Một Điều Tra Về Những Nguyên
Lý của Đạo Đức
(An Enquiry Concerning the
Principles of Morals)
David
Hume
PHỤ LỤC III.
Một Số Cân Nhắc
Thêm Về Công Lý.
M App3.1, SBN 303
Ý định của Phụ lục
này là đem cho một vài giải thích cụ thể hơn vầ nguồn gốc và bản chất của Công Lý, và để nêu rõ thêm một số khác biệt giữa công lý và những đức hạnh
khác.
M App3.2, SBN
303-4
Những đức hạnh xã hội của tình nhân đạo và lòng từ thiện phát huy tác dụng của chúng ngay lập tức, qua một khuynh hướng hay bản năng trực tiếp, vốn chủ yếu hướng thẳng tới một đối tượng cụ thể, khơi dậy cảm xúc, và không bao hàm bất kỳ kế hoạch hay hệ thống lý thuyết nào, cũng không mưu cầu những kết quả phát sinh từ sự hưởng ứng hay học tập theo gương những người khác. Cha mẹ vội vã chạy đến cứu giúp con mình; được thúc đẩy bởi sự đồng cảm tự nhiên, điều này thôi thúc họ, và không có thì giờ nào để nghĩ xem trong hoàn cảnh tương tự, những người khác trên đời này cảm thấy thế nào hay hành động ra sao. Một người hào hiệp vui vẻ nắm lấy cơ hội giúp đỡ người bạn, đơn giản vì ngay lúc ấy người này hoàn toàn nằm dưới sự chi phối của những tình cảm từ thiện; người này chẳng hề bận tâm liệu trong vũ trụ này trước đây có ai từng hành động vì động cơ cao quý như vậy hay không, và sau này có ai sẽ noi theo hay không. Trong tất cả những trường hợp này, những tình cảm xã hội chỉ hướng về một đối tượng cá nhân duy nhất và chỉ theo đuổi sự an toàn hay hạnh phúc của riêng người được yêu thương và quý trọng. Với điều này chúng mãn nguyện;; trong điều này, chúng đã an lòng. Và bởi lẽ điều thiện phát sinh từ ảnh hưởng lành mạnh của chúng vốn tự thân nó đã hoàn thiện và trọn vẹn, nên nó cũng khơi dậy tình cảm đạo đức tán thành, vốn không cần suy ngẫm về những hậu quả xa hơn, và không cần bất kỳ cái nhìn mở rộng nào về sự đồng tình hay bắt chước của những thành viên khác trong xã hội. Ngược lại, nếu người bạn hào hiệp hay người yêu nước vô vụ lợi ấy là người duy nhất trên đời thực hành lòng từ thiện, thì điều này càng làm giá trị của người này tăng lên trong mắt chúng ta; và kết hợp lời lời ngợi khen về sự hiếm có và mới lạ với những giá trị cao quý khác của người này.
M App3.3, SBN 304
Trường hợp này
không giống với những đức hạnh xã hội về công lý và lòng trung thành. Chúng rất
có ích, hay thực sự tuyệt đối cần thiết với sự phúc lợi của loài người: Nhưng lợi
ích phát sinh từ chúng thì không là hệ quả của từng hành vi cá nhân; nhưng nổi
lên từ toàn bộ kế hoạch hay hệ thống, được toàn thể hoặc phần lớn xã hội đồng
lòng thực hiện. Hòa bình và trật tự xã hội tổng quát là những gì đi kèm theo công
lý, hay một sự kiêng cữ tổng quát với sự xâm phạm tài sản của người khác. Nhưng
nếu chỉ xét riêng một hành vi tôn trọng quyền sở hữu cụ thể của một cá nhân nào
đó, thì đôi khi hành vi ấy – nếu đứng một mình – lại có thể tạo nên những hậu
quả có hại. Kết quả của những hành vi riêng lẻ, ở đây, trong nhiều trường hợp,
lại trực tiếp đối lập với kết quả của toàn bộ hệ thống hành vi; hành vi riêng lẻ
có thể cực kỳ tai hại, trong khi hệ thống tổng thể lại mang đến lợi ích ở mức
cao nhất. Của cải thừa kế từ cha mẹ, khi rơi vào tay một kẻ xấu, trở thành phương
tiện gây tai ác. Quyền thừa kế, trong một trường hợp cụ thể, có thể gây hại. Lợi
ích của nó chỉ xuất phát từ sự tuân thủ quy luật tổng quất; và như thế là đủ, nếu
nhờ đó bù đắp được mọi tai ương và bất tiện vốn đến từ những nhân cách và những
hoàn cảnh riêng lẻ.
