Một Điều Tra Về Những Nguyên
Lý của Đạo Đức
(An Enquiry Concerning the
Principles of Morals)
David
Hume
PHỤ LỤC II.
Về Tình Cảm Vị Kỷ (Self-love). [1]
M App2. 1, SBN
295-6
Có một nguyên lý,
được giả định là phổ biến trong số nhiều người, vốn nó hoàn toàn không tương đồng
với tất cả đức hạnh hay tình cảm đạo đức; và vì nó không thể xuất phát từ bất cứ
gì ngoài khuynh hướng sa đọa nhất, nên đến lượt nó, nó lại có khuynh hướng khuyến
khích sự sa đọa đó thêm nữa. Nguyên lý này là, mọi lòng từ thiện chỉ là
đạo đức giả, tình thân hữu là trò lừa bịp, tinh thần tập thể xã hội là trò hề,
lòng trung thành là cái bẫy để kiếm được lòng tin và sự tín nhiệm; và rằng
trong khi tất cả chúng ta, sâu thẳm bên trong, chỉ tìm kiếm lợi ích riêng tư, chúng
ta khoác những ngụy trang đẹp đẽ này, khiến những người khác không dè chừng, và
dễ dàng dẫn đẩy họ vào những mưu mô và thủ đoạn của chúng ta. Thật dễ để hình
dung một người ôm giữ những nguyên lý như vậy, và không cảm thấy một tình cảm bên
trong nào bác bỏ lý thuyết ác hại như thế, sẽ phải có một trái tim như thế nào.
Và cũng vậy, hình dung mức độ tình cảm và lòng nhân ái người này phác họa loài người
dưới những màu sắc xấu xa đáng ghét như vậy, và cho rằng con người hầu như
không có khả năng biết ơn hay đáp lại tình cảm nào. Hay nếu chúng ta không gán
hoàn toàn những nguyên lý này cho một trái tim đã mục ruỗng, thì ít nhất chúng
ta cũng phải giải thích chúng là đến từ sự xem xét cẩu thả và vội vàng nhất. Những
người lý luận hời hợt, khi quan sát thấy nhiều sự giả dối trong loài người và
có lẽ cũng không cảm thấy sự kiềm chế mạnh mẽ trong chính tính cách của chính họ,
có thể vội vàng rút ra một kết luận tổng quát rằng tất cả đều hư hỏng như nhau.
Họ cho rằng con người, khác với tất cả những động vật khác, thậm chí khác mọi
loài hiện hữu khác, không có mức độ tốt hay xấu, nhưng trong mọi trường hợp, đều
chỉ là những sinh vật giống nhau dưới những lớp ngụy trang và vẻ ngoài khác
nhau.
M App2. 2, SBN
296
Có một nguyên lý
khác, phần nào giống với nguyên lý trước; vốn nó đã được những triết gia nhấn mạnh
rất nhiều và đã là nền tảng cho không ít hệ thống tư tưởng; rằng, cho dù tình cảm
nào một người có thể cảm thấy, hay tưởng tượng là có với người khác, thì không
có tình cảm nào là, hay có thể là vô vị lợi [2];
rằng tình thân hữu hào hiệp nhất, dù chân thành đến đâu, cũng là một biến thể của
tình cảm vị kỷ; và rằng, ngay cả chính chúng ta cũng không biết rằng chúng ta
chỉ tìm kiếm sự thỏa mãn riêng cho bản thân, dù bề ngoài có vẻ như tham gia sâu
sa vào những kế hoạch vì tự do và hạnh phúc của loài người. Bằng một chuyển hướng
trí tưởng tượng, bằng một sự tinh tế của suy ngẫm, bằng một sự nhiệt thành của tình
cảm, chúng ta dường như góp phần vào những lợi ích của những người khác và tự
tưởng tượng rằng đã thoát ra tất cả những cân nhắc vị kỷ: Nhưng, ở đáy cùng, người
yêu nước hào hiệp nhất và kẻ keo kiệt bủn xỉn nhất, anh hùng dũng cảm nhất và kẻ
hèn nhát thấp hèn nhất, trong mọi hành động, đều quan tâm như nhau đến hạnh
phúc và phúc lợi của riêng họ.
