Một nỗ lực để giới thiệu Phương
pháp lý luận duy nghiệm
Vào Trong Những Đề tài Đạo Đức.
Being An Attempt to Introduce the
Experimental Method of Reasoning
Into Moral Subjects)]
David Hume (1711–1776)
Rara temporum felicitas, ubi
sentire, quæ velis ; &
quæ sentias, dicere licet.
Tacit. [1]
MỤC LỤC
Quyển I: Về sự hiểu biết
Giới thiệu.
Phần I.: Về những ý niệm, nguồn gốc, thành phần, kết nối,
trừu tượng của chúng, v.v.
Tiết I.: Về nguồn gốc những ý niệm của chúng ta.
Tiết II: Phân chia đề tài.
Phần III: Về những ý niệm của trí nhớ và trí tưởng tượng.
Tiết IV.: Về sự kết nối hoặc liên kết những ý niệm.
Tiết V.: Về quan hệ.
Tiết VI.: Về những hình thức và bản chất.
Tiết VII.: Về những ý niệm trừu tượng.
Phần II: Về những ý niệm về không gian và thời gian.
Tiết I.: Về tính phân chia vô hạn của những ý niệm của
chúng ta về không gian và thời gian.
Tiết II: Về tính phân chia vô hạn của không gian và thời
gian.
Phần III: Về những phẩm chất khác của ý niệm về không
gian và thời gian của chúng ta.
Tiết IV.: Trả lời những phản đối.
Tiết V.: Đề tài tương tự tiếp theo.
Tiết VI.: Về ý niệm tồn tại và tồn tại bên ngoài.
Phần III: Về kiến thức và xác suất.
Tiết I.: Về kiến thức.
Tiết II: Về Xác suất; và về Ý niệm Nguyên nhân và Kết quả.
Tiết III: Tại sao luôn cần có nguyên nhân.
Tiết IV: Về những thành phần trong lý luận của chúng ta
liên quan đến nguyên nhân và kết quả.
Tiết V.: Về những ấn tượng của giác quan và trí nhớ.
Tiết VI.: Về sự suy luận từ ấn tượng đến ý niệm.
Tiết VII.: Về bản chất của ý niệm hoặc niềm tin.
Tiết VIII: Về những nguyên nhân của niềm tin.
Tiết IX.: Về tác động của những quan hệ khác và những
thói quen khác.
Tiết X.: Về ảnh hưởng của niềm tin.
Tiết XI.: Về Xác suất của Cơ hội.
Tiết XII.: Về Xác suất nguyên nhân.
Tiết XIII: Về xác suất phi triết học.
Tiết XIV.: Về ý niệm về sự kết nối tất yếu.
Tiết XV.: Những quy tắc để phán đoán nguyên nhân và kết
quả.
Tiết XVI: Về lý trí của động vật.
Phần IV: Về hệ thống triết học hoài nghi và những hệ thống
triết học khác.
Tiết I.: Về sự hoài nghi đối với lý trí.
Tiết II: Về sự hoài nghi liên quan đến những giác quan.
Tiết III.: Về triết học cổ đại.
Phần IV.: Về triết học hiện đại.
Tiết V.: Về tính phi vật chất của linh hồn.
Tiết VI.: Về danh tính cá nhân.
Tiết VII.: Kết luận của quyển sách này.
Quyển II: Về những đam mê
Phần I: Về lòng kiêu hãnh và sự khiêm nhường.
Tiết I.: Phân chia đề tài.
Tiết II: Về lòng kiêu hãnh và sự khiêm nhường; Tiết đích
và nguyên nhân của chúng.
Tiết III.: Những Đối tượng và Nguyên nhân này Xuất phát từ
đâu.
Phần IV: Về quan hệ giữa ấn tượng và ý niệm.
Tiết V.: Về ảnh hưởng của những quan hệ này đến lòng kiêu
hãnh và lòng khiêm nhường.
Tiết VI.: Những hạn chế của Hệ thống này.
Tiết VII.: Về Tệ nạn và Đức hạnh.
Tiết VIII: Về cái đẹp và sự biến dạng.
Tiết IX.: Về những ưu điểm và nhược điểm bên ngoài.
Tiết X.: Về Tài sản và Của cải.
Phần XI.: Về lòng ham danh vọng.
Tiết XII: Về lòng kiêu hãnh và sự khiêm nhường của loài vật.
Phần II: Về tình yêu và lòng thù hận.
Tiết I.: Về đối tượng và nguyên nhân của tình yêu và lòng
căm ghét.
Tiết II: Những thí nghiệm để xác nhận hệ thống này.