M App3.4, SBN
304-5
Cyrus, còn trẻ và
thiếu kinh nghiệm, chỉ xem xét trường hợp riêng lẻ trước mắt, và chỉ nghĩ đến sự
phù hợp và thuận tiện hạn hẹp, khi giao cái áo dài cho đứa trẻ cao cao lớn, và cái
áo ngắn cho cho đứa trẻ khác có vóc dáng thấp bé hơn. Người thầy của Cyrus đã
chỉ dạy tốt hơn, khi ông chỉ ra những cái nhìn rộng lớn hơn và những hậu quả xa
hơn, đồng thời dạy học trò mình về những quy luật tổng quát, bất di bất dịch, cần
thiết để duy trì hòa bình và trật tự chung trong xã hội. [1]
M App3.5, SBN 305
Hạnh phúc và thịnh
vượng của loài người phát sinh từ đức hạnh xã hội là lòng từ thiện cùng những nhánh
nhỏ của nó, có thể ví như một bức tường do nhiều bàn tay cùng xây dựng; bức tường
ấy vẫn tiếp tục cao lên nhờ mỗi viên đá được đặt lên, và tăng thêm tỷ lệ thuận
với sự chăm chỉ và tận tâm của từng người thợ. Còn hạnh phúc tương tự, được dựng
nên bởi đức hạnh xã hội là công lý cùng những nhánh nhỏ của nó, thì có thể ví
như việc xây dựng một vòm cuốn, nơi mỗi viên đá riêng lẻ, nếu đứng một mình, sẽ
rơi xuống đất; và toàn bộ công trình chỉ được nâng đỡ nhờ sự hỗ trợ lẫn nhau và
sự kết hợp ăn khớp của những phần tương ứng. [2]
M App3.6, SBN
305-6
Tất cả những luật
của tự nhiên điều chỉnh tài sản sở hữu, cũng như tất cả luật dân sự, đều là tổng
quát, và chỉ xem xét một số tình tiết thiết yếu của vụ việc, cũng không xét đến
tính cách, hoàn cảnh và quan hệ của người liên quan, hay bất kỳ hậu quả cụ thể
nào có thể phát sinh từ việc xác định những quy luật này, trong bất kỳ trường hợp
cụ thể nào. Chúng tước đoạt, một cách không chút do dự, tất cả tài sản của một
người làm từ thiện, nếu nếu tài sản ấy có được do nhầm lẫn, vốn không có giấy tờ
hợp pháp; để rồi trao chúng lại cho một kẻ keo kiệt vị kỷ, kẻ đã tích lũy được
khối tài sản khổng lồ thừa thãi. Công ích đòi hỏi tài sản phải được điều chỉnh
bởi những quy luật chung cứng nhắc; và mặc dù những quy luật đó được áp dụng
sao cho phục vụ tốt nhất cho cùng một mục đích công cộng, nhưng chúng không thể
ngăn chặn tất cả những khó khăn cụ thể, hay tạo ra những hậu quả có lợi từ từng
trường hợp riêng lẻ. Chỉ cần toàn bộ kế hoạch hay dự án là cần thiết cho sự hỗ
trợ của xã hội dân sự, và nếu cán cân về cái thiện, về cơ bản, do đó vượt trội
hơn hẳn so với cái ác là đủ. Ngay cả những quy luật phổ quát của vũ trụ, dù được
sự khôn ngoan vô cùng hoạch định, cũng không thể loại trừ hết mọi điều xấu xa hoặc
bất tiện trong từng hoạt động riêng lẻ.