M App2. 3, SBN
296
Bất cứ ai kết luận
từ khuynh hướng bề ngoài của quan điểm này rằng những người tuyên bố như vậy
không thể cảm nhận được những tình cảm chân thành của lòng từ thiện, hay có bất
kỳ tôn trọng nào với đức hạnh đích thực, thì trên thực tế, họ thường thấy mình
đã nhầm lẫn rất nhiều. Sự liêm chính và danh dự không hề xa lạ với Epicurus và trường
phái của ông. Atticus và Horace dường như sở hữu bẩm sinh, và được vun đắp thêm
bằng suy ngẫm, cũng có những tính cách hào hiệp và thân hữu như bất kỳ học trò
nào của những trường phái khắc khổ hơn. Và trong số những người thời nay,
Hobbes và Locke, những người duy trì hệ thống đạo đức duy kỷ, đã sống một cuộc
đời không thể chê trách; mặc dù Hobbes không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào của
tôn giáo nào, điều có thể bù đắp cho những khiếm khuyết trong triết lý của ông.
[3]
M App2. 4, SBN
296-7
Một người theo thuyết
Epicurus hay một người theo thuyết của Hobbe dễ dàng nhìn nhận rằng có một gì
như thế tình thân hữu trên thế giới, với không có giả nhân giả nghĩa hay ngụy
trang; mặc dù họ có thể cố gắng, qua một kiểu phân tích triết học, để phân giải
những yếu tố của tình cảm này, nếu tôi có thể nói như vậy, thành những yếu tố của
tình cảm khác, và giải thích mọi tình cảm là tình cảm vị kỷ, đã bị bóp méo và
nhào nặn, bởi một sự chuyển hướng đặc biệt của trí tưởng tượng, thành một loạt những
dạng ngoài khác nhau. Nhưng vì sự chuyển hướng trí tưởng tượng đó không phổ biến
ở mọi người, cũng không mang lại cùng một sự định hướng cho tình cả ban đầu; điều
này là đủ, ngay cả theo hệ thống vị kỷ, để tạo ra sự khác biệt rộng lớn nhất trong
tính cách con người, và gọi người này là đức hạnh và nhân đạo, người kia là xấu
xa và chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân tầm thường. Tôi tôn trọng người có tình cảm
vị kỷ – dù phát triển thế nào – được định hướng theo cách khiến họ quan tâm đến
người khác và trở nên hữu ích cho xã hội. Và tôi không thích hay coi thường những
người chỉ quan tâm đến vui sướng và sự thỏa mãn của bản thân. Sẽ thật vô ích nếu
bạn lập luận rằng hai nhân cách này – dù trông có vẻ trái ngược nhau – nhưng thực
chất lại giống nhau, và rằng rằng một thay đổi suy nghĩ rất nhỏ đã tạo nên sự
khác biệt lớn giữa chúng. Mỗi nhân cách, bất chấp những khác biệt không đáng kể
này, trên thực tế, có vẻ khá bền vững và không thể biến đổi. Trong trường hợp
này, tôi không thấy, cũng như những trường hợp khác, rằng những cảm xúc tự
nhiên của chúng ta – những cảm xúc nảy sinh từ cách chúng ta nhìn nhận sự vật –
dễ dàng bị đảo lộn bởi những suy tư triết học tinh tế về những nguyên nhân nhỏ
bé, ẩn giấu đằng sau những vẻ ngoài đó. Ví dụ, chẳng phải một khuôn mặt tươi tắn,
rạng rỡ tự nhiên mang lại cho tôi cảm giác thoải mái và dễ chịu hay sao; mặc dù
tôi học được từ triết học rằng mọi sự khác biệt về nước da đều bắt nguồn từ những
khác biệt nhỏ nhất về độ dày, ở những phần nhỏ nhất của da; nhờ đó, bề mặt có đủ
điều kiện phản chiếu một trong những màu sắc ban đầu của ánh sáng và hấp thụ những
màu khác?