Tiết III.: Những khó khăn đã giải quyết.
Tiết IV.: Về tình yêu trong những quan hệ.
Tiết V.: Lòng kính trọng của chúng ta đối với người giàu
có và quyền lực.
Tiết VI.: Về lòng nhân từ và sự giận dữ.
Tiết VII: Về lòng từ bi.
Tiết VIII: Về sự độc ác và đố kỵ.
Tiết IX.: Về sự pha trộn giữa lòng nhân từ và sự giận dữ
với lòng trắc ẩn và sự ác ý.
Tiết X.: Về sự tôn trọng và khinh miệt.
Tiết XI.: Về niềm đam mê tình yêu, hay tình yêu giữa hai
giới.
Phần XII: Về tình yêu và lòng căm ghét động vật.
Phần III: Về ý chí và đam mê trực tiếp.
Tiết I.: Về Tự do và Sự cần thiết.
Tiết II.: Đề tài tương tự tiếp theo.
Tiết III: Về động cơ ảnh hưởng đến ý chí.
Tiết IV.: Về nguyên nhân của những đam mê dữ dội.
Tiết V.: Về tác động của phong tục.
Tiết VI.: Về ảnh hưởng của trí tưởng tượng đến những đam
mê.
Tiết VII.: Về tính tiếp giáp và khoảng cách trong không
gian và thời gian.
Tiết VIII.: Đề tài tương tự tiếp tục.
Phần IX.: Về những đam mê trực tiếp.
Phần X.: Về sự tò mò hay tình yêu chân lý.
Quyển III: Về Đạo Đức
Phần I.: Về đức hạnh và thói hư tật xấu nói chung.
Tiết I.: Sự phân biệt về đạo đức không bắt nguồn từ lý
trí.
Tiết II: Sự phân biệt đạo đức bắt nguồn từ ý nghĩa đạo đức.
Phần II: Về công lý và bất công.
Tiết I.: Công lý, là đức tính tự nhiên hay nhân tạo?
Tiết II: Về nguồn gốc của công lý và tài sản.
Tiết III.: Về những quy tắc xác định tài sản.
Tiết IV.: Về việc chuyển nhượng tài sản theo sự đồng ý.
Tiết V.: Về nghĩa vụ hứa hẹn.
Tiết VI.: Một số suy ngẫm sâu hơn về công lý và bất công.
Tiết VII.: Về nguồn gốc của chính quyền.
Tiết VIII: Về nguồn gốc của lòng trung thành.
Tiết IX.: Về những biện pháp trung thành.
Tiết X.: Về mục đích trung thành.
Tiết XI.: Về luật pháp của những quốc gia.
Tiết XII.: Về sự trong sạch và khiêm tốn.
Phần III: Về những đức tính và tật xấu khác.
Tiết I.: Về nguồn gốc của đức tính và tật xấu tự nhiên.
Tiết II: Về sự vĩ đại của não thức.
Tiết III: Về lòng tốt và lòng nhân từ.
Tiết IV.: Về khả năng tự nhiên.
Tiết V.: Một số suy ngẫm sâu hơn về những đức tính tự
nhiên.
Tiết VI.: Kết luận của quyển sách này.
Phụ lục.
Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con
Người [2]
LỜI PHI LỘ.
1739 1, SBN xii
Mục đích của tôi trong tác phẩm này đã được giải thích đầy
đủ trong phần giới thiệu . Người đọc chỉ phải lưu ý rằng tất cả những đề tài vốn
tôi đã dự dịnh cho chính tôi trong đó, đều không được giải quyết trong hai tập
sách này. Những đề tài về sự hiểu biết và những tình cảm tạo nên một chuỗi lý
luận hoàn chỉnh của riêng chúng; và tôi sẵn sàng tận dụng sự phân chia tự nhiên
này để thử nghiệm thị hiếu của công chúng. Nếu tôi có may mắn gặp được thành
công, tôi sẽ tiến hành xem xét đạo đức , chính trị và phê bình ; điều này sẽ
hoàn tất Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người này. Tôi coi sự chấp thuận của
công chúng là phần thưởng lớn nhất cho công sức của mình; nhưng tôi quyết tâm
coi sự phán đoán của họ, bất kể đó là gì, là sự hướng dẫn tốt nhất của tôi. [3]
GIỚI THIỆU.