M App3.7, SBN 306
Một số người khẳng
định rằng công lý xuất phát từ NHỮNG QUY ƯỚC CỦA CON NGƯỜI và tiến hành từ sự lựa
chọn, đồng thuận, tự nguyện hay sự hợp tác chung của loài người. Nếu theo quy
ước ở đây có nghĩa là một lời hứa (đó là nghĩa thông thường nhất của
từ này) thì KHÔNG GÌ có thể phi lý hơn lập trường này. Việc tuân thủ những lời
hứa tự nó là một trong những phần quan trọng nhất của công lý; vì vậy rõ ràng
chúng ta không thể nói rằng chúng ta có nghĩa vụ giữ lời hứa vì trước đó chúng
ta đã hứa sẽ giữ lời hứa. Đó chẳng khác nào một lập luận luẩn quẩn. Nhưng nếu
theo quy ước có nghĩa là ý thức về lợi ích chung; ý thức vốn mỗi người cảm thấy
trong lòng mình, vốn người này nhận thấy ở đồng loại của mình, và đưa người này,
cùng với những người khác, vào một kế hoạch chung hay hệ thống hành động hướng
tới hữu ích công cộng ; thì phải công nhận rằng, theo nghĩa này, công lý xuất
phát từ những quy ước của con người. Vì nếu công nhận (điều thực sự hiển nhiên)
rằng những hậu quả cụ thể của một hành vi công lý cụ thể có thể gây tổn hại cho
cả công chúng cũng như cá nhân; Điều này có nghĩa là, mỗi người, khi theo đuổi
đức hạnh đó, phải để mắt đến toàn bộ kế hoạch hay hệ thống, và phải trông đợi sự
đồng thuận của đồng loại trong cùng một hành vi và cách ứng xử. Nếu tất cả quan
điểm của người này đều hướng đến hậu quả của mỗi hành động của chính mình, thì
lòng từ thiện, tình nhân đạo, cũng như tình cảm vị kỷ, thường có thể chỉ định
cho người này những hành vi rất khác biệt so với những hành vi phù hợp với những
quy luật nghiêm ngặt về lẽ phải và công lý.
M App3.8, SBN
306-7
Như vậy, hai người
cùng chèo một con thuyền là dựa trên quy ước chung, vì lợi ích chung, không có
bất kỳ lời hứa hay hợp đồng nào: Tương tự, vàng và bạc được dùng làm thước đo
trao đổi; ngôn ngữ, lời nói và từ ngữ được cố định, đều nhờ vào quy ước và thỏa
thuận của con người. Bất cứ điều gì mang lại lợi ích cho hai người hay nhiều
hơn, nếu tất cả mọi người cùng thực hiện phần việc của mình; nhưng sẽ mất hết lợi
ích nếu chỉ một người thực hiện, thì không thể phát sinh từ bất kỳ nguyên lý
nào khác. Nếu không, sẽ không có động lực nào để bất kỳ ai trong số họ tham dự
vào khuôn mẫu hành vi xử đó [63].
M App3.9, SBN 307
Từ “tự nhiên”
thường được hiểu theo nhiều nghĩa, và có ý nghĩa rất mơ hồ, đến nỗi dường như
thật vô ích khi tranh luận xem công lý có phải là tự nhiên hay không. Nếu tình
cảm vị kỷ, nếu lòng từ thiện là tự nhiên với con người; nếu lý trí và sự suy
tính tiên liệu cũng là tự nhiên; thì cũng có thể áp dụng tính từ đó cho công lý,
trật tự, lòng trung thành, tài sản, xã hội. Khuynh hướng và những nhu cầu của
con người dẫn dắt họ đến việc kết hợp lại với nhau; lý trí và kinh nghiệm mách
bảo họ rằng sự kết hợp này là không thể được nếu mỗi người tự quản lý bản thân nhưng
không theo một quy luật nào, và không quan tâm đến tài sản của người khác. Và từ
những tình cảm và suy nghĩ này kết hợp lại, ngay khi chúng ta quan sát thấy những
tình cảm và suy nghĩ giống nhau ở người khác, thì tình cảm về công lý, trong suốt
mọi thời đại, đã không thể sai lầm và chắc chắc có chỗ đứng, ở một mức độ nào
đó, trong mỗi cá nhân loài người. Ở một loài động vật sáng suốt như vậy, những
gì tất yếu phát sinh từ sự vận dụng những khả năng trí tuệ của nó, có thể được
coi là tự nhiên [64].