M App2. 5, SBN
297-8
Nhưng mặc dù câu
hỏi liên quan đến tính vị kỷ phổ quát hay thàn phần của con người không quá
quan trọng với đạo đức và thực hành như người ta thường nghĩ, nhưng nó chắc chắn
có ý nghĩa trong khoa học suy diễn về bản chất con người, và là một đối tượng
thích hợp cho sự tò mò và tìm hiểu. Do đó, ở đây, có lẽ không phải là không phù
hợp để dành một vài suy ngẫm về nó [60].
M App2. 6, SBN
298
Phản đối rõ ràng
nhất với giả thuyết về tình cảm vị kỷ là, rằng nó trái ngược với cảm xúc thông
thường và những quan niệm vô tư nhất của chúng ta,, cần phải có sự vận dụng triết
học cao nhất để thiết lập một nghịch lý phi thường như vậy. Với người quan sát
thiếu cẩn trọng nhất, dường như có những khuynh hướng như lòng từ thiện và sự hào
hiệp; những tình cảm như tình yêu, tình thân hữu, lòng trắc ẩn, lòng biết ơn. Những
tình cảm này có nguyên nhân, kết quả, mục tiêu và hoạt động của chúng, được
đánh dấu bằng ngôn ngữ và sự quan sát thông thường, và rõ ràng được phân biệt với
những tình cảm vị kỷ. Và vì đây là vẻ ngoài hiển nhiên của sự vật, nên chúng ta
phải công nhận điều này; cho đến khi một giả thuyết nào đó được tìm ra, bằng
cách đi sâu hơn vào bản chất con người, có thể chứng minh những tình cảm kể trước
chẳng qua chỉ là những biến thể của những kể sau này. Mọi cố gắng kiểu này cho
đến nay đều vô ích, và dường như hoàn toàn xuất phát từ lòng yêu thích sự
đơn giản, vốn là nguồn gốc của nhiều lập luận sai lầm trong triết học. Tôi
sẽ không đi sâu vào chi tiết về đề tài này ở đây. Nhiều triết gia lỗi lạc đã
cho thấy sự thiếu sót của những hệ thống này. Và tôi sẽ coi như điều hiển nhiên
vốn tôi tin là, chỉ cần một sự phản ảnh nhỏ nhất cũng có thể làm sáng tỏ với bất
kỳ người tìm hiểu khách quan nào.
M App2. 7, SBN
298-300
Nhưng bản chất của
đề tài đem cho giả định mạnh mẽ nhất, rằng không có hệ thống nào tốt hơn sẽ được
phát minh, ngõ hầu để giải thích cho nguồn gốc của lòng từ thiện từ những tình
cảm vị kỷ, và thu giảm tất cả những cảm xúc khác nhau của não thức con người
thành một sự đơn giản toàn hảo. Trường hợp không giống nhau trong loại triết học
này như trong vật lý. Nhiều giả thuyết trong tự nhiên, trái ngược với bề ngoài
ban đầu, đã được tìm thấy, khi xem xét kỹ lưỡng hơn, là vững chắc và thỏa đáng.