T 0,1, SBN xiii
KHÔNG CÓ GÌ thông thường và tự nhiên hơn cho những ai, những
người tuyên xưng khám phá ra một gì đó mới mẻ cho thế giới trong triết học và
khoa học, mặc dù biết rằng một gì đó có thể không hoàn toàn chính xác, hơn là
việc ca ngợi hệ thống của chính họ, bằng chỉ trích tất cả những hệ thống đã được
đưa ra trước họ. Và thực sự, nếu họ hài lòng với việc than thở về sự thiếu hiểu
biết mà chúng ta vẫn mắc phải trong những câu hỏi quan trọng nhất, có thể đưa
ra trước tòa án lý trí của con người, thì có rất ít người, những người quen thuộc
với khoa học, sẽ không dễ dàng đồng ý với chúng. Thật dễ dàng để một người có
khả năng phán đoán và học thức, nhận ra nền tảng yếu kém ngay cả của những hệ
thống đã đạt được uy tín lớn nhất và đã đưa những tham vọng của họ lên cao nhất
đối với lý luận chính xác và sâu xa. Những nguyên tắc được đưa ra dựa trên sự
tin tưởng, hậu quả suy ra một cách yếu ớt từ chúng, thiếu sự mạch lạc trong những
bộ phận và thiếu bằng chứng trong toàn bộ, những điều này có thể gặp ở khắp mọi
nơi trong những hệ thống của những triết gia lỗi lạc nhất và dường như đã mang
lại sự ô nhục cho chính triết học.
T 0,2, SBN xiii-iv
Cũng không đòi hỏi kiến thức sâu xa như vậy để khám phá
ra tình trạng không hoàn hảo hiện tại của khoa học, nhưng ngay cả những người
bình thường cũng có thể phán đoán từ những tranh cãi ồn ào và hỗn loạn vốn họ
nghe thấy, rằng tất cả bên trong đều không ổn. Không có gì lại không là đề tài
tranh luận và trong đó những người có học thức không có những ý kiến trái ngược.
Câu hỏi tầm thường nhất cũng không thoát khỏi bàn cãi của chúng ta, và trong những
vấn đề quan trọng nhất, chúng ta không thể đưa ra bất kỳ quyết định chắc chắn
nào. Những bất đồng ý kiến tăng lên, như thể mọi sự vật việc đều không chắc chắn;
và những bất hòa này được giải quyết với sự nồng nhiệt nhất, như thể mọi sự vật
việc đều chắc chắn. Giữa tất cả sự ồn ào này, không phải lý trí đạt được chiến
thắng, nhưng là sự hùng biện; và không ai phải tuyệt vọng khi phải giành được
những người theo đuổi những giả thuyết liều lĩnh phi lý nhất, những người có đủ
nghệ thuật để thể hiện nó theo bất kỳ màu sắc thuận lợi nào. Chiến thắng không
phải do những người cầm vũ khí, những người quản lý giáo mác và kiếm; mà là do
những người thổi kèn, đánh trống và nhạc công của đội quân.
T 0.3, SBN xiv-v
Theo tôi, từ đó nảy sinh định kiến chung chống lại những
lý luận siêu hình ở mọi loại, ngay cả trong số những người tự nhận mình là học
giả và có giá trị công bằng đối với mọi phần khác của văn học. Theo lý luận
siêu hình, họ không hiểu những lý luận về bất kỳ nhánh khoa học cụ thể nào, mà
là mọi loại lập luận, dù theo cách nào cũng khó hiểu và cần phải chú ý để hiểu.
Chúng ta thường mất công sức trong những nghiên cứu như vậy, đến nỗi chúng ta
thường từ chối chúng mà không do dự, và quyết định, nếu chúng ta phải mãi mãi
là nạn nhân của những sai lầm và ảo tưởng, thì chúng ít nhất phải tự nhiên và
thú vị. Và thực sự, không có gì ngoài sự hoài nghi quyết tâm nhất, cùng với mức
độ lười biếng lớn, có thể biện minh cho sự ác cảm này đối với siêu hình học. Bởi
vì nếu chân lý nằm trong tầm với của khả năng con người, thì chắc chắn nó phải
rất sâu xa và khó hiểu; và hy vọng chúng ta sẽ đạt được nó mà không gặp khó
khăn, trong khi những thiên tài vĩ đại nhất đã thất bại với những khó khăn tột
cùng, chắc chắn phải được coi là đủ phù phiếm và tự phụ. Tôi không cho rằng
mình có lợi thế như vậy trong triết lý mà tôi sắp trình bày, và sẽ coi đó là một
sự giả định mạnh mẽ chống lại nó, nếu nó quá dễ dàng và hiển nhiên.