M App3.10, SBN
308-9
Trong tất cả những
quốc gia văn minh, người ta luôn không ngừng nỗ lực để loại bỏ mọi yếu tố tùy
tiện và thiên vị khỏi việc phán quyết về tài sản, đồng thời cố gắng làm cho
phán quyết của những thẩm phán dựa trên những quan điểm và cân nhắc tổng quát –
những gì có thể công bằng như nhau với mọi thành viên của xã hội. Bởi lẽ, ngoài
việc KHÔNG GÌ nguy hiểm hơn việc để cơ quan xét xử làm quen với việc để tâm đến
tình thân thiết cá nhân hay sự thù hằn riêng tư – dù là trong những trường hợp
nhỏ nhất – thì có một điều chắc chắn rằng: khi người ta tin rằng đối thủ của
mình được ưu tiên không vì lý do gì khác ngoài sự thiên vị cá nhân, họ sẽ dễ nảy
sinh ác cảm mạnh mẽ nhất với những quan tòa và thẩm phán. Do đó, khi lý trí tự
nhiên Vì vậy, khi lý trí tự nhiên không chỉ ra được một quan điểm cố định về lợi
ích công cộng để giải quyết tranh chấp về tài sản, thì những luật thành văn thường
được ban hành để thay thế vai trò ấy, và hướng dẫn thủ tục tố tụng của mọi tòa
án xét xử. Khi những luật lệ này cũng thất bại, như thường xảy ra, người ta cần
đến án lệ và một quyết định trước đó, dù bản thân nó được đưa ra nhưng không có
lý do đầy đủ, thì vẫn chính đáng trở thành một lý do đầy đủ cho một quyết định
mới. Nếu cả luật trực tiếp lẫn tiền lệ đều thiếu sót, những quy định gián tiếp
và chưa hoàn thiện sẽ được đưa vào để hỗ trợ; vụ việc đang tranh chấp sẽ được xếp
vào nhóm những quy định đó thông qua những lập luận tương tự, sự so sánh, sự giống
nhau và tính tương đồng – những thứ mà đôi khi mang tính tưởng tượng nhiều hơn
là thực tế. Nhìn chung, có thể khẳng định chắc chắn rằng, về khía cạnh này, luật
học khác biệt với tất cả những ngành khoa học khác; trong nhiều vấn đề tinh vi phức
tạp nhất của nó, không thể nói một cách chính xác rằng bên nào là sự thật hay
bên nào là sai lầm. Nếu một luật sư biện hộ đưa vụ việc vào phạm vi của một đạo
luật hoặc tiền lệ cũ bằng một sự so sánh hay tương đồng tinh vi, thì luật sư đối
phương cũng không hề lúng túng khi tìm ra một sự so sánh hoặc tương đồng ngược
lại. Và sự ưu tiên mà thẩm phán đưa ra thường dựa trên thị hiếu và trí tưởng tượng
nhiều hơn là dựa trên bất kỳ lập luận vững chắc nào. Lợi ích công cộng là mục
tiêu tổng quát của tất cả những tòa án tư pháp; và lợi ích này cũng đòi hỏi một
quy luật ổn định trong mọi tranh chấp: Nhưng khi có nhiều quy luật, gần như
tương đương và không có sự khác biệt rõ rệt xuất hiện, chỉ cần một chút nghiêng
lệch rất nhỏ trong suy nghĩ là đã đủ để quyết định nghiêng về bên này hay bên
kia.[65].
M App3.11, SBN
310-1
Trước khi kết
thúc đề tài này, chúng ta chỉ cần lưu ý rằng, sau khi những luật lệ về công lý được
thiết lập dựa trên quan điểm về lợi ích chung, thì tổn thất, khó khăn, thiệt hại
vốn bất kỳ cá nhân nào phải gánh chịu do việc vi phạm chúng, sẽ được đưa vào
cân nhắc rất nhiều, đóng một vai trò rất lớn, và là một nguồn gốc lớn tạo nên sự
chê trách phổ quát đi kèm với mọi hành vi sai trái hay bất chính.Theo luật lệ
xã hội, chiếc áo khoác này, con ngựa này là của tôi, và phải mãi
mãi thuộc sở hữu của tôi: Tôi trông chờ được hưởng thụ nó một cách an toàn. Việc
cướp nó khỏi tôi làm tan vỡ kỳ vọng của tôi, khiến tôi hai lần bất mãn, và xúc
phạm đến mọi người chứng kiến. Đó là một sai phạm công cộng, chừng nào những quy
luật công bằng bị vi phạm: Đó là một tổn hại cá nhân, chừng nào một cá nhân bị
thương tổn.