Những trường hợp như thế này phổ biến đến mức một triết gia thông thái và dí dỏm
[61] đã dám khẳng định, rằng bất cứ khi nào một hiện tượng có thể được giải
thích theo nhiều cách, mọi người có khuynh hướng cho rằng nó xuất phát từ những
nguyên nhân ít rõ ràng và ít quen thuộc nhất. Nhưng giả định luôn nằm ở phía đối
diện, trong tất cả những điều tra liên quan đến nguồn gốc của những tình cảm của
chúng ta và những hoạt động nội tâm của não thức con
người. Nguyên nhân đơn giản và rõ ràng nhất, có thể được gán cho bất kỳ hiện
tượng nào, có lẽ là nguyên nhân đúng. Khi một triết gia, trong tiến trình giải
thích hệ thống của mình, buộc phải viện đến một số suy tưởng rất phức tạp và tế
nhị, và cho rằng chúng là yếu tố thiết yếu cho việc sinh sản của bất kỳ tình cảm
hay cảm xúc nào, chúng ta có lý do để hết sức dè chừng với một giả thuyết sai lầm
như vậy. Những cảm xúc không dễ bị ảnh hưởng bởi bất kỳ sự tế nhị nào của lý
trí hay trí tưởng tượng; và người ta luôn thấy rằng vận dụng mạnh mẽ những khả năng
sau, tất yếu, từ khả năng hạn hẹp của não thức con người, sẽ phá hủy mọi hoạt động
trong khả năng trước. Động cơ hay ý định chủ đạo của chúng ta, thực sự, thường
bị che giấu khỏi chính chúng ta, khi nó bị trộn lẫn và nhầm lẫn với những động
cơ khác, vốn não thức, do tự phụ ham danh, mong muốn cho rằng nó chiếm ưu thế
hơn: Nhưng không có trường hợp nào, một sự che giấu mang tính chất này từng
phát sinh từ sự bí ẩn và phức tạp của động cơ. Một người mất đi một người bạn
và người đỡ đầu có thể tự huyễn hay rằng mọi đau buồn của người này đều xuất
phát từ tình cảm cao thượng, không hề pha trộn giữa những cân nhắc hẹp hòi hay
vụ lợi nào. Nhưng một người thương tiếc một người bạn quý vốn chính mình từng
nâng đỡ và bảo vệ thì không thể dễ dàng duy trì ảo tưởng đó. Một người mất đi một
người bạn và người đỡ đầu, có thể tự tâng bốc rằng mọi đau buồn của mình đều xuất
phát từ những tình cảm cao thượng, không có pha trộn nào của những cân nhắc hẹp
hòi hay vụ lợi: Nhưng một người khác, đau buồn vì cái chết của một người bạn
quý, vốn đẫ cần sự đỡ đầu của người này; làm sao chúng ta có thể cho rằng tình
cảm thân ái sâu đậm của người này xuất phát từ quan điểm siêu hình nào đó về lợi
ích cá nhân, vốn nó không có cơ sở hay thực tế nào? Chúng ta cũng có thể tưởng tượng,
rằng những bánh xe và lò xo nhỏ của một chiếc đồng hồ, tạo chuyển động cho một
chiếc xe ngựa chất đầy hàng, như giải thích cho nguồn gốc của tình cảm từ những
suy ngẫm khó hiểu như vậy.
M App2. 8, SBN
300
Động vật được thấy
có khả năng tiếp nhận lòng tốt, cả với đồng loại của chúng lẫn đồng loại của
chúng ta; và trong trường hợp này, không hề có chút nghi ngờ nào về sự ngụy
trang hay sự khéo léo. Liệu chúng ta có nên giải thích tất cả những tình cảm của
chúng, cũng chỉ từ những tính toán tinh vi của lợi ích cá nhân hay không? Hay nếu
chúng ta nhìn nhận rằng ở những loài thấp hơn vẫn hiện hữu một lòng từ thiện không
vụ lợi, thì dựa trên quy luật tương đồng nào chúng ta lại có quyền phủ nhận sự hiện
hữu của nó ở chủng loại cao hơn?
M App2. 9, SBN
300
Tình yêu giữa hai
giới sản sinh ra một sự mãn nguyện và thiện chí, rất khác biệt với sự thỏa mãn
của một bản năng ham muốn thể xác. Sự dịu dàng của cha mẹ dành cho con cái, ở mọi
sinh vật có tri giác, thường đủ mạnh để vượt qua cả những động cơ mạnh nhất của
của tình cảm vị kỷ, và hoàn toàn không cần dựa vào tình cảm đó chút nào. Một
người mẹ thương con đến mức nào khi bà kiệt sức vì ngày đêm chăm sóc đứa con
đang bệnh nặng, rồi sau đó hao mòn và chết vì đau buồn khi đứa bé qua đời – dù
lúc ấy bà đã được “giải thoát” khỏi gánh nặng chăm sóc? Bà có được lợi lộc gì,
có tính toán vị kỷ gì ở đây không?