Lê Dọn Bàn tạm dịch – bản
nháp thứ nhất
(Mar/2025)
(Còn tiếp... →)
http://chuyendaudau.blogspot.com/
http://chuyendaudau.wordpress.com
[1] “Một thời
kỳ hiếm hoi và may mắn khi mọi người người có thể tự do suy nghĩ và công khai
bày tỏ suy nghĩ của mình.”
Tacitus
(khoảng năm 56–120 AD) là nhà sử học và thượng nghị sĩ Rôma nổi tiếng với những
tác phẩm như Annals and Histories, ghi lại sự tham nhũng và bạo ngược
chính trị của Đế quốc Rôma. Ông sống dưới thời những hoàng đế như Domitian, người đàn áp quyền tự
do ngôn luận và trừng phạt những người bất đồng chính kiến. Mặc dù Tacitus sống
sót và sau đó phê bình viết về thời đại này, nhưng có lẽ ông đã không được
hưởng trọn vẹn sự tự do vốn ông mô tả—câu trích dẫn nổi tiếng của ông phản ánh
một lý tưởng, không phải hiện thực của ông.
[2] Dịch từ A
Treatise of Human Nature (1739-40) Dịch theo bản phổ biến trên
Hume Texts Online https://davidhume.org/texts/t/full
Biên tập Amyas Merivale và Peter Millican
Những chú thích để trong [ …] lấy từ những bản tiếng Anh.
Những chú thích này, của chính Hume
Những chú thích khác, với những sai lầm nếu có, là của
tôi, sẽ đọc lại, tìm chữa sau. Tất cả, mong có thể cho một một bản đọc triết
học ‘mộc mạc’, trung thực với nguyên tác, nhìn theo hướng diễn giải, khai triển
nội dung những khái niệm, tư tưởng và luận thuyết triết học, đồng thời cố gắng
giữ phần nào văn phong cổ kính của tác giả. Mục đích là mong giúp những người
đọc, không chuyên môn, hiểu được ý ‘nôm na’ của tác giả.
Mặc dù không mấy thành công vào thời điểm đó, tác phẩm
đầu tiên của Hume, Treatise of Human
Nature (Một Chuyên Luận Về Bản Chất Con Người ), hiện được rộng rãi nhìn
nhận là một kiệt tác triết học, và chính tác phẩm này đã mang lại cho Hume danh
tiếng xứng đáng là triết gia lớn nhất trong thế giới tiếng Anh, hơn bất kỳ tác
phẩm nào khác của ông.
[3] “Advertisement” trong nguyên văn
Theo
thuật ngữ của Hume:
(a) Understanding: Sự hiểu biết đề cập đến lý trí, nhận thức của con người và cách chúng ta tiếp thu kiến thức. Nó bao gồm nhận thức, niềm tin, nguyên nhân và giới hạn của lý luận của con người—về cơ bản, những gì chúng ta hiện gọi là nhận thức luận và tâm lý học nhận thức.
(b) Passions : Đam mê đề cập đến những tình cảm, xúc động và ham muốn—về cơ bản, là những sức mạnh tâm lý thúc đẩy hành động của con người. Hume phân tích cách xúc động ảnh hưởng đến hành vi, phán đoán đạo đức và tạo quyết định.
Một cách đơn giản hơn: hiểu biết = cách chúng ta suy nghĩ và biết, đam mê = cách chúng ta cảm nhận và hành động.
Hume đã không viết tiếp A Treatise of Human Nature với những tập về đạo đức, chính trị và phê bình như đã dự định ban đầu. Thay vào đó, sau khi Treatise này không được đón nhận rộng rãi, sau đó, ông đã viết lại và xuất bản những ý tưởng của ông trong những tác phẩm riêng biệt:
(a) Về Morals/Đạo đức → An Enquiry Concerning the Principles of Morals (1751)
(b) Về Politics/Chính trị → Essays, Moral, Political, and Literary (nhiều bài luận được xuất bản từ năm 1741 trở đi)
(c) Về Understanding/Hiểu Biết (ấn bản đã sửa đổi) → An Enquiry Concerning Human Understanding (1748)
(d)
Về
Criticism/Phê Bình, vào thời Hume, từ ngữ này
thường dùng chỉ rộng rãi đến phê bình thẩm mỹ và văn học, nhưng cũng dùng chỉ
đến phân tích và lý luận triết học. Với sự quan tâm của Hume đến thị hiếu và
thẩm mỹ (vốn sau này ông đã khám phá trong Of
the Standard of Taste), có lẽ ông muốn nói đến phê bình văn học và thẩm mỹ
hơn là phê bình logic hoặc nhận thức luận.