Và dù khía cạnh
thứ hai không thể tồn tại nếu khía cạnh thứ nhất chưa được thiết lập trước – vì
nếu không thì sự phân biệt của tôi và của người sẽ không hề được
biết đến trong xã hội: Tuy nhiên, không còn nghi ngờ gì nữa, sự quan tâm đến lợi
ích chung thường được củng cố mạnh mẽ bởi sự tôn trọng đối với lợi ích cá nhân.
Những gì gây hại cho cộng đồng nhưng không làm tổn thương bất kỳ cá nhân cụ thể
nào thường được xem nhẹ hơn. Nhưng khi một sai phạm lớn đối với công chúng lại
đi đôi với một thiệt hại đáng kể về mặt cá nhân, thì KHÔNG GÌ ngạc nhiên khi sự
phản đối gay gắt nhất sẽ nhắm vào hành vi bất công đó.
M App3.8n63
63 Xem GHI CHÚ [PP].
M App3.8n63.
1, SBN 307
Nguồn Gốc Của
Quyền Sở Hữu (Grotius): Lý thuyết này về nguồn gốc của tài sản,
và do đó là của công lý, về cơ bản, là giống với lý thuyết được Grotius gợi ý
và chấp nhận, trích từ tác phẩm De jure belli & pacis (Bàn về Luật
Chiến tranh và Hòa bình).
Đoạn Trích Latin (Dịch Nghĩa):
Hinc discimus, quæ fuerit causa, ob quam a
primæva communione rerum primo mobilium, deinde & immobilium discessum est:
nimirum quod cum non contenti homines vesci sponte natis, antra habitare,
corpore aut nudo agere, aut corticibus arborum ferarumve pellibus vestito, vitæ
genus exquisitius delegissent, industria opus fuit, quam singuli rebus singulis
adhiberent.
Dịch: Từ đây chúng ta học được, đâu là lý do
khiến con người từ bỏ sự sở hữu chung nguyên thủy đối với mọi vật, trước hết là
vật di động, sau đó là vật bất động: Chắc chắn là bởi vì con người không còn
hài lòng với việc ăn những thứ mọc sẵn, sống trong hang động, cơ thể trần trụi hay
mặc vỏ cây và da thú, mà họ đã chọn một lối sống tinh tế hơn (exquisitius). Điều
này đòi hỏi sự cần cù (industria), mà mỗi cá nhân phải áp dụng cho từng thứ cụ
thể.
Quo minus autem fructus in commune
conferrentur, primum obstitit locorum, in quæ homines discesserunt, distantia,
deinde justitiæ & amoris defectus, per quem fiebat, ut nec in labore, nec
in consumtione fructuum, quæ debebat, æqualitas servaretur.
Dịch: Hơn nữa, những yếu tố cản trở việc thu
hoạch thành quả chung ban đầu là khoảng cách địa lý giữa những nơi con người
phân tán, sau đó là sự thiếu hụt công lý và tình yêu thương (justitiæ &
amoris defectus), điều này dẫn đến việc sự bình đẳng lẽ ra phải có đã không được
duy trì, cả trong công sức lao động lẫn trong việc tiêu thụ thành quả.
Simul discimus, quomodo res in proprietatem
iverint; non animi actu solo, neque enim scire alii poterant, quid alii suum
esse vellent, ut eo abstinerent, & idem velle plures poterant; sed pacto
quodam aut expresso, ut per divisionem, aut tacito, ut per occupationem.
Dịch: Đồng thời, chúng ta học được cách mọi sự
việc chuyển thành quyền sở hữu (in proprietatem): Không chỉ bằng hành động ý
chí đơn thuần—vì người khác không thể biết ai muốn gì là của mình để kiêng
tránh, và nhiều người có thể muốn cùng một thứ—mà bằng một loại khế ước (pacto
quodam) nào đó, hay minh thị (expresso), như qua sự phân chia, hay ngầm định
(tacito), như qua việc chiếm hữu.
Nguồn: De jure
belli & pacis. Lib. ii. cap. 2. §2. art. 4 & 5.
M App3.9n64
64 Xem GHI CHÚ [QQ].
M App3.9n64.