M App2. 10, SBN
300
Lòng biết ơn chẳng
lẽ không phải là một tình cảm thực sự trong lòng con người, hay đó chỉ là một từ
suông, không có ý nghĩa và thực chất gì cả? Chúng ta không hề cảm thấy vui
thích khi ở bên người này hơn người kia sao? Chúng ta không hề mong muốn bạn
mình được hạnh phúc, dù có xa cách hay chết đi khiến chúng ta chẳng còn được hưởng
chút lợi lộc nào từ hạnh phúc ấy nữa? Hay ngay cả khi người đó còn sống và ở
ngay trước mặt, điều gì khiến chúng ta được “chia sẻ” một phần hạnh phúc của họ,
nếu không phải chính tình thương và sự quý mến chúng ta dành cho người đó?
M App2. 11, SBN
300-1
Những ví dụ này,
cùng hàng ngàn trường hợp khác, chính là dấu hiệu của một lòng từ thiện, nhân
ái phổ quát trong bản tính con người – nơi mà không hề có chút lợi ích thực tế
nào trói buộc chúng ta với đối tượng ấy. Còn nếu bảo rằng một lợi ích tưởng tượng,
mà ai cũng biết rõ và công nhận là tưởng tượng, lại có thể là nguồn gốc của bất
kỳ tình cảm hay cảm xúc nào, thì thật khó mà giải thích nổi. Cho đến nay, chưa
hề có một giả thuyết nào thuộc loại ấy khiến người ta thỏa mãn; và cũng chẳng
có chút khả năng nào rằng sự tìm tòi cần mẫn của nhân loại trong tương lai sẽ đạt
được kết quả tốt đẹp hơn.
M App2. 12, SBN
301-2
Nhưng xa hơn nữa,
nếu chúng ta xem xét vấn đề cho đúng, chúng ta sẽ thấy rằng giả thuyết vốn cho
phép một lòng từ thiện vô tư, khác biệt với tình cảm vị kỷ, thực sự có tính
đơn giản hơn và phù hợp hơn với quy luật loại suy của tự nhiên, so với cái
giả thuyết kia, giả thuyết cố đành quy giải mọi tình thân hữu và tình nhân đạo
về một nguyên lý duy nhất là tình cảm vị kỷ. Ai cũng công nhận rằng có những
nhu cầu và ham muốn thân xác phải xuất hiện trước mọi khoái lạc giác quan, và
chúng thúc đẩy chúng ta trực tiếp đi tìm kiếm đối tượng. Ví dụ: đói và khát dẫn
chúng ta đến việc ăn và uống; chỉ sau khi thỏa mãn những ham muốn sơ cấp ấy mới
nảy sinh một vui sướng, và vui sướng đó lại có thể trở thành đối tượng của một
loại ham muốn thứ cấp, mang tính vụ lợi. Tương tự như vậy, có những tình cảm
tinh thần, thúc đẩy chúng ta ngay lập tức tìm kiếm những mục tiêu cụ thể, chẳng
hạn như danh vọng, quyền lực hay sự trả thù, vốn không quan tâm đến bất kỳ lợi
ích cá nhân nào; và khi đạt được những mục tiêu này, một vui sướng thích thú sẽ
xuất hiện, như là hậu quả của những tình cảm ấy được thỏa mãn. Bản chất, theo cấu
trúc và cấu tạo bên trong của não thức, phải ban cho một khuynh hướng nguyên thủy
hướng đến danh vọng, trước khi chúng ta có thể gặt hái bất kỳ vui sướng nào từ
việc đạt được điều đó, hay theo đuổi nó từ động cơ của tình cảm vị kỷ và mong
muốn hạnh phúc. Nếu tôi không có lòng tự cao, tôi sẽ không thích thú với lời
khen ngợi: Nếu tôi không tự phụ háo danh, quyền lực sẽ không mang lại cho tôi vui
sướng: Nếu tôi không tức giận, hình phạt của kẻ thù hoàn toàn không quan trọng
với tôi. Trong tất cả những trường hợp này, có một tình cảm, hướng trực tiếp đến
đối tượng, và biến nó thành điều tốt đẹp hay hạnh phúc của chúng ta; cũng như
có những tình cảm thứ yếu khác, sau đó xuất hiện và theo đuổi nó như một phần hạnh
phúc của chúng ta, một khi nó đã được hình thành bởi những tình cảm ban đầu của
chúng ta. Nếu không có bất kỳ thèm muốn nào trước khi có tình cảm vị kỷ, thì
khuynh hướng đó khó có thể tự phát huy; bởi vì, trong trường hợp đó, chúng ta sẽ
chỉ cảm thấy rất ít đau khổ hay lạc thú, hầu như KHÔNG GÌ đáng gọi là bất hạnh
hay hạnh phúc để mà tránh né hay theo đuổi.
