoàn toàn đồng nhất với thế giới vật lý
qungười này ngày nay. Quy luật của tự nhiên là một hằng số, không bao giờ thay
đổi theo thời gian.
Từ nền tảng đó,
ông dẫn dắt người đọc sang nhóm thứ hai gồm hai sử gia đại diện cho tư duy
chính trị: Polybius và Tacitus. Hume lập luận rằng, những con người đầy tham
vọng, ích kỷ hay đam mê quyền lực trong những ghi chép của họ cũng hoàn toàn
tương đồng với những kẻ đang cai trị thế giới hiện tại. Bằng cách viện dẫn này,
ông muốn thiết lập một sự tương quan tuyệt đối: nếu chúng ta tin rằng vật chất
có tính nhất quán, thì chúng ta cũng phải công nhận rằng bản chất con người có
tính nhất quán.
Ý nghĩa cốt lõi
của phép so sánh này là để chứng minh rằng: khoa học về con người cũng có những
Dữ kiện chắc chắn và có thể dự đoán được như khoa học tự nhiên. Hume coi những
ghi chép lịch sử của Polybius hay Tacitus không chỉ là chuyện quá khứ, nhưng là
những “bộ sưu tập thí nghiệm”thực chứng. Chúng cung cấp chất liệu quý giá giúp
Khả năng nhận thức (Understanding) của chúng ta xác lập nên những nguyên tắc
phổ quát về hành vi con người, từ đó chấm dứt những tranh luận viển vông và đi
thẳng vào bản chất thực sự của vấn đề.
[5] Quintus Curtius: Một sử gia chuyên viết
về Alexander Đại đế. Hume đưa ông vào đây như một tấm gương xấu về việc thiếu
tinh thần thực chứng. Với Hume, nếu một sử gia mô tả một người có hành động nằm
ngoài hệ thống Động cơ (Motives) thông thường của loài người, thì đó không còn
là lịch sử nhưng là sự ngụy tạo. Alexander (Đại đế): Hình tượng Alexander trong
văn chương thời cổ thường bị “thần thánh hóa”. Hume kéo Alexander xuống mặt
đất, khẳng định rằng dù vĩ đại đến đâu, vị vua này vẫn phải chịu sự chi phối
của những quy luật tự nhiên về thể xác và tâm lý.
[6] maxims
[7] Charing Cross: một khu vực sầm uất của London
[8] Trong nỗ lực hòa giải những quan điểm đối
lập về tự do và tính tất yếu, David Hume đã định nghĩa lại “Tự do”theo cách mà
phe “Tất yếu”cũng có thể chấp nhận. Theo ông, tự do không phải là một “phép màu”nằm
ngoài quy luật tự nhiên, mà đơn giản là năng lực hành động theo quyết định của
ý chí. Một cá nhân được coi là tự do khi họ có khả năng thực hiện điều mình
muốn mà không bị ngăn trở bởi xiềng xích hay những rào cản vật lý. Nói cách
khác, tự do là sự vắng mặt của cưỡng bách bên ngoài, chứ không phải sự vắng mặt
của nguyên nhân bên trong.
Hume lập luận rằng, nếu tôi muốn bước đi và có thể
thực hiện việc đó, tôi đang tự do. Tuy nhiên, bản thân mong muốn “muốn bước đi”đó
vẫn là kết quả tất yếu từ những động cơ và tâm lý bên trong. Bằng cách này,
Hume đã “hòa giải”thành công hai khái niệm: con người vừa hành động tất yếu
theo những quy luật tâm lý, vừa tự do khi không bị cưỡng ép về mặt cơ học. Đồng
thời, Hume khẳng định rằng ý chí hay mong muốn không bao giờ nảy sinh từ sự
ngẫu nhiên. Đối với ông, ngẫu nhiên không tồn tại trong tự nhiên; đó chỉ là cái
tên chúng ta đặt cho sự thiếu hiểu biết của chính mình về những nguyên nhân ẩn
giấu. Ông nhấn mạnh: nếu một hành động thực sự ngẫu nhiên — nghĩa là không bắt
nguồn từ tính cách, động cơ hay thiên hướng của chủ thể — thì hành động đó trở
nên vô nghĩa. Khi đó, con người không còn là “tác giả”thực sự của việc mình
làm. Một hành động vô căn cứ như vậy giống như một sự kiện rời rạc, không thể
dùng làm cơ sở để phán xét đạo đức hay quy trách nhiệm.
Vì vậy, Hume chỉ ra rằng tự do thực thụ không thể
tách rời tính tất yếu. Con người vừa là một mắt xích trong chuỗi nhân quả tâm
lý, vừa có quyền tự quyết khi không bị ngoại lực tác động. Bằng cách đồng nhất “tự
do không nguyên nhân”với “sự hỗn loạn của ngẫu nhiên”, Hume thuyết phục chúng
ta rằng: chúng ta chỉ thực sự có tự do và trách nhiệm đạo đức khi hành động của
chúng ta bắt nguồn một cách tất yếu từ chính bản chất và tính cách của chính
mình.