1, SBN 307-8
M App3.10n65
65 Xem GHI CHÚ [RR].
M App3.10n65.
1, SBN 309
RẰNG có một
sự tách biệt hay phân chia những tài sản và sự phân
chia này phải ổn định và bền vững; điều này là hoàn toàn cần thiết đối với lợi
ích của xã hội, và do đó, đây là nguồn gốc của công lý và tài sản. Tuy nhiên, việc tài sản nào được giao cho
cá nhân cụ thể nào thì, nói chung, lại là điều khá không quan trọng; và thường
được quyết định bởi những quan điểm và cân nhắc rất vặt vãnh . Chúng ta sẽ đề cập
đến một vài chi tiết cụ thể.
M App3.10n65. 2,
SBN 309
Nếu một xã hội được
hình thành giữa nhiều thành viên độc lập, quy luật rõ ràng nhất có thể được thống
nhất sẽ là sáp nhập tài sản vào quyền sở hữu hiện tại, và để mỗi người có quyền
với những gì họ đang được hưởng. Quan hệ chiếm hữu (relation of possession), tồn
tại giữa người và vật thể, một cách tự nhiên kéo theo quan hệ sở hữu (relation
of property).
M App3.10n65. 3,
SBN 309
Vì lý do tương tự,
sự chiếm hữu (occupation) hay chiếm hữu ban đầu (first possession) trở thành nền
tảng của quyền sở hữu tài sản.
M App3.10n65. 4,
SBN 309
Khi một người bỏ
công sức và sự cần cù vào bất kỳ đối tượng nào, vốn trước đó không thuộc về ai;
như việc đốn hạ và đẽo gọt tạo hình một cái cây, hay việc canh tác một thửa ruộng,
v. v, sự thay đổi vốn người này tạo ra sẽ tạo ra quan hệ giữa người này và đối
tượng đó, và và điều này một cách tự nhiên thúc đẩy chúng ta gắn vật thể đó với
người này bằng mối quan hệ sở hữu mới. Nguyên nhân này (lao động) ở đây đã kết
hợp với lợi ích công cộng, vốn gồm trong việc khuyến khích sự cần cù và lao động.
M App3.10n65. 5,
SBN 309
Có lẽ, trong trường
hợp này, tình nhân đạo cá nhân với người sở hữu cũng đồng nhất với những động
cơ khác, và thúc đẩy chúng ta để lại cho người này những gì người này đã có được
bằng mồ hôi và công sức; và những gì người này đã tự mãn trong hy vọng được hưởng
thụ liên tục. Vì mặc dù tình nhân đạo cá nhân không thể là nguồn gốc của công
lý; vì đức hạnh sau (công lý) thường mâu thuẫn với đức hạnh trước (tình nhân đạo;
nhưng một khi quy luật sở hữu riêng biệt và ổn định đã được hình thành bởi những
nhu cầu không thể thiếu của xã hội, thì tình nhân đạo cá nhân, và sự không muốn
gây khó khăn cho người khác, có thể, trong một trường hợp cụ thể, có thể phát
sinh một quy luật cụ thể về sở hữu.
M App3.10n65. 6,
SBN 309-10
Tôi thiên về quan
điểm cho rằng quyền kế vị hay thừa kế phụ thuộc thuộc rất nhiều vào những liên
hệ của trí tưởng tượng, và quan hệ với chủ sở hữu trước, vốn tạo ra quan hệ với
đối tượng, chính là nguyên nhân khiến tài sản được chuyển giao cho một người
sau khi người thân của người đó qua đời. Đúng vậy; sự cần cù được khuyến khích
hơn khi chuyển giao quyền sở hữu cho con cái hay thân nhân gần gũi: Nhưng sự
cân nhắc này chỉ có giá trị trong một xã hội văn minh; trong khi quyền thừa kế
còn được coi trọng ngay cả ở những những bộ tộc man rợ nhất. [3]
M App3.10n65. 7,
SBN 310
Việc thụ đắc tài
sản thông qua quyền phụ đính (accession) không thể được giải thích bằng cách
nào khác ngoài việc viện dẫn đến những mối liên hệ và sự kết nối của trí tưởng
tượng
M App3.10n65. 8,
SBN 310
Tài sản của những
con sông, theo luật pháp của hầu hết những quốc gia và theo khuynh hướng tự
nhiên của suy nghĩ của chúng ta, được quy cho những chủ sở hữu của hai bờ sông,
ngoại trừ những con sông lớn như Rhine hay Danube – chúng dường như quá mênh
mông để chỉ được xem như phần phụ thêm vào tài sản của những cánh đồng lân cận.