M App2. 13, SBN
302
Bây giờ, đâu là
khó khăn trong việc hình dung rằng sự việc này cũng có thể diễn ra với lòng từ
thiện và tình thân hữu, và rằng, do cấu trúc bẩm sinh của tâm tính chúng ta,
chúng ta có thể cảm thấy mong muốn hạnh phúc hay điều tốt đẹp của người khác, vốn
qua tình cảm đó, trở thành điều tốt đẹp của chính chúng ta, và sau đó được theo
đuổi, từ những động cơ kết hợp của lòng từ thiện và sự tự vui hưởng? Ai không
thấy rằng sự trả thù, chỉ từ sức mạnh của tình cảm, có thể được theo đuổi một
cách háo hức đến mức khiến chúng ta cố tình bỏ qua mọi cân nhắc về sự dễ dàng, lợi
ích hay an toàn cá nhân; và, giống như một số loài động vật thù hận, dồn trọn hồn
phách vào vết thương gây ra cho kẻ thù? [62] Và đó phải là một triết lý độc ác
đến mức nào, khiến sẽ không cho phép, với tình nhân đạo và tình thân hữu, những
đặc quyền tương tự, vốn được sẵn sàng trao cho sự thù hận và phẫn uất? Một triết
lý như vậy giống như một châm biếm hơn là một phác họa hay mô tả chân thật về bản
chất con người, và có thể là nền tảng tốt cho sự dí dỏm nghịch lý và sự chế giễu,
nhưng lại là nền tảng rất tệ cho bất kỳ lập luận hay lý luận nghiêm trang nào.
----------------------------------------------------------------
M App2 M2. 5n60
60 Xem GHI CHÚ [OO].
M App2. 5n60.
1, SBN 298
Lòng từ thiện
tự nhiên được chia thành hai loại: tổng quát và riêng biệt. Loại
thứ nhất là loại là khi chúng ta không có tình thân hữu, không quen biết, cũng chẳng đặc biệt kính
trọng người đó, mà chỉ cảm thấy một sự đồng cảm chung, thương xót trước đau khổ
của họ và vui mừng trước sung sướng của họ. Loại từ thiện kia được xây dựng
trên quan điểm về đức hạnh, về những ơn huệ họ đã làm cho chúng ta, hay trên một
số liên hệ đặc biệt nào đó (họ hàng, bạn bè, ân nhân…). . Cả hai tình cảm này
phải được coi là thực có trong bản chất con người; Còn việc liệu chúng có thể
quy giản về những tính toán tinh vi của vị kỷ hay không, thì đó là một câu hỏi
thú vị về mặt lý thuyết, nhưng không mấy quan trọng trong thực tế. Tình cảm đầu
tiên, tức là lòng từ thiện tổng quát, hay tình nhân đạo, hay sự đồng cảm, chúng
ta sẽ thường xuyên đề cập đến trong tiến trình tìm hiểu này. Tôi coi nó là điều
hiển nhiên có thật, dựa trên kinh nghiệm thông thường của mọi người, và không cần
thêm bằng chứng nào khác.
M App2. 7n61, SBN
299
61 Ông Fontenelle.
M App2. 13n62,
SBN 302
62 Virg. (Vergilius,
Georgica IV, 218):
Chúng dồn cả hồn mình vào vết thương. (Nói về những con ong báo thù: chúng đâm ngòi vào
kẻ thù, dù biết chắc mình sẽ chết. )
Khi giận dữ, con người sẵn sàng hại người khác mà
không màng đến chính mình.