Tuy nhiên, ngay cả những con sông ấy đều được coi như tài sản của quốc gia vốn
lãnh thổ có chúng chảy qua; bởi lẽ ý niệm về một quốc gia có quy mô đủ lớn để
tương xứng với chúng, và tạo ra một liên hệ như vậy trong tưởng tượng của chúng
ta.
M App3.10n65. 9,
SBN 310
Những phần bồi đắp
thêm vào đất đai giáp sông sẽ thuộc về đất ấy, những nhà luật học dân sự nói vậy,
miễn là sự bồi đắp ấy diễn ra theo cách họ gọi là bồi tích phù sa, đó là
chậm rãi, và không thể nhận biết ược; vốn là những sự kiện đã hỗ trợ trí tưởng
tượng trong sự kết nối chúng với nhau.
M App3.10n65. 10,
SBN 310
Khi có một phần đất
đáng kể bị tách rời cùng lúc từ bờ bên này và bồi đắp vào bờ bên kia, nó sẽ
không thuộc về quyền sở hữu của người chủ mảnh đất mà nó bồi vào, cho đến khi
nó thực sự hợp nhất với mảnh đất đó, và cho đến khi cây cối, thảo mộc đâm rễ
sâu vào cả hai phần đất. Trước thời điểm đó, tư tưởng [của chúng ta] chưa có đủ
sự kết nối giữa chúng với nhau. [4]
M App3.10n65. 11,
SBN 310
Tóm lại, chúng ta
phải luôn phân biệt giữa sự cần thiết phải phân chia và duy trì ổn định trong
việc sở hữu của con người, với những quy luật gán ghép những vật cụ thể cho những
người cụ thể. Sự cần thiết đầu tiên thì hiển nhiên, mạnh mẽ và bất khả kháng: Sự
cần thiết thứ hai có thể chỉ phụ thuộc vào một lợi ích chung nhẹ nhàng và phù
phiếm hơn, vào tình cảm nhân đạo riêng tư và sự ghét bỏ những bất tiện riêng
tư, vào luật thành văn, tiền lệ, sự tương tự, và những liên kết cùng những chuyển
biến rất tinh tế của trí tưởng tượng.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản nháp thứ
nhất
(May/2025)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] Cyrus trẻ tuổi ở đây là vua Kyros II của
Ba Tư (Cyrus the Great). Theo giai thoại của Herodotus (Lịch sử I.114),
khi còn nhỏ, Cyrus làm “quan tòa” trong trò chơi. Hai cậu bé tranh chấp: cậu
cao mặc áo ngắn chật, cậu thấp mặc áo dài rộng. Cyrus phán đổi áo cho nhau để vừa
người. Thầy quở: “Đó không phải công lý.” Công lý là giữ nguyên quy tắc chung –
ai được phát áo nào thì mặc áo ấy – dù có bất tiện; nếu ai cũng đổi vì “vừa hơn”
thì xã hội sẽ loạn. Công lý không phải là “vừa vặn từng trường hợp” mà là tuân
thủ quy luật chung bất biến để duy trì trật tự xã hội.
[2] lòng từ thiện thì “ai làm cũng có ích
ngay”, còn công lý thì “phải hầu hết mọi người cùng làm thì mới có ích” – đây
là ẩn dụ nổi tiếng nhất của Hume để phân biệt hai loại đức hạnh xã hội
[3] Nếu thừa kế chỉ nhằm mục đích khuyến
khích làm việc (lý do kinh tế), thì tại sao những bộ tộc chưa phát triển (không
quan tâm đến tích lũy kinh tế) vẫn thực hiện quyền thừa kế? Điều này chứng tỏ yếu
tố tâm lý/trí tưởng tượng có trước và mạnh mẽ hơn lợi ích kinh tế.
[4] Đây là đoạn đối lập hoàn toàn với khái niệm
“alluvion” (bồi tích dần dần) ở câu trước. Trong luật pháp, sự kiện này được gọi
là “avulsion” (sự cuốn bật đất đột ngột).