(Latin: Dum alteri noceat, sui negligens – chỉ cần làm hại được kẻ
kia, nó quên mất cả bản thân.)
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ
nhất
(May/2025)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Khi Hume nói về “self-love” (Tình Cảm Vị Kỷ, lòng yêu bản thân) trong Phụ lục
II, ông không hề đang trình bày ý kiến của chính mình – ông đang nhắc đến một
lý thuyết nổi tiếng mà ông cho là sai lầm. Lý thuyết đó (do những nhà tư tưởng
như Hobbes và Mandeville bảo vệ) khẳng định rằng: “Cảm xúc thực sự duy nhất mà
con người có là khát khao hạnh phúc cho chính mình. Mỗi khi ta tỏ ra tử tế, hào
hiệp, trung thành hay anh hùng, đó chỉ là một trò lừa hoặc một lớp ngụy trang –
sâu thẳm bên trong, ta vẫn chỉ đang đuổi theo lạc thú của riêng mình”.Nói cách
khác, không hề hiện hữu tình yêu thương hay sự quan tâm thực sự dành cho người
khác; mọi thứ cuối cùng đều quy về “tôi, tôi, tôi”. Hume phản bác: “Không, điều
đó không đúng.”
Chúng ta thực sự cảm thấy hạnh phúc khi bạn bè hạnh
phúc, và đau khổ khi họ đau khổ. Chúng ta có thể quan tâm trực tiếp đến niềm
vui của người khác, chứ không phải chỉ vì điều đó làm ta tự hào hay thấy bản
thân dễ chịu. Những cảm xúc ấm áp hướng tới người khác (Hume gọi là sympathy –
sự đồng cảm – và natural benevolence – lòng nhân ái tự nhiên) là những tình cảm
chân thật, độc lập – chúng không phải là Tình Cảm Vị Kỷ trá hình. Đối với Hume,
chính những cảm xúc thực sự hướng tới người khác này mới là nguồn gốc thật sự của
tình bạn, lòng tốt và đạo đức. Hume chỉ trích quan điểm mà ông đang chống lại,
chứ không phải quan điểm ông tin tưởng. Ông là một trong những triết gia lớn đầu
tiên dũng cảm đứng lên tuyên bố: “Đúng vậy, lòng tốt thực sự và sự quan tâm
chân thành dành cho người khác thực sự hiện hữu.”
[2] disinterested
[3] Hume trích dẫn một số nhân vật nổi tiếng
để chỉ ra rằng những người tán thành những lý thuyết đạo đức “duy kỷ” không nhất
thiết phải sống cuộc sống đồi trụy hoặc suy đồi. (a) Epicurus (341–270 TCN) –
Nhà triết học Hellas thời cổ cho rằng lạc thú (được hiểu là sự sự an bình và
thoát khỏi khổ đau) là điều tốt đẹp nhất. Thường bị buộc tội là thúc đẩy sự ích
kỷ, mặc dù những lời dạy thực sự của ông nhấn mạnh đến sự điều độ và tình bạn.
(b) Titus Pomponius Atticus (110–32 TCN) – Chính khách RôMa và là bạn thân của
Cicero, được ngưỡng mộ vì sự chính trực, hào phóng và tình bạn trung thành. Thường
gắn liền với triết học Epicurus. (c) Horace (65–8 TCN) – Nhà thơ RôMa có khuynh
hướng Epicurus, được ca ngợi vì những suy ngẫm của ông về sự điều độ, tình bạn
và sự bằng lòng. (d) Thomas Hobbes (1588–1679) – Nhà triết học người Anh bảo vệ
quan điểm “vị kỷ” về động lực của con người trong Leviathan. Mặc dù vậy,
Hume lưu ý rằng ông đã sống một cuộc sống ngay thẳng và tự chủ kỷ luật, ngay cả
khi không có những ràng buộc tôn giáo. (e) John Locke (1632–1704) – Nhà triết học
người Anh cũng tán thành quan điểm duy kỷ về tâm lý con người, nhưng lại được
biết đến với tính cách đức hạnh và đáng kính.
